TIỂU SỬ


Lê Hữu Mục sinh ngày 24 tháng 11 năm 1925 tại làng Lưu Phương, thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Thân sinh là nhà nho, ông là người thứ bẩy trong tất cả 11 anh em với tám trai và ba gái.

Học Vấn

Tiến Sĩ, Văn Chương Việt Nam, Đại Học Sài Gòn, 1970.
Cao Học, Văn Chương Việt Nam, Đại Học Đà Lạt, 1960.
Cử Nhân, Văn Chương Pháp, Đại Học Hà Nội, 1950.

Âm Nhạc

Chèo Đi, Bơi Đi (nhạc và lời, 1938)
Hẹn Một Ngày Về (nhạc và lời, 1953)


NGUYỄN XUÂN VĂN
Tên thật: Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn, sinh năm 1922, tại Mỹ Đức, Ân Tín, Hoài Ân, Bình Định, giáo phận Qui Nhơn. Được rửa tội từ nhỏ. Tu học tại Tiểu chủng viện Làng Sông (1936-1943) và Đại chủng viện Qui Nhơn (từ 1943). Thụ phong linh mục ngày 25-1-1956. Phục vụ tại các giáo xứ Trúc Hà (1956), Đà Nẵng (1957), chủng viện Làng Sông Qui Nhơn (1958-1962), chánh xứ Phú Hương (1962-1964), Hòa Khánh (1965-1975), Mằng Lăng (1975-1986) và Tuy Hòa (từ 1986).
Qua đời ngày 10-01-2002.
Trường thi “Sứ điệp tình thương” là tập diễn ca toàn bộ Tin mừng, dài 9764 câu lục bát, được viết trong thời gian 10 năm ở Mằng Lăng.


PHÊRÔ LONG GIANG TỬ
Tên thật: Phêrô Nguyễn Văn Hai, bút hiệu Long Giang Tử – sinh năm: 1920 – Dạy học và dạy đàn violon.
Tác phẩm:
Phúc âm diễn ca: Đời sống ẩn dật và công khai của Chúa Cứu Thế (8.088 câu) – Tâm niệm (490 câu) – Trần tình (110 câu) – Những trang sử đẫm mồ hôi của họ đạo Chợ Lớn Việt Nam (1972)
CẦU NGUYỆN
Cầu nguyện là nói chuyện với Chúa đã cần, đọc Phúc Âm là nghe Chúa nói lại cần hơn chừng nào! Vì lý do đó, ta phải đọc Phúc Âm. Nhưng đọc thì hay quên và không thấm thía bằng ngâm nga. Muốn ngâm nga phải thơ là một nghệ thuật vô bờ bến làm cho đến độ tuyệt vời!
Lời Chúa là những hoàn ngọc thiên thu trọn hảo mà muốn xếp lại cho thành thơ là vạn nan vậy.
Thôi thì cố gắng mà làm để cho mình và những ai cùng chung lý tưởng.
Lời Chúa nguồn thương tực suối mơ,
Quanh co uốn lượn tự bao giờ…
Hồn con, nai khát bên khe thác,
Tươi mát mong chờ giọt ý thơ.

Tặng Phương Hương
Phút linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen.
Khói trầm bén giấc mơ tiên
Bâng khuâng trăng rải qua miền quạnh hiu.
Tô Châu lớp lớp phù kiều
Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam.
Rạc rời vó ngựa qua quan
Cờ treo ý cũ, mây dàn mộng xưa.
Biển chiều vang tiếng nhân ngư
Non xanh thao thiết, trời thu rượi sầu.

Tình vạn dặm, tên người yêu chắc đẹp
Người và tôi xa quá đỗi – muôn trùng
Tôi với người chưa một giấc mơ chung
Đời viễn xứ nên tình không thấu hết.
Hoài mộng cho tin, nghi ngờ để biết
Hỡi người duyên, người xa cách muôn trùng
Đến bao giờ nằm ngủ giấc mơ chung
Cho thơ sáng tỏa quanh hồn thắm thiết.
Hỡi người đẹp chưa bao giờ quen biết

Nhà em ở cách hai sông
Muốn qua bên ấy phải vòng phía non.
Lúc xanh sóng lúa reo cồn
Cây xanh dẫn lối, lối mòn cỏ tươi.
Chân đi, mắt ngoảnh trông trời
Khẩn thầm: Thượng Đế phù tôi kịp đò.
Cho tôi mang tấm tình thơ
Gửi người xa mấy lần đò ngóng trông.
Sông xuân hẹn chở hết lòng
Đò xuân đem hết chờ mong tới bờ.

MẸ ĐẸP VÔ NGẦN
Con nhớ một lần đứng ngắm trăng
Giữa vườn hoa đẹp, rộng thênh thang
Bỗng đâu con nhớ lời thơ nọ
Diễn tả dung nhan của Mẹ rằng:
“Mẹ đẹp vô ngần Mẹ trắng phau
Gấp nhìn hoa huệ, vạn bồ câu
Và nhan sắc Mẹ không là gấm
Nhưng dệt bằng hương rất nhiệm mầu…”
Không biết lời thơ đó của ai
Trích ở bài thơ viết ngắn dài
Học từ tấm bé nay không nhớ
Phải phục nhà thơ có biệt tài.
Chắc Mẹ đang còn giữ bài thơ
Mẹ ráng tìm xem giọt lệ mờ
Của nhà thi sĩ rơi trong đó
Mẹ nói con hay khỏi đợi chờ.
Thi sĩ khóc vì Mẹ tuyệt xinh
Hương hoa sắc gấm đẹp huyền linh
Nhưng lòng thi sĩ đâu được vậy
Thầm ước mơ trong tủi phận mình.
Con cũng khóc thầm số phận con
Dại dột con làm Mẹ héo hon
Bao nhiêu năm tháng đời tục lụy
Mẹ gắng giúp dùm giải phóng con.
Bể khổ trần ai lắm khóc than
Phiêu lưu trăng gió ngập tan hoang
Mong sao sống trọn đời cát bụi
Để được Mẹ ban phúc vẻ vang.
Cầu Mẹ thân thương Mẹ cảm thông
Cuộc đời bảy khổ chín long đong
Mẹ coi thi sĩ là con nhé
Phúc Mẹ lan tràn đổ xuống con.
Được vậy con mừng quá Mẹ ôi
Con thấy xa xa triệu triệu người
Cũng đang cầu Mẹ thương như vậy
Hỏa ngục chơi vơi khỏi bị rơi.
Năm thánh Mẹ này Mẹ thấy không
Con vui chi lạ lạ vô cùng
Bốn trăm băm bốn ngày dâng Mẹ
Triệu triệu lần con hát kinh mừng.
Mẹ đẹp vô ngần Mẹ trắng phau
Đầy dư phúc lộc ngự trời cao
Mẹ đang chiêm ngưỡng dung nhan Chúa
Xin Mẹ nguyện cầu con gắng theo.
Thi sĩ cùng con dâng Mẹ đây
Mấy lời xướng họa cả thơ này
Làm như của lễ mừng năm Mẹ
Chắc Mẹ vui lòng chấp nhận ngay.
HIU QUẠNH
Thuở nhỏ tôi run lúc đổ chiều
Gió về trút lá, trải cô liêu
Đường xa thấp thoáng hàng sương trắng
Gối lẽ, giường đơn lạnh rất nhiều.
Đèn chụp chao xanh, dọi chữ vàng
Tay lùa tóc biếc, mắt theo trang
Tôi mơ khi học bài luân lý
Cửa hé nhà ai sáng dịu dàng.
Chữ nở ra hoa, sách có người
Tay nâng nâng sách ép lên môi
Rùng mình khi thấy hồn thay khác
Ngay cả giang sơn, đắm cả trời.
Đó tuổi thanh xuân ngóng bạn về
Đường đời giục giã bước chân đi
Nghìn đôi mắt đẹp, nghìn mắt lạ
Tôi chép song song đậm nét chì.
Trốn tránh đìu hiu kiếm lứa đôi
Quên thân đau khổ giữa vui đời
Khi đèn đỏ ngọn hồn kinh hoảng:
“Lạy Chúa nhân lành thương xót tôi!”
Núi dựng cô đơn, buồn xếp hàng
Ngõ chiều, mây trắng, phất phơ tang
Ái ân khôn lấp hồn sa mạc
Vĩnh viễn thê lương lạnh bóng tàn.
Chiều buốt linh hồn tôi đứng đây
Nguyện cầu Thánh giá chắp đôi tay
Rưng rưng mắt lệ nhìn xa thẳm
Mơ lửa trời thiêng cháy vạn ngày…
CHUYẾN TÀU ĐỜI
Nhiều lần tôi nghĩ bao la
Đời là quán khách, tôi là giấc mơ
Trao duyên rất đỗi tình cờ
Không mong ước hẹn, không ngờ gặp nhau
Tôi sinh cách mấy nghìn sau
Vẫn bền thiên luật: Lên tàu xuống ga
Đường lùi bóng núi sông qua
Nay đương nắng mới mai là cảnh mưa
Có tôi tàu vẫn đông thừa
Không tôi, chợ, phố phường chưa vãn người
Mất, còn có nghĩa gì tôi
Tôi là chút ít của đời chút không
Nẻo trần: Bụi cuốn mây dong
Mơ xây vĩnh viễn lồng trong má đào!
Đôi phen gió lạnh bay vào
Ngẩn ngơ:
Ta xuống ga nào hở em?
HỒN CHIỀU
Người con nhỏ mà hồn thê thiết
Lửa trần gian không nhóm nổi lòng yêu
Con vào đây! Đời lạnh biết bao nhiêu
Nắng đã rụng dưới chân ngày tang chế.
Cha đợi đón con từ bao thế hệ
Nhớ mong nhiều nên mắt đã hầu khô.
Áo chùng thâm buồn nổi giữa hư vô
Mơ ánh sáng cõi Muôn Trùng lạnh lẽo.
Cha biết lắm, lòng con nay đã héo
Bởi nhân tình không xứng ý con mong
Lấy cô đơn con đổi Mộng vô cùng
Dâng Cao Trọng con gặp toàn vị kỷ.
Chiều lạnh quá! Ngoài kia đời đã xế
Vào đây con, trong lửa ấm lòng Cha
Con nhớ nhung ánh sáng tiệc đời hoa
Đèn trăm nến, Thơ muôn màu đã tắt?
Ảo vọng hết! Lầu xây trên dãy cát
Con thấy không, muôn vật chỉ phù hư!
Và đau thương làm rộn đáy tâm tư
Ngỡ xây mạnh nhưng chỉ là gió thoảng!
Cả nhân thế trên đường về chuếnh choáng
Ngầu men say, nay ứ khí tham lam
Cha đứng đây buồn thấy ánh Vinh Quang
Không chiếu lọt qua bức màn tăm tối.
Tin tưởng lạnh! Lời thề xưa đã lỗi
Hồn kinh phai trên miệng thế từ lâu
Dưới chân Cha, không một kẻ nghiêng đầu
Và không cả một tấm lòng tưởng nhớ.
Máu rất trọng của linh hồn rất khó
Cuộc đày thân vinh hiển giữa trần gian
Đời quên Cha, tìm dõi ánh kiêu sang
Hoa nhân đức đã phai mờ hương sắc.
Cha nhóm lại, khi trời chiều lửa tắt
Tình thiêng liêng cao quý ở lòng con
Xuân muôn năm nơi vĩnh viễn linh hồn
Hương thanh khiết thơm tươi mùa trọng thể…
Đời lạnh quá! Ngoài kia chiều đã xế…
(Trích tuyển tập Có một vườn thơ đạo, tập 2, từ trang 68-72)



































































































































Những ai từng quan tâm tới văn học Công Giáo Việt Nam không thể không biết đến Võ Long Tê, một cây viết đa tài, vừa làm thơ bằng tiếng Pháp, vừa viết biên khảo về ngôn ngữ, văn học bằng tiếng Việt. Ông đã ra đi vĩnh viễn tại Calgary, Canada ngày 21-8-2017, thọ 90 tuổi.

Võ Long Tê sinh ngày 28-6-1927 tại Huế, bị đi tù từ sau ngày 30-4-1975 đến 1980. Sau đó, ông bà được xuất ngoại do sự can thiệp của Hiệp Hội Nhà Văn Pháp Ngữ mà ông là hội viên. Ông đến sinh sống đoàn tụ với các con tại Calgary, Canada năm 1991.

Trước 1975, ông là hội viên của nhiều tổ chức tôn giáo và văn hóa Việt Nam và quốc tế: Phong Trào Trí Thức Công Giáo VN (Pax Romana), Trung Tâm Văn Bút, Hội Nghiên Cứu Đông Dương, Trung Tâm Văn Hóa Arthur Rimbaud ở Charteville-Mézières (Pháp), Hiệp Hội Nhà Văn Pháp Ngữ (Paris)…


Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang – Sinh ngày 8-1-1932 tại xứ Lại Yên, huyện Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội.
Thụ phong linh mục: 18-4-1958.
Thụ phong Giám mục: 22-4-1981 với khẩu hiệu: “Chân Lý Trong Tình Thương”; giám mục phụ tá Tổng giáo phận Hà Nội.
Ngày 3-12-1990: Giám mục chính tòa giáo phận Thái Bình. 
qua đời: 05.10.2017
Thọ 86 tuổi, với 59 năm linh mục, 36 năm Giám mục.

Tác phẩm: Hành Hương Và Thăm Viếng (2003), Đời Dâng Hiến (Thơ, 2006), Đối Thoại Tôn Giáo (2008), Những Câu Chuyện Tôn Giáo Và Khoa Học (2008), Suy Và Gẫm (2009), Hành Trình Nước Ngoài (2009), Giũ Bụi Trần Ai (2010), Giáo huấn mục vụ (nhiều tập), Hồi ký của một giám mục cao tuổi (2012, 10 tập) 




Trong niềm tin vào Chúa Kitô tử nạn và Phục Sinh, chúng con xin thành kính phân ưu cùng đại gia đình giáo phận Vinh và xin anh chị em cùng hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn nhà thơ Linh mục Phanxicô Xaviê Võ Thanh Tâm,
nhà thơ nổi tiếng với thi phẩm Hạnh Phúc Người Công Giáo,
Nguyên tổng đại diện giáo phận Vinh.

- Sinh năm 1932 tại Giáo xứ Thọ Ninh, huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh.
- Thụ phong linh mục năm 1963 - Quản xứ, quản Hạt nhiều nơi - Tiến sĩ giáo luật Đại hoc Urbano Roma. - Giáo sư Đại chủng viện Vinh - Thanh. - Tổng đại diện GP Vinh 2007 - 2010.
- Đột ngột từ trần tại nhà hưu dưỡng Tòa Giám mục GP Vinh và hồi 23h ngày 17/8/2017.
Sau đây, xin mời bạn đọc cùng ôn lại tâm tình của người quá cố qua thi phẩm bất hủ nói trên cùng một vài bài thơ khác của tác giả.


Thành kính phân ưu

BBT

HẠNH PHÚC NGƯỜI CÔNG GIÁO


Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Tiếng chuông lành đã ru ấm hồn tôi,
Như ngày xưa khi mới bước vào đời
Cánh tay mẹ ấp yêu từng giây phút.
Khi thù ghét bốc lên cao ngùn ngụt,
Chung quanh tôi thì ý đẹp yêu thương.
Tỏa mùi thơm như vạn đoá hoa hường
Và mát mẻ như trời sương mùa hạ.
Lòng mến Chúa làm tan đi tất cả,      
Những đau thương, tê tái, những bất công
Những cuồng say, mê đắm những cơn giông
Đang gầm thét trên biển trần điên đảo.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Gặp tử sinh tôi hiểu rõ vì đâu,
Nhìn trời xanh lồng lộng ở trên đầu,
Tôi biết có một bàn tay điều khiển.
Nhìn nắng sớm mây chiều biến hiện,
Đàn cò bay ngoài mặt biển bao la,
Cánh đồng quê tươi tốt điểm ngàn hoa,
Dòng suối lượn như lụa trời mới dệt.
Tôi biết có một tấm lòng tha thiết
Yêu loài người muôn thuở muôn nơi,
Ở đâu xa không có ánh mặt trời
Vẫn có cả Tấm Lòng kia tuyệt hảo.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Đưa cuộc đời ra khỏi chốn bùn nhơ.
Tâm hồn tôi là một chiếc bàn thờ
Nơi Chúa ngự giữa loài người con cái.
Những khi lòng cực khổ xót xa, quằn quại,
Nước mắt sầu tuôn xuống tựa mưa rơi,
Tôi vẫn nhìn thấy một nụ cười tươi
Một khoé mắt nâng đời tôi đứng dậy
Dắt tôi bước tới miền quê xa ấy
Là Thiên đàng ai cũng ước cũng mong.
Dù bàn chân rách nát, máu đỏ ròng
Tôi vẫn thấy êm như người đi dạo.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Sống trong tàu Giáo hội giữa đêm sâu.
Khắp mười phương đâu cũng có bạn bầu,
Đâu cũng có bóng thánh đường quen thuộc.
Có lễ sáng, chầu chiều, tháng hoa, cuộc rước,
Có Đức tin ngời chói ngọc kim cương,
Có bí tích Thánh Thể, suối tình hương.
Có bản nhạc Te Deum hùng dũng.
Có những khuôn mặt thoạt nhìn đã nghe ấm cúng,
Luồn qua da, qua thịt thấu tim gan.
Có những người tu sĩ quý hơn vàng
Hy sinh cả cuộc đời vì nghĩa lớn.
Có những tâm hồn không vương tí bợn,
Thơm nhân đức và sáng đẹp hơn trăng.
Có những khối óc không mấy kẻ sánh bằng
Tìm đến Chúa sau những ngày giông bão.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Thả hồn bay theo tiếng hát lời kinh.
Nhớ những mùa thu đất nước thanh bình,
Người lớp lớp đi lễ mừng Các Thánh.
Hay sột soạt giữa đêm đông sương lạnh,
Những áo quần hớn hở đón Noel,
Những bà già mang tràng chuỗi nhánh đen
Cười nhoẻn miệng như những cô gái.
Lá cờ vàng trắng, đưa tay yêu vẫy mãi,
Trên cột cờ ngút gió cạnh lầu chuông,
Những chiếc băng duyên dáng vắt qua đường,
Những bái hạ nến hoa lừng trước ngõ.
Mùi hương trầm bay phảng phất theo gió.
Tiếng pháo rền theo nhịp trống chiêng đưa
Điều kinh cầu một bên xướng, bên thưa
Như ràng rịt những hồn người tham dự.
Giọng học bổn bay khắp làng khắp xứ.
Khi Mùa Chay về ấm nắng tình thương,
Trên lưng trâu cúi liếm cỏ bên đường,
Vẫn nghe đọc năm sự mừng kính Mẹ.
Trong xà lim vẫn có người se sẽ
Hát Salve cho vơi bớt đắng cay.
Cô hàng rau khiêng gánh cải chất đầy,
Nơi cổ áo thánh giá vàng lấp lánh.
Trên vầng trán sáng tươi và đạo hạnh
Một dấu gì của Chúa đã in sâu.
Hai bà lương giữa chợ bảo thầm nhau:
"Cô nói thật bởi vì cô có đạo! "
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Thả hồn thơ bay quá cõi trăng sao,
Vì bạn ơi, trong say mến dạt dào,
Tôi hôn Chúa, Chúa hôn tôi nhiều bữa.
Vì ngòi bút mực nước mắt đã ứa,
Viết yêu thương bên cạnh tiếng đau thương.
Vì chân đi trăm nẻo bước trăm đường,
Mà không thấy đường nào bằng đường ta bạn ạ!
Ôi Công giáo, Vaticăng, La mã!
Những danh từ quý đẹp biết bao nhiêu.
Tôi muốn biên lên mặt giấy rất nhiều,
Và nhai nuốt cho hoà vào máu thịt.

VIẾNG BIỂN HỒ GALILÊA                             

Tôi đến thăm hồ một buổi mai
Xao xác heo may gió thở dài
Một làn sương khói là trên nước
Như gợi nhắc mình nhớ tới ai.
Thuyền vượt ra khơi, ngoảnh nhìn sau
Phố phường nhà cửa trắng phau phau
Vài cây dừa nước thân vươn thẳng
Lá biếc ban mai trông đậm màu.
Bốn phía vây quanh những mái đồi
Xóm làng thưa thớt điểm đôi nơi
Nước trong xanh đẹp, êm không sóng
Vài chiếc du thuyền nhẹ lướt trôi.
Này hỡi hồ ơi! có nhớ xưa
Bão to gầm thét giữa cơn mưa
Chúa giơ tay phán, trời im gió
Mặt nước xôn xao bỗng lặng tờ.
Và đã có lần Chúa bước đi
Trên mặt hồ đây chẳng can gì
Đến thuyền môn đệ đêm khuya vắng
Họ tưởng là ma cứ xầm xì.
Cũng quanh hồ này Chúa tới lui
Cuộc đời truyền giáo khổ mà vui
Ngư dân Chúa gọi làm muôn đệ
Cương quyết xông pha, chí chẳng lùi.
Hai ngàn năm cũ dẫu trôi qua
Dấu vết nơi đây chẳng xoá nhoà
Kìa núi Bát phúc, vùng Tạpgá *
Với căn nhà nhỏ của Kêpha...
Hôm nay tôi đến từ xa xứ
Viếng Biển Hồ xưa niệm Chúa Trời:
"Cho con bền vững niềm tin giữ
Yêu Chúa Huyền Siêu cả cuộc đời ".
* Nơi Chúa làm phép lạ cho bánh hoá nhiều .

MẸ VÔ NHIỄM

Đất bùn nở đoá hoa sen
Đẹp như nắng sớm mới lên ven đồi,
Mẹ sinh ra giữa loài người
Tội nguyên vô nhiễm muôn đời hát ca,
Chúng con nặng nợ Evà
Mở mắt nhìn thế lệ nhoà mi thơ
Đau thương sóng dập muôn bờ
Thuyền manh bạt gió trông chờ Mẹ yêu
Nhìn về luyến tiếc bao nhiêu
Xưa kia tội tổ làm tiêu "địa đàng"
Nhưng nay Bắc Đẩu dịu dàng
Giữa trùng dương tối soi ngàn ủi yên.
Quê con cũng có một miền
Nhiều phen từng được mẹ hiền viếng thăm,
Mẹ gieo ánh ngọc trăng rằm
Phá tan giai đoạn tối tăm hãi hùng[1]
LA VANG thánh địa miền rừng
Đến nay còn cả một vùng linh thiêng
Mẹ ơi! Mẹ quá dịu hiền
Con nhìn mắt Mẹ triền miên thương đời
Trái tim vô nhiễm rạng ngời
Suối trong diễm lệ muôn đời hát khen.
                                   ·
Đất bùn nở đoá hoa sen
Đẹp như nắng sớm mới lên ven đồi.

NGHĨ VỀ NĂM THÁNG             

Mùa xuân đến tôi nghĩ về năm tháng
Của đời tôi như nước chảy dưới cầu
Chảy sáng chiều ra lòng biển rộng sâu
Chảy ngày đêm, không bao giờ dừng lại.
Mới xuân nào tôi hãy còn mê mải
Chơi quên ăn với chiếc pháo đì đùng
Mẹ vỗ về cho một lát bánh chưng
Tôi nhai vội rồi chạy đi tìm bạn.
Thời gian trôi, tôi lớn cùng năm tháng
Chiếc thuyền đời chở đến những bờ xa
Tôi vui mừng, say đón tiếng chim ca
Đón ánh sáng và muôn hoa tuyệt diệu.
Nhưng đường đời gian truân đâu có thiếu
Những ngày đông ảm đạm rét và mưa
Ngọn cuồng phong ào ạt đến giữa trưa
Trời quang đãng bỗng dưng tối sầm lại.
Nay xuân đến, tôi nhìn lùi xa ngái
Bao năm qua, bao nhiêu quãng đời tôi
Rộn tiếng cười và nước mắt đầy vơi
Tôi đã sống nhờ hồng ân của Chúa...
Hôm nay ngài ban thêm năm mới nữa
Ôi, thời gian như máu Chúa[2], quý thay!
Tôi vội quỳ và chấp cả đôi tay
Xin cảm tạ tình thương Ngài vô lượng.


(trích trong Bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, tập II, do Lm trăng Thập Tự chủ biên, tr. 251-257)


[1] Giai đoạn Cảnh Thịnh cấm đạo.
[2] . Một nhà thần học Âu châu đã nói: "thời gian quý như Máu Chúa" vì thời gian cần phải có để việc cứu rỗi của Chúa được thực hiện. Thánh Bernadin de Sienne lại nói "một khoảnh khắc cũng giá trị bằng Chúa" (un seul moment vaut autant que Dieu) vì nhờ một khoảnh khắc ăn năn tội cách trọn người ta có thể chiếm hữu được Chúa, được Nước Trời.



LỜI NGỎ CHO ĐÊM THƠ
•      Tên thật: Gioan Baotixita Lê Xuân Hoa,
•      sinh ngày 23-4-1926, tại làng Phú Trung, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
•      Rửa tội năm 1926 tại họ Hiệu Lân, xứ Xuân Phong, giáo phận Vinh
•      theo học Tiểu Chủng Viện Xã Đoài (1938-1949), Đại Chủng Viện Xuân Bích, Hà Nội (1953) Sàigòn (1954), Đại Chủng Viện Lê Bảo Tịnh (1955-1959).
•      Thụ phong linh mục ngày 19-7-1959.
•      Dạy Việt văn tại các Tiểu Chủng Viện Chân Phước Tự (Thủ Đức) và Sao Biển (Nha Trang) từ 1959-1965.
•      Chính xứ Vinh Hưng, Vinh Thuỷ, Phan Thiết (1965).
•      Quản Hạt  Bình Tuy (1972).
•      Đại Diện Giám Mục (1975)
•      Tổng Đại Diện Giáo Phận Phan Thiết 1987.
•      Giám chức danh dự do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban tặng ngày 25-01-1998.
•      Được Chúa gọi về lúc 22g10, Thứ Tư ngày 19 tháng 7 năm 2017 tại nhà Hưu dưỡng Giáo phận Phan Thiết, hưởng thọ 92 tuổi, 58 năm linh mục.




PHAOLÔ GIUSE PHẠM ĐÌNH TỤNG

Sinh ngày 20-05-1919 tại Cầu Mễ, Yên Mô, Ninh Bình (giáo phận Phát Diệm) – Thụ phong linh mục: 06-06 -1949 – Giám mục Bắc Ninh: 15-8-1963 – Tổng Giám mục Hà Nội: 23-4-1993 – Hồng y: 26-11-1994 – Giám quản Lạng Sơn: 1998 – Qua đời: 22-2-2009
Tác phẩm: Cuộc đời Chúa Cứu Thế Diễn Ca – Kinh Nguyện Diễn Ca – Giáo Lý Ca – Huấn Ca.

MAI LÂM
Tên thật của ông là Giuse ĐOÀN VĂN THĂNG, sinh ngày 28-04-1915 tại Hoàng Mai, tỉnh Bắc Giang. Mai Lâm đăng thơ trên một số tạp chí đạo đời có tiếng tăm như: Đường sống, Bách Khoa, Phổ Thông, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Sống Đạo, Lửa Mến, Liên Lạc vv…
13 giờ ngày 08-11-1992, nhà thơ lão thành Mai Lâm vĩnh biệt trần gian để đặt chân vào đất Hứa trên trời.




VŨ NGỌC BÍCH
Sinh ngày 17-8-1914 tại Kim Sơn, Ninh Bình (giáo phận Phát Diệm).
Thụ phong linh mục năm 1942 tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội.
Qua đời ngày 08-6-2004.

Cha Vũ Ngọc Bích là một vị chân tu đạo đức, một nhà báo – một nhà nghiên cứu và là một nhà thơ.
Những tác phẩm của ngài (hơn 40 tác phẩm chủ yếu về tu đức) xuất bản từ nhưng năm 1940-1950 của thế kỷ trước, thực sự đã nuôi dưỡng nhiều tâm hồn thánh thiện và dẫn đưa nhiều người dấn thân đời tu trì phục vụ tha nhân.

Được tạo bởi Blogger.