Ngày kia, một tập sinh đến hỏi Ðức Viện Phụ cao niên của đan viện:

- Thưa cha, xin cha giúp con vài lời khuyên để con thực sự trở thành người của Chúa.

Vị Viện Phụ già trả lời:

- Con hãy vào phòng, đóng kín cửa lại và cầu nguyện. Lời cầu nguyện sẽ dạy con mọi sự.

Thầy tập sinh lại hỏi:

- Thưa cha, đâu là điều kiện chính giúp cầu nguyện đích thực?

- Ô, dĩ nhiên, đó là bầu khí yêu thương. Ai cầu nguyện với tội lỗi và tâm tình thù hận trong lòng thì cũng giống như một người dọn thức ăn thịnh soạn trên một cái dĩa bẩn hay như một người nói hay nhưng hơi thở hôi thối.

Thầy tập sinh lại hỏi tiếp:

- Thưa cha, con rất hay chia trí khi cầu nguyện. Làm sao để khỏi chia trí đây?

Ðức Viện Phụ đáp:

- Các chia trí cũng giống như chim sẻ bay ngang trên trời. Con không thể ngăn cản chúng bay qua mái nhà con ở. Nhưng con có thể ngăn cản không cho nó làm tổ trên mái nhà của con chứ? Riêng đối với những tư tưởng xấu xa thì chúng giống như bọn ong bầu. Nếu con ngồi yên, chúng sẽ bay đi nơi khác. Nhưng nếu con càng động đậy, chúng sẽ càng bổ nhào đến hành hạ con.

Thầy tập sinh lại hỏi thêm:

- Tại sao khi cầu nguyện con lại hay bị chán nản ngã lòng, thưa cha?

- Bởi vì con chưa thấy đích điểm đời mình là gương mặt tuyệt vời của Thiên Chúa.

- Thưa cha, cho con hỏi câu cuối cùng: Lời cầu nguyện có quan trọng thật không? Nó có quan trọng hơn hành động không?

- Quan trọng lắm chứ. Bằng chứng là ma quỉ hằng tìm mọi cách để quấy phá và khiến cho lời cầu nguyện trở nên nặng nề. Nó tìm mọi phương thế khiến cho chúng ta ươn lười không muốn cầu nguyện và làm cho chúng ta tin rằng cầu nguyện là vô ích.

*

*  *

Ðược Thiên Chúa phái đến trong sứ vụ cứu thế cải tạo con người và đổi mới trần gian, Chúa Giêsu đã sống như con người của lời cầu nguyện. Ðối với Chúa Giêsu, cầu nguyện là cách thế sống mối liên hệ yêu thương thân tình với Thiên Chúa trong sứ mệnh cứu độ trần gian của Ngài. Gương mẫu của Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta rằng: cầu nguyện là điều quan trọng bậc nhất cho sứ mệnh làm người. Muốn cách mạng cuộc đời, muốn thay đổi thế giới, hãy cầu nguyện, và hãy trở thành những con người biết cầu nguyện.

Ơn gọi của Kitô hữu là ơn gọi trở thành cây thu lôi. Khi sống trung thực ơn gọi làm người và làm con cái Chúa của mình bằng một đời sống kết hợp thân tình với Chúa, một đời sống cầu nguyện chân thành, chúng ta sẽ kéo ơn lành của Chúa xuống trên mọi người khác, và tránh cho thế giới khỏi những tai ương do chính cuộc sống tội lỗi gian ác của con người gây ra.

Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 19, các dân tộc thuộc vùng núi Cô-ca-dơ ở phía nam nước Nga được cai trị bởi một vị quốc vương hồi giáo nổi tiếng là thanh liêm chính trực. Ưu tiên hàng đầu trong việc chấn hưng đất nước của ông là quét sạch mọi tham những, hối lộ.

Ông ban hành một sắc lệnh, theo đó thì tất cả những ai bị bắt quả tang phạm tội tham nhũng và hối lộ sẽ bị phạt đánh 50 roi trước mặt công chúng.

Ðiều không may xảy ra cho ông, đó là, người đầu tiên bị bắt quả tang phạm tội này lại chính là mẹ ông. Sự kiện này làm cho ông đau đớn vô cùng. Không có một luật trừ hay châm chước nào cho sắc lệnh mà chính ông đã ban hành.

Liên tiếp ba ngày liền mà nhà vua giam mình trong lều của ông. Sang ngày thứ tư ông xuất hiện trước công chúng cùng với thân mẫu. Ông ra lệnh cho hai binh sĩ trói tay mẹ ông và bắt đầu xử lý theo qui luật.

Thế nhưng khi chiếc roi đầu tiên vừa quất xuống trên người mẹ ông thì nhà vua liền chạy đến bên cạnh bà. Ông mở trói cho bà. Rồi ra lệnh cho hai binh sĩ trói tay ông, lột áo ông ra và bắt đầu cuộc đánh roi. Ðúng 50 roi đã quất xuống trên thân mình nhà vua.

Với thân thể rướm máu và khuôn mặt nhợt nhạt, nhà vua quay về phía dân chúng và nói:

- Bây giờ thì các ngươi có thể ra về. Luật đã được thi hành. Máu của vua các ngươi đã chảy ra để đền bù cho tội ác này.

Kể từ đó, trong vưong quốc này, người ta không còn bao giờ nghe nói đến tội tham nhũng, hối lộ nữa.

*

*  *

Hình ảnh của ông vua trên đây có thể giúp chúng ta hiểu được phần nào điều mà Giáo hội gọi là mầu nhiệm nhập thể cứu độ.

Chúa Giêsu Kitô chính là Thiên Chúa hóa thân làm người để cứu độ con người. Cũng như vị quốc vương Hồi giáo trên đây đã chịu đòn thay cho mẹ và diệt trừ tham nhũng, hối lộ khỏi đất nước. Thiên Chúa đã mang lấy thân phận con người, trải qua tất cả những cảnh huống của con người, kể cả cái chết nhục nhã trên thập giá để cứu độ con người.

Thiên Chúa là đấng cứu độ. Ðó là tước hiệu quen thuộc nhất mà Thiên Chúa đã bày tỏ cho dân Do thái. Biến cố quan trọng nhất qua đó người Do thái nhận ra Thiên Chúa là đấng cứu độ của mình chính là cuộc giải phóng cha ông họ khỏi ách nô lệ bên Ai cập. Biến cố ấy cũng được người Do thái xem như là một hình ảnh tiên báo một cuộc giải phóng chung cục mà Thiên Chúa sẽ thực hiện.

Qua tiếng nói của không biết bao nhiêu trung gian thường gọi là ngôn sứ, Thiên Chúa luôn hướng niềm hy vọng của người Do thái đến cuộc giải phóng chung cục ấy. Và Chúa Giêsu đã đến thực hiện cuộc giải phóng đó, cuộc giải phóng không chỉ dành riêng cho người Do thái, mà còn cho toàn thể nhân loại nữa.

Tên Giêsu của Ngài trong tiếng Do thái có nghĩa là Thiên Chúa cứu độ. Duy chỉ một mình Ngài, đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người mới có thể cứu độ con người.


Chuyện xảy ra tại Ben-phát bên Ai-lên như sau:
Một linh mục công giáo, một mục sư tin lành, và một giáo trưởng Do thái, đang tranh luận rất sôi nổi về vấn đề thần học. Thình lình một Thiên Thần hiện ra giữa họ và nói:
- Thiên Chúa chúc lành cho các ngươi. Các ngươi hãy nói lên một ước nguyện về hòa bình và Thiên Chúa toàn năng sẽ chấp nhận.
Thế là vị mục sư tin lành liền khẩn cầu.
- Xin Chúa cho tất cả mọi người công giáo biến khỏi mãnh đất Ai-lên thân yêu này thì hòa bình sẽ trở lại tức khắc.
Vị linh mục công giáo thì cầu nguyện:
- Xin đừng để cho một người tin lành nào còn có mặt trên mãnh đất Ai-lên thân yêu này, và hòa bình sẽ trở lại.
Vị giáo trưởng Do thái thì lại cúi đầu thinh lặng. Thấy thế Thiên Thần liền hỏi:
- Còn ngươi, hỡi giáo trưởng, ngươi không có ước nguyện nào ư?
Ông ta liền thưa:
- Vâng, tôi không có điều gì để xin nữa. Tôi chờ cho lời cầu của hai vị này được Chúa chấp nhận là tôi mãn nguyện rồi.
*
*  *
Câu chuyện trên đây muốn nói lên một trong những thảm trạng đau thương của lịch sử nhân loại. Ðó là sự xâu xé do sự bất khoan dung tôn giáo gây nên.
Cuộc chiến đẫm máu giữa tin lành và công giáo tại Âu Châu vào thế kỷ 16, cuộc huynh đệ tương tàn giữa tin lành và công giáo tại Ai-lên hiện nay, cuộc nội chiến tại Nam Tư... cho thấy con người chém giết nhau chỉ vì niềm tin tôn giáo.
Ma-hat-ma Gan-đi, người đã giải phóng Ấn Ðộ khỏi ách nô lệ của người Anh bằng cuộc tranh đấu bất bạo động, đã bị một thanh niên Ấn Giáo hạ sát, chỉ vì anh ta không thể chấp nhận được sự kiện Gan-đi lại yêu thương và tha thứ cho người Hồi Giáo.
Con người luôn bị cám dỗ nhân danh niềm tin, nhân danh Thượng Ðế của mình để bách hại và loại trừ người khác.
Thời Chúa Giêsu, những người biệt phái cũng có thái độ tương tự. Nhân danh lề luật, nhân danh Thiên Chúa, họ đã kết án và loại trừ mọi người, nhất là những kẻ bé mọn, những người tội lỗi, những người dân ngoại.
Loan báo tình yêu Thiên Chúa cho mọi người, Chúa Giêsu đã không loại trừ một hạng người nào. Ðược sai đến trước tiên cho người Do thái, Chúa Giêsu cũng đi đến với cả nhân loại. Chúa Giêsu chính là hiện thân lòng khoan dung của Thiên Chúa, một Thiên Chúa là Cha yêu thương tất cả mọi người, và muốn qui tụ mọi người vào trong gia đình của Ngài.
Là con cái của Cha yêu thương và khoan dung, nguyên tắc sống của chúng ta cũng phải là yêu thương và khoan dung. Sống trong một xã hội đa diện, chúng ta được mời gọi tôn trọng và đón nhận những khác biệt của tha nhân. Nhất là không ngừng tha thứ cho những lầm lỗi của người anh em.
Sống như thế, chúng ta mới thực sự là chứng nhân của tình yêu, của một Thiên Chúa luôn luôn khoan dung và tha thứ cho mọi người.

(trích 100 Câu Chuyện Vui Gợi Ý Suy Tư Và Cầu Nguyện
của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu, Msgr. Peter Nguyen Van Tai)

Nụ Cười Trong Cung Lòng Thiên Chúa

Theo lời yêu cầu của các đệ tử, một vị linh sư Ấn Ðộ đã kể lại kinh nghiệm về các giai đoạn đời tu của ông như sau:
- Giai đoạn đầu tiên của ta là được Thiên Chúa cầm tay dẫn đến xứ sở của hoạt động. Ta đã ở lại đây nhiều năm.
Tiếp đó Ngài đã trở lại và đưa ta đến xứ sở của niềm đau. Tại đây trái tim của ta đã được thanh tẩy khỏi mọi dính bén với của cải trần thế.
Sau đấy Ngài dẫn ta đến miền đất của cô đơn. Ở đấy mọi ti tiện nhỏ bé của bản thân ta đều bị thiêu hủy hết, và ta đã có thể đi vào xứ sở của thinh lặng. Trước mắt ta, mầu nhiệm của sự sống và của sự chết đều được tỏ bày.
Nghe thế các môn đệ bèn hỏi:
- Phải chăng thầy đã đạt tới giai đoạn cuối cùng trong cuộc tìm kiếm của thầy?
Vị linh sư bình thản trả lời:
- Chưa đâu. Một ngày nọ Thiên Chúa đã nói với ta như sau:
"Lần này Ta đưa con vào thăm cung của đền thánh để con được đi vào cung lòng của Ta".
Thế là ta đã đến xứ sở của nụ cười.

*
*     *
Người Tây Phương thường nói: "Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn".
Niềm hoan lạc, sự vui tươi phải chăng không là nét cốt yếu trên khuôn mặt vị thánh?
Kinh Thánh đã nói: "Thiên Chúa là đấng làm hoan lạc tuổi xuân con". Thiên Chúa làm cho con những hoan lạc bởi vì Ngài chính là niềm vui. Ði vào cung lòng Thiên Chúa là tìm được nụ cười muôn thủa của niềm hân hoan đó.
Nụ cười không chỉ là biểu hiệu của niềm vui. Nó còn là một thách thức trong một hoàn cảnh bi đát. Ðó là nụ cười của bà Sara, bật lên giữa cảnh già nua son sẻ. Thực tế, khi Thiên Chúa cho bà biết sẽ thụ thai mặc dầu đã già lão, thì bà Sara đã bật cười.
Thiên Chúa thường khơi dậy những nụ cười như thế. Tư tưởng của Ngài, hành động của Ngài đều là những nghịch lý đối với con người.
Là lời của Thiên Chúa, là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, Chúa Giêsu cũng là sự nghịch lý nhập thể. Cả cuộc sống, lời rao giảng, nhất là cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là một chuỗi những nghịch lý trước con mắt của người đời.
Người đời chạy theo tiền của, danh vọng quyền bính, thì Chúa Giêsu lại tuyên bố: "Phúc cho những ai nghèo khó".
Người đời thích gây bạo động và hận thù, Chúa Giêsu lại dậy: "Phúc cho những ai hiền lành và xây dựng hòa bình".
Người đời cho rằng cái chết là một bất hạnh tột cùng, là tận điểm của cuộc sống, là kết liễu của tất cả. Chúa Giêsu lại dậy: đó là khởi đầu của hạnh phúc, là cửa ngõ đưa tới sự sống lâu dài.
Thánh Phaolô đã diễn tả cái nghịch lý cao vời ấy của Thiên Chúa bằng lời khẳng định sau đây:
"Ðiều mà thế gian cho là yếu hèn, thì đó lại chính là sức mạnh của Thiên Chúa... Những gì người đời cho là điên dại, thì đó chính là lẽ khôn ngoan của Thiên Chúa".
Ðấy cũng phải là xác tín của chúng ta. Với niềm xác tín ấy chúng ta sẽ vượt qua được con đường đầy nghịch lý giữa cuộc sống trần gian này để đạt tới cung lòng của Thiên Chúa, ở đó chúng ta sẽ gặp được nụ cười muôn thủa diễn tả niềm hạnh phúc vô biên của Ngài dành sẵn cho chúng ta.

(trích 100 Câu Chuyện Vui Gợi Ý Suy Tư Và Cầu Nguyện
của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu, Msgr. Peter Nguyen Van Tai)

Được tạo bởi Blogger.