LỜI NGỎ CHO ĐÊM THƠ
•      Tên thật: Gioan Baotixita Lê Xuân Hoa,
•      sinh ngày 23-4-1926, tại làng Phú Trung, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
•      Rửa tội năm 1926 tại họ Hiệu Lân, xứ Xuân Phong, giáo phận Vinh
•      theo học Tiểu Chủng Viện Xã Đoài (1938-1949), Đại Chủng Viện Xuân Bích, Hà Nội (1953) Sàigòn (1954), Đại Chủng Viện Lê Bảo Tịnh (1955-1959).
•      Thụ phong linh mục ngày 19-7-1959.
•      Dạy Việt văn tại các Tiểu Chủng Viện Chân Phước Tự (Thủ Đức) và Sao Biển (Nha Trang) từ 1959-1965.
•      Chính xứ Vinh Hưng, Vinh Thuỷ, Phan Thiết (1965).
•      Quản Hạt  Bình Tuy (1972).
•      Đại Diện Giám Mục (1975)
•      Tổng Đại Diện Giáo Phận Phan Thiết 1987.
•      Giám chức danh dự do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban tặng ngày 25-01-1998.
•      Được Chúa gọi về lúc 22g10, Thứ Tư ngày 19 tháng 7 năm 2017 tại nhà Hưu dưỡng Giáo phận Phan Thiết, hưởng thọ 92 tuổi, 58 năm linh mục.




PHAOLÔ GIUSE PHẠM ĐÌNH TỤNG

Sinh ngày 20-05-1919 tại Cầu Mễ, Yên Mô, Ninh Bình (giáo phận Phát Diệm) – Thụ phong linh mục: 06-06 -1949 – Giám mục Bắc Ninh: 15-8-1963 – Tổng Giám mục Hà Nội: 23-4-1993 – Hồng y: 26-11-1994 – Giám quản Lạng Sơn: 1998 – Qua đời: 22-2-2009
Tác phẩm: Cuộc đời Chúa Cứu Thế Diễn Ca – Kinh Nguyện Diễn Ca – Giáo Lý Ca – Huấn Ca.

MAI LÂM
Tên thật của ông là Giuse ĐOÀN VĂN THĂNG, sinh ngày 28-04-1915 tại Hoàng Mai, tỉnh Bắc Giang. Mai Lâm đăng thơ trên một số tạp chí đạo đời có tiếng tăm như: Đường sống, Bách Khoa, Phổ Thông, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Sống Đạo, Lửa Mến, Liên Lạc vv…
13 giờ ngày 08-11-1992, nhà thơ lão thành Mai Lâm vĩnh biệt trần gian để đặt chân vào đất Hứa trên trời.




VŨ NGỌC BÍCH
Sinh ngày 17-8-1914 tại Kim Sơn, Ninh Bình (giáo phận Phát Diệm).
Thụ phong linh mục năm 1942 tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội.
Qua đời ngày 08-6-2004.

Cha Vũ Ngọc Bích là một vị chân tu đạo đức, một nhà báo – một nhà nghiên cứu và là một nhà thơ.
Những tác phẩm của ngài (hơn 40 tác phẩm chủ yếu về tu đức) xuất bản từ nhưng năm 1940-1950 của thế kỷ trước, thực sự đã nuôi dưỡng nhiều tâm hồn thánh thiện và dẫn đưa nhiều người dấn thân đời tu trì phục vụ tha nhân.


Tên thật: GÉRARD GAGNON NHÂN
– sinh ngày: 08-05-1914 – tại Sacré-Coeur, Québec, Canada
Tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế. Khấn lần đầu ngày 15-08-1935
- Tham gia nhóm Tập Sinh Dòng Chú Cứu Thế đầu tiên tình nguyện sang truyền giáo tại Việt Nam (08-11-1935)
- Khấn trọn đời tại Hà Nội (16-12-1938)
- thụ phong chức linh mục tại Hà Nội (06-06-1940).

Tên thật: Phêrô Phạm Đình Tân, bút hiệu Bảo Long. 
Sinh năm 1913 tại Bảo Long, huyện Mỹ Lộc, Nam Định. 
Cộng tác với các báo: Phụ Nữ Thời Đàm, Thanh Nghị, Phụng Sự, Tinh Thần (Hà Nội). 

Ông cùng với ông Phạm Đình Khiêm chủ trương hai tờ báo Thanh Niên và Văn Đàn, rồi lập tủ sách Thanh Niên Chuyên San (1946) và Tinh Việt Văn Đoàn (1950). Năm 1984, ông sang Bỉ và Pháp đoàn tụ với gia đình rồi qua đời tại Paris, 1992.

Thi phẩm: Tiếng Thầm (Hà Nội, 1952); Lời Thiêng (Văn Đàn, Sài Gòn 1960); Nghiên cứu: Ozanam với Hội Thánh (1953), Tòa Thánh La Mã (1960), Trên đường về (1963), Tình Quê Hương qua thi ca (1964), Chúa Cứu Thế với gia đình; Chúa Cứu Thế với Thời Nay; Đức Mẹ giữa chúng ta; Chìa khóa mở cửa thành công; Kiến thiết Tinh thần; Thân phận lao động; Tiểu thuyết giáo dục: Duy Đức, học sinh trinh thám. Nhiều dịch phẩm.


Bùi Tuân sinh năm 1913 tại Ngọc Lâm, Quỳnh Lưu, Nghệ An, nhưng lớn lên và thành danh tại Bình Định, Huế và Sài Gòn… Ông cộng tác thường xuyên với các tờ báo: Lời Thăm, Vì Chúa, Vinh Sơn, Tổ Quốc, Văn Đàn, Duyên Nghèo, Hạt Cải….
Ông qua đời năm 1966.
Ngoài hàng trăm bài viết trong đó có một số bài thơ đăng trên các báo, ông còn để lại một số tác phẩm:
- Thế Lực Đối Ngoại của Tòa Thánh (1950)
- Xây dựng trên nhân vị [1] (1945).
- Con heo vàng (truyện 1962)
- Hàn Mạc Tử theo tôi biết.
- Tôn Giáo trong thơ Hàn Mạc Tử
- Hàn Mạc Tử và sứ điệp của nhà thơ (Di cảo)
- Chúa Cứu Thế (dịch của A.Boyer. NXB An Phong. Huế, 1949)

TUYỂN THƠ

Nhập Thể

Gởi Võ Long Tê
Đâu phượng nở, hè đi về rộn rịp
Hè là đây, tình phượng nở nơi nao
Vàng sông Hương, bến cũ lắng chiêm bao
Sầu Bạch Hổ, đò xuôi không về kịp
Đường tơ thắm trong tiếng đàn lỗi nhịp
Buồn nắng chiều nỗi nhớ của muôn sao
Thuở tiễn đưa nước thẳm vọng trời cao
Hương quyện sắc, sắc hương nào ý hiệp.
Yêu là lớn trong tình thơm bất diệt
Tiếng trần gian xóa nhạt cánh hồng tươi
Hỡi thiên thần, ta chỉ muốn là ngươi
Người quên bẵng? Ngôi Lời đã nhập thể
Yêu thương về mầu nhiệm hóa trần gian
Suốt mùa yêu là cả một thiên đàng.



Men Tình




Em có nhớ, một chiều xanh mùa hạ
Trăng quên lên mà gió cũng quên lên…
Đêm thanh bình, thông đỉnh Ngự vầy duyên
Tình mặc khách, lênh đênh xuôi Vỹ Dạ.
Trên cầu vắng, tiếng ai đi vội vã
Anh lặng nhìn nhịp bước của em qua
Sắc và hương và uyển chuyển thướt tha
Cười chớm nở trên hồn anh rộn rã…
Từ thuở ấy, anh đi vào xa lạ
Mà em là xứ sở mới bao la
Tìm sắc hương mỗi phút một lùi xa.
Sắc hương quyến rũ người vào tàn tạ
Muôn ân tình thắm mãi giữa đôi ta
Trong men nồng suối rượu tiệc Cana.


Bùi Tuân
(trích trong Bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, tập II, Lm Trăng Thập Tự chủ biên, tr. 21-23)

[1] Giải thưởng bộ môn khảo luận năm 1957 do Văn hóa Vụ khởi xướng và trao giải ngày 25-9-1957 tại dinh Độc Lập. Các bộ môn:

Khảo luận: Văn chương Bình dân của Lm. Thanh Lãng (hạng I)
Xây Dựng Trên Nhân Vị của Bùi Tuân ( hạng II)
Người Xưa của Trần Đình Khải ( Đồng hạng II)
Ngoài ra, còn có các giải thưởng về Tiểu thuyết, Thơ và Kịch.

                  


Tên thật: Giuse BÀNG BÁ LÂN

Sinh ngày 01-12-1912, nguyên quán làng Đôn Thư, tổng Ngô Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Thi phẩm: Tiếng thông reo (1934), Xưa (1941), Tiếng võng đưa (1957), Vào Thu (1969). 

Nghiên cứu: Việt Văn Bình Giảng (1962), Vài kỷ niệm về các thi sĩ hiện đại (2 tập, 1962-1963).
Ông lãnh nhận phép Thánh Tẩy với tên thánh Giuse, vào ngày 11-2-1988 và qua đời ngày 20-8-1988.
Được tạo bởi Blogger.