Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli (thứ hai từ phải sang) chuẩn bị chủ tế Thánh lễ khai mạc
Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc hôm 13-8 tại Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang.

Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli bảo các “Caesar Việt Nam” hãy trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa

Vị đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam vừa kêu gọi chính quyền Việt Nam hãy tôn trọng quyền tự do tôn giáo trước đám đông khách hành hương tại La Vang.

Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, đại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam, đã chủ tế Thánh lễ khai mạc Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc lần thứ 31 tại Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang ở tỉnh Quảng Trị.





Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt

“Chính quyền nghĩa là quyền chính đáng công khai hay là công quyền của người dân, phải có tính cách quang minh chính đại. Bây giờ người ta dùng côn đồ, dùng lực lượng đen tối là những lực lượng ở ngoài pháp luật. Nếu hai lực lượng giống như là ánh sáng và bóng tối nhưng chính người ta lại hợp tác với nhau thì khó coi rồi, mà nó còn lẫn lộn vào nhau thì thật là đáng buồn. Suy thoái đạo đức thật là thê thảm.” Đó là nhận định của Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt qua sự kiện nhà cầm quyền huy động côn đồ, các cán bộ của xã, thị xã và tỉnh cũng như an ninh thường phục, công an, các bà trong Hội Phụ Nữ đến đập phá, tháo dỡ Thánh Giá là biểu tượng thiêng liêng của niềm tin Công Giáo và đánh đập các Đan sỹ Đan viện Thiên An, chỉ vì nhà đương quyền đặt lợi ích chính trị, vật chất, kinh tế, lên trên tất cả các giá trị tâm linh, tinh thần.



Linh mục Alexandre De Rhodes

Khi đọc những dòng chữ Việt ngữ này, là bạn đang chiêm ngưỡng tác phẩm của các linh mục thừa sai Dòng Tên gồm các cha Gaspar De Amaral, cha Antonio Barbosa, cha Francisco De Pina và cha Alexandre De Rhodes, tất cả họ đều là tác giả của quốc ngữ mà người Việt ta đang sử dụng hàng ngày.

Với linh mục Gaspar De Amaral, cha đã soạn cuốn từ điển Việt – Bồ. Với linh mục Antonio Barbosa, cha soạn cuốn từ điển Bồ – Việt. Với linh mục Francisco De Pina, được cho là cha đã dựa vào cách phát âm tiếng Bồ để chuyển tự ghi chép tiếng Việt khi ông vào Đàng Trong (Từ sông Gianh trở vào Nam). Nhưng các cha đều mất khá sớm, tuy vậy, cùng với một số linh mục khác trong giai đoạn tiên khởi này, các cha đã giúp đặt nền móng đầu tiên cho quốc ngữ Việt Nam.

Với linh mục Alexandre De Rhodes, thì cha đã dựa vào hai công trình từ điển nêu trên và bổ sung thêm phần La tinh để hình thành nên cuốn từ điển Việt – Bồ – La. Thực tế, chính việc bổ sung phần La tinh của cha Alexandre De Rhodes đã trở thành đóng góp quan trọng bậc nhất giúp hình thành nên chữ viết theo lối La tinh mà sau đó nhanh chóng trở thành quốc ngữ Việt Nam.
Đánh giá về vai trò của linh mục Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh nên quốc ngữ Việt Nam, tờ Nguyệt San MISSI do các linh mục Dòng tên người Pháp quản lý đã từng viết nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông, đại lược như sau: “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre De Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”.
Quả vậy, khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách in quyển từ điển và các sách đầu tiên bằng chữ quốc ngữ tại nhà in Vatican – Roma, thì cha Alexandre De Rhodes đã giải phóng cho nước Việt Nam về chữ quốc ngữ.

Bởi lẽ trước đó, tương tự như Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên), thì người Việt Nam sử dụng lối chữ viết tượng hình, biểu ý của người Tàu hoặc chữ nôm do tự sáng chế và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Cao Ly mới chế biến ra chữ viết riêng của họ, nhưng vẫn không theo cách viết La tinh nên bị hạn chế nhiều. Còn người Nhật Bản thì sau nhiều lần thử nghiệm chế biến lối chữ viết khác, nhưng cuối cùng đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình, biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, chính người Tàu dưới chế độ cộng sản của Mao Trạch Đông cũng đã từng tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre De Rhodes, đã tiến bộ trước người Tàu đến hơn ba thế kỷ rưỡi (1651 – 1017 – tính từ năm in cuốn từ điển Việt – Bồ – La đến thời điểm hiện nay.

Từ điển Việt-Bồ-La
Từ điển Việt-Bồ-La

Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Alexandre De Rhodes khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, chính cha Alexandre De Rhodes là người hệ thống hóa, hoàn tất công trình làm ra chữ quốc ngữ thành công vào năm 1651, tức là năm mà cuốn tự điển Việt – Bồ – La chào đời tại nhà in Vatican – Roma.

Thế nên, chính tại nhà in Vatican ở Roma là nơi mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình, và chính năm 1651 cũng là năm khai sinh chính thức của chữ quốc ngữ Việt Nam.

Theo đó, chữ viết theo lối La tinh ban đầu được các nhà truyền giáo đặt nền móng cho việc sử dụng trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đến khi được người dân Việt Nam chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, thì mặc nhiên nó đã tự mình được nâng cấp thành chữ quốc ngữ.

Ghi nhận công nghiệp của cha Alexandre De Rhodes đối với xứ sở, năm 1941, một tấm bia kỷ niệm nhân ngày sinh nhật thứ 350 của cha đã được dựng ở gần bên bờ Hồ Gươm trước cửa đền bà Kiệu – Hà Nội. Đến năm 1957, khi Hà Nội thuộc sự quản lý của chính quyền Cộng Sản thì bia đã bị gỡ bỏ.
Chính quyền Sài Gòn cũ đặt tên ông cho một con đường tọa lạc trước mặt Dinh Độc Lập, nay là Dinh Thống Nhất, đối xứng với phía bên kia là đường Hàn Thuyên, tên danh sĩ được ghi nhận có công phát triển và phổ biến lối chữ Nôm. Sau năm 1975, chính quyền cộng sản đổi tên đường thành Thái Văn Lung và bây giờ thì đã trả lại tên cũ là Alexandre De Rhodes cho con đường này.

Về tiểu sử: Nguyên, cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) sinh ngày 15/03/1591 (hay 1593?) tại vùng Avignon, miền nam nước Pháp. Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tị nạn ở vùng Avignon là đất của Giáo Hoàng. Ông gia nhập Dòng Tên tại Roma năm 1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển mạnh mẽ.

Đầu năm 1625, cha Alexandre De Rhodes đến Việt Nam bắt đầu từ Hội An. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha. Nhưng cuộc đời truyền giáo của cha ở đây rất gian nan, trong vòng 20 năm, cha bị trục xuất đến sáu lần. Đến năm 1645, cha bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Cha mất ngày 5/11/1660 ở Iran, thọ 69 tuổi.

Hiện nay, ở Việt Nam đã từng xuất hiện ý kiến phủ nhận công lao đóng góp của cha Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh chữ quốc ngữ, một trong số họ nêu quan điểm: “Alexandre De Rhodes làm sách bằng chữ quốc ngữ là để phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo, chứ tuyệt đối không vì bất cứ một lợi ích nhỏ nhoi nào của người Đại Việt cả. Người Việt Nam đã tận dụng chữ quốc ngữ, mà một số cố đạo đã đặt ra, với sự góp sức của một số con chiên người Đại Việt, để làm lợi khí cho việc giảng đạo, thành lợi khí của chính mình để phát triển văn hóa dân tộc, để chuyển tải một cách đầy hiệu lực những tư tưởng yêu nước và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện ‘gậy ông đập lưng ông’ mà thôi”. [1]

Riêng đối với công chúng, thì:
– Lối chữ viết đã trở thành quốc ngữ của xứ sở với chín mươi triệu đồng bào cả trong và ngoài nước cùng sử dụng;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện những dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ thuở hồng hoang đến nay;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện lời ru “Ầu ơ …” ân cần của mẹ từ ngày sinh ra ta làm kiếp người;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện sự yêu thương giữa những thành viên trong gia đình, giữa những đôi tình nhân, giữa những người tri kỷ …
– Lối chữ viết được dùng thể hiện ca từ những nhạc phẩm bất tử như Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng, Trưng Nữ Vương, Lòng mẹ, Tình ca …
– Lối chữ viết mà dân ta có thể tự hào là riêng biệt trong khi rất nhiều quốc gia khác, kể cả nhiều cường quốc vẫn còn phải vay mượn (Úc, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Nhật Bản, Đại Hàn …);

Thì người khai sinh của lối chữ viết ấy chắc chắn phải là ÂN NHÂN của xứ sở mình, bất kể đến quốc tịch của họ, bất kể đến tôn giáo của họ và bất kể đến động cơ của họ khi khai sinh lối chữ ấy!

Và với chế độ:
– Lối chữ viết được Ông Hồ Chí Minh dùng để viết lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh chế độ;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện Hiến pháp quy định sự độc tôn chính trị của Đảng Cộng Sản;
– Lối chữ viết được dùng trong tất cả mọi sinh hoạt chính trị, hành chính, xã hội, kinh tế, giáo dục, văn hóa …
– Lối chữ viết mà hơn 700 tờ báo của chế độ đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 24.000 vị tiến sĩ khoa bảng quốc gia đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 400 trường Đại học, cao đẳng các loại và hàng vạn trường học các cấp đang dùng;
Nhưng lại không mấy ai trong số họ nhắc đến ngày sinh nhật của cha Alexandre De Rhodes, người có công khai sinh lối chữ viết mà nghiễm nhiên đã là quốc ngữ của xứ sở, như là một trong những ân nhân của dân tộc này thì thật là đáng thất vọng!

Tôi tin rằng, xứ sở này nợ ông ấy lời tri ân!


Tôn giáo rất cần thiết trong xã hội như thế. Nếu sống đạo, dù theo Công giáo, Tin lành hay Phật giáo đều sống theo đạo lý, đề cao công bằng bác ái, từ bi, tôn trọng sự sống, văn minh, tình thương yêu. Người biết sợ Chúa, sợ Trời đất, thì mới không dám làm điều ác; chứ không sợ, không tin gì cả, thì chẳng có gì níu giữ cả…


Nổi tiếng vì nhận nhiều giải cao trong các cuộc thi “Những cuốn sách vàng” do TP. Hồ Chí Minh tổ chức, vị Chánh xứ Giáo xứ Tân Sa Châu (87 Lê Văn Sỹ, P.2, Q. Tân Bình), cha Nguyễn Hữu Triết, có hẳn một “bộ sản phẩm cổ” liên quan đến Truyện Kiều và Nguyễn Du. Số đèn cổ ông sưu tầm đã lên tới 1.400 chiếc. Giáng sinh vừa qua, linh mục xuất hiện trong cuộc phỏng vấn độc đáo trên đài truyền hình trung ương.

Ngồi trò chuyện dưới ánh sáng của cây đèn cổ đời nhà Mạc thế kỷ XVI, vị linh mục tâm sự nhiều về một thú chơi, “thực ra là một hình thức biết ơn tiền nhân và giữ gìn văn hóa thôi”. Ông là người cởi mở, say mê chia sẻ từ chuyện đồ cổ cho tới những chuyện “sống đạo” trong xã hội ngày nay.

Được thụ phong linh mục lúc 27 tuổi, có hơn 20 năm là phó xứ Gia Định và gần 20 năm chánh xứ ở Giáo xứ Tân Sa Châu, hẳn cha nhận thấy đời sống đạo có nhiều thay đổi theo thời cuộc. Vậy theo cha, điều gì thay đổi rõ rệt nhất?

Toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị đã tạo ra nhiều xáo trộn, phân tán, nên hiếm khi nào còn xứ đạo toàn tòng như ngày xưa nữa. Đời sống tập trung có mặt tích cực là người ta nhìn theo nhau, theo một tấm gương nào đó, rồi lễ lạt đông đảo, công việc chung sẽ trôi chảy,… Nhưng mặt tiêu cực của việc sống quần tụ là tâm lý ỷ vào bầy đàn, theo niềm tin bầy đàn, không đào sâu niềm tin cá nhân. Giống như nếu được cha mẹ bảo bọc kỹ quá, thì cuộc sống cứ êm xuôi đều đều như vậy, đến khi gặp phải hoàn cảnh tứ tán thì rất đáng lo, người nào vững vàng mới vượt qua được. Bây giờ xã hội thay đổi, hiện tượng di dân, đô thị hóa, thay đổi công ăn việc làm, nơi cư trú, người ta đi khắp nơi kiếm sống, cả ra nước ngoài…

Vâng, chỗ nào cũng thấy, đến cả tai nạn tàu ở tận Bắc cực, hay nạn nhân cướp biển Somali, cũng có người Việt Nam…

Chính sự phân tán trong đời sống, đi khắp nơi như vậy, giáo hữu cũng dễ phân tán trong việc giữ đạo.

Nhưng tính truyền thống rất mạnh, nhất là trong tôn giáo, phải không thưa cha?

Đúng là truyền thống sẽ không mất đi, nhưng không được chuẩn bị tốt cũng sẽ sút giảm. Mỗi người phải sống với niềm tin của mình trong xã hội, một hiện tượng bình thường cho mọi tôn giáo. Ngày xưa cả đời cụ tổ cho đến con cháu đều ở cùng một làng, trong một lũy tre. Vấn đề ly dị tôi chưa bao giờ nghe, nay thì nhiều lắm, trong giáo dân cũng đã có, vì ảnh hưởng chung của xã hội.

Vậy theo cha, đó có phải là vấn đề bức xúc nhất trong đời sống đạo của hôm nay không?

Bức xúc nhất là làm sao để có được đức tin trưởng thành, yêu cầu lớn nhất để có thể đối phó với thực tế. Có đức tin trưởng thành thì vứt ở đâu cũng sống được. Thiếu nó, Giáo hội sẽ gặp nguy hiểm.

Bây giờ trong rao giảng của các vị linh mục, phải thay đổi thế nào để phù hợp với đời sống thực tế, thưa cha?

Giáo lý được liên hệ với những điều mới mẻ. Xưa làm gì có thụ tinh nhân tạo, đồng tính, chuyển giới! Chúng tôi phải chuẩn bị Giáo lý hôn nhân Công giáo cho giới trẻ, huấn luyện mục đích hôn nhân gồm hai điều, vợ chồng yêu thương giúp đỡ nhau, cộng tác với Chúa trong chuyện sinh nở và giáo dục con cái. Chúng tôi phải mở lớp Giáo lý hôn nhân rồi mới làm lễ hôn phối cho các cặp vợ chồng trẻ. Có hai đặc tính của hôn nhân Công giáo, đó là một vợ một chồng và bất khả phân ly, không ly dị.

Công giáo sẽ xử lý ra sao khi thực tế đang phá vỡ dữ dội những luật này, ngay chuyện phá thai thì Việt Nam cũng đứng vào hàng đầu thế giới?

Phải bằng biện pháp giáo dục thôi, chúng tôi không có những chế tài theo kiểu luật pháp. Với Hội thánh thì chỉ rút phép thông công, không được xưng tội, rước lễ. Còn thì chỉ thông qua giáo dục, kêu gọi mọi người sống có lương tâm, trách nhiệm. Ngay các vấn đề bên ngoài xã hội, luật pháp đã có những quy định, chế tài, xử phạt hẳn hoi nếu vi phạm, cũng vẫn phải dùng nhiều biện pháp giáo dục.

Khi xã hội có những biểu hiện lệch lạc, sẽ có những cơ chế khác bù đắp vào, đó là truyền thống văn hóa, mối liên kết giữa các gia đình, làng xã, sự từ bi, tấm lòng tương trợ, hoạt động tôn giáo…, gọi chung là vốn xã hội. Cha thấy sống đạo liệu có phát huy được nhiều điểm tích cực không?

Tôn giáo rất cần thiết trong xã hội như thế. Nếu sống đạo, dù theo Công giáo, Tin lành hay Phật giáo đều sống theo đạo lý, đề cao công bằng bác ái, từ bi, tôn trọng sự sống, văn minh, tình thương yêu. Người biết sợ Chúa, sợ Trời đất, thì mới không dám làm điều ác; chứ không sợ, không tin gì cả, thì chẳng có gì níu giữ cả…

Nhưng nếu chỉ vì sợ mới làm thì đâu có tốt và bền vững?

Chỉ có sợ thì trình độ đạo đức không cao, nhưng cần thiết. Luật pháp cũng vậy, phải có chế tài. Hãy nhìn sang nước bạn, Singapore ít có tội phạm ma túy vì luật pháp rất nghiêm, chỉ tàng trữ vài trăm gram heroin là treo cổ. Tổng thống Mỹ, thủ tướng Úc đứng ra xin giảm hình phạt cho công dân nước mình cũng không được. Giữ thành phố xanh sạch, vất mẩu thuốc lá bị phạt 500 đô. Ở Paris thủ đô nước Pháp, trên cột đèn vẽ hình con chó, nhắc việc cấm chó phóng uế, nếu vi phạm, phạt 450 euro. “Già đòn non nhẽ” mà. Nếu ở nước ta, ai đua xe bị bắt sẽ bị tịch thu xe, nếu có bố mẹ là công chức thì buộc phải từ chức, chắc chắn nạn đua xe phải bớt. Người theo đạo nào thì trước tiên phải là công dân tốt, sống tự giác, tuân thủ pháp luật. Được vậy, xã hội sẽ bớt nhà tù, không cần nhiều công an. Tôi có dịp ở Đan Mạch ba tháng, suốt thời gian đó cũng đi nhiều nơi, vậy mà chưa thấy được một viên cảnh sát.

Chắc cha đi nghiên cứu ở nước ngoài nhiều?

Không, tôi đi thăm anh tôi. Công việc của một cha xứ không hề ít. Ngoài tế tự, lễ giảng, giải quyết các nhu cầu tôn giáo, hôn nhân, rửa tội, giải quyết xin di chuyển…, còn có công việc mục vụ, điều hành các lễ nghi, tổ chức hoạt động bác ái như “bữa cơm nhân ái” 170 suất ăn trưa cho người nghèo, cơ nhỡ…

Cha có thể kể một kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời linh mục của mình?

Hơn 40 năm, nhiều kỷ niệm lắm. Nhưng có lẽ tôi hài lòng nhất khi nhớ về sự giản dị của đời phục vụ. Năm 1972, ngày đi nhận chức phó xứ Gia Định. Một xe đạp lọc cọc chở chiếc vali, đi từ chợ Cầu – Gò Vấp về Gia Định, không người tiễn đưa, không ai ra đón, như cô dâu tự về nhà chồng. Người đầu tiên tôi gặp là ông thầy tên Tế phụ trách văn phòng của Trường Thánh mẫu có tới 1.300 học sinh. Ông thầy Tế hỏi: “Ông đi đâu đây?”. Tôi đáp: “Tôi là cha phó đến nhận nhiệm vụ”. “Vậy à, cha Sở có gửi chìa khóa đây”. Rồi chưa kịp chào, cha Sở đã mời ra ngay nhà thờ làm công tác mục vụ, ban phép hòa giải cho người tới xưng tội. Vào việc liền, âm thầm, đơn giản, hợp với bản chất nông dân của tôi, thuở bé chăn trâu bò ngoài đồng quen với đời sống đơn giản. Tiệc tùng tôi sợ lắm.

Cha nổi tiếng nhờ việc sưu tầm sách cổ với hai giải nhất trong cuộc thi “Những cuốn sách vàng”, có năm nhận tới sáu giải. Từ bản Truyện Kiều khắc ván in từ thế kỷ XIX độc đáo, dường như nay đã “quần tụ” thành một bộ sản phẩm. Cha có gì mới chia sẻ với mọi người?

Đúng là ngày càng đồ sộ. Bên cạnh gần hai mươi bản Truyện Kiều chữ nôm rất quý, cổ xưa, tôi đã sưu tầm thêm được 200 bản Truyện Kiều in tiếng Việt và tiếng Pháp, Anh, Đức, Rumani, Hàn Quốc. Có cả bản chữ nổi cho người khiếm thị. Rồi khoảng 700 đầu sách nghiên cứu Truyện Kiều và Nguyễn Du, hơn 700 tờ báo và tạp chí viết về Truyện Kiều và Nguyễn Du. Có 50 bức tranh vẽ Kiều. Ngoài ra, còn có nhiều sản phẩm như chén, thống, tượng sứ, guốc sơn mài có hình vẽ Kiều, rất nhiều cuốn băng ngâm Truyện Kiều, toàn những tác phẩm “thứ dữ”, tạo nên một bộ tác phẩm vẫn đang được làm giàu, sưu tập thêm.

Cha Triết và một cổ vật
Cha Triết và một cổ vật
Còn việc sưu tầm đèn cổ của Cha đã nổi tiếng khắp nơi, Cha có thể cho biết bây giờ con số đèn đã lên tới bao nhiêu cái rồi và đôi nét đặc sắc về chúng?

Kể cả đèn cổ và đèn xưa (theo quy định đèn xưa là chưa tới 100 năm), tôi đã có được 1.400 cái, làm từ rất nhiều chất liệu: đồng, bạc, gang, thủy tinh, antimoan, nhôm, sắt, sứ, gốm, đất nung, hoặc có bầu đèn làm bằng gỗ. Về niên đại thì cái cổ nhất là cái đèn Sa Huỳnh đã 2.500 năm. Đèn có xuất xứ từ 14 quốc gia, màu sắc phong phú tuyệt đẹp. Cái đất nung thô màu gạch, thủy tinh nhiều màu, gốm sứ đủ hình vẽ đa dạng. Dáng dấp đủ hình đủ kiểu, tuyệt vời lắm.

Trong số đó, cây đèn cổ nhất cha có được là nhờ vào đâu?

Cây đèn Sa Huỳnh ấy có dáng vẻ rất đơn giản, giống cái lọ, cho mỡ động vật vào thắp sáng, tim đèn làm bằng vỏ cây. Tôi có được nó nhờ mua cả cái mộ chum Sa Huỳnh, bên trong có cả các hũ, lọ, chậu hoa, được chôn dưới đất hàng ngàn năm. Mộ chum thì tôi quen lắm, người ta giới thiệu là tôi biết liền.

Nhiều người thắc mắc rằng, bảo quản đèn cổ có cần điều kiện gì đặc biệt không, thưa cha?

Chỉ cần giữ gìn đừng để xô lệch, đổ vỡ thôi, không làm gì đặc biệt.

Và vì sao thú sưu tập lại là cây đèn chứ không phải thứ gì khác?

Trước hết là nhờ vào văn học. Nào là Tắt đèn, Ngọn đèn dầu lạc, truyện thời danh Lục Vân Tiên “Trước đèn đọc truyện Tây Minh”. Truyện Kiều nhắc nhiều tới đèn, sách hay, đọc dưới đèn, cảo thơm lần giở trước đèn… Tôi đi tu, đọc Thánh kinh từ bé cũng thấy nhắc nhiều tới đèn, nó biểu tượng cho đời sống thánh thiện, minh bạch. Chúa cũng nói, các con là ánh sáng thế gian… Ca dao tục ngữ cũng vậy, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng; thông minh gọi là sáng dạ… Từ văn học, đời sống, cho đến Thánh kinh, tục ngữ ca dao… Tôi thấy cây đèn có nhiều ý nghĩa quá, sách đi đôi với đèn, nó còn là ánh sáng trí tuệ.

Một dạo nghe nói cây đèn sứ Trung Hoa, cây đèn Pháp chóa thủy tinh chân cẩm thạch giá tới gần 100 triệu đồng, cha mê lắm nhưng đắt quá nên chưa mua được, bây giờ số phận chúng ra sao rồi?

Tôi đã cố gắng mua được rồi. Cây đèn sứ Trung Hoa nằm trong bộ sưu tập đèn cuối đời Thanh, rất hiếm, đúc nguyên. Cây đèn chóa da cọp cao gần một mét, đắt lắm, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, của những gia đình người Pháp giàu có.

Cái thú thưởng thức đèn cổ, ngồi dưới ánh sáng của chúng hẳn là có gì đó đặc biệt…

Thú sưu tầm là giữ gìn văn hóa, các kỷ vật của người xưa, một hình thức biết ơn tiền nhân. Cây đèn đã qua bao nhiêu người dùng. Ngày xưa chỉ có đèn dầu là nhất, có lúc đốt bằng mỡ trăn, mỡ chuột. Nước ta bốn ngàn năm văn hiến rồi mà. Mình sưu tầm, như góp phần tiếp tục giữ ngọn lửa. Còn thưởng thức thì trước tiên nhìn đèn cũng như nhìn thấy lịch sử hàng trăm, hàng ngàn năm. Đời người ngắn ngủi, so với thời gian đối diện với chứng tích của cây đèn cổ thì mình còn kém rất xa. Tôi nhớ lời một anh bạn chơi với nhau đã bốn mươi năm, thường cùng nhau ra đường Lê Công Kiều ngắm tìm đồ cổ. Anh ấy dẫn lời một người Anh nói về thú chơi đồ cổ. Rằng người chơi đồ cổ là người yêu đời nhất, cũng là người chán đời nhất, là người yêu nước nhất và đầu tư được vốn liếng lớn nhất. Có khi thu lợi bất ngờ.

Yêu đời nhất thì có thể suy đoán được, còn vì sao lại là chán đời nhất? Có phải do chỉ đắm chìm vào quá khứ mà quên sống thực tại không?

Không phải. Yêu đời nhất là thế này: dù anh có làm lớn đến đâu, giàu có đến đâu, cái gì cũng có, nhưng chắc chắn không thể có cái đèn Sa Huỳnh 2.500 năm của tôi. Niềm tự hào học theo kiểu cụ Tản Đà, “ta cũng hơn ai cái cảnh nghèo”, đó là “không ai bằng mình”. Đại gia mang tiền tới, chưa chắc tôi đã bán cho. Còn chán đời nhất là do so sánh, “mày hãy còn đây, mày sống lâu, như cái đèn Đông Sơn đã 2.000 năm, còn thân tao sắp phải chia ly mày rồi”, đó là đau đớn nhất. Yêu nước nhất, là gìn giữ không để chảy máu cổ vật. Không phải “la oai oái” như bây giờ ai sang Thổ Nhĩ Kỳ mà rinh cái bình củ tỏi gốm Chu Đậu về được không? Cái bình mà nhờ nó, chúng ta đã tìm ra được cả nguồn gốc nghề gốm Chu Đậu của ông cha. Nếu mình giữ cho văn hóa còn thì đất nước còn, văn hóa mất thì mình mất. Tôi nghĩ mỗi công dân đều có bổn phận đó.

Thế còn “nhà đầu tư” và những bất ngờ giá cả?

Đầu tư tiền bạc thì phải có, nhưng với tôi, không có ý nghĩa làm giàu. Một người bạn kể câu chuyện hay xảy ra trong giới sưu tầm cổ vật mà anh chứng kiến vào một buổi chiều trên đường Đồng Khởi. Có một người ở miền Tây lên bán cái lọ đất nung. Chủ hàng không muốn mua, trả tới trả lui mới mua được 50 ngàn đồng. Chỉ lát sau, một khách Trung Quốc vào ngắm nghía, soi chụp kỹ lắm, chủ nhà biết là “dân máu mua” nên hét giá thật cao, cuối cùng bán được 13 cây vàng! Những chuyện ấy là may rủi thôi. Nói về đầu tư gặp may thì ai cũng đã nghe câu chuyện anh cày ruộng ở Mỹ tìm được đồng tiền vàng từ năm 1932 loại không phát hành, các nhà khảo cổ đánh giá tới 7 triệu rưỡi đô. Rồi chuyện con tem 2 xu có hình bà Victoria, thế giới chỉ có một cái. Đó là những chuyện ly kỳ về chơi đồ cổ. Riêng tôi, tôi không gặp chuyện gì bất ngờ liên quan đến tiền bạc.

Nhưng chuyện kỷ niệm đáng nhớ lúc đi sưu tầm thì cha có nhiều chứ?

Nhiều, nhưng tôi lại thích những kỷ niệm đơn giản mà hồi hộp. Khoảng năm 2003 ra Hà Nội, đi chơi Nghi Tàm với anh bạn, bất ngờ gặp một lúc ba cây đèn quý, một của Đông Sơn, một của Bát Tràng và một cây đèn thủy tinh. Túi không đủ tiền, may mà có anh bạn cho mượn, nhưng cái cảm giác choáng váng khi thấy chúng và sự “hú hồn” suýt không mua được bữa ấy thật khó quên.

Như tất cả những người sưu tầm cổ vật luôn nghĩ tới tương lai cho những cổ vật suốt đời mình sưu tập, cha đã nghĩ tới chưa?

Tôi sẽ hiến cho Giáo hội quản lý để cho mọi người thưởng thức. Nhiều hiện vật của tôi đã biếu, ở Huế, La Vang, ai cũng có thể vào xem. Hiện nay, bộ Truyện Kiều đồ sộ đã đưa ra rồi. Ở dòng Thiên An, có cả thủ thư, vì Đức cha ở đó có ý định làm thư viện về Cố cả Léopold Michel Cadière (linh mục năm 1892 lúc 23 tuổi, sang Việt Nam làm mục vụ tại giáo phận Huế. Là người sáng lập Hội Đô thành hiếu cổ quy tụ 40 nhà nghiên cứu Pháp – Việt. Ông để lại 245 sách, khảo luận nghiên cứu Việt Nam). Ở TP. Hồ Chí Minh, cách đây mấy năm tôi có hiến vào Nhà truyền thống Giáo phận Thành phố ở đường Tôn Đức Thắng, đã trưng bày nhiều tượng, ảnh, đồ cổ về văn hóa dân tộc, tôn giáo. Có cả bộ đèn mang tên “Ánh sáng muôn dân” 960 cái, khách du lịch Đông – Tây đều thích. Đèn từ thời Đông Sơn đến thế kỷ XX, cái non nhất là cái có trước 1975. Đáng tiếc là nhân sự người quản lý chưa được ổn định.

Cha còn viết rất nhiều, tới hàng chục cuốn sách nhỏ mang tên Những suy nghĩ vẩn vơ về rất nhiều vấn đề thời cuộc sâu sắc, gắn bó với đời sống hằng ngày. Cha có định xuất bản như các tác phẩm đồ sộ của Đức cha Bùi Tuần được nhiều người hoan nghênh?

Đức cha Bùi Tuần là bậc lớn, cây bút lớn. Những suy nghĩ của tôi, muốn như những lời tâm sự chuyện đạo lẫn chuyện đời, in rất nhỏ, là loại chia sẻ với mọi người, biếu tặng đọc chơi chứ không in ra để bán.

Cha viết nhiều “suy nghĩ vẩn vơ” về thời cuộc, vậy vấn đề xã hội nào khiến cha bức xúc nhất?

Đó là vấn đề công bằng. Còn nhiều cảnh bất công quá. Chúng ta phải cố gắng làm sao giảm bớt bất công, bởi nếu sống trong bất công thì cũng không sao có hạnh phúc được.

Cha vào Nam năm 1954, lúc mới chín tuổi, xa mãi quê hay có khi nào về lại thăm gia đình?

Gia đình tôi đã sống ở nhiều nơi kể từ khi vào Nam, cặp cảng Sài Gòn. Đó là Bình Xuyên, Bến Cát, Sóc Trăng, Hố Nai, Trảng Bom, Tam Hiệp. Tôi có trở lại thăm quê ở Hải Dương, như mọi nơi trên đất nước, quê hương tôi cũng khác xưa nhiều lắm.

Là người bận rộn, nhưng thường dân chơi đồ cổ hay có “hội” trao đổi ý kiến, sở thích, đánh giá, cha có tham gia hội nào không?

Có chứ. Hội Cổ vật TP. Hồ Chí Minh đông tới cả trăm thành viên, họp hằng tháng. Câu lạc bộ sách Xưa và nay cũng thường họp ở đây. Ở cái bàn trà này, một tuần cũng có tới năm tối, anh em tới uống trà, nói chuyện, bình luận, giao lưu, chuyện của những dân “ghiền đồ cổ” mà, vui lắm.

Xin cảm ơn cha.

Nguyễn Thị Ngọc Hải phỏng vấn Lm. Nguyễn Hữu Triết

Nguồn: TuanVietnam



* Chúng tôi xin được thay đại từ ông bằng cha như xưng hô của người Công giáo chúng tôi đối với Linh mục. Trong bài phỏng vấn nhân dịp Lễ Giáng Sinh vừa qua, phóng viên Đài truyền hình Việt Nam cũng xưng hô với Lm. Nguyễn Hữu Triết là cha.





Một buổi tối cuối tháng tư, đi làm về đã rất muộn, con nhận được một cuộc điện thoại từ Cha Trăng Thập Tự. Trong đầu lúc đó chỉ nghĩ: Chắc có chuyện gì quan trọng nên cha mới gọi giờ này…
Con nghe máy, lập tức - từ đầu dây bên kia - xuất hiện một nụ cười.
Cha hỏi thăm và báo tin Tập san Mục Đồng mới ra mắt độc giả - “Bữa giờ con có theo dõi thông tin các email cha gửi không?”
Con nhỏ nhẹ xin lỗi vì chưa xem hết các thư. Cha lại cười: Ngày 9/5 tới, Cha và chú Xuân xuống Sài Gòn tổ chức buổi gặp mặt các vị đã giúp cộng tác với nhau để ra mắt Tập san. Con có thể cùng đến tham gia được chứ?
Buổi gặp mặt diễn ra thân mật và nhẹ nhàng dưới sự chủ trì của Cha Trăng. 14 con người ngồi vòng tròn nói chuyện, chia sẻ công việc cộng tác tông đồ, góp ý cho Tập san, thông qua hướng đi thời gian tới. Tập san Mục đồng ra đời là một Hồng ân kỳ diệu của Thiên Chúa! - Cha Trăng nói – Những con người cùng cộng tác để làm nên Tập san chưa hề gặp mặt nhau, chưa hề biết nhau. Chỉ trao đổi với nhau qua điện thoại, người Quy Nhơn, kẻ Sài Gòn. Những người cùng ở Sài Gòn cũng chẳng biết mặt nhau, đến hôm gặp mặt một chú mới thốt lên: “Em nghe giọng anh trong điện thoại, em cứ nghĩ là anh còn trẻ…”

Ở buổi gặp mặt, có chú Nguyễn Thịnh và chú Đặng Ngọc Doãn, hai chú là tác giả của chương trình tặng sách truyện tranh có nội dung Kinh Thánh cho thiếu nhi khắp các giáo xứ, giaó điểm trên khắp đất nước Việt Nam. Hai chú đã lặn lội đi dọc chiều dài đất nước, đến với tất cả mọi nơi cần để tặng những thùng sách truyện cho thiếu nhi, vì hai chú xác tín rằng: Có một cánh đồng truyền giáo rất bao la,ít phức tạp,nhiều hiệu quả… đó là truyền giáo cho thiếu nhi và qua thiếu nhi. Truyện tranh (Thánh) cho thiếu nhi là một phương thức rất hay, nhất là đối với các thiếu nhi ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà phương tiện giải trí sách truyện còn rất thiếu.
Các chú lặng thầm làm công việc tông đồ theo lối này, ắt hẳn đó không phải là những suy nghĩ viễn vông, nhưng qua một vài câu chuyện cụ thể, thiếu nhi ngoại giáo truyền giáo cho cha mẹ của chúng. Giống như những em thiếu nhi học trường các Dì; chúng được nghe kể chuyện Thánh, được dạy đọc kinh, làm dấu,… Khi về nhà các em nói ba mẹ phải làm theo, dần dần cha mẹ thấy đạo Chúa có gì đó hay hay, rồi họ tìm hiểu, học giáo lý và họ tìm thấy Chúa.
Làm việc tông đồ đòi hỏi rất nhiều hy sinh, hai chú vẫn luôn âm thầm bỏ đi cái tôi của mình, chỉ theo đuổi một mục đích cuối cùng: Chúa Giêsu được nhiều người biết đến.
Có quá nhiều người Việt Nam chưa biết Chúa. Đành rằng người ta biết là có Đạo Công giáo đấy, có Ông Giêsu đấy – nhưng mà người ta không biết Ông Giêsu dạy cái gì…
Ai nói cho người ta hay?
Hai chú gửi đến các Cha ở các giáo xứ, các Dì ở các cộng đồng truyền giáo những cuốn truyện tranh Thánh nhỏ bé với ước mong chúng được phân phát rộng rãi cho các em thiếu nhi với tính cách cho mượn có thời hạn; đọc xong sẽ đổi lại cuốn khác;nếu lỡ các em làm mất thì (không sao) cho mượn cuốn khác. Các chú rất sợ những cuốn sách mình gửi đi sẽ bị đưa vào tủ sách hay thư viện rồi đóng cửa lại, vì như thế sẽ rất hạn chế về thời gian và không gian đối với các em. Nhất là đánh mất khả năng truyền giáo của các em cho nhiều người khác (cha,mẹ, anh , chị, em và bạn bè của chúng).
Này bạn,
cảm ơn bạn đọc đến những dòng này. Chắc hẳn ở Giáo xứ của bạn cũng sẽ có những thùng sách truyện thiếu nhi mà bạn đọc thấy ở trên, bằng cách nào đó, xin bạn hãy giúp cho những cuốn sách ấy đến được tay các em nhỏ như tâm nguyện của những người tặng sách, bạn nhé!
Hay giả như bạn có những cuốn sách thích hợp, xin hãy phân phát nó cho những người muốn đọc. Hoặc như có ai đó hỏi bạn về Chúa, về Ông Giêsu – xin bạn dành chút thời gian cho họ - xin bạn đừng từ chối.
Cha Trăng và các chú, ai nấy đều đã trong ngoài bảy mươi. Ở độ tuổi đó, người ta xứng đáng để được nghỉ ngơi. Nhưng… từng ngày, từng ngày, Cha, các chú vẫn đang âm thầm làm việc cho sứ vụ mở mang nước Chúa, đem Chúa đến gần con người hơn.
Và còn... những - người - trẻ - chúng ta …

Thanh Tâm
xem bài đã đăng trên nhóm VTCG













Một bé trai hỏi mẹ: «Vì sao mẹ khóc ?» 

« Vì mẹ là đàn bà », người mẹ trả lời.
« Con không hiểu », cậu bé nói 

Người mẹ ôm chặt cậu bé và nói: «Không bao giờ con hiểu nổi đâu»
Sau đó, bé trai hỏi người cha : « Vì sao mẹ lại khóc vậy ba ? »
« Tất cả đàn bà đều khóc không lý do », đó là tất cả những gì mà người cha có thể nói với bé.
Khi trưởng thành, người thanh niên hỏi Thượng Ðế :
« Thưa Ngài, tại sao người phụ nữ lại có thể khóc một cách dễ dàng đến thế?»
Và Thượng Đế trả lời: « Khi ta tạo ra đàn bà, họ phải đặc biệt. Ta tạo ra đôi vai họ đủ mạnh để có thể gánh vác sức nặng của thế giới… và khá dịu dàng để nó được thoải mái.
Ta đã ban cho họ sức mạnh để tạo ra sự sống, và sức mạnh để chấp nhận sự chống đối thường đến từ con cái.
Ta đã ban cho họ sức mạnh để tiếp tục khi mà tất cả đã bỏ cuộc. Sức mạnh để chăm sóc gia đình dù bệnh tật và mệt mỏi.
Ta đã ban cho họ sự nhạy cảm để yêu thương các con, một tình yêu vô điều kiện, ngay cả khi chúng làm họ rất đau khổ.
Ta đã ban cho họ sức mạnh để chịu đựng những lỗi lầm của chồng và vẫn luôn sát cánh với chồng không hề suy yếu. Và cuối cùng, ta đã ban cho họ những giọt nước mắt trào tuôn khi họ cảm thấy cần thiết.
Con thấy không, sắc đẹp của người phụ nữ không tùy thuộc vào đồ trang sức, diện mạo hay trong cách chải tóc.
Sắc đẹp của phụ nữ thể hiện trong đôi mắt của họ.
Ðó là cánh cửa của tâm hồn, nơi mà tình yêu đang ngự trị.
Và thường thường, con có thể cảm nhận được trái tim của họ qua những giọt nước mắt».
St

***

Kính thưa quý tác giả và bạn đọc VTCG, cách riêng quý cô bác, chị, em phụ nữ !

Trong truyện ngắn Trăng Sáng, Nam Cao, một nhà văn hiện thực đã kêu lên thống thiết: “Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…” .

Ngày Quốc tế phụ nữ 08 tháng 03 năm nay, chúng tôi cảm thấy không đành lòng viết những lời chúc bay bướm. Thay vào đó, chúng tôi xin chia sẻ đôi dòng tâm tình và xin hiệp nguyện cho quý chị em phụ nữ Việt Nam, cách riêng ba người phụ nữ dưới đây.

1. Nhìn xuống những cánh đồng dọc đất nước Việt Nam, đâu đâu chúng tôi cũng thấy hầu hết là các mẹ, các chị “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, với bao giọt mồ hôi nước mắt tưới cho ruộng đồng để mang lại bát cơm đầy ! Ngược lại, trong các quán bia rượu hai bên đường, toàn thấy các đấng mày râu nhậu nhẹt thâu đêm tối ngày dẫn đến hậu quả tất yếu là Việt Nam trở thành một trong các nước tiêu thụ bia rượu nhiều nhất trên thế giới !

2. Nhìn vào các công xưởng xí nghiệp, đâu đâu chúng tôi cũng thấy hầu hết công nhân nữ còn chịu cảnh chèn ép giờ làm, ăn uống kham khổ, mất vệ sinh khôn kể xiết để cho ra các sản phẩm tiêu dùng, mà lợi nhuận chủ yếu rơi vào tay các ông chủ ! Họ cần sự quan tâm chia sẻ, ít là những lời cầu nguyện chân thành hơn là những lời gió bay.

3. Nhìn những cảnh xuất khẩu lao động, đi làm ôsin xứ người hẩm hiu, chúng tôi cũng thấy còn biết bao nhiêu phụ nữ Việt Nam phải chịu cảnh bán thân, bán sức lao động, cam chịu đắng cay nhục nhã để kiếm đồng tiền bát gạo cho gia đình, nhiều khi lại bị lừa tiền mất tật mang, thậm chí rơi vào cảnh khủng khiếp như nạn nhân Đoàn Thị Hương bên Malaysia !

4. Nhìn vào đời sống nội bộ các gia đình, đâu đâu chúng tôi cũng thấy không nhà này thì nhà kia chịu cảnh đau lòng đẫm nước mắt, những chuyện tan đàn xẻ nghé, những chuyện bất bình đẳng đến bạo lực dưới mọi hình thức !

5. Nhìn vào các cơ sở từ thiện, bác ái, chúng tôi thấy hầu hết các chứng nhân âm thầm phục vụ cũng là những người phụ nữ, họ mang lại niềm hi vọng đẹp chứa chan biết bao!

6. Nhìn vào sinh hoạt cộng đồng xã hội, chúng tôi thấy còn biết bao nhiêu phụ nữ dân oan, những người dám đứng lên bảo vệ môi trường như Mẹ Nấm, những người đấu tranh công lý như chị Nga …vv. Họ chịu cảnh đàn áp bất công đã vậy, lại còn chịu ánh mắt xa lánh của những người đồng bào, đồng Đạo mà đất đai cha ông để lại cứ bị quân ngoại bang đầu cơ cấu kết với quan tham không ngừng chia chác ! Thật đau lòng khi biển đảo, rừng thiêng đến đồng bằng đâu đâu cũng thấy bóng Tàu rình rập !

7. Nếu đi vòng quanh thế giới, có lẽ hiếm có nước nào có nhiều ngày tôn vinh Phụ nữ (bị thương mại hóa) như ở Việt Nam, nhưng có lẽ cũng ít có nơi đâu mà số phận người phụ nữ chịu thiệt thòi, bất bình đẳng, đau khổ mất nhân phẩm như ở mảnh đất hình chữ S này (ngoại trừ những nước cộng sản anh em của Việt Nam).

Chúng tôi tin rằng những sự thật trên đây ai, ít nhiều ai cũng thấy, có khi đang phải nếm trải.

Với đôi điều suy tư này, chúng tôi xin hiệp lời cầu nguyện cho những người bà, người mẹ, người chị em phụ nữ luôn âm thầm hi sinh vì chồng con, vì gia đình, vì quê hương tổ quốc, họ không chỉ đáng được tôn vinh trong ngày 08-03 hay 20 tháng 10, mà hơn thế nữa, họ cần được chia sẻ trách nhiệm, cần được đối xử công bằng, được tôn trọng nhân phẩm và cần được nâng đỡ hơn bao giờ hết !

Cách riêng, xin quý anh chị em dành một ngày ăn chay vào thứ sáu ngày 10 tháng 03 năm 2017 hiệp ý cầu nguyện cho em Đoàn Thị Hương thoát khỏi án tử hình. Chúng ta tin vào sức mạnh lời cầu nguyện và Lời Chúa hứa: cứ tin thì sẽ được !

 

 

Nguyện chúc cho những giọt lệ âm thầm
Những niềm đau quặn thắt
Những nỗi buồn không tên
Những bâng khuâng khôn tả
Hay niềm hạnh phúc vô biên
Khóc cho chính mình, cho chồng con, cho gia đình
Khóc cho người thân yêu, khóc cho quê hương đất nước
Hay chẳng cho gì hết
Đơn giản vì nước mắt nhiệm màu
Sẽ nên như những cơn mưa dầm thấm lâu
Làm mềm những con tim chai đá
Tưới cho cây đời nở sắc hương
Thanh tẩy hết bụi trần tơ vương
Tỏa ngát xanh bầu trời tin mến
Đây bài ca tuyệt vời nhất
Nốt nhạc thầm trên khóe mắt rơi rơi
Đời vô nghĩa khi không còn giọt nước mắt !
Ôi ! Nước mắt tuyệt vời !

BBT VTCG

Lm Trăng Thập Tự - Ghi vội mùa Giáng sinh 2016
Trên đường đến Bêlem, một thiên sứ nhí hỏi:
- Nếu những người chăn chiên đang ngủ, làm sao mình báo tin cho họ được?
Một Sêraphim đáp:
- Thì mình thổi loa đánh thức họ dậy.
(Vô Ngôn Thư)



Sau bữa sáng 24-12-2016, một nữ tu ở Tòa Giám mục Qui Nhơn đặt tượng Hài đồng tí teo vào cái nôi nhựa nhỏ, phủ giấy bóng gương lên và thả xuống bể cạn trong hòn non bộ cạnh nhà hưu dưỡng. Hệt như người đàn bà họ Lêvi đem đứa con đỏ đặt vào thúng, thả vào đám sậy trên sông Nil. Lúc người nữ tu thả chiếc nôi xuống nước và lặng ngắm Đấng Emmanuel chia sẻ thân phận bèo trôi của người dân miền Trung khốn khổ, cũng là lúc tôi lên đường cử hành lễ Giáng sinh với anh chị em ở một họ đạo xa xôi hẻo lánh vừa bị nhận chìm trong lũ lụt.

NOEL VÙNG LŨ

Tỉnh lộ 639. Km 44,100 - rẽ trái, gặp ngã tư - rẽ phải 100 mét, có ngã ba bên trái. Tôi tiến vào khuôn viên nhà thờ An Mỹ, một Giáo họ biệt lập của Giáo xứ Phù Mỹ, nằm trên địa bàn thôn An Mỹ, xã Mỹ Cát, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Ngoại trừ nhà thờ, tất cả các nhà khác, kể cả nhà xứ, còn in ngấn nước trên tường 3 tấc, 5 tấc, một mét hoặc hơn... Nước lũ chỉ mới buông tha cho giáo họ chưa được 5 ngày để vừa quét dọn vừa chuẩn bị trang trí mừng lễ Giáng sinh. Chiều 24, gần 5 giờ cha quản nhiệm vẫn còn tất bật ở “công trường”. Hai nữ tì Chúa Giêsu Tình Thương và thầy xứ làm việc quần quật, chạy vào ăn vội chén bún rồi chạy ra lo cho các em nhỏ trong đội văn nghệ.
Bảy giờ, trời lại mưa. Đám đông chạy dạt lên hè nhà thờ, nhưng chỉ chừng 15 phút là thôi mưa, trời ấm. Lời chúc và thông điệp Giáng sinh được trao tận tay từng người qua cánh bướm màu photocopy. Chương trình canh thức lược tóm lịch sử cứu rỗi, nhấn vào chủ đề hạnh phúc gia đình. Giáo họ chỉ đếm được 300 người lớn nhỏ nhưng vẫn đủ những mục hát múa và thoại kịch đông vui. Nhiều người nhà xa hằng chục cây số vẫn có mặt trên sàn diễn. Bà con đến xem đứng chật sân nhà thờ. Sau diễn nguyện, các em nhỏ chen nhau nhận quà. Cộng đoàn chia tay bà con lương dân, rồi vào nhà thờ cử hành thánh lễ.
Sáng ngày 25, không có thánh lễ. Hai nữ tu sẽ về lại cộng đoàn ở Làng Sông trong buổi sáng, do đó giờ ăn sáng cũng là lúc nhìn lại mọi việc để rút kinh nghiệm cho năm sau. Ban chiều, lễ ở đây xong, cha quản nhiệm sẽ đi cử hành lễ Giáng sinh tại giáo điểm Mỹ An, cách nhà thờ hơn 20 cây số. Nghe nói sẽ có rửa tội cho hai gia đình, 10 người, tôi rất muốn tham dự, thế nhưng đã trót hẹn, phải về lại Qui Nhơn.
Tôi nhờ thầy xứ chở bằng xe máy ngược đường tỉnh 639 để thăm một vài gia đình. Nhà anh Tưởng cách nhà thờ hơn chục cây số, mới được ơn trở lại, đang học giáo lý. Do bị mất giống lần thứ ba, vừa sạ lại, sáng nay vợ chồng anh tranh thủ ra thăm nước. Ở nhà chỉ có người con dâu và bà cụ, gần 90 tuổi, bị lòa. Nghe có linh mục đến thăm, bà mừng muốn khóc:
- Cha ơi, tôi không thấy gì cả, nhưng mừng lắm. Cha thằng Tưởng mất khi nó mới bốn tuổi, nay nó đã 56. Sau 75, đâu còn nhà thờ nhà thánh gì, tôi ở đây một mình, chỉ đọc kinh sáng kinh tối một mình. Ăn cơm, tôi làm dấu, con nó hỏi, phải nói tránh đi: Cứ gần ăn cơm là má bị ngứa trán, má gãi chút mà! Bây giờ nó được ơn trở lại, có cha có thầy đến, mừng sao là mừng.

CHÚT LÒNG MUỐN NGHE TRONG CÕI VẮNG

Về nhà đã 12 giờ. Tôi ghé hòn non bộ viếng Chúa Hài Nhi. Lá rơi trên bể cạn, chiếc nôi bập bềnh thê lương, có lẽ đã chẳng mấy ai để ý. Cơn lũ giết người cũng lùi vào quá khứ, những nạn nhân của nó chỉ mới hơn một tuần cũng đã bị trôi dần vào quên lãng. Chúa Hài Nhi của người nữ tu bị bỏ rơi trong góc vắng. Phải chi đêm qua tôi ở nhà, hẳn tôi đã làm cái gì đó để các bạn trẻ chú ý tới tác phẩm của chị. Họ sẽ kéo nhau đến chụp hình. Tôi sẽ kể cho họ câu chuyện Môsê ngày xưa và Môsê của thời Tân ước. Rồi chờ khi họ động lòng với câu chuyện, tôi sẽ bảo họ:
- Này em, tên của Hài Nhi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài vẫn ở với em trên mọi nẻo đường, cả khi em chới với một mình giữa mưa dày lũ cuốn. Hãy thầm nói với Ngài một đôi lời rồi em sẽ thấy sáng bừng lên sự thật, và em sẽ hiểu ra Ngài chấp nhận bị bỏ rơi để cho em cũng như bất cứ ai khác trong loài người không còn thấy lẻ loi giữa những bế tắc trong cuộc sống.
Lời đã làm người. Lời đang gọi nhưng hỏi có ai nghe chăng? Thưa có. Trên điện thoại của tôi, có không ít tin nhắn và cuộc gọi của anh chị em lương dân hướng về niềm vui ngày lễ, và một cách nào đó cũng là đang hướng về Chúa Cứu Thế.
Hai giờ có điện thoại. Một giảng viên Đại học hẹn gặp. Ba giờ chiều, chị đến cùng một bạn đồng nghiệp, cũng là tín hữu. Ồ, tại sao các chị lại chọn lúc này mà đến thăm? Có biết bao bạn hữu của các chị, đã ghé tới khuôn viên các nhà thờ đêm qua, và hôm nay đang mở lòng muốn nghe các chị nói! Tại sao các chị không đáp ứng? Tôi chỉ nghĩ thế thôi, không nỡ nói ra điều mình nghĩ. Có lẽ Chúa đang gửi họ đến cho tôi như một món quà, như một gợi ý và cũng để tôi giúp họ đôi phần trong nỗi băn khoăn của người tín hữu trí thức. Phố thị bên ngoài ồn ã, nhưng tại những góc thinh lặng nào đó, không thiếu những con cái Chúa đang đến với nhau trong đức tin và đức mến. Trong cái vắng lặng của nhà hưu dưỡng này cũng thế, có hai tâm hồn đang muốn biết mình phải làm gì cho Chúa. Tôi đã lắng nghe và chia sẻ với họ gần một tiếng đồng hồ.
Đúng 5 giờ, anh T. nhờ một người bạn đến đón tôi. T. tổ chức bữa ăn mừng lễ với một nhóm bạn. Ngoài chủ nhà, có một giáo dân “đạo gốc”, chính là người vừa làm tài xế xe ôm đón tôi, một vị lão thành mới lãnh bí tích thánh tẩy hơn ba năm, một người sau nhiều năm lưu lạc nay đang trên đường hội nhập lại vào đời sống Hội thánh, một dự tòng, một nhà báo rất gần gũi với Đạo Chúa và một linh mục. Người trẻ nhất trong nhóm đã hơn năm mươi tuổi. Trong bầu khí ấm áp, chúng tôi chia sẻ cho nhau những ghi nhận, suy tư và cảm nghiệm về cuộc sống, về nỗi đau của con người và về ơn cứu rỗi. Các bạn cũng nêu những câu hỏi liên quan đến Kinh thánh để mọi người cùng góp ý.
Tôi hỏi anh T., tổ chức bữa ăn Giáng sinh gia đình, sao lại không có ai khác trong nhà cùng tham dự? Câu trả lời thật bất ngờ:
- Vị lão thành trong bàn ăn hôm nay là một Phật tử kỳ cựu, đọc nhiều hiểu rộng, đến tuổi 72 mới ngộ ra rằng ngoài Chúa Kitô, không thể tìm thấy ai khác là Đấng Cứu Rỗi. Thế nhưng cụ vẫn còn phải mất hai năm để chọn giữa những hướng tuyên xưng khác nhau trong Kitô giáo. Trước đó, một người con rể của cụ là thành viên “Chứng nhân Giê-hô-va” đã từng thuyết phục cụ theo giáo phái này nhưng cụ không quan tâm. Cuối chặng đường đời, sự ngập ngừng của cụ là giữa Hội thánh Tin lành Việt Nam và Hội thánh Công giáo. Năm qua, người con rể từ Úc về thăm mấy tháng, đã mượn phòng khách nhà bố vợ, quy tụ một số người vào chiều Thứ Bảy hằng tuần để diễn giải Kinh thánh. Con may mắn có mặt ở đó kể như từ đầu. Sau mấy lần tham dự, con tự thấy nhu cầu phải tìm hiểu Kinh thánh, đồng thời tự hỏi: Người ấy có khác gì mình đâu? Anh ta chỉ là một thành viên thường, không phải là chức sắc gì của giáo phái, tại sao anh ta làm chứng nồng nhiệt đến thế, còn mình dù từ nhỏ đã biết đến sứ mạng làm chứng của người tín hữu mà mãi gần cuối đời vẫn còn ngập ngừng chưa dám nói và chưa biết nói về Đấng Cứu Thế của mình? Thưa cha, lý do là như thế.
Dự tính ban đầu của tôi cho chiều ngày lễ Giáng sinh là cùng đi với một anh em linh mục tới dự giờ hát thánh ca và chia sẻ của một Hội thánh Tin Lành nhưng rồi “mộng chưa thành”, tôi nhận lời dự buổi chia sẻ ở nhà anh T. Ai ngờ tại đây Chúa đã cho tôi được gặp những anh chị em các hệ phái khác qua một đường dây vô hình. Mà sao vẫn cứ thấy còn ray còn rứt? Hình như chỉ gặp gỡ trong tâm tưởng thôi không đủ, bởi lẽ: “Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh... Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp-têm; chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người” (Ê-phê-sô 4,4-6 - Các trích dẫn Kinh thánh trong bài đều trích theo bản dịch Tin lành, ấn bản 1990). Những người tôi gặp chiều nay đều là trí thức, nếu họ hỏi tại sao các môn đệ Chúa lại chia rẽ, tôi có thể trả lời không khó. Thế nhưng làm sao trả lời gãy gọn được nếu một học sinh hỏi rằng: “Mấy người cứ bảo là đạo yêu thương, thế tại sao người Công giáo lại bôi bác người Tin lành và người Tin lành lại bêu xấu người Công giáo?” “Mấy người đã rủ người lương chúng tôi đi cứu trợ lũ lụt, còn Công giáo và Tin lành sao chưa thấy rủ nhau?”
Hơn 9 giờ tối, tôi qua cổng nhà thờ lớn về lại nhà hưu dưỡng. Trong khuôn viên nhà thờ Chính Tòa và chủng viện, người lương đi chơi lễ thật đông, đa số là thanh niên nam nữ và các phụ huynh trẻ. Phải chi tôi kịp lôi những tấm panô ở An Mỹ về đây giăng đầy dãy hàng rào xung quanh để khách đi chơi có cơ hội học biết sứ điệp Giáng sinh. Phải chi tôi còn trẻ, tôi sẽ đứng đây đến khuya, đến lúc người khách cuối cùng ra về, tôi sẽ rao bán Kinh thánh với một giá rẻ rề và sẽ cho người mua cả số điện thoại của tôi để họ có thể gọi bất cứ lúc nào họ cần đến. Thế nhưng, rồi chợt thấy nặng lòng: Làm sao người ta có thể tin được khi chính các con cái Chúa chưa yêu thương hiệp nhất với nhau?

XIN CHO HỌ ĐƯỢC NÊN MỘT ĐỂ THẾ GIAN TIN

Tối 27-12. Đèn màu của chủng viện và nhà thờ Chính tòa vẫn còn thu hút một số người đến chụp hình và xem hang đá. Phải chăng đây là những người đã “nghe chuyện bọn chăn chiên nói và lấy làm lạ” (Lu-ca 2,18). Tôi nhìn quanh không thấy “bọn chăn chiên” đâu cả. Nhưng kìa, đã có em bé vừa sinh giữa cánh đồng Bết-lê-hem (x. Ma-thi-ơ 2,1), để sẽ trở thành người chăn chiên đích thật và duy nhất (x. Giăng 10,2). Tôi chợt nghe văng vẳng: “Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình mà phó sự sống mình. Ta là người chăn hiền lành, ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta. Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng nầy; ta cũng phải dẫn nó về nữa, chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi” (Giăng 1,11.14.16).
Tôi thấy tiếc nhớ làm sao cái dự định không thành, muốn thông công đôi chút với anh em Tin lành nhân mùa Giáng sinh, trước khi bước vào thời khắc kỷ niệm 500 năm cuộc Cải Cách của Martin Luther và 50 năm hành trình tìm về đoàn tụ. Hầu như ai cũng biết các môn đệ của Chúa Cứu Thế đã chia rẽ nhau nhưng ít ai biết rằng hơn một thế kỷ nay, Đức Thánh Linh/Chúa Thánh Thần đã thổi xuống trên tâm hồn các Cơ đốc nhân/Kitô hữu một luồng gió mới, một nỗi khát khao hiệp một/hiệp nhất. Thế nhưng ít ai biết được, trong 50 năm qua, cuộc đối thoại giữa Hội thánh Công giáo và các hệ phái ly khai đã tiến nhanh tới mức nào. Cụ thể tại Việt Nam này, rất ít ai biết, kể cả giữa vòng các tín hữu Tin lành và Công giáo. Hỏi mấy ai biết đến bản tuyên bố chung 1999 giữa Công giáo và Tin lành cùng khẳng định một giáo lý về ơn cứu rỗi (trong tiếng Anh và tiếng Pháp là “justification”, còn trong tiếng Việt, thuật ngữ Tin lành gọi là “sự xưng công nghĩa”, thuật ngữ Công giáo gọi là “ơn công chính hóa”)? Hỏi mấy người đọc được nó khi mà đã 17 năm rồi nó vẫn chưa được dịch sang tiếng Việt? Tôi thấy mình đang cùng thổn thức với Đấng Christ/Đức Kitô Cứu Thế qua ý nguyện của Ngài trong đêm cuối đời: “Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho cả họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến” (Giăng 17,20-21).
Tôi muốn tìm một ai đó đã dự một phần trong các cử hành Giáng sinh năm nay của anh em Tin lành để hỏi thăm, nhưng rồi lại tự nhủ: tại sao mình không đến thẳng nhà thờ Tin lành mà hỏi? Phút chốc, tôi rời cổng nhà thờ Chính tòa, thả bộ lên Hội thánh Tin lành ở đường Hai Bà Trưng. Mặt tiền và khuôn viên nhà thờ đã trở lại dáng vẻ ngày thường, như một Bêt-lê-hem thầm lặng, không đèn hoa nào lôi cuốn người qua đường phải chú ý. Riêng văn phòng Mục sư vẫn mở cửa, sáng đèn. Cổng lớn đóng nhưng may mắn, cổng nhỏ đang mở. Tôi vừa chào, Mục sư Nguyễn An Toàn đã nhận ra. Ba năm trước đây, tôi đã có lần cùng cụ Trương Hồ đến thăm Mục sư.
Hằng tuần vào tối thứ Ba, cả trong và ngoài Thành phố có 17 nhóm học Kinh thánh dành cho chị em phụ nữ, mỗi nhóm vài ba chục người, tất cả đều học đồng loạt vào cùng một giờ để vừa học, vừa hiệp thông trong tâm tình cầu nguyện. Tối Thứ Ba nào Mục sư Toàn cũng đi dự giờ học với một nhóm, riêng tối nay người đứng đầu lớp học tại đây vắng mặt, vị Mục sư phải ở nhà giúp thay. Có thế, chúng tôi mới may mắn được gặp nhau.
Tôi hỏi thăm và vui mừng tạ ơn Chúa vì những ơn lớn lao Thiên Chúa đang ban cho Hội Thánh Tin Lành Quy Nhơn. Chỉ khoảng nửa giờ thôi nhưng tôi nhận được nhiều thông tin lý thú. Nhiệm kỳ phục vụ của các mục sư tại mỗi Hội thánh là 4 năm. Mục sư Toàn về đây được 5 năm, đang phục vụ năm đầu của nhiệm kỳ thứ hai. Với những Hội thánh còn ở giai đoạn tự dưỡng, Hội đồng Tổng liên hội chủ động bổ nhiệm mục sư, không cần hỏi ý kiến tín hữu. Với những Hội thánh đã có khả năng tự trị, Tổng liên hội cử đến ba ứng viên để anh chị em tín hữu bầu chọn. Mỗi vị trong ba ứng viên sẽ giảng lễ một chúa nhật, rồi tín hữu bỏ phiếu. Vị nào được nhiều phiếu hơn cả, và phải hơn 50% số phiếu, sẽ được bổ nhiệm. Hết nhiệm kỳ I, sẽ có bỏ phiếu tín nhiệm, phải được hơn 60% số phiếu, vị mục sư mới có thể tiếp tục nhiệm kỳ II. Sau nhiệm kỳ II, phải đạt tới 80% số phiếu mới có thể tiếp tục nhiệm kỳ III. Cách làm việc này tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiệp nhất mạnh mẽ giữa mục sư và cộng đồng tín hữu.
Ngày Mục sư Toàn mới nhận nhiệm sở, mọi hoạt động đều tập trung tại nhà thờ ở đường Hai Bà Trưng này. Nay thì nhà thờ ở Chợ Dinh đã là trụ sở của một Hội thánh tự trị. Mục sư Toàn phụ trách mười điểm nhóm tại nội thành Quy Nhơn và trên địa bàn huyện Tuy Phước, mấy năm qua đã có thêm nhà nguyện tại Phú Tài và Phước Sơn. Mùa Giáng sinh năm nay, do chỉ có một mình, vị Mục sư phải phân bố cả một chương trình 8 ngày, từ 17 đến 25-12, mới truyền giảng đều khắp cả mười điểm nhóm. Không riêng tại Quy Nhơn và Tuy Phước, khó khăn lớn chung cho Hội thánh Tin lành Việt Nam hiện nay là thiếu nhân sự. Vừa qua, một trường đào tạo trung cấp đã được mở tại Đà Lạt. Các học viên học hai năm, thực tập hai năm rồi quay lại học thêm một năm, mới có thể ra trường làm Thầy Truyền đạo. Nói chung, những năm gần đây, nhờ ơn Chúa, Hội thánh Tin lành đang lan rộng.
Đầu tháng 12, cha Lê Kim Ánh, cha sở Chính Tòa và là Hạt trưởng Giáo hạt Qui Nhơn đã trao đổi với Mục sư Toàn để thực hiện một buổi hát thánh ca chung mừng lễ Giáng sinh 2016, nhưng thời giờ quá eo hẹp, không kịp chuẩn bị, nên năm nay dự án tốt đẹp ấy chưa thực hiện được. Tuy nhiên, trước mắt chúng ta sắp có tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp một các Cơ đốc nhân (nói theo người Công giáo là sự hiệp nhất các Kitô hữu), 18-25 tháng Giêng, nếu xúc tiến ngay thì vẫn không muộn để đánh dấu kỷ niệm lịch sử của 500 năm chia cách và 50 năm tìm về đoàn tụ.
Câu chuyện chia sẻ tới đây thì chị em học viên của lớp giáo lý bắt đầu đến. Tôi lưu luyến ra về để Mục sư bắt đầu giờ lớp.

NHỮNG BẦY VỊT VÀ CƠN LŨ

Rời phòng khách vị Mục sư, tôi có một niềm vui rất siêu nhiên, đồng thời cũng có một nỗi buồn vừa rất siêu nhiên vừa có phần nhân loại. Niềm vui là niềm vui Thánh Phaolô nói trong thư Phi-líp: “Song có hề gì! Dẫu thế nào đi nữa, hoặc làm bộ, hoặc thật thà, Đấng Christ cũng được rao truyền; ấy vì đó tôi đương mừng rỡ, và sẽ còn mừng rỡ hơn nữa” (Phi 1,18). Kết quả việc truyền giảng những thập niên qua của anh em Tin lành rất cao. Những con số thống kê cho phép người ta dự đoán rằng muộn lắm là 15 năm nữa, số tín hữu Tin lành tại Việt Nam sẽ đạt tới 10 triệu người.
Nỗi buồn của tôi là, với cách nói, cách làm, cách nghĩ và cách sống hiện nay, vào cũng thời điểm ấy, liệu Giáo hội Công giáo có đạt tới con số ấy chưa? Mà đó lại chính là lúc người Công giáo đang nô nức kỷ niệm 500 năm Tin mừng đến với Dân tộc (1533-2033)! Thiên Chúa và tiền nhân đang đợi chờ gì nơi ta vào thời điểm ấy? Có phải lúc ấy Giáo hội trên khắp 26 giáo phận Việt Nam sẽ dâng lên Chúa Cứu Thế cái cảnh nức lòng, đâu đâu cũng nườm nượp những đoàn người gánh lúa về kĩu cà kĩu kịt? Hay lại cũng chỉ có những lễ hội hoành tráng như bao nhiêu lễ hội hoành tráng khác đã qua đi, chỉ nửa ngày sau khi bế mạc là trôi theo cơn lũ, để lại những rệu rã, mệt mỏi, chán chường và phân hóa?
Tôi không thể không nghĩ tới kinh nghiệm ở Hàn Quốc. Người Tin lành đến Hàn Quốc (1884) saungười Công giáo (1603) đúng 281 năm, và rồi “vào năm 1945 cả hai hệ phái (Công giáo và Tin lành) chiếm khoảng 2% dân số. Sau đó họ tăng trưởng rất nhanh: năm 1991, có 18,4% dân số (8,0 triệu) là Tin Lành, và 6,7% (2,5 triệu) là Công giáo” (https://en.wikipedia.org/wiki/Christianity_in_Korea). Theo thống kê mới cập nhật tháng 8-2016 thì hiện nay Công giáo chỉ chiếm 7.6% dân số, đang khi Tin lành chiếm 24% (http://www.indexmundi.com/).
Trong những yếu tố đem lại kết quả cho mùa gặt Tin lành tại Hàn, có một chi tiết rất đáng ghi nhận: “Năm 1924, người Tin Lành thành lập Hội đồng Kitô giáo Toàn quốc Hàn để điều phối hoạt động bằng cách chia thành các khu vực được phân công cụ thể cho các hệ phái Tin Lành khác nhau” (https://en.wikipedia.org/wiki/Christianity_in_Korea).
Tôi nhớ câu chuyện một mục sư trẻ đã kể cho tôi. Ở một vùng nọ người ta nuôi rất nhiều vịt. Mỗi bầy vịt có một người lùa đi ăn, rồi lại lùa về chuồng. Bọn vịt chỉ nhìn thấy những bầy vịt khác từ xa, chẳng khi nào có dịp giao lưu gặp gỡ. Một hôm chẳng biết do đâu, lũ về dâng cao đột ngột. Ai nấy hớt hải chạy người, chạy của. Trâu, bò, mèo, chó, heo, gà đều hoảng hốt tìm đường sống sót. Chỉ có bọn vịt là nước càng lớn, càng mừng reo thỏa thích. Rồi mọi hàng rào của các chuồng vịt đều lần lượt bị nhận chìm dưới sâu, những người chăn vịt bó tay, mọi con vịt đều đang bơi trên đỉnh lũ, chúng í ới chào gọi nhau, chẳng còn ai phân biệt được vịt nào của chuồng nào...
Chẳng biết có sự kiện nào tương tự xảy ra tại Bình Định này trong đợt cuồng lũ cuối năm nay chăng nhưng trên thế giới thì có. Cơn lũ tục hóa đã khiến nhiều bầy vịt là con cái Chúa bị bó buộc phải gặp nhau. Đức Thánh Cha Phanxicô đang hô hào sự gặp gỡ, đang lớn tiếng kêu gào các bầy vịt ngoi đầu lên khỏi cơn lũ, bơi xích lại gần nhau. Kính thưa Đức Thánh Cha, nghe lời Cha, đêm nay ở cái xứ sở năm nào cũng lũ lụt này, có một con vịt Công giáo bơi sang thăm chuồng vịt Tin lành.
 

RỒI SẼ CHỈ CÓ MỘT BẦY VÀ MỘT NGƯỜI CHĂN

Tôi về đến nhà thờ Chính Tòa mới hơn 8 giờ. Điện vẫn sáng choang rực rỡ. Các cây xanh ở chủng viện vẫn thả xuống những chuỗi đèn màu huyền hoặc. Tại khuôn viên Tòa Giám mục chỉ có mấy dây đèn màu trên hòn non bộ. Tôi nhìn xuống kiếm tìm, phải chú ý lắm mới thấy chiếc nôi của Chúa Cứu Thế dạt vào một mé của bể nước. Bóng điện nhỏ đặt trên chiếc nôi chiếu sáng khuôn mặt Hài Nhi đã hết pin, mấy bóng màu chớp nháy trên khối đá không đủ soi xuống bể nước. Chính lúc này, hình ảnh những trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và những thai bị gạt khỏi cuộc sống, mới xoáy sâu vào lòng tôi.
Mầu nhiệm Giáng sinh là mầu nhiệm người chăn cừu trở thành con cừu và nói bằng tiếng nói loài cừu, người chăn vịt trở thành con vịt và dùng ngôn ngữ của vịt, Đấng làm ra con người trở thành con người cho ta được mắt thấy tai nghe. “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật giống như vinh hiển của Con Một đến từ nơi Cha” (Giăng 1,14).
Nơi chiếc nôi bé bỏng, tôi hiểu ra rồi. “Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội” (Hê-bơ-rơ 4,15). Tôi hiểu ra rằng chính là để đoàn tụ chúng ta mà Chúa Cứu Thế đã sẵn lòng để mình bị bỏ rơi. “Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu, chúng ta được bình an, bởi lằn roi người, chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người” (Ê-sai 53,4-6). “Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân mà chết; mà không những vì dân thôi, mà cũng để nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn” (Giăng 11,51-52).
Tất cả những hang đá huy hoàng trong mọi nhà thờ trên thế giới đều bắt nguồn từ một giờ chiêm niệm của Thánh Phanxicô Assisi. Cả Thánh Gioan Thánh Giá cũng lắm lần ngắm nhìn ngây ngất, rồi ôm lấy Hài Nhi vào lòng mà múa nhảy. Thế nhưng ngày nay, dưới những ánh điện sáng choang, hang đá Bê Lem có còn đủ sự giản đơn nghèo khó để dọi ánh sáng vào lòng người tăm tối? Cả tiếng chuông vang, cả lời kinh ngân nga dìu dặt, những bài thánh ca và âm nhạc đã từng có sứ mạng dẫn dắt lòng người vào chiều sâu chiêm niệm, nhưng thử hỏi ngày nay chúng còn đóng đúng vai trò ấy chăng hay chỉ là những lợi khí giúp cuộc đời biến việc cử hành lễ Giáng sinh thành một lễ hội dân gian trần tục? Cứ đều đặn hằng năm, khi mùa đông đến, người ta lại theo thông lệ rước tượng Hài Đồng về để tổ chức lễ hội. Ôi Chúa Cứu Thế, Đấng Emmanuel, khi được long trọng mời về dự ngày lễ của chính Người, Người buồn hay vui?
Hãy để cho lễ hội qua đi. Hãy về lại với đêm sâu chiêm niệm. Hãy nghe điều Thánh Gioan Thánh Giá nói: “Chúa Cha chỉ nói một lời rằng đó là Con Ngài. Ngài hằng nói lời ấy mãi trong thinh lặng vĩnh cửu, thì linh hồn cũng phải lắng nghe Ngài trong thinh lặng” (Châm ngôn, 99).

MẸ ƠI, MẸ Ở ĐÂU?

Sáng 30-12, nơi hang đá trong phòng nguyện nhà hưu dưỡng, Chúa Hài Nhi tỏa ánh sáng ấm cúng của Ngài, chiếu lên khuôn mặt Thánh cả Giuse và Đức Mẹ. Gia đình bé nhỏ này thật sự là Thánh vì có Chúa Giêsu ở giữa. Khuôn mẫu ấy gợi hứng cho các gia đình con cái Chúa hướng về hạnh phúc thật. Sau thánh lễ, tôi dừng chân trước máng cỏ cầu nguyện cho các gia đình trên thế giới. Tôi nhớ đến những gia đình ở An Mỹ. Chiều hôm qua cha Mai gọi vào cho biết, gió quá mạnh đã thổi bay cả hang đá ngoài sân nhà thờ, Thánh Gia lâm cảnh màn trời chiếu đất. Bão nữa chăng? Tôi ra ngoài, lân la lại gần bên ngọn non bộ. Chiếc nôi bị bỏ quên trong bể cạn, chiếc nôi được cảm hứng từ câu chuyện của em bé người Hípri mới ba tháng tuổi. Ba tháng, em chưa có từ và chưa có ý nhưng đã có cảm xúc. Tôi lặng nhìn và đọc ra nơi tâm hồn bé bỏng ấy cái chấn động thảng thốt: “Mẹ! Mẹ! Mẹ ở đâu? Mẹ ở đâu?”
Ở nhà, Mẹ của bé đứng ngồi không yên, thấp thỏm mong chờ đưa con gái đem tin lành về. Đang khi đó, bên bờ sông, chị đứa bé làm như đang ngồi vọc cát, mắt không ngừng hướng về phía chiếc nôi, miệng cứ mấp máy: “Em ơi, đừng sợ! Mẹ đang lo cho em và đang có chị ở đây!”
Tôi nhìn chiếc nôi Hài Nhi lênh đênh trong bể cạn mà hiểu ra người mẹ của Hài Nhi không xa đây, và hơn nữa tôi còn hiểu ra mẹ của Hài Nhi cũng là mẹ của tôi, mẹ của Đầu cũng là mẹ của mọi chi thể, cả Công giáo lẫn Tin lành. Làm sao chúng ta có thể ngập ngừng không dám gọi Mẹ Đấng Cứu Thế là mẹ chúng ta khi mà chính Ngài không thẹn gọi chúng ta là anh em Ngài? (x. Hê-bơ-rơ 2,11). Bất giác, tôi nhớ ra một điều kỳ diệu: ngày đầu năm dương lịch này, bắt đầu kỷ niệm 500 năm chia cắt và 50 năm tìm gặp lại, cũng là ngày lễ của Mẹ và cũng là bắt đầu kỷ niệm 100 năm Mẹ ngỏ lời tại Fatima để ủi an và gọi mời nhân loại. Thì ra, Mẹ ở đây. Mẹ vẫn ở đây với chúng con, chăm lo cho chúng con, để giữa lũ chồng lũ, chúng con tìm thấy suối hồng ân, và sau cuồng phong bão táp lại là ngọn gió yên lành của Thánh Linh Thiên Chúa .

Qui Nhơn, 01-01-2017
Linh mục Trăng Thập Tự
Được tạo bởi Blogger.