CON GÁI

Ngoại mất.
Cả nhà dắt díu nhau về chịu tang.
Anh hai đang giữa kỳ thi cũng vội vàng về nhìn mặt ngoại lần cuối. Chị ba không về được. Chị lấy chồng cách nhà ngoại có một quãng đồng...
Bố thẫn thờ buột miệng: “Con gái là con người ta !..”
Mẹ gục đầu vào vai anh nức nở. Từ ngày lấy chồng, đây là lần đầy tiên mẹ về lại nhà ngoại.
Giống chị ba, mẹ cũng là con gái.


Nữ sinh Trưng Vương Sài Gòn trước 1975

Sau khi ký gửi hành lý tại phi trường Edmonton, Dũng quay qua con gái dặn dò:
- Bố đi nhé, con ở nhà chăm lo nhà cửa và học hành.

Cô sinh viên năm thứ nhất đại học ôm bố, hãnh diện:
- Bố cứ yên tâm đi chơi vui vẻ thoải mái, đừng lo cho con! Ngày mai anh Hai nghỉ hè về nhà với con mà!


Dũng ôm con lần nữa và đi vào trong khu kiểm tra hành lý xách tay, chuẩn bị vào phòng đợi cho chuyến bay Vancouver - Việt Nam. Nhìn theo đứa con gái đang cố vẫy tay ngoài kia, lòng Dũng rộn lên niềm vui và hạnh phúc. Cách đây ba năm, khi vợ Dũng đột ngột qua đời vì tai nạn khi đang chạy xe đi làm trên đường cao tốc, ba bố con đã bị hụt hẫng một thời gian dài, Dũng bắt đầu nếm mùi và quen dần cảnh gà trống nuôi con. Năm ngoái, đứa con trai lớn vào Đại Học tận Toronto, và năm nay đứa con gái chọn học tại University of Alberta để vẫn được ở nhà gần gũi và chăm sóc bố. Ở tuổi trung niên 52, nhưng với đời sống văn minh ngày nay thì vẫn còn “trẻ”, Dũng hàng ngày vẫn đi làm, cuối tuần đi chợ, đôi khi có con gái đi theo phụ giúp, hoặc những buổi chiều rảnh rỗi lại giúp bố làm cơm. Đời vẫn vui và êm đềm, Dũng thật sự hạnh phúc khi nhìn các con khôn lớn và trưởng thành.



BỆNH VÀ LƯỜI


Cũng như các bà vợ khác ở hải ngoại, vợ tui kỳ này làm biếng quá. Đi làm về là nằm trên giường xem phim bộ, chẳng chịu nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa gì ráo. Tôi có la, nó ấp úng trả lời:

-Em thấy mệt quá, chẳng làm gì được cả. Nằm nhưng không ngủ được nên mới bật máy xem phim, chứ không cố ý xem phim.


Ông chánh Hoàng vừa gạt chân chống dựng chiếc Dream II xuống, vừa nói vọng xuống bếp:
- Má mày dọn cơm ra thôi! Đã quá trưa rồi còn gì.

Vừa thay đồ, ông lại vừa hỏi:
- Chúng nó ăn cơm hết chưa?
- Rồi. Con Hoa đã đi học rồi. Còn thằng Tí ăn rồi chạy đâu chơi ấy.

Bà chánh Hoàng vừa trả lời vừa đon đả bưng mâm cơm từ dưới bếp lên. Thói quen của hai vợ chồng ông chánh từ khi lấy nhau là vậy. Đi đâu thì đi, làm gì thì làm, chỉ trừ những đám tiệc phải dự, bằng không thì ông cứ muốn về nhà, ăn chén cơm vợ nấu. Bà cũng thế. Nấu cơm ra để đấy, con cái có đói thì cứ dùng trước. Bà nhất quyết không ăn, một mực chờ ông về.



Cỡ đâu ba bốn giờ chiều ngày hôm đó, một chiếc xe taxi dừng lại vội vàng trước nhà. Cửa xe mở ra, người ta khiêng ra một thanh niên ốm yếu chỉ còn da bọc xương mặc cái áo thun và quần đùi đen, ló ra hai ống chân như hai cây tre cong queo, tím tái. Một người xốc nách anh thanh niên, hai người hai bên đỡ hai chân của anh, họ khiêng anh đi như chạy vội vào trong nhà. Sau đó là một tiếng hét kinh hoàng rồi những âm thanh hỗn độn chao đảo dội ra ngoài căn nhà. Ngay sau đó có tiếng bước chân chạy vội vàng rầm rập và giọng một phụ nữ hoảng loạn hớt hải ào từ đầu ngõ chạy về phía căn nhà, giọng của chị gào lên thảm thiết vang cả xóm:

- Trả lại chồng cho tôi! Trả chồng tôi lại cho tôi!

Chị bước ba bước là đã lao đến được thềm nhà. Người ta vừa ghé vào quán cóc bán hàng của chị ở gần chợ mà báo cho chị biết ủy ban phường đã cho xe đem chồng chị đi thủy lợi về nhà rồi. Nhưng không phải là chồng chị nguyên vẹn như lúc ra đi mà chỉ còn là cái xác. Anh bị ngã nước trong rừng rồi sốt rét cấp tính chết chỉ trong vòng chưa đầy ba ngày phát bệnh.



Sáng mùng ba tết, trời còn lảng vảng sương. Gã ngồi một mình trên chiếc ghế đá góc sân, dưới gốc mai còn đang nở hoa vàng trời, nhưng cũng đã rụng hoa vàng đất. Gã tủm tỉm cười một mình với mùa xuân đang về. Mùng ba tết, hôm nay, nếu tính theo lịch ta, là ngày giỗ người vợ thân yêu của gã, bà ngoại của con Kim Ngôn, đứa cháu ruột thịt duy nhất của gã. Nhưng hai ông cháu đã chọn giỗ những người thân trong gia đình theo lịch tây, nên ngày tết vẫn là ngày tết. Gã xuýt xoa, hít hà hương thơm của tách trà ô long mà một người bạn vong niên mới biếu gã. Gã lại cười một mình. Mùa xuân đất trời đã về. Con chim gáy treo ở hiên nhà gáy “cúc cu, cúc cu…” liên canh bất chỉ. Có phải đời vẫn đẹp, vẫn đáng yêu quá chừng không?

Bỗng một đoàn xe mô tô, có đến một chục chiếc, nẹt bô, rú ga, đánh võng, ào ào đua nhau chạy như bay ngay trước mặt gã. Nụ cười trên môi gã tắt lịm. Gã làu bàu:

– Tiên sư bố nhà chúng mày, quân mất dạy.


Một

Không nghĩ là cuộc gọi của ông ấy. Hãy còn rất sớm mà. Giờ, tôi còn nấn níu trên giường cũng là do thói quen chứ giấc ngủ đã qua từ khi nãy. Từ cách đây nửa tiếng khi cái loa của phường bắt đầu lên tiếng và chồng tôi vội dậy. Cỡ đó, người này phải thức để ra công viên gần đây chạy bộ mấy vòng rồi ùm xuống biển, bơi đúng năm chục sải. Con trai trề môi: “Bố bơi quá kém”. Con gái nheo mắt: “Chắc bố đếm nhầm?”. Chồng trừng mắt: “Cái thân tao càng lúc càng nặng, nổi được trên mặt nước đã phước. Nhầm cũng chẳng sao!”. Chắc sợ mình chìm nghỉm dưới đáy biển, thế nên, sớm nào chồng cũng tròng vào chân đôi giày thể thao và uể oải rời nhà. Vào lúc tôi áp cái di động sát tai, cố sửa giọng cho ra vẻ ngái ngủ, ậm ừ trả lời: “Vâng, tôi đang nghe ông đây” thì mất ngay tín hiệu. Ông và tôi. Tôi với bà. Ái chà chà, có ngờ đâu cái chữ tình nó gây nhiễu sự. Bà chẳng nói gì chứ tôi, đang tuổi sáu lăm, mới rõ là đáng đời nhé!




1. Mẹ Thoa càm ràm suốt, khi về tới nhà. Đụng ai nhăn nhó đó. Cứ khi ấy, thường hạ thấp giọng ra vẻ thiết tha: “Chẳng ai thương tôi. Mấy người trong cái nhà này bị câm hết rồi. Sao không ai muốn mở miệng? Sao không ai thích chuyện trò?”.

Cũng câu nói đó, tối qua, khi mẹ vừa dứt lời, ba đã đập mạnh cái iPhone lên bàn, ngay trước mặt và gằn lên từng tiếng một: “Vậy thì tôi nói đây này. Bà vô mạng đi và coi liền cái clip về con gái của bà nghen”.

Thoa cũng đang ngồi tại đó chứ đâu. Ngồi cùng bàn với mẹ trong phòng khách và hứng, trọn vẹn, cặp mắt dữ dằn của mẹ chiếu thẳng vô người. Đã quen nên chẳng hề gì. Thoa từ tốn đứng dậy và không quên giương to mắt đầy thách thức đáp trả, trước khi đĩnh đạc leo từng bậc cầu thang, chậm rãi bước về phòng riêng khóa trái cửa. Rồi. Thời gian dành cho việc kết nối đã chấm dứt. Mặc cho nửa tiếng sau mẹ đập cửa và ba đòi phá. Mặc cho cả buổi tối đó mẹ khóc lóc và ba hét la. Mặc, mặc và mặc. Thoa nằm dài trên giường, mở volume hết cỡ, chúi đầu vô cái iPad. Rồi. Thời gian kết nối đã bắt đầu trở lại. Một sự kết nối cho chỉ riêng mình. Một mình.



Người bạn vai anh của tôi, một tác giả chuyên viết về các đề tài luân lý đạo đức trong đạo ngoài đời, bảo:
– Anh em mình già rồi, chắc phải nghỉ viết thể loại văn nghị luận thôi. Phải đọc nhiều, nghiên cứu nhiều mới viết được, mệt quá!
Tôi mở lòng:
– Con ong làm mật, con tằm nhả tơ. Nhà Phật bảo đó là “Duyên, Nghiệp”. Nhà Đạo nói đó là “Ơn Gọi”. Bác không bỏ được đâu. Bỏ thì bác suốt ngày hát “cuộc đời vẫn buồn tênh, tình yêu vẫn buồn tênh” hay sao?
Anh cười, cởi mở:
– Mình sẽ nhảy qua viết truyện ngắn. Viết truyện ngắn dễ ẹc ấy mà, cứ phịa ra là xong…


Nữ sinh Trưng Vương Sài Gòn năm 1969

Trước cổng trường đông đúc, nhộn nhịp. Bà đón cháu.

Thật ra bà chỉ việc lên một chiếc xích-lô nhờ đạp tới trường, và bà đứng chờ trước cổng, bên vệ đường, như bao nhiêu phụ huynh khác. Bà không lái xe như ở “bên kia”.
Từng đợt, từng đợt học sinh đi ra. Các bạn dắt xe đạp, hoặc xe gắn máy. Ra đến cổng rồi các bạn mới leo lên xe. Bà có một chút hài lòng. Chỉ có một điều rất khác so với ngày xưa. Ngày xưa chỉ có nữ sinh. Bây giờ có cả nam và nữ.
Ngày xưa… Ồ ! Bà như thấy trước mắt, cảnh các nữ sinh mỗi sáng lũ lượt nối đuôi nhau vào trường. Cái cổng trường và ngôi trường cổ kính, đã có từ một thế kỷ trước, hàng ngày chứng kiến một quang cảnh không đổi. Có vẻ như không đổi mà thôi ! Thật sự ra, cô giáo ngày ấy, vẫn biết rằng trong cái “có vẻ” đó, nhiều cuộc đời đã tiếp diễn, nhiều tâm tư đã biến động, không phải chỉ ở ngoài kia, mà chính trong ngôi trường bình yên này.



Được tin ông cố bị đau ruột dư, phải nhập viện mổ khẩn cấp, cha phó phải về nhà gấp. Bộ máy nhà xứ khởi động nhanh chóng, chạy hết công suất. Cha xứ móc hầu bao đưa cho cha phó một chiếc phong bì mỏng, chắc bên trong toàn giấy bạc mệnh giá lớn:

– Cha cho tôi gởi lời thăm hỏi ông cố. Sáng mai, tôi sẽ dâng lễ cầu nguyện cho ngài…

Cha phó đang lúng búng nói lời cám ơn thì ông chánh trương ân cần:

– Cha có muốn con đi theo, giúp cha được việc gì chăng?

Ông phó nội bận tâm về công việc:

– Chúng con xin làm hết sức mình để tiến hành dạy giáo lý tân tòng và giáo lý hôn nhân những ngày cha vắng mặt.



Chiều hôm ấy, mấy năm rồi, tôi tỉ mỉ cắt xước mang rô cho mẹ. Cả tiếng đồng hồ sau, tôi lấy hết can đảm thủ thỉ:

– Mẹ ơi! Con lấy chồng.

Tôi chưa bao giờ thấy mẹ cười tươi đến thế:

– Hai mươi lăm tuổi đầu rồi, chứ còn bé bỏng gì? Thật lòng, mẹ mừng lắm. Mẹ chờ con nói câu ấy mấy năm nay rồi. Nhưng con lấy ai vậy? Sao không mời “người ta” đến nhà, ra mắt mẹ và ông nội?

– Mẹ có biết anh Ất con bác Giáp ngoài chợ không?

Mẹ mím môi, có vẻ suy nghĩ:

– Thằng Ất thì không, nhưng vợ chồng lão Giáp thì mẹ biết, giàu có, nhà cao, cửa rộng, nổi tiếng đại gia, chủ tiệm thuốc tây Từ Nhân ngoài chợ phải không?

Tôi gật đầu. Mẹ, mặt đỏ bừng, lắc đầu:

– Không được.

– Nhưng chúng con yêu nhau.

Cơn giận bốc lên ngùn ngụt, mẹ gào lên:

– Đã bảo không là không. Cha con mất sớm, trăm sự mẹ phải lo. Con lấy ai cũng được, bất cứ ai, miễn là không phải con cái nhà ấy. Mẹ nhắc lại, con có thể cưới bất cứ ai, dù cho đó là kẻ câm điếc đui què…




Người Nam bộ chúng tôi ít khi kêu tên khai sinh của nhau. Không biết từ bao giờ, chúng tôi kêu nhau bằng thứ, không có thứ nhất (cả) như ngoài Bắc, chỉ có thứ hai (lớn nhất), thứ ba, thứ tư… cuối cùng là thứ út. Ngày ấy, không có đôi vợ chồng nào bể kế hoạch, vì có kế hoạch đâu mà bể. Thế nên mới có những tên Đặng Văn Mười Một, Trần Văn Mười Hai, Nguyễn Văn Út Sót, Lâm Thị Út Mót, Lê Thị Út Em, Trần Thị Út Thêm, Huỳnh Thị Út Nữa…

Út Nữa là con của ông Út Tài Xế. Không ai biết tên thật của ông. Chỉ biết rằng ngày ấy ông chạy xe Lambro, rồi lên đời tậu con Daihatsu, chạy tuyến Sóc Ven – Minh Lương – Rạch Sỏi – Rạch Giá, nên người ta kêu ông là Út Tài Xế, từ đó ông chết tên luôn… Chị Út của Út Nữa chết sớm, nên cả nhà gọi Út Nữa là Út, vừa tiện, vừa gọn. Cha thứ út, con thứ út nên dù sinh sau đẻ muộn, vai vế của Út lớn lắm. Những đứa con của các anh Hai, chị Ba, anh Tư dù lớn tuổi hơn Út vẫn thuộc hàng con cháu. Không biết cả cái miền lục tỉnh này có vậy không, chứ riêng ở xã Định An, huyện Gò Quao này, hay ít ra ở nhà ông Út Tài Xế này, không có cô Út, dì Út, chị Út… mà chỉ có Út. Cha mẹ, các bác, cậu mợ, chú thím, dì dượng, hay các anh chị một điều Út, hai điều Út đã đành rồi, nhưng mấy đứa cháu lớn, nhỏ cũng chỉ kêu Út chỏng chơ thôi:



Ở cái chợ cá này ai mà chẳng biết bà có thằng con trai đi tu. Mà hình như nó làm thầy rồi. Bữa trước thấy bà mặc áo dài thật đẹp đi lễ khấn nó thì phải? Ai mà chẳng gọi bà bằng giọng điệu kính nể: “Bà Cố!”. Lúc đầu bà cũng ngài ngại. “Cố gì, cứ gọi bà Hai được rồi. Bà Hai bán cá”. Lâu dần bà cũng quen. Gọi “Bà Cố” nghe cũng hay hay.

Kể từ sau ngày đi lễ khấn con về, bà vui hẳn. Bà hãnh diện nơi chốn đông người. Ngẩng cao đầu trong mỗi Thánh lễ. “Dù gì con ta cũng là tu sĩ tu sọt chứ bộ” – Bà nghĩ thầm vậy. Nhưng dù cho có một chút hãnh diện về thằng con trai, bà vẫn cứ lo sợ. Người đời nói đi tu khó lắm chứ đâu phải dễ. Làm bà cố lại càng khó. Bà sợ lòng người nham hiểm. Bữa trước kìa, mới đây thôi, nhà ông Năm xóm trên chứ đâu xa. Chỉ vì cái hàng rào nhà bên xây lấn qua sân, ông qua phân bua phải trái với hàng xóm. Chưa nói được câu nào đã bị chửi sang sảng vào mặt: “Tưởng làm ông cố mà tui nể hả. Ông thuộc về cái dạng quá cố thì có. Mang tiếng có con làm cha mà sống không biết điều.” Nghe đến đó, ông Năm lầm lũi về nhà, mặt buồn rười rượi. Người nhà nói ông bệnh liệt giường cả tuần.



Con bé Minh Xuân toét mắt, thò lò mũi xanh ngày nào, hôm nay đẹp quá. Nó đẹp không phải vì suối tóc mây óng ả, chẳng phải vì cặp gò má phơn phớt hồng, cũng không phải vì đôi môi mọng đỏ như trái hồng đào cắt đôi, cũng không vì đôi mắt sáng long lanh, xanh biêng biếc, cặp kính cận 2,5 diop chẳng những không ảnh hưởng tới nhan sắc của nó mà còn có vẻ như tôn tạo nó thành người chững chạc, trí thức, có học. Nó đẹp, đơn giản vì nó vừa đến độ tuổi thanh xuân chín tới, trời cho như vậy, Chúa ban cho như vậy. Nó lại còn lộng lẫy vì hôm nay nó là cô dâu. Lúc cha chú rể cùng với mẹ cô dâu dẫn con đi chào bàn, chị Thùy mẹ nó hoan hỉ tới gần chỗ gã, nói với đôi trẻ cho mọi người nghe:

-Hai con chào ông ngoại đi. Không có ông, các con chẳng có ngày hôm nay đâu.

Thật ra giữa gã và mẹ con cô dâu không có chút máu mủ họ hàng nào. Gã pha trò:

-Thời nay, người Việt Nam mình ai cũng sính đồ ngoại. Trong khi lão, đồ nội 100%. Đương nhiên lão không là ông nội, cũng chẳng là ông ngoại. Ngại quá, ngại quá! Hay là cứ gọi lão là ông ngại được rồi… Con bé Minh Xuân được như hôm nay, lão mừng lắm. Mừng cho cháu Minh Xuân, cho hai cháu, cho hai họ và mừng riêng cho chị Thùy nữa.

Ồ nhưng mà, tại sao chị ấy lại nói: “không có ông, các con chẳng có ngày hôm nay đâu”? Gã chẳng cần nhớ lại, chẳng cần lục lọi ký ức, quá khứ cũng ào ạt hiện về.



Ai cũng nói Phương may mắn với công việc hiện tại. Cũng không biết có điều đó đúng hay sai vì Phương không mấy tin tưởng chuyện hên xui, may rủi. Nhưng giờ ngẫm nghĩ lại cũng thấy cái may mắn mà mọi người nói cô cũng có lý. Nói chi xa, đám bạn cùng tuổi, toàn kỹ sư, bác sĩ chứ có đùa đâu với đủ thứ bằng cấp vậy mà vẫn thất nghiệp dài dài. Mấy đứa có việc thì hầu hết nhờ chấp nhận làm trái nghề.



Tác phẩm đoạt giải Khuyến Khích cuộc thi sáng tác Văn Hóa Nghệ Thuật Đất Mới 2016.

 Chuyện không có gì đáng để phải ầm ĩ cả! Nhưng một khi đã đến với cái xóm máy cưa này, thì mọi chuyện được đồn thổi “vẽ rắn thêm chân”. Một nói hai, hai nói ba, cứ thế mà nhân lên. Chuyện ít, nói nhiều, chuyện tròn, nói méo, chuyện bé xé ra to. Nó trở thành một đề tài nóng hổi của những người vô công rỗi nghề bàn ra tán vào. Quả đúng với câu: “Nhàn cư vi bất thiện!”

Có lẽ vì vậy, mà người dân sinh sống ở nơi thuộc diện vùng sâu, vùng xa này gọi xóm máy cưa là xóm “thời sự”, ăn no rồi lo nói chuyện của người. Mặc dù đó không phải là chuyện ở xóm mình mà ở tận đâu đâu, nhưng vẫn được đem ra xầm xì “bình lựng!” Có người trực tính, gọi cái xóm máy cưa này là xóm hỗn độn, xóm đầu trộm, đuôi cướp. Người có máu hài hước thì lại ví von cho đây cái xóm của đài BBC - Chuyên chỏ mỏ vào việc của thiên hạ, dù không được trả công!



Cô muốn trở mình nằm nghiêng nhưng không thể. Toàn thân rã rời, họng khô rát . Mỗi lần cô gắng sức xoay trở là cái chõng tre ọp ẹp kêu lên răn rắc như muốn đổ sập. Cô lơ mơ nhận ra mình đang ở một nơi nào đó hoàn toàn xa lạ. Vậy là mình vẫn chưa chết sao ta, cô tự hỏi rồi đảo mắt nhìn quanh cái mái lá trống hươ, trống hoác. Trên vách đối diện chỗ cô đang nằm có treo cây Thánh giá màu nâu cũ kĩ. Phía dưới là tấm hình Đức Mẹ sờn rách, bạc màu. Lại Chúa với Mẹ, đúng là “chạy trời vẫn không khỏi nắng”. Có lẽ chỗ này nằm sát mé biển, vì nằm ở đây cô vẫn nghe rõ từng nhịp sóng xô bờ, tiếng xào xạc của hàng phi lao trong gió.

Cô yêu biển bằng cả con tim khao khát, yêu như chính máu thịt của mình. Nhưng cũng có lúc cô lại thấy căm thù biển trong tận cùng nỗi đau của cuộc đời. Biển cho cô cơ hội xây nên nhiều ước mơ tựa những lâu đài cát nguy nga, tráng lệ rồi cũng chính biển đập tan tất cả bằng những con sóng vô tình, hờ hững. Cô đã đến đây, một gòn đảo hoang sơ để trở về với biển khi những gánh nặng cuộc đời đang thi nhau chất chồng lên đôi vai bé nhỏ như sắp riệu rã của cô. Về với biển, để cô xóa sạch mọi ưu tư, phiền não tựa nhưng con sóng đã xóa dấu chân cô trên bãi cát dài của miền ký ức.



Còn một chuyện trái ngược khác nữa là cha của Tuấn Đại và Quốc Tuấn là anh Nguyễn Văn Ban đã xin chính quyền cho hai con được mang họ vợ của anh là chị Đào Thanh Nhẫn, để nói lên lòng biết ơn và sự ngưỡng mộ của anh về người vợï tuyệt vời của mình.

Anh Nguyễn Văn Ban là một chiến sĩ đặc công, là một trong ba anh em Công giáo trong tiểu đoàn đặc công. Anh đã từng cứu hàng ngàn người thoát khỏi thủy lôi của “Pôn Pốt” (Polpot). Nếu không nhờ anh kịp khám phá thì nhiều người hôm nay không còn sống. Ngoài ra, hàng trăm người chạy trốn dân Khơme đỏ, nếu không nhờ anh cứu và đưa ra khỏi bãi mìn dày đặc của Khơme, thì bây giờ nhiều người cũng chẳng còn. Bên cạnh đó, còn rất nhiều người khác cũng nhờ anh mà người, vật và nhà cửa được bình an, thoát nạn. Điều đáng nói nhất là trong một lần kia, vì để cứu người mà anh đã bị mìn nổ, khiến anh cụt hai chân và bị mù hai mắt.

Số là một số đông người Việt bị Kh’mer Đỏ “cáp duồn” bỏ chạy trốn. Anh em đặc công đã hướng dẫn đoàn người chạy theo lối để tránh mìn. Vì quá hoảng hốt do số người chen lấn nhau chạy không theo sự hướng dẫn của anh em đặc công, nên anh Ban đã chạy ra để ngăn cản sự nguy hiểm. Nhưng không kịp, một người vì quá sợ hãi đã đạp phải một quả mìn cóc gần chỗ anh Ban, khiến anh Ban chỉ còn kịp cầm tay đẩy người đó vào trong để thoát nạn, còn anh đứng phía ngoài nên đã bị toét hai chân và mù đôi mắt.



- Cái đất Sài gòn này mà còn chưa biết hết… nói chi ba miền Trung, Nam, Bắc.

- Thì nhờ có vậy, cái ngành du lịch mới có cửa phát triển chớ.

- Nói chuyện với em thiệt là hết ý.

- Thôi ráng chạy nhanh đi anh, mặt trời đứng bóng rồi. Mồ hôi, mồ kê ra ướt áo rồi kìa.

- Thì anh đang rồ ga chạy đây, có đứng tại chỗ đây.

- Nói chuyện với anh cũng là hết ý!

Nhà Liên ở tận chợ Thủ Đức. Sau khi đã cẩn thận ghé vô quán dằn bụng buổi sáng bằng một tô phở thập cẩm và một ly “xây chừng” nóng, vợ chồng Liên lên chiếc xe Cub đời mới chạy về hướng Chợ Lớn. Thường Liên chỉ đi Chợ Lớn một lần trong dịp tết Nguyên Đán thôi. Ngoài ra, hiếm khi nào vợ chồng chị đi đến khu vực xa xôi này! Trừ khi có những lý do đặc biệt.
Được tạo bởi Blogger.