Mã số VVYT 16-024
Giuse Cao Viết Tuấn, 1984, gp Xuân Lộc
(Giải khích lệ VVYT 2016)

“Lạy Chúa! Lạy Thiên Chúa của tôi! Sao Ngài đành bỏ tôi!” (Mt 27, 46)
Đó là tiếng kêu bi thương của một con người đang hấp hối trên thập tự giá, trong cơn đau đớn và tuyệt vọng cùng cực, chua xót và cay đắng đến tột độ.
Con người ấy đã đi đến tận đáy sự bi đát của một phận người: đau khổ, cô độc, thất bại hoàn toàn, vô nghĩa, vô ích, vô vọng, lạc lõng…
Không một ai đứng ra giúp đỡ, bênh vực, an ủi, động viên.
Nhìn xung quanh, chỉ có người mẹ hiền đang đứng chết lặng, chỉ có người môn đệ non nớt và yêu đuối nhất, chỉ có một cô gái mới rời khỏi làng chơi.

Mã số VVYT 16-025
Giuse Cao Viết Tuấn, 1984, gp Xuân Lộc
(Giải khích lệ VVYT 2016)

“Hãy cho tôi điểm tựa, tôi sẽ nâng bổng trái đất lên!” (Archimedes Syracuse, 287 – 212 trước Công Nguyên)
Trong bề bộn cuộc sống, ai cũng mong muốn tìm một điểm tựa cho mình. Điểm tựa là nơi nương náu mỗi khi bị đe doạ, là nơi an nghỉ mỗi khi mệt mỏi, là nơi ủi an mỗi khi buồn phiền, sưởi ấm mỗi khi giá lạnh. Những lúc rơi vào cùng cực nhất, điều người ta cần nhất là một điểm tựa đủ lớn làm sức bật cho họ vượt qua tất cả. Điểm tựa đem lại sức mạnh, can đảm, nghị lực để vượt qua mọi sóng gió cuộc đời.
Điểm tựa đó có thể là cha mẹ, là người chồng người vợ, là con cái, là bạn bè, là thầy cô. Điểm tựa ấy có thể là một nhân vật danh giá, nổi tiếng, giàu có đem lạ nhiều hứa hẹn. Chúng ta hy vọng nơi những người ấy sẽ luôn ở bên cạnh chúng ta, đặc biệt là những khi chúng ta gặp khó khăn, thất bại.
Một số người lại tìm cho mình điểm tựa nơi tiền bạc. Tiền bạc giúp giải quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống. Tiền bạc là một bảo đảm cho con người có được những gì mình muốn. Có một tài khoản kếch xù trong ngân hàng làm cho con người yên tâm, đặc biệt khi về già.
Một số người khác khác lại vươn xa hơn khi đi tìm quyền lực. Họ bất chấp mọi thủ đoạn, mọi cách, thậm chí bằng tiền bạc, để tiến thân, để có nhiều quyền. Khi đó, họ khẳng định vị trí của họ trong người khác và trong xã hội.

Mã số VVYT 16-022
Nguyễn Duy Nghĩa, 9x, Hưng Hóa
(Giải khích lệ VVYT 2016)
Tình yêu thương luôn có những giá trị hết sức diệu kỳ, đủ sức làm thay đổi một con người, một số phận, nó khiến chúng ta cảm thấy muốn sống, muốn phục vụ hết mình. Nhưng khi bước vào cuộc sống bạn mới thật sự đặt chân lên cuộc hành trình tự khẳng định mình, tìm kiếm giá trị cuộc sống và ý nghĩa bản thân, bạn sẽ nhận ra rằng : “Tình yêu thương là hạnh phúc của con người”.
Tình yêu thương là tình cảm thiêng liêng và bất tử. Là mối dây nối liền tương quan giữa con người với Thiên Chúa, và giữa con người với nhau - một sợi dây vững chắc và bền chặt nhất trên trần gian mà không có loại dụng cụ nào có thể chia cắt được.



Chúng ta hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn (Dt 10:22a)



Đây là Lời Cầu Nguyện của Viên Cảnh Sát, tác giả khuyết danh.

Lạy Chúa, xin ban cho con lòng can đảm
Can đảm đối mặt và chiến thắng nỗi sợ hãi
Can đảm đến nơi người khác không đến
Xin ban cho con sức mạnh
Sức mạnh thể lý để bảo vệ người khác
Sức mạnh tinh thần để hướng dẫn người khác
Xin ban cho con sự cống hiến
Cống hiến vì công việc để làm việc tốt
Cống hiến vì cộng đồng để giữ cho cộng đồng an toàn
Lạy Chúa, xin giúp con biết quan tâm những ai tin tưởng con
Biết trắc ẩn với những ai cần đến con
Và lạy Chúa, qua mọi sự, xin luôn ở bên con!


Hôm nay, dù bạn phục vụ ở cương vị nào, hãy can đảm và cầu xin có lòng can đảm. Hãy mạnh mẽ và cầu xin sức mạnh. Hãy nhiệt thành và cầu xin lòng nhiệt thành. Hãy gần gũi những người mà bạn yêu thương, và hãy sống thân mật với Thiên Chúa.

Lạy Thiên Chúa cao cả, Ngài là nguồn mạch mọi sự tốt lành và mọi thứ con cần, xin ban cho con lòng can đảm, sức mạnh, lòng nhiệt thành, và xin giúp con yêu thương tha nhân như Ngài yêu thương con.
(chuyển ngữ từ STRENGTH for SERVICE to GOD and COMMUNITY)


Blaise Pascal

Blaise Pascal là một trong những học giả quan trọng nhất của thế kỷ XVII. Ông là nhà khoa học, toán học, nhà phát minh, nổi tiếng vì nhiều đột phá. Ông cũng là người Công giáo sốt sắng và đã viết một trong những tác phẩm biện giáo lớn nhất của thời đại mình.

Nhưng không phải lúc nào ông cũng có đức tin mạnh, và có lúc còn không có đức tin. Sau khi dành gần như cả đời vào kiểu lòng đạo trên danh nghĩa, ông có được một cảm nghiệm biến đổi sâu sắc, một thần nghiệm.

Pascal sinh tại Pháp vào năm 1623. Ông là con thứ hai trong ba người con, mẹ ông mất khi ông mới 3 tuổi. Vài năm sau, cha ông dời cả nhà đến Paris.

Sự thông minh của Pascal đã lộ rõ từ lúc còn nhỏ, nên cha ông quyết định dạy riêng cho ông ở nhà. Và việc này đã sinh hoa kết trái, khi mới 16 tuổi, Pascal đã có những bước đột phá trong toán học và còn tranh luận hàn lâm với các nhà toán học chuyên ngành. Đến năm 19 tuổi, ông đã phát minh ra máy tính tự động, và bán cho nhiều gia đình giàu có trên khắp châu Âu. Những năm 20 và 30 tuổi, Pascal có thành tựu quan trọng trong toán học thống kê, và có những khám phá quan trọng về chất lỏng và áp lực.

Năm 1646, cha ông bị ngã gãy xương hông, một chấn thương kinh khủng vào thời đó. Hai bác sỹ chăm sóc cho cha ông trong suốt vài tháng trời, là những người Công giáo sốt sắng. Qua tình bạn và những lần trao đổi với họ, Pascal bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc hơn về tôn giáo.

Nhiều nhà viết tiểu sử gọi đây là ‘hoán cải đầu tiên’ của ông. Nhưng sự biến đổi này hầu như chỉ mang tính tri thức và không kéo dài được lâu. Khi cha ông mất vào năm 1651, ông rời bỏ tôn giáo và đi vào ‘giai đoạn trần tục.’ Không lâu sau, em gái của ông quyết định vào tu viện, và như thế là một cho đi một phần ba gia sản của cha ông. Chị gái của ông cũng đã dùng phần thừa kế của mình làm của hồi môn, nên bây giờ Pascal chỉ còn lại một mình, với một phần ba tài sản của cha, nhưng lại không có cha mẹ, còn chị em thì đã hoàn theo những hướng khác.

Có thể nói, ông nghèo và cô đơn. Đó là lúc Chúa đi vào cuộc đời ông thật kinh ngạc.

Ngày 23-11-1654, Pascal đang ở nhà một mình. Mặt trời đã lặn và màn đêm bao phủ. Ông đang chuẩn bị đi ngủ, thì khoảng 10h30, bất thình một chuyện gì đó siêu nhiên xảy đến. Không rõ là thấy gì, nhưng thị kiến thần nghiệm kinh ngạc kéo dài trong ông suốt hai tiếng đồng hồ. Ngay khi thị kiến vừa qua, ông chụp lấy giấy và viết ra những gì vừa cuồn cuộn trong đầu mình.

Đây là những dòng của ông:

Năm ân sủng 1654,
Ngày thứ hai, 23 tháng mười một, lễ thánh Clemente, giáo hoàng tử đạo, và các bạn tử đạo. Đêm trước lễ thánh Chrysogonus, tử đạo và các bạn. Từ lúc khoảng mười giờ rưỡi đến khoảng mười hai giờ rưỡi đêm.

LỬA
THIÊN CHÚA của Abraham, THIÊN CHÚA của Issac, THIÊN CHÚA của Giacóp,
không phải của những triết gia và học giả.
Tin chắc. Tin chắc. Cảm giác. Vui mừng. Bình an.
THIÊN CHÚA của Chúa Giêsu Kitô.
Chúa của tôi và Chúa của bạn.
CHÚA của bạn sẽ là Chúa của tôi.
Thế giới và mọi sự sẽ bị lãng quên, ngoại trừ CHÚA.
Chỉ tìm thấy được Ngài bằng con đường mà Tin mừng dạy.
Linh hồn con người cao cả thay.
Cha Công chính, thế giới không biết Cha, nhưng con biết Cha.
Vui, vui, vui, những giọt nước mắt của niềm vui.
Con đã bỏ Ngài.
Họ đã bỏ con, nguồn suối nước hằng sống.
Lạy Chúa con, Chúa có bỏ con?
Xin đừng để con xa Ngài mãi mãi.
Đây là sự sống bất diệt, là họ biết Ngài, Đấng là Thiên Chúa thật, Đấng mà Cha đã sai đến, Chúa Giêsu Kitô.
Chúa Giêsu Kitô.
Chúa Giêsu Kitô.
Con đã bỏ Ngài, con đã trốn Ngài, khi Ngài bị lên án, bị đóng đinh.
Xin đừng để con mãi mãi xa Ngài.
Chỉ tìm thấy được Ngài bằng con đường mà Tin mừng dạy.
Từ bỏ, hoàn toàn và ngọt ngào.
Hoàn toàn quy phục Chúa Giêsu Kitô Đấng chỉ lối cho con.
Xin cho con đừng quên lời Ngài.
Amen.

Rồi ông gấp mảnh giấy và để trong túi áo, mảnh giấy này theo ông đến suốt đời. Và chỉ sau khi ông chết, người ta mới khám phá ra.

Không như sự hoán cải mang tính tri thức ban đầu, sự hoán cải lần này là ở trong tim. Ông hầu như bỏ công việc toán học và tận hiến cho thần học và biện giáo. Vài năm sau, ông cho xuất bản Các Lá Thư Tỉnh Hạt, một cuộc tấn công những ngụy biện luân lý, một tác phẩm nhanh chóng nổi tiếng không chỉ vì các lý lẽ mà còn vì giọng văn trào phúng hài hước.

Khoảng 35 tuổi, ông viết một tác phẩm biện giáo toàn diện với tựa đề ‘Biện hộ Kitô giáo.’ Nhưng ông lâm bệnh và không thể hoàn tất nó. Ngài 18-08-1662, ông lên cơn co giật và lãnh nhận các Bí tích sau cùng. Sáng hôm sau, ông qua đời ở tuổi 39. Những lời cuối đời của ông là gì?

‘Xin Chúa đừng bao giờ bỏ con.’





Lạy Đức Chúa, Thiên Chúa của con! Xin đoái đến lời tôi tớ Chúa cầu xin khẩn nguyện, mà lắng nghe tiếng kêu cầu của tôi tớ Ngài dâng trước tôn nhan hôm nay. – 1 V 8:28

George Washington (1732–1799) luôn cầm sách cầu nguyện. Dưới đây là lời cầu nguyện của một vị tổng thống...

Lạy Thiên Chúa vĩnh hằng, con mạo muội đến trước Thánh Nhan uy nghiêm của Ngài sáng nay, cầu xin Ngài chấp nhận lời lời tạ ơn chân thành và khiêm nhường của con, cảm tạ lòng nhân lành của Ngài giữ gìn con một đêm qua khỏi mọi thứ làm nguy hiểm đến tính mạng, và ban cho con giấc ngủ an bình, nhờ đó con thấy thân xác con tươi mới và thoải mái để thi hành nhiệm vụ của ngày hôm nay, con xin Ngài che chở con khỏi mọi đau khổ phần xác và phần hồn.
Xin gia tăng đức tin của con theo lời hứa của Phúc Âm, xin ban cho con lòng sám hối vì những công việc ngớ ngẩn, xin tha thứ những lúc con lơ đãng, xin hướng dẫn tư tưởng của con theo tư tưởng của Ngài, lạy Thiên Chúa cứu độ. Xin dạy con cách sống trong niềm kính sợ Ngài, làm việc theo các phục vụ của Ngài, và bước đi trong huấn lệnh của Ngài, xin giúp con luôn canh phòng tâm hồn của con, không sợ lương tâm, không sợ nhiệm vụ thánh, không ưa thích tội lỗi, không miễn cưỡng từ giã cõi đời này, xin đưa con vào giấc ngủ tâm linh, hằng ngày làm cho con càng nên giống Con Ngài là Đức Giêsu Kitô.
Xin giúp con sống trong niềm kính sợ Ngài và chết trong ân nghĩa của Ngài, xin cho con có thể ở trong thời gian ấn định của Ngài để được sống lại trong sự sống đời đời, xin chúc lành cho gia đình của con, bạn bè của con và thân nhân họ hàng của con.
Sự khiêm nhường, sự biết ơn, sự ăn năn, sự lệ thuộc và sự phục tùng là các phẩm chất tốt lành được trình bày ở đây. Hãy dành thời gian để suy tư về lời cầu nguyện của TT Washington, và hãy có những lời cầu nguyện của riêng mình.

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin biến đổi con theo Thánh Ý Ngài, xin giúp con trở nên khí cụ bình an của Ngài, để mọi người có thể nhận ra Ngài nơi con, và xin cho con cũng nhận thấy Ngài nơi những người khác.

(chuyển ngữ từ STRENGTH for SERVICE to GOD and COMMUNITY)


Tôi gửi bài này để các bạn hiểu rằng: "Thiên Chúa luôn đến với con người bằng một quả tim yêu thương cho dù chúng ta đang ở trong bất cứ tình trạng nào!"




Tôi tạ ơn Chúa vì chồng tôi cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp,
bởi lẽ chàng đang ở ngay bên cạnh tôi, chứ không phải bên ai khác.

(Dù đã hết tháng hoa dâng kính Đức Mẹ, nhưng trong năm kỷ niệm đặc biệt 100 năm Fatima, chuyên mục Tâm Tình Chia Sẻ xin hân hạnh giới thiệu bài chia sẻ rất tâm tình của tác giả Joseph Trần Vũ mới gửi về cho VTCG. Xin chân thành cảm ơn tác giả và xin Chúa chúc lành !)


(Kỷ Niệm 100 năm, Mẹ hiện ra tại FATIMA)


Con hái « Bông Hoa Rừng »
Tâm hồn nhẹ lâng lâng,
Bay theo làn gió mát,
Bay lên cõi Thiên Cung…


“Ta chỉ vĩ đại khi ta cầu nguyện mà thôi.”
“Ta chỉ vĩ đại khi ta cầu nguyện mà thôi.”

Vào một buổi sáng của ngày thứ Hai đầu tuần, tôi nhận được tin nhắn từ một bạn không quen biết: “Thầy ơi, con phải làm sao khi những người bạn, người đồng nghiệp Công giáo xung quanh con không chịu đi lễ.









(Nhân dịp Đức cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận được nâng lên bậc đáng kính ngày 04.05.2017, xin mời quý anh chị em cùng đọc lại bài chia sẻ của Ngài khi còn là Tổng Giám mục, diễn ra ngày 12-9-1998, tại nguyện đường Dòng Truyền Giáo Ðức Mẹ Vô Nhiễm (OMI), Strasbourg, Pháp, nhân dịp họp mặt “Niềm Vui Sống Ðạo” của các bạn trẻ Công giáo Việt Nam sống tại Âu Châu, do Trung tâm Nguyễn Trường Tộ tổ chức. Xin Ngài chuyển cầu cho mỗi người chúng ta cũng có được 10 “khuyết điểm” tuyệt vời này!).
10 khuyết điểm của Chúa Giêsu
 
1. Chúa Giêsu kém trí nhớ!
2. Chúa Giêsu không biết làm toán
3. Chúa Giêsu không sành luận lý
4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chánh
5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi
6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng
7. Chúa Giêsu không giữ luật Do thái
8. Chúa Giêsu như điên cuồng
9. Chúa Giêsu phiêu lưu
10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn.
***
1. Chúa Giêsu kém trí nhớ!
Lúc sắp trút hơi thở, Chúa Giêsu có cuộc đối thoại cuối cùng với hai người gian phi cùng bị treo trên thập giá cạnh ngài. Một trong hai người đó thốt lên lời nầy với Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Và Chúa nói với anh ấy: “Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng” (Lc 23,42-43).
Chúa Giêsu không sưu tra lại lý lịch người đó để nhớ xem hắn gian ác đến mức độ nào, không cân nhắc tội nặng, nhẹ để châm chước hay tạm ra hình phạt thế nào đó cho thích đáng. Người gian phi kêu nài Ngài nhớ, thì Ngài “nhớ” một điều là thấy người ấy trước mắt, còn tất cả mọi điều gian ác trước đó Ngài đã quên hết, quên đến độ ngay hôm đó hứa ngay Nước Thiên đàng cho anh ta. Các thánh nói: tên này suốt đời ăn trộm, đến lúc chết nó ăn trộm nước thiên đàng luôn!
Trong Phúc Âm chúng ta gặp lại nhiều chứng tích về việc Chúa Giêsu kém trí nhớ như thế. Nhưng qua chuyện ngụ ngôn người cha nhân hậu, sự kiện đó rõ ràng. Thánh sử Luca kể rằng người con út trong hai con của cha già đã lấy hết phần gia tài của nó, để bỏ nhà ra đi sống đời phóng đảng, quên cha, quên anh. Ðến khi tiêu hết tiền, gặp năm đói, thì quay trở về nhà, xin khai thú tội lỗi mong cha già xét tình cha con mà tha thứ...
Người cha (là hình ảnh Chúa Giêsu), không kể đến tội cũ, chỉ trông ngóng chờ con; thấy con đằng xa, thì chạy ra đón. Con có thú tội, thì cũng không cố nghe để hạch hỏi tội cũ mà ra lệnh cho tôi tớ: lấy áo đẹp, giày tốt, nhẫn quý mang lại cho cậu, làm thịt con bê béo dọn tiệc vì con ta chết mà nay nó sống lại.
“Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để”. Bấy giờ người con thưa rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa...”. Nhưng người cha liền bảo người giúp việc rằng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay , xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con dê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!...” (Lc 15,20-23).
Chúng ta thấy ở đây trí nhớ của Chúa Giêsu dường như không còn làm việc nữa! Ngài quên vô điều kiện, quên tức khắc tất cả quá khứ không hay không tốt của ta, mỗi khi chúng ta quay trở về. Ngài chỉ nhớ mỗi người là con Cha Ngài, là em Ngài, nên khi ta quay lại gặp Ngài, thì tức khắc ta lại được mặc áo vinh hiển sự sống của Thiên Chúa.

2. Chúa Giêsu không biết làm toán
Trong dụ ngôn con chiên bị mất (x. Mt 18,12-14; Lc 15,4-7), chúng ta thấy lối cư xử của Chúa Giêsu tỏ ra không biết tính toán. Một kẻ có 100 con chiên ở giữa đồng trống mà mất một con, hẳn phải tính toán xem làm sao một con đi lạc lại hơn 99 con còn lại. Không những Chúa Giêsu cho rằng 1 con đi mất cũng bằng 99 con còn lại, mà còn đi xa hơn nữa: Ngài bỏ 99 con còn lại đấy để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Một mà hơn 99, hẳn Chúa Giêsu không biết làm toán!
Trong chương trình rao giảng của Ngài, không phải số lượng quần chúng đông đảo mà Chúa Giêsu tìm kiếm, nhưng là những con người; và Ngài đã không tiếc thì giờ để trao đổi với từng người, giảng dạy cho một người như chúng ta từng thấy trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samari trên bờ giếng Giacóp (x. Ga 4,1-42).

3. Chúa Giêsu không sành luận lý
Chúa Giêsu không những không cân nhắc tính toán trên số lượng, mà có lúc lời của Ngài đi ngược lại sự khôn ngoan bình thường của con người.
“Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc... (Lc 14,12-14).
Trong dụ ngôn về đồng bạc bị mất (x. Lc 15,8-10), người phụ nữ có 10 đồng, nhưng trong đêm lỡ đánh mất 1 đồng: “Bà thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho bằng được”. - Khi tìm được, thì bất chấp giờ giấc nghĩ ngơi ban đêm của hàng xóm, bạn bè, mời họ phải đến chung vui với mình.
Chúa Giêsu ví mình như người phụ nữ tìm đồng bạc bị mất trong đêm; không cần suy tính, luận lý là đủng đỉnh ngày mai sẽ tìm, dù sao thì cũng còn 9 đồng khác trong tay; nôn nóng đem nguồn vui của mình cho người chung quanh không ngại sự nghỉ ngơi trong đêm vắng. Chẳng qua vì Chúa là yêu thương, mà yêu thương của Thiên Chúa cao hơn lý luận con của người.
“Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,10).

4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chính
Chúa Giêsu đến để loan báo Nước Trời ở gần con người, gần cuộc sống của họ. Thế mà khi giới thiệu Nước Trời với các môn đệ và với người nghe Ngài nói, Ngài lấy dụ ngôn về Nước Trời như người chủ vườn nho thuê thợ làm cho mình trong một ngày (x. Mt 20,1-16). Người chủ từ tảng sáng đã mướn thợ làm; rồi đến giờ thứ 3, giờ thứ 6, giờ 11, mỗi giờ người ấy đều đi tìm mướn thêm thợ (giờ 11 trong lối nói của người Do Thái thời của Chúa Giêsu tức là buổi cận chiều tối rồi).
Chiều tối đó, ông chủ, là hình ảnh Chúa Giêsu, bảo người quản lý kêu thợ lại và trả cho mỗi người 1 quan tiền như nhau. Những kẻ làm nhiều giờ trong ngày bực tức vì thấy ông chủ nầy không biết gì về kinh tế, tài chính cả, hơn nữa còn bất chấp lối tính toán và sự công bình thông thường:
“Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là 1 quan tiền sao?... Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ghen tức? Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót...” (Mt 20,13-16).

5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi
Không phải trong xã hội của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu còn tại thế, mà ngay giữa xã hội chúng ta, người ta khó lòng chấp nhận chuyện người “đàng hoàng” lại giao du với lớp người được đánh giá là không “đàng hoàng”.
Thời bấy giờ người đồng hương với Chúa Giêsu cho rằng hai giới đặc biệt không “đàng hoàng” là những quân thu thuế và người tội lỗi, đặc biệt là các người gái điếm. Người tội lỗi bấy giờ còn được xem là những kẻ không lành mạnh về cuộc sống thân xác, như người phung cùi, tàn tật... Những người Pharisiêu nhiều lần thắc mắc về thái độ sống của Chúa Giêsu và nhắc nhở với các môn đệ Chúa:
“Sao Thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?” (Mt 9,11). “Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng” (Lc 15,2).
Theo các sách Phúc Âm ghi lại, thì không những Chúa Giêsu chỉ gặp gỡ, chào hỏi, hay bất đắc dĩ được mời ăn thì ngại lắm phải chiều người ta, mà thực sự Ngài tự tìm tới nhà người thu thuế, và kẻ tội lỗi, làm thân với họ và ăn ở với họ.
Ông Dakêu là người “đứng đầu những người thu thuế” (Lc 19,2); khi biết Chúa Giêsu đi qua thành phố Giêricô, ông ấy sợ không chen lấn nổi với đông đảo dân chúng, nên chạy ra đàng trước, trèo lên cây sung để xem Ngài, chẳng qua vì ông rất lùn. Chúa Giêsu đi qua, nhìn lên cây ấy thấy ông và nói ngay:
“Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (Lc 19,5).
Người chung quanh xào xáo:
“Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ” (Lc 19,7).
Chúa Giêsu tự đến để gặp gỡ Dakêu và loan Tin Mừng:
“Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19,9).
Và chúng ta đều biết Chúa đã chọn 1 trong 12 vị Tông đồ của Ngài là Mathêu, trước đó có tên là Lêvi một người làm nghề thu thuế.
Và để giải thích thái độ ngược đời của mình, chính Chúa Giêsu đã nói rõ sứ mệnh của Ngài.
“Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9, 12-13).

6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng
Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy sự kiện mỗi lần đến nhà nào, gặp ai, đặc biệt là những người được xã hội xếp loại không “đàng hoàng”, Chúa Giêsu lại thường ăn uống. Ngài mở đầu sứ mạng rao giảng công khai bằng việc dự tiệc cưới Cana miền Galilê (x. Ga 2,1), kết thúc cuộc gặp gỡ chung với các tông đồ trước khi đi vào cuộc khổ nạn bằng bữa tiệc ở Giêrusalem gọi là tiệc ly (x. Mt 26,17 và tiếp theo).
Thế nhưng lịch sử nhiều tôn giáo và tâm thức nhiều nền văn hoá không phải đã cho chúng ta thấy rằng nói đến thần thánh, đạo đức, tôn giáo thì hẳn phải nói đến ăn chay cầu nguyện hay sao!
Luca thuật lại rằng, sau bữa tiệc lớn tại nhà Lêvi (tức Thánh Mathêu sau này) những người Pharisiêu và những người thông luật nói với Chúa Giêsu: “Môn đệ ông Gioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pharisiêu cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống” (Lc 6,33). Chúa Giêsu đã dùng những bữa ăn để cứu người tội lỗi như Mađalêna, Dakêu...
Cái mới của Chúa Giêsu làm cho người Pharisiêu và cả chúng ta khó hiểu đó là tất cả sứ điệp của Ngài, không còn phải là ăn chay hay ăn tiệc, nhưng tiên quyết là Yêu thương phát xuất từ tận đáy lòng mình. Như Thánh Augustinô sau này tóm tắt trong câu: “Hãy yêu rồi làm gì thì làm” (Ama et fac quod vis).

7. Chúa Giêsu không giữ luật Do Thái
Không những lui tới bạn bè, với kẻ tội lỗi, lại còn hay dự tiệc với họ, Chúa Giêsu không giữ luật lệ của cộng đồng người Do Thái đương thời. Ngài bất chấp luật phải rửa tay trước bữa ăn, đi thẳng vào bàn tiệc nên “ông Pharisiêu lấy làm lạ vì lúc đầu Ngài không rửa tay trước bữa ăn” (Lc 11,38). Ðặc biệt trong những ngày sabát, Ngài hay chữa lành bệnh tật cho người ta, và điều đó đối với người Do Thái đương thời cho là phạm luật. Phúc âm ghi lại nhiều sự kiện như thế, như việc chữa lành người bại tay (x. Lc 6,8-11), chữa người mắc bệnh phù thủng (x. Lc 14,1-6), chữa lành một phụ nữ còng lưng (x. Lc 13, 14)... Thánh sử Luca ghi rõ: “Ông trưởng hội đường tức tối vì Ðức Giêsu đã chữa lành bệnh vào ngày sabát (x. Lc 13,14). Ngài không giữ luật, và các môn đệ theo Ngài cũng không giữ luật:
“Vào ngày sabát, Ðức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ đưa tay bứt lúa ăn. Nhưng có mấy người Pharisiêu nói: “Tại sao các ông làm điều không được phép làm trong ngày sabát” (Lc 6,1-2).
Nhưng trước những lời chỉ trích này, Chúa Giêsu trả lời: “Con người làm chủ ngày sabát” (Lc 6,9). Chúa Giêsu đến để làm trọn lề luật, để ban luật mới là luật yêu thương, là luật có chiều kích nội tâm, để xoá bỏ những lối giải thích lề luật rắc rối bên ngoài: “Khốn cho các ngươi giả hình, như má tô vôi, bên ngoài trắng trẻo mà bên trong thối tha” (Mt 23,13-36).

8. Chúa Giêsu như điên cuồng
Trong Toà Tổng trấn Philatô, lúc chịu xử án, Chúa Giêsu bị lính của Tổng trấn cho choàng áo đỏ, đội vương niệm bằng gai để chế nhạo như là kẻ điên cuồng. Nhưng không phải chỉ người ngoài, mà ngay cả Phêrô, người vừa được Chúa Giêsu cử sẽ làm đầu Hội thánh Ngài: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi...” (Mt 16,18), người được Chúa tin yêu như thế cũng không chịu nổi những lời nói như điên dại của Chúa Giêsu: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Ðiên dại vì gọi môn đệ theo mình, đồng thời thông báo mình phải chịu khổ đau, bị giết chết; và xem ra điên dại hơn nữa khi bảo rằng chết sau ba ngày sẽ sống lại! Và suốt cả các cuốn Phúc Âm trang nào cũng làm cho chúng ta ngạc nhiên về thái độ và lời nói khác lạ của Ngài:
“Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại... (Lc 6,27-31).
Nói như thế, làm sao có thể nghe cho được, khi tâm tư ta còn sống trong tâm trạng “măt đền mắt, răng đền răng!”
Và tôi xin kể cho các bạn kinh nghiệm của tôi về sứ điệp “điên dại” này của Chúa Giêsu. Lúc tôi sống những năm tháng tù đày tại quê nhà, có lúc những người canh tù tâm sự cho tôi hay, họ thắc mắc và ngạc nhiên về thái độ vui cười, thân thiện của tôi đối với họ: trong hoàn cảnh này làm sao có thể thanh thản và dung thứ như thế được! Tôi đã có dịp chia sẻ các kinh nghiệm đó trong cuốn sách “Năm chiếc bánh, và hai con cá”, tôi vừa cho phổ biến trong năm này. Nhưng ở đây tôi muốn nói, chính sự “điên dại” của tình yêu thương Thiên Chúa đối với tôi, đối với mọi người là “khuyết điểm” làm tôi say mê hơn cả; sự điên dại đó lôi kéo tôi bước theo Chúa Giêsu!

9. Chúa Giêsu phiêu lưu
Một chương trình cứu chuộc toàn nhân loại, một dự tính gửi người đi rao truyền Phúc Âm cho mọi dân nước, mọi thế hệ, thế mà lại chọn và đặt hết tín nhiệm, quyền hành cho Phêrô, một người chài lưới bộp chộp, ít học rồi còn sợ sệt chối mình nữa!
Và về phương cách truyền bá, rao giảng nước Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo” (Lc 9,3).
Phiêu lưu trong việc tuyển lựa các môn đệ, Chúa Giêsu còn bị ngay các môn đệ Ngài nghi ngờ là quá phiêu lưu. Khi Chúa Giêsu loan báo chương trình Ngài sẽ bị bắt nạp, bị giết chết và sẽ sống lại trong ngày thứ ba, thì “Các môn đệ buồn phiền lắm” (Mt 17,23). Khi Chúa nói với họ: “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6,53), thì “nhiều môn đệ của Ngài liền nói: “Lời này chướng ta quá! Ai mà nghe nổi” (Ga 6,60). Và, vì thấy lời giảng dạy của Chúa Giêsu khó nghe và phiêu lưu quá, nhiều môn đệ rút lui. Nên Chúa quay hỏi nhóm 12 Tông đồ: “Cả anh em nữa, anh em cũng bỏ đi sao?” (Ga 6,67).
Có lần khác, có người lại muốn đi theo Ngài làm môn đệ, nên hỏi: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo”. Người trả lời: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58).
Và cuộc phiêu lưu tột đỉnh của Yêu thương nơi Chúa Giêsu được diễn tả cô động nơi bài ca trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Philipphê:
“Ðức Giêsu Kitô
Vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân phận nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).

10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn
Mâu thuẫn vì Lời từ Thiên Chúa khác với lời chúng ta.
Làm sao chúng ta thấy hợp lý được khi tuyên dương phúc cho kẻ nghèo, kẻ phải đói, kẻ phải khóc, kẻ bị người ta oán ghét (x. Lc 6,20-22).
“Ai muốn cứu mạng sống mình, thì phải mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24).
Làm sao có thể ví Nước Thiên Chúa, Nước của Ðấng toàn năng, vô tận với một hạt cải (x. Lc 13,18-19).
Mà làm sao có thể tuyên xưng là “Con Thiên Chúa, Ðấng hằng sống” lại phải chấp nhận sự chết và chết nhục nhằn trên Thập giá (x. Lc 23,70).
Ngày 12-10-1998, có một cuộc tĩnh tâm linh mục quốc tế, tại thành phố Monterrey, nước Mexico: 91 giám mục, 1.500 linh mục tham dự. Lúc tôi vừa nói: Tôi yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu, các ngài nhìn nhau với vẽ ngạc nhiên, bỡ ngỡ! Nhưng nói đến đâu các ngài lại cười đến đó, cuối bài các ngài xúm lại quanh tôi và bảo: “Chúng tôi cũng yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu”.
***
Các bạn thân mến,
Bây giờ, sau khi chúng ta cùng nhau lược qua 10 khuyết điểm của Chúa Giêsu, 10 khuyết điểm ghi lại nơi các bản Phúc Âm, tôi lại một lần nữa xác quyết với các bạn rằng: vì tôi yêu 10 khuyết điểm này của Chúa Giêsu, nên chọn Chúa Giêsu làm Thầy, làm Mẫu-mực tuyệt đối cho đời tôi. Tôi cũng tâm sự với các bạn rằng, cho đến giây phút này, tôi không hề có một chút gì ân hận, Chúa Giêsu đã cuốn hút cuộc đời của tôi. Vì Chúa là Tình Yêu đã dẫn lối cho tôi đi, đặc biệt trong những ngày tháng tôi cảm thấy xao xuyến, bứt rứt; chúng đã đem lại nguồn vui và hy vọng cho tôi, nhất là trong những giây phút khổ đau, tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi. Các bạn biết lý do tại sao không? Vì 10 khuyết điểm đó phát xuất từ Tình yêu thương mà Thiên Chúa là cha chúng ta ban cho để chúng ta được sống nhờ Chúa Giêsu:
“Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15,13).
Tình yêu đó không nhớ lỗi lầm, không tính toán, không xét nét, không vị kỷ, không phê phán, không câu chấp, không gò bó, không biên giới, không điều kiện; Tình yêu đó yêu điên cuồng đến độ phiêu lưu và hy sinh cả mạng sống mình; tình yêu đó khác với mẫu mực nhỏ hẹp của xã hội và của lối cân nhắc giới hạn của chúng ta. Chúa là Ðấng trọn lành, làm sao có khuyết điểm được, nhưng Chúa lại là tình yêu vô hạn, mầu nhiệm. Trí khôn loài người không hiểu nổi, không tin nổi, nên gọi là khuyết điểm! Khuyết điểm ấy lên đến cùng độ trên thánh giá. Cả 10 khuyết điểm cô đọng vào đó, khi người lính thách đố Chúa: "Nếu ông thật là con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi Thánh giá để chúng tôi tin" "Chúa Giêsu thinh lặng, lại còn cầu nguyện: “Xin Cha tha cho họ...”. Lạy Chúa, lúc ấy Chúa không chết thì làm sao chúng con được sống đời đời.
Tôi khích lệ các bạn chọn lựa cuộc sống làm chứng 10 khuyết điểm tuyệt vời đó của Chúa Giêsu.
Và để chấm dứt buổi chia sẻ này tôi xin kể cho các bạn một sự kiện trong cuộc đời của một danh nhân thế giới đã từng chọn Chúa Giêsu, chọn giáo huấn của Ngài, một giáo huấn mà ông ấy cho là kỳ lạ, mâu thuẫn “Kitô giáo kỳ lạ” (Le Christianisme est étrange, Pascal, Pensées, no 537). Danh nhân ấy là ông Blaise Pascal (1623-1662). Khi ông Pascal vừa qua đời vào tuổi 39, người giúp việc trong gia đình xin người chị của ông cho phép mở gấu áo ông mặc lần cuối để xem ông thu giấu cái gì trong ấy. Vì mỗi lần thay áo cho ông, chị giúp việc thấy ông luôn mở gấu áo cũ lấy một cái gì trong ấy rồi lại tự may vào gấu áo mới. Người chị của Pascal cũng như người giúp việc cắt gấu áo và thấy có một miếng giấy nhỏ, trên ấy ghi vỏn vẹn câu sau đây:
“Sự sống đời đời là hiểu biết và yêu mến Ðức Kitô và Ðấng đã sai Người... lửa, lửa, lửa; nước mắt, nước mắt, nước mắt của tình yêu”. Ðó là bí quyết của B. Pascal một văn hào, một triết gia, một nhà toán học.

ĐHY. P.X. Nguyễn Văn Thuận
Được tạo bởi Blogger.