Blaise Pascal (19/6/1623 – 19/8/1662)

Bài viết liên quan: Thị kiến thần nghiệm đã biến đổi Blaise Pascal

Nhân dịp Vatican mở án phong chân phước cho Blaise Pascal, một triết gia nổi tiếng thế kỷ 17, chúng ta đọc lại một vài tư tưởng để đời của ngài.

1. Ít người nói về sự khiêm tốn một cách khiêm tốn, về nhân đức một cách đức hạnh, về sự hoài nghi một cách ngờ vực.





Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt

“Chính quyền nghĩa là quyền chính đáng công khai hay là công quyền của người dân, phải có tính cách quang minh chính đại. Bây giờ người ta dùng côn đồ, dùng lực lượng đen tối là những lực lượng ở ngoài pháp luật. Nếu hai lực lượng giống như là ánh sáng và bóng tối nhưng chính người ta lại hợp tác với nhau thì khó coi rồi, mà nó còn lẫn lộn vào nhau thì thật là đáng buồn. Suy thoái đạo đức thật là thê thảm.” Đó là nhận định của Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt qua sự kiện nhà cầm quyền huy động côn đồ, các cán bộ của xã, thị xã và tỉnh cũng như an ninh thường phục, công an, các bà trong Hội Phụ Nữ đến đập phá, tháo dỡ Thánh Giá là biểu tượng thiêng liêng của niềm tin Công Giáo và đánh đập các Đan sỹ Đan viện Thiên An, chỉ vì nhà đương quyền đặt lợi ích chính trị, vật chất, kinh tế, lên trên tất cả các giá trị tâm linh, tinh thần.




Chúa Giêsu là Cứu Chúa của nhân loại, mọi người đều biết, nên tôi cũng biết từ lâu rồi! Và điều này làm tôi yên tâm trong một thời gian dài cho đến ngày tôi chạm được cái chân lý đầy ngỡ ngàng này: Chúa Giêsu là Cứu Chúa của tôi! Hay nói rõ hơn: Ngài đã cứu tôi. Câu chuyện xảy ra mấy năm rồi, nhưng vẫn còn rõ mồn một trong tôi mỗi ngày, và mỗi ngày các hình ảnh ấy sống trở lại trong tôi để cho tôi trình lên Chúa với hết tâm tình: Halleluia!



   Bạn từng nghe rằng Thiên Chúa là một người Cha Nhân Lành đang chờ đợi bạn trở về xin lỗi Người, để Người có thể mặc cho bạn chiếc áo thượng hạng, mở tiệc lớn ăn mừng vì tìm lại một đứa con hoang đàng... Sai rồi! Ðấy chỉ là câu chuyện trong dụ ngôn! Nhưng trong thực tế cuộc đời, Chúa không hề đợi bạn trở về...

   Tôi bước vào đời với một giấy thế vì khai sinh bằng tiếng Pháp, trong đó có ghi "fils de parents inconnus": con của cha mẹ vô danh. Lần đầu tiên tôi biết họ tên mình đúng như được ghi trong khai sinh là khi tôi đọc danh sách học sinh thi vào trung học. Trước đó, người ta gọi tôi là A-Ki. Ðến bây giờ tôi không biết vì sao tôi có cái tên đó, phải chăng vì vào thời ấy, người ta có thói quen đặt tên chó là Ki, hay vì không biết tôi xuất xứ từ đâu nên hỏi là "À Qui?"



Một sáng sớm mùa Đông Canada, tuyết vẫn còn phủ trắng, cao đến mắt cá chân trên các lối đi. Bà Catherine, bà bếp Cha Sở bước chầm chậm và cẩn thận quay về nhà xứ sau Thánh Lễ ban sáng. Vừa đặt chân trên bậc thềm nhà xứ, thấy tôi đang quét tuyết, bà vui vẻ chào tôi và bảo: “Peter, mang cây chổi quét tuyết tới đây!” Tôi tươi cười tiến tới gần bà với cây chổi quét tuyết đu đưa trên tay, chưa đón ra ý bà muốn nhờ tôi chuyện gì. Bà Catherine tự nhiên kéo váy đầm cao lên một chút và chìa đôi giày bám đầy tuyết, thản nhiên bảo tôi: “Lấy chổi phủi dùm tuyết bám giày, để tôi đi vào không làm dơ thảm nhà xứ!”

Nụ cười vụt tắt trên môi. Tôi không nghĩ là mình không hiểu tiếng Anh. Rõ ràng quá mà: Lấy chổi phủi sạch tuyết bám giày bà đầm Catherine. Tôi cúi mặt chần chừ. Bà Catherine vẫn giữ cao váy đầm, giơ đôi giày bám đầy tuyết , thúc giục: “Phủi dùm mau đi để tôi còn kịp vào chuẩn bị cà phê sáng cho Đức Ông Robert!” Im lặng và cẩn thận, tôi cầm chổi, nhẹ nhàng phủi tuyết bám giày bà Catherine, từng chếc một. Bà cười mãn nguyện, cám ơn tôi và nhanh nhẹn đẩy cửa bước vào nhà xứ.



Xin chào thân ái các bạn,

Chiều 28-6 vừa qua có một món quà mừng bổn mạng, tuy giản dị nhưng rất ý nghĩa với tôi: 500.000 đồng VN, vừa ủng hộ vừa đặt mua 02 quyển các số tuyển tập Mục Đồng 2017. Nó lý thú lắm.

Các bạn biết không, tuyển tập Mục Đồng số ra mắt đã phát hành ngày 24-04-2017, đã được gửi tặng đến quí Đức Cha, quí Cha đặc trách mục vụ Văn hóa của 26 giáo phận. Ba tuần sau, những thùng sách đựng các gói nhỏ ghi rõ địa chỉ từng giáo xứ ở Việt Nam với tên người nhận là “ban phụ trách Giới trẻ giáo xứ” bắt đầu được gửi bằng xe đò hoặc xe tải đến Cha phụ trách Ban Văn hóa các Tòa giám mục. Những gói sách cho các chủng viện và dòng tu cũng được gửi kèm (Riêng các dòng tu trên địa bàn Tổng giáo phận Sài Gòn được gửi thẳng qua đường bưu điện).


Nhân ngày Tuyên Khấn Lần Đầu của quý sơ Hội Dòng MTG Thủ Đức 2017.




Tôi đã được gặp họ, những gương mặt còn rất trẻ nhận lấy Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí mình, tự nguyện tuân giữ những lời khuyên Phúc Âm, trở nên những nhân chứng sống động của Tình Yêu và Lòng Thương Xót Chúa giữa cuộc sống hôm nay.

Mới ngày nào họ còn là cô thôn nữ từ những miền quê xa xôi hoặc những tiểu thư đài các ở chốn thị thành nhưng nay đã trở nên những nữ tu Mến Thanh Giá, sẵn sàng lên đường gieo vãi Tin Mừng đến muôn phương, khắp lối.

Tôi đã được gặp họ, những nữ tu trẻ, vượt qua những khác biệt, cùng tề tựu nơi đây, dâng lên Thiên Chúa chính cuộc đời mình như của lễ toàn thiêu. 
Tôi đã được gặp ông bà cố của quý sơ, với những gương mặt hiền lành, chấc phác đã quảng đại dâng hiến cho Giáo Hội, cho Thiên Chúa những người con trân quý của mình.

Cũng là lần đầu tiên tôi đã được gặp Đức Cha Phaolô, người Mục tử bản lĩnh, can trường cùng một phong thái thật giản dị, gần gũi. Có lẽ không ít người đã nghe qua câu chuyện về những đàn ngỗng trời di cư vào mùa đông. Vậy mà qua cách ví von, ẩn dụ khá tài tình của Ngài đã giúp cộng đoàn phụng vụ có được những cảm nghiệm sâu sắc hơn về đời tu cũng như đời sống cộng đoàn. 

Và không hề ngẫu nhiên khi đoạn Tin Mừng được công bố trong Thánh Lễ Tuyên Khấn được trích trong diễn từ giã biệt của Đức Giêsu. Thật vậy, đối với người Kytô hữu nói chung, đặc biệt với những người theo Chúa Kytô một cách sát hơn như quý sơ, có lẽ không gì có thể quan trọng hơn giới luật yêu thương. Bởi yêu thương chính là chu toàn lề luật (Rm 13, 8-10). Với tình yêu trong tim người ta có thể làm được tất cả, như Thánh Augustino đã từng nói “Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”. 

Nguyện xin Tình Yêu và Hồng Ân Thiên Chúa luôn đồng hành và nâng đỡ quý sơ trên hành trình ơn gọi của mình. Cầu chúc quý sơ trở nên gậy dẫn đường cho những ai lạc lối, trở nên đôi mắt cho những tâm hồn chưa nhận biết Sự Thật để tất cả cùng tiến bước trên con đường trở về Nước Chúa…
Huy Chung(Bài viết tác giả gửi đến BBT VTCG)

nữ ca sĩ Emma Fradda


Sinh ra và lớn lên là một tín hữu Công Giáo, thế nhưng khi đến tuổi trung học Emma Fradd lại trở thành người vô thần bởi vì cô ấy không thể chứng minh Thiên Chúa hiện hữu. Điều này đã thay đổi sau khi cô nhận được một ân sủng đặc biệt từ Đức Mẹ.
....
Năm năm trước đây, tôi là một người vô thần. Tôi sinh ra và lớn lên như một người Công giáo, đến tuổi trung học, tôi bắt đầu hoài nghi về 'đức tin' của mình và làm bạn với những người không tin vào Thiên Chúa, tôi tự coi bản thân mình là một người vô thần.Tôi luôn tự hỏi : "Thiên Chúa có thật không?" Lý do chính khiến tôi trở thành một người vô thần là việc tôi không thể nhìn thấy Thiên Chúa;Tôi không thể nghe hay cảm nhận được Ngài, nên suy luận rằng Ngài không có thật. Nhận định này đã đưa tôi vào một lối sống không lành mạnh: ma túy, rượu chè, trộm cắp, các mối quan hệ không trong sạch và hầu hết chỉ là buồn khổ.

Tôi nhớ thời trung học tôi đã cởi mở đón nhận nhiều điều mới. Tôi có những người bạn đã gia nhập giáo phái Wicca và Phật giáo, tôi cũng đã thử các phương pháp cầu nguyện của họ nhưng không cảm nhận được gì. Có lẽ các bạn sẽ nói rằng một phần trong số những năm trung học của tôi, tôi đã là một người theo thuyết bất khả tri, không hoàn toàn xác tín về tôn giáo nào đó, nhưng vẫn có một ý niệm nào đó về Thiên Chúa. Khi vào lớp 10, tôi tham gia một ban nhạc vô thần và nói nhiều về sự hoài nghi của mình, đặc biệt là về Thiên Chúa của Công Giáo vì tôi học ở một trường Công Giáo.Tôi ngồi trong suốt thánh lễ hàng tuần, tôi không chịu quỳ gối hay đứng lên khi Rước lễ, thậm chí tôi đã lãnh nhận bí tích…

Matthew – anh trai tôi-đã cảm nghiệm được Chúa và có một sự chuyển đổi mạnh mẽ khi tham dự Ngày Giới trẻ Thế giới tại Rome vào năm 2000. Tôi nhớ anh ấy đã trở lại và rất vui vẻ. Từ một người anh chỉ biết đưa đón tôi, nay anh đã là người để có thể nói chuyện với tôi về bất cứ điều gì. Tháng 5 năm 2008, sau sinh nhật lần thứ 18 của tôi, anh mời tôi đến sống với anh và vợ anh – chị Cameron - tại Ireland trong 3 tháng, tôi nhanh chóng chấp nhận lời đề nghị ấy. 

Tôi lấy visa, điều này mang lại cho tôi một công việc thú vị, dành nhiều thời gian hơn với Liam- cháu trai vô cùng dễ thương của tôi. Matt và Cameron là những người Công giáo sốt sắng, họ cầu nguyện hàng đêm, tham dự Thánh lễ thường xuyên nếu có thể, và mời tôi cùng tham dự. Dĩ nhiên, tôi luôn luôn từ chối: 

"Không, Matt, em không tin, anh cứ đi đi, em sẽ ở nhà." 


Một đêm, chúng tôi đã trò chuyện về sự tồn tại của Thiên Chúa, tôi vẫn giữ quan điểm của mình "Matt, Làm thế nào để em biết có một Thiên Chúa, làm thế nào để em tin rằng những gì anh đang nói là sự thật? "

Tôi nhớ anh ấy đã nói," Emma, em sẽ không bao giờ biết chắc chắn Thiên Chúa là có thật hay không, trừ khi em cầu nguyện với Ngài và mở lòng ra với Ngài.” 
Điều này thật khó nghe, nhiều lần anh mời tôi cùng cầu nguyện, tôi đã từ chối và rời khỏi nhà mỗi lần như vậy.

Matt và Cameron là thừa tác viên trẻ của một giáo xứ ở County Donegal, vào mùa hè, họ lên kế hoạch cho chuyến hành hương đến thị trấn Medugorje, Bosnia, nơi Đức Trinh Nữ Maria hiện ra và mang nhiều thông điệp đến mọi người. Các thông điệp này vẫn chưa được chấp thuận bởi Giáo Hội, tuy nhiên, tôi nhận thấy nơi đây có một sự bình yên và Mẹ Maria đã đến với cuộc đời tôi ở đây. Một linh mục địa phương đề nghị trả tiền cho chuyến bay của tôi, tôi miễn cưỡng chấp nhận.

Vài ngày sau, một người tuyệt vời tên là Tony Foy gọi đến nhà. Tôi trả lời điện thoại và anh ta hỏi tôi cảm thấy thế nào về chuyến đi Medugorje sắp tới.Tôi nói một cách vô ơn với anh ta rằng tôi không trông chờ điều đó, và anh nói, "Hãy cởi mở ra, em sẽ không bao giờ biết được những gì có thể xảy đến đâu." Câu nói thoáng qua của anh ấy thật sự tác động đến tôi. Tôi nhớ tôi đã bước vào phòng ngủ của anh chị tôi vào đêm hôm trước chỉ đơn giản là để khóc, tôi cũng không biết tại sao, có lẽ vì tôi không vui. Tôi nói với họ rằng tôi đã sẵn sàng đến với Medugorje, sẽ cầu nguyện và tham dự thánh lễ cùng với họ. Tuyệt vời.

Sau vài ngày đến Medugorje, tôi đã làm những điều tưởng chừng như không thể: tôi đã lần chuỗi Mân Côi, tham dự thánh lễ và thậm chí đã đi xưng tội vào một buổi tối, mặc dù tôi không thú nhận nhiều những tội lỗi cho bằng việc nói với các linh mục về các hoài nghi của tôi về đức tin Công giáo.
"Nếu Thiên Chúa là có thật, và tôi không tin vào Người, vậy làm sao mà Người có thể chấp nhận lời cầu nguyện 'Lạy Cha chúng con ở trên trời’ của tôi, khi tôi thậm chí không tin vào những lời mình nói? "

Vị Linh mục bảo rằng, "Cầu nguyện không chỉ là con đang nói chuyện với Thiên Chúa, mà còn là để Thiên Chúa nói với con."


Rõ ràng, đây là trở ngại của tôi, tại sao tôi không thể nghe thấy Thiên Chúa ? Tại sao tôi không thể nhìn thấy Người ? Tôi đón nhận lời khuyên này, cố gắng áp dụng nó vào việc cầu nguyện của mình. Tôi quyết định sẽ cầu nguyện với Đức Mẹ và từ ngày đó tôi cầu nguyện mỗi ngày rằng: "Mẹ Maria, nếu thật sự có Thiên Chúa, xin Mẹ hãy chứng minh điều đó."

Anh trai dẫn tôi đến ít nhất là một nữa trong số các cửa hàng Công Giáo trên đường phố Medugorje, đề nghị mua cho tôi bất cứ thứ gì tôi muốn. Tôi nói: “Matt, em chỉ thích một trong những tràng chuỗi Mân Côi đeo tay mười hạt”, và anh đã mua cho tôi. Anh còn mua cho tôi một quyển Thánh Kinh, nói rằng vị Linh mục đài thọ tôi đi Mễ Du, đã đã trả tiền cho quyển Thánh Kinh đó. Vài năm sau tôi mới biết là chính Matt đã mua nó.

Tôi tiếp tục cầu nguyện với chuỗi Mân Côi khoảng một tuần lễ, trước khi bắt đầu chuyến hành trình thứ hai của chúng tôi đến Canada. Sở dĩ Matt, Cameron, Liam và tôi được tham gia chuyến đi này vì anh tôi làm việc cho NET(National Evangelization Teams- Hội Truyền Giáo Quốc Gia) của Canada tại thời điểm đó. Mỗi năm NET đào tạo hơn 60 tình nguyện viên, họ bỏ ra 10 tháng đi đến các trường học và các giáo xứ khác nhau để rao truyền Lời Chúa, đồng thời cũng giúp phát triển các hội đoàn trong giáo xứ, tiếp cận với các cộng đồng người Pháp và rao giảng Tin Mừng qua âm nhạc. Matt là thành viên trong số những người hỗ trợ cho việc đào tạo, vì vậy chúng tôi cắm trại bên ngoài Ottawa nơi các "Netters"(người tham gia tình nguyện) được đào tạo trước khi bắt đầu nhiệm vụ của họ. Tôi lẽo đẽo theo sau như một người giữ trẻ. Chúng tôi đến vào buổi tối, và tôi đã tham dự một buổi cầu nguyện. Có một ban nhạc dẫn dắt 60 tình nguyện viên cầu nguyện để ngợi khen và thờ phượng Chúa, nó không giống như bất cứ thứ gì mà tôi đã từng chứng kiến trước đây. Họ cầu nguyện rất say mê, hầu hết đều giơ cao tay hướng về trời, rất nhiều người trong số họ ca ngợi Chúa một cách rất nhập tâm, hát rất to, tôi cho rằng những gì họ làm hoàn toàn vô lý! Sau khoảng mười phút, tôi không c̣òn cảm thấy khó chịu, ngược lại còn nhận thấy rằng tất cả họ đều trông rất hạnh phúc, mỗi người đều cảm nhận được niềm vui đích thực của mình, và tôi bắt đầu khóc. Tôi đi vào một nhà nguyện nhỏ và ngồi trước Mình Thánh Chúa. 

Tôi nhớ mình đã cầu nguyện thế này: "Lạy Chúa, con không muốn mình cô đơn nữa, con không muốn tìm Ngài trong những nơi sai lầm nữa, con muốn những gì như những người ở đây đang có, nếu những gì họ có là Ngài, vậy con nguyện xin Chúa tỏ lộ chính mình cho con biết và ban cho con ơn giúp con tin Ngài".

Ngày hôm sau, Joe – một trong những nhân viên đào tạo- đã có một cuộc nói chuyện xoay quanh chủ đề tình yêu của Thiên Chúa, Đấng đã làm người và chịu chết vì chúng ta. Những điều này tôi đã được nghe từ trước, nhưng lần này, tôi được đánh động nhiều. Có một phần trong bài nói chuyện mà Joe đã nói, "Thiên Chúa đã chịu chết để cứu chuộc bạn, làm sao bạn có thể tưởng tượng được điều đó. Và lúc đó, Đức Mẹ đã đáp lời cầu nguyện của tôi. Tôi không nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa, cũng như không nhìn thấy Người, nhưng trong giây phút đó, tôi nhớ mình hiểu ra rằng Thiên Chúa rất rất rất lớn và tôi đã cố gắng để “nhét” Người vào trong đầu tôi, nhưng Người là vô hạn, không tài nào tôi hiểu hết về Người. Tôi đã khóc và khóc, tôi chạy đến anh tôi và kể cho anh hay về tin tốt lành này, Thiên Chúa đã tặng ban cho tôi ơn đức tin và lần đầu tiên trong đời, tôi tin tưởng và không nghi ngờ rằng Thiên Chúa có thật, Ngài yêu thương tôi và tất cả mọi người, Người muốn có mối tương quan với tôi ở đời này và cả đời sau.

Suốt tuần lễ ở NET, tôi đã tham dự Chầu Thánh Thể, lãnh Bí tích hòa giải sau 5 năm và rước lễ. Tôi học biết rất nhiều về đức tin của mình và lắng nghe nhiều người chia sẻ về những kinh nghiệm đức tin tuyệt vời của họ! Khi rời Canada để quay trở lại Úc, tôi thấy rằng mình muốn quay trở lại vào năm sau và tình nguyện dành một năm trong cuộc đời để tham gia vào các hoạt động của NET. Và tôi đã làm việc đó trong 2 năm! Năm tình nguyện đầu tiên của tôi là năm 2009-2010, tôi tham gia Parish Infuse Team, phục vụ một năm ở Wetaskiwin, Alberta. Năm tình nguyện thứ hai là năm 2010 – 2011, tôi tham gia Massive Worship Team, chúng tôi đi đến các nước rao giảng Tin Mừng bằng âm nhạc, khuyến khích các bạn trẻ, tham gia các công việc của giáo xứ, phối hợp với các ban nhạc và ca đoàn, dạy họ cách sử dụng âm nhạc đương đại có hiệu quả trong giáo xứ. Đối với tôi NET là một kinh nghiệm tuyệt vời: Tôi yêu Chúa nhiều hơn, đời sống cầu nguyện hàng ngày được triển nở và học cách biết yêu thương những thành viên trong nhóm. Trong năm tôi ở Massive Worship Team, tôi đã hòa hợp hai niềm đam mê của mình với nhau: âm nhạc và Chúa Giêsu. Tháng 8 năm 2011, tôi chuyển đến Ottawa và gia nhập vào đội ngũ nhân viên của NET. Tháng 02 năm 2012, tôi phát hành CD (không vô thần) đầu tiên của tôi.

Tôi đặt tiêu đề của CD là Search Party, dựa trên cuộc trò chuyện với Carla, một người bạn của tôi từ Australia, sau khi tôi khoe với cô ấy về việc hoán cải của mình, cô ấy nói: "Emma, tựa như Thiên Chúa sẽ cử một phái đoàn tìm kiếm (Search Party) để tìm lại những đứa con bị thất lạc của Người." Tôi đam mê viết nhạc, tôi rất biết ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi niềm đam mê này, và tôi hy vọng mọi người có thể nhận được điều gì đó khi nghe chúng.Vì thế, tôi đã thu âm album thứ hai của mình mang tên “How the other half live” và mùa hè năm nay, tôi sẽ bắt đầu nhóm nhạc với Joanna, một người bạn từ Anh, chúng tôi sẽ thu âm và thực hiện các buổi biểu diễn xuyên lục địa.

Hiệu đính: Rachel Waugh
Chuyển ngữ: Ngô Tử, 

Cộng tác viên VTCG

nguồn: Catholic conversions
Để biết thêm về Emma hoặc nghe nhạc của cô vui lòng truy cập website www.emmafradd.com


Sau hai năm Tập Viện, ngày 20-06-2017 vừa qua, sơ Anna Nguyễn Bích Hạt đã tuyên khấn lần đầu trong Thánh lễ do Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp cử hành trọng thể tại Nguyện Đường Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức. 

Sơ Anna Nguyễn Bích Hạt (áo dòng đen) và sơ Têrêxa Nguyễn Thị Trông.



Các triết gia Hy Lạp từ thời tiền Socrate cho đến Platon, Aristote và mãi tới hậu kỳ Trung cổ như Descartes; hiện đại hơn như David Hume, Herbart; ở thế kỷ hai mươi như William Jame, Henri Bergson hay Edmund Husserl,…đã để lại cho thế giới ở mọi thời đại “kho tàng khôn ngoan” nhờ những nỗ lực suy tư của họ từ các sự kiện cụ thể của cuộc sống. Giá trị của những sự khôn ngoan ấy như là nguồn mạch để giải đáp thắc mắc của con người khi đi tìm cho mình một điểm tựa hạnh phúc, ít nhất về mặt nhân sinh quan. Các triết gia có lẽ cũng rất hạnh phúc từ những suy tư của mình, nhưng không biết họ thích gì? Bởi rằng, trong các giờ học triết, các giáo sư chẳng bao giờ đề cập tới sở thích của một triết gia nào. Một điều gần như chắc chắn là: các triết gia đều thích suy tư.

Thầy Nguyễn Khắc Dương (áo nâu)



Linh mục Alexandre De Rhodes

Khi đọc những dòng chữ Việt ngữ này, là bạn đang chiêm ngưỡng tác phẩm của các linh mục thừa sai Dòng Tên gồm các cha Gaspar De Amaral, cha Antonio Barbosa, cha Francisco De Pina và cha Alexandre De Rhodes, tất cả họ đều là tác giả của quốc ngữ mà người Việt ta đang sử dụng hàng ngày.

Với linh mục Gaspar De Amaral, cha đã soạn cuốn từ điển Việt – Bồ. Với linh mục Antonio Barbosa, cha soạn cuốn từ điển Bồ – Việt. Với linh mục Francisco De Pina, được cho là cha đã dựa vào cách phát âm tiếng Bồ để chuyển tự ghi chép tiếng Việt khi ông vào Đàng Trong (Từ sông Gianh trở vào Nam). Nhưng các cha đều mất khá sớm, tuy vậy, cùng với một số linh mục khác trong giai đoạn tiên khởi này, các cha đã giúp đặt nền móng đầu tiên cho quốc ngữ Việt Nam.

Với linh mục Alexandre De Rhodes, thì cha đã dựa vào hai công trình từ điển nêu trên và bổ sung thêm phần La tinh để hình thành nên cuốn từ điển Việt – Bồ – La. Thực tế, chính việc bổ sung phần La tinh của cha Alexandre De Rhodes đã trở thành đóng góp quan trọng bậc nhất giúp hình thành nên chữ viết theo lối La tinh mà sau đó nhanh chóng trở thành quốc ngữ Việt Nam.
Đánh giá về vai trò của linh mục Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh nên quốc ngữ Việt Nam, tờ Nguyệt San MISSI do các linh mục Dòng tên người Pháp quản lý đã từng viết nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông, đại lược như sau: “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre De Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”.
Quả vậy, khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách in quyển từ điển và các sách đầu tiên bằng chữ quốc ngữ tại nhà in Vatican – Roma, thì cha Alexandre De Rhodes đã giải phóng cho nước Việt Nam về chữ quốc ngữ.

Bởi lẽ trước đó, tương tự như Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên), thì người Việt Nam sử dụng lối chữ viết tượng hình, biểu ý của người Tàu hoặc chữ nôm do tự sáng chế và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Cao Ly mới chế biến ra chữ viết riêng của họ, nhưng vẫn không theo cách viết La tinh nên bị hạn chế nhiều. Còn người Nhật Bản thì sau nhiều lần thử nghiệm chế biến lối chữ viết khác, nhưng cuối cùng đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình, biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, chính người Tàu dưới chế độ cộng sản của Mao Trạch Đông cũng đã từng tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre De Rhodes, đã tiến bộ trước người Tàu đến hơn ba thế kỷ rưỡi (1651 – 1017 – tính từ năm in cuốn từ điển Việt – Bồ – La đến thời điểm hiện nay.

Từ điển Việt-Bồ-La
Từ điển Việt-Bồ-La

Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Alexandre De Rhodes khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, chính cha Alexandre De Rhodes là người hệ thống hóa, hoàn tất công trình làm ra chữ quốc ngữ thành công vào năm 1651, tức là năm mà cuốn tự điển Việt – Bồ – La chào đời tại nhà in Vatican – Roma.

Thế nên, chính tại nhà in Vatican ở Roma là nơi mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình, và chính năm 1651 cũng là năm khai sinh chính thức của chữ quốc ngữ Việt Nam.

Theo đó, chữ viết theo lối La tinh ban đầu được các nhà truyền giáo đặt nền móng cho việc sử dụng trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đến khi được người dân Việt Nam chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, thì mặc nhiên nó đã tự mình được nâng cấp thành chữ quốc ngữ.

Ghi nhận công nghiệp của cha Alexandre De Rhodes đối với xứ sở, năm 1941, một tấm bia kỷ niệm nhân ngày sinh nhật thứ 350 của cha đã được dựng ở gần bên bờ Hồ Gươm trước cửa đền bà Kiệu – Hà Nội. Đến năm 1957, khi Hà Nội thuộc sự quản lý của chính quyền Cộng Sản thì bia đã bị gỡ bỏ.
Chính quyền Sài Gòn cũ đặt tên ông cho một con đường tọa lạc trước mặt Dinh Độc Lập, nay là Dinh Thống Nhất, đối xứng với phía bên kia là đường Hàn Thuyên, tên danh sĩ được ghi nhận có công phát triển và phổ biến lối chữ Nôm. Sau năm 1975, chính quyền cộng sản đổi tên đường thành Thái Văn Lung và bây giờ thì đã trả lại tên cũ là Alexandre De Rhodes cho con đường này.

Về tiểu sử: Nguyên, cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) sinh ngày 15/03/1591 (hay 1593?) tại vùng Avignon, miền nam nước Pháp. Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tị nạn ở vùng Avignon là đất của Giáo Hoàng. Ông gia nhập Dòng Tên tại Roma năm 1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển mạnh mẽ.

Đầu năm 1625, cha Alexandre De Rhodes đến Việt Nam bắt đầu từ Hội An. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha. Nhưng cuộc đời truyền giáo của cha ở đây rất gian nan, trong vòng 20 năm, cha bị trục xuất đến sáu lần. Đến năm 1645, cha bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Cha mất ngày 5/11/1660 ở Iran, thọ 69 tuổi.

Hiện nay, ở Việt Nam đã từng xuất hiện ý kiến phủ nhận công lao đóng góp của cha Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh chữ quốc ngữ, một trong số họ nêu quan điểm: “Alexandre De Rhodes làm sách bằng chữ quốc ngữ là để phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo, chứ tuyệt đối không vì bất cứ một lợi ích nhỏ nhoi nào của người Đại Việt cả. Người Việt Nam đã tận dụng chữ quốc ngữ, mà một số cố đạo đã đặt ra, với sự góp sức của một số con chiên người Đại Việt, để làm lợi khí cho việc giảng đạo, thành lợi khí của chính mình để phát triển văn hóa dân tộc, để chuyển tải một cách đầy hiệu lực những tư tưởng yêu nước và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện ‘gậy ông đập lưng ông’ mà thôi”. [1]

Riêng đối với công chúng, thì:
– Lối chữ viết đã trở thành quốc ngữ của xứ sở với chín mươi triệu đồng bào cả trong và ngoài nước cùng sử dụng;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện những dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ thuở hồng hoang đến nay;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện lời ru “Ầu ơ …” ân cần của mẹ từ ngày sinh ra ta làm kiếp người;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện sự yêu thương giữa những thành viên trong gia đình, giữa những đôi tình nhân, giữa những người tri kỷ …
– Lối chữ viết được dùng thể hiện ca từ những nhạc phẩm bất tử như Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng, Trưng Nữ Vương, Lòng mẹ, Tình ca …
– Lối chữ viết mà dân ta có thể tự hào là riêng biệt trong khi rất nhiều quốc gia khác, kể cả nhiều cường quốc vẫn còn phải vay mượn (Úc, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Nhật Bản, Đại Hàn …);

Thì người khai sinh của lối chữ viết ấy chắc chắn phải là ÂN NHÂN của xứ sở mình, bất kể đến quốc tịch của họ, bất kể đến tôn giáo của họ và bất kể đến động cơ của họ khi khai sinh lối chữ ấy!

Và với chế độ:
– Lối chữ viết được Ông Hồ Chí Minh dùng để viết lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh chế độ;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện Hiến pháp quy định sự độc tôn chính trị của Đảng Cộng Sản;
– Lối chữ viết được dùng trong tất cả mọi sinh hoạt chính trị, hành chính, xã hội, kinh tế, giáo dục, văn hóa …
– Lối chữ viết mà hơn 700 tờ báo của chế độ đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 24.000 vị tiến sĩ khoa bảng quốc gia đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 400 trường Đại học, cao đẳng các loại và hàng vạn trường học các cấp đang dùng;
Nhưng lại không mấy ai trong số họ nhắc đến ngày sinh nhật của cha Alexandre De Rhodes, người có công khai sinh lối chữ viết mà nghiễm nhiên đã là quốc ngữ của xứ sở, như là một trong những ân nhân của dân tộc này thì thật là đáng thất vọng!

Tôi tin rằng, xứ sở này nợ ông ấy lời tri ân!
Được tạo bởi Blogger.