(Mã số 18-031)

1. Chiều 26 Tết
Hà cùng hai đứa con lom khom dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị đón Tết. Căn nhà cấp bốn của vợ chồng Hà nhỏ thó, cũ kỹ, đã hơn mười năm tuổi. Tường nhà đầy rong rêu, trông có vẻ cổ kính và xiêu vẹo. Hà hối hai đứa con gái nhanh tay dọn mấy thứ đồ linh tinh cho vào kho bếp, còn Hà bắc ghế quét mạn nhện. Hà cố làm cho nhanh để còn về nhà nội sắp nhỏ gói bánh chưng. Đang khi mấy mẹ con túi bụi dọn dẹp thì Công đi làm về. Chưa vào đến cửa, Công đã gọi chí chóe.
- Hai ơi, Ba ơi! Ra ba cho quà nè!...
Nghe tiếng chồng, Hà thấy là lạ. Mới có 3 giờ chiều mà ông này đi làm về rồi! Hằng ngày, phải đến 6 giờ tối ổng mới về mà. Còn cái giọng đòi cho quà mấy đứa nhỏ nữa chứ! Ổng moi ở đâu ra tiền mà mua quà cáp? Mỗi ngày đi làm, mình phải cấp cho ổng đến năm chục cơ mà! Lạ quá!... Hà bảo hai đứa con gái.
- Hai, Ba!... Ra coi thử, ba làm gì mà đi làm về sớm lại còn la lối om sòm nữa thế!
Hai đứa nhỏ thả ngay bao đồ xuống chạy ra cửa đón ba.

(Mã số 18-030)

Tôi là một chiếc nhẫn làm bằng vàng tây, chìm lỉm trong triệu triệu chiếc nhẫn trên khắp thế gian này. Nhưng tôi là một chiếc nhẫn cưới, nghĩa là chiếc nhẫn được Chúa chúc lành. Đúng ra phải gọi tôi là chiếc nhẫn thánh. 
Chủ nhân của tôi tên Khôi. Cách đây hai mươi hai năm, tại một ngôi nhà thờ nhỏ, gã kết hôn với người phụ nữ tên Sương, trẻ hơn gã chừng một giáp. Tôi và một chiếc nhẫn khác được đặt mua ở tiệm vàng lớn nhất tỉnh. Trong ngày lễ cưới, tôi được chính tay chị Sương đeo vào ngón áp út tay gã. Chiếc kia thì yên vị ở ngón áp út của chị. Tôi nhớ mãi phút ấy, gã và chị tình tứ lắm, mắt họ trao nhau những ánh nhìn đê mê. Mãi sau này tôi mới biết mắt ấy là mắt cười. Thế là bắt đầu những ngày tháng lênh đênh...
Người ta kể gã sinh ra trong một gia đình có thế giá ở làng Đông. Ba gã là Phật tử, vì trót yêu mẹ gã nên cải theo đạo vợ. Ông bà sinh được mụn con trai nên bao nhiêu yêu thương đều dồn vào gã cho bằng hết. 
Gã học giỏi, nức tiếng cả huyện, thi đỗ vào trường bách khoa Hà Nội. Cũng vào những năm đó, nhà gã xảy ra chuyện, nợ nần túng bấn. Ba gã hục hặc với mẹ một thời gian dài. 
Tốt nghiệp đại học, gã đôn đáo chạy việc khắp nơi. Chỗ này người ta chối đây đẩy. Chỗ kia người ta huỵch toẹt có quen ông lớn nào không, trong túi có bao nhiêu mà chạy vào đây. 
Một đêm tháng bảy, gã mang tấm bằng đại học ra đốt, vừa nhìn đám cháy vừa cười ho sặc sụa. Gã đi lao động ở Đài Loan chừng dăm bảy năm rồi về quê lấy vợ.
* * *
Sau bao nhiêu năm rong ruổi thì cuối cùng người đàn ông nào cũng cần có một gia đình, một thiên hạ nhỏ bé của riêng mình. Gã nảy ra ý nghĩ ấy lúc chạy xe đi làm sáng nay. Tối qua mưa. Nước đọng thành vũng. Một cậu choai rú ga vụt qua, nước bắn vào áo gã. Có sao đâu, gã đang vui mà. Hôm nay kỷ niệm mười sáu năm ngày gã cưới vợ. 
Chắc vợ gã không nhớ đâu. Chị bận tối mặt với đống vải vóc quần áo nên chẳng thể nhớ nổi hôm nay là ngày gì đâu. Song có một việc vợ gã không bao giờ quên. Lát nữa đây, khi vào tầm ca trưa, kiểu gì chị cũng gọi nhắc gã uống thuốc. Gã bị viêm phổi mấy năm nay nên hôm nào chị cũng dậy thật sớm sắc thuốc nam bỏ vào chai cho chồng mang theo.
Rồi cả Vy, con gái út của gã nữa. Như thường lệ, nó gọi khoe với gã về bức vẽ mới ở trường mẫu giáo. Thú thật là con bé vẽ khá tệ. Hai năm với hằng trăm bức vẽ mà chả có bức nào ra hồn cả. Nhưng tối đến bao giờ gã cũng ôm lấy con gái cùng với bức tranh mới nhất, xoa xoa mái tóc xoăn của nó một lúc lâu rồi thể nào cũng chốt cái câu quen thuộc: "Thiên tài đây rồi chứ còn gì nữa. Sắp đẹp rồi con gái. Gắng lên!".
Vừa dắt xe vào cổng, tay trưởng phòng kinh doanh mặt mày xám ngoét đứng chặn ở đó từ bao giờ: "Sếp cho gọi cậu. Lão đang bực. Liệu mà ăn nói cho cẩn thận!". Sếp là một tay giám đốc trẻ mới được bổ nhiệm, đang muốn bứng tận gốc tàn tích của vị giám đốc tiền nhiệm cho dễ bề thao túng. 
- Tôi đã bảo anh sửa lại nội dung hợp đồng rồi cơ mà. Cứ theo bản thảo của anh có mà húp cháo! - Hắn vứt tập hồ sơ xuống bàn khi gã đến.
- Dạ thưa, nhưng nếu đẩy thêm nữa thì tôi e là đối tác sẽ gặp quá nhiều bất lợi. Mà ta còn phải giữ mối làm ăn lâu dài.
- Vứt mẹ cái đạo đức hão của anh đi. Cái tôi và cả ngàn công nhân ở đây cần là tiền, là miếng cơm bỏ vào miệng hàng ngày, anh hiểu chưa? Về sửa ngay lại cho tôi, gấp đấy!
Gã ngồi thẳng lưng, hít một hơi thật dài.
- Thưa ông, tôi không làm được. Tôi muốn chén cơm bưng lên miệng ăn hàng ngày là chén cơm sạch. Hoặc ít ra là không quá bẩn.
- Được. Vậy thì tôi nghĩ đã đến lúc anh nên biến đi với chén cơm chết tiệt của mình! - Tay giám đốc mặt bừng bừng, cười nhếch miệng.
- Tự tôi biết sẽ phải làm gì… 
Gã tạt vào một quán rượu, ngồi đến tận khuya mới khật khưỡng mò về nhà. Vợ gã đang ngồi bên máy khâu. Trên bàn đặt mâm cơm đậy bằng cặp lồng đỏ.
- Anh đi đâu đến tận giờ này? Về mà dạy con.
- Chuyện gì? - Gã sẵng giọng.
- Con Vân trộm tiền mua điện thoại. Hỏi còn cãi mẹ nhem nhẻm.
Gã không nói gì, nằm thượt ra ghế. Chị giãy nảy:
- Ơ anh hay nhỉ! Dạy con là việc của mỗi mình em đấy à?
- Con hư tại mẹ. Lải nhải lắm thế. Hôm nay tôi nghỉ việc rồi. Mệt mỏi lắm!
- Sao tự dưng lại nghỉ? Rồi lấy gì mà ăn? Sao cái nhà này toàn vô tích sự thế! - Chị ném cái áo may dở xuống sàn, cất giọng oang oang.
Hơi men trong người phả ra nồng nặc, gã điên lên:
- Tôi thích nghỉ đấy, được chưa. Mà cô vừa bảo ai là vô tích sự, hả? Tôi có vô tích sự thì cũng không đáng sợ bằng một con điếm! 
- Anh, anh vừa nói gì? Anh vừa bảo ai là con điếm?
- Còn phải hỏi! Bao nhiêu năm cô giấu nhẹm tôi những gì, tôi biết tỏng hết. Thế nên phiền cô đi tìm thằng bố nó mà dạy nhé! 
- Khốn nạn. Cút đi! - Chị bưng tai lại, hét toáng lên.
- Cút à, haha… Đuổi ai chứ đuổi cái thằng đang nai lưng ra làm mà nuôi không bọn mày đấy. Mẹ kiếp! Tao cút cho chúng mày đón thằng kia về đoàn tụ là được chứ gì.
Vợ gã ôm mặt khóc, bỏ vào phòng. Gã với chai rượu đặt trong tủ. Thực ra gã định bỏ đi một lần rồi, ba năm về trước. Cái ngày mà gã biết mình bị vô sinh. Hôm đó bé Vy ốm, gã túc trực ở bệnh viện. Nhìn cái xi-lanh bác sĩ xọc vào cánh tay con bé lấy máu làm xét nghiệm, tự nhiên trong đầu gã nảy ra ý định quái gỡ. Xét nghiệm ADN. 
Nhiều lần trà dư tửu hậu, đám bạn gã vẫn thường rỉ tai: "Cả ba đứa con sao chả có đứa nào giống ông thế. Cẩn thận, vợ ông phơi phới như thế cơ mà. Khéo cốc mò cò xơi". Dĩ nhiên là lần ấy gã bỏ ngoài tai. Gã tin vợ chẳng phải hạng gái thập thành. Nhưng hôm nay gã tặc lưỡi. 
Cuối giờ chiều, cầm tờ kết quả trong tay, gã đứng chôn chân khi biết mình không có liên hệ huyết thống gì với con gái. Rồi gã gục xuống. Có mấy người xúm lại. Gã xua tay. Sau một thoáng định thần, gã đứng phắt dậy. Phải lôi ra cho bằng hết những trò mèo sau lưng gã. 
Sau đận ấy, gã bí mật lấy mấy sợi tóc và móng tay của con Vân, thằng Khanh làm xét nghiệm. Kết quả ở ba trung tâm khác nhau đều cho một mẫu số chung giống nhau đến kinh ngạc. Thì ra bấy lâu nay gã bị cắm sừng. 
Trời ơi, người vợ mà gã rất mực tin tưởng lại cam tâm bán đứng gã. Những đứa con mà gã dành trọn tình yêu thương, rốt cuộc chẳng có ai mang giọt máu của gã, của dòng họ gã. Đời gã vứt đi rồi.
Thế thì còn mặt mũi nào mà nhìn thiên hạ nữa. Gã còn trách cứ được ai, còn có tư cách gì mà đi ghen với một người đàn bà khao khát hạnh phúc đến quặn lòng. Giờ mà mở miệng chẳng khác nào gã đang tự sỉ vả chính mình là một kẻ nhỏ nhen chỉ biết nghĩ, chỉ biết vun vén cho riêng mình. Có người đàn bà nào mà không khao khát có một đứa con để nương tựa khi về già. Một đời theo chồng, khổ đau bao nhiêu cũng được, cay đắng thế nào rồi cũng xong, chẳng lẽ không được mơ ước một mụn con để mà sống, mà gửi gắm giấc mộng của mình.
Một thời gian dài gã chìm vào rượu. Một hôm, gã đến gặp ba gã bây giờ là một cụ già sống một mình trong căn gác nhỏ ở thị trấn. Không gian lạnh lẽo, sực mùi ẩm mốc, hai người đàn ông ngồi đối ẩm bên cửa sổ, không nói với nhau câu nào. Đến lúc gã lảo đảo đứng lên, ông cụ mới hắng giọng: "Phàm là một thằng đàn ông, vinh nhục gì cũng được, nhưng tuyệt đối đừng để mất tổ ấm của mình. Trăm lối đi nhưng duy nhất một nơi để về".
Men rượu không làm gã say. Giá mà say rồi ngủ quên một giấc thì có hơn không. Đằng này nó làm gã tỉnh. Có nghĩa là nỗi đau cứ nhấp nhổm, thi thoảng buốt lên nhức nhối. Nhà chẳng còn là nơi để về nữa, thế thì gã còn gì mà ở lại. Chẳng còn gì hết. Nhưng trước khi chấp nhận mất trắng, gã phải trả thù. Ba gã sau khi phát hiện vợ có nhân tình bên ngoài đã treo khắp nhà những bức hình mà thám tử chụp lại được cảnh ôm ấp của hai người. Chưa hết, cứ đến bữa ăn, ông cho mở đoạn ghi âm cuộc nói chuyện của mẹ gã và tay nhân tình. Mẹ gã trầm uất, điên loạn rồi phát bệnh mà chết. 
Gã rùng mình ngồi hẳn dậy. Chỉ trong vòng hai mươi tư tiếng đồng hồ thôi mà gã mất trắng. Mất vì những vụn vặt không đáng mất. Gã nheo mắt nhìn lên bức ảnh gia đình Nazareth treo ở phòng khách vốn là quà cưới của một người bạn. Gã lờ mờ nhớ ra là thánh Giuse khi phát hiện Đức Mẹ mang thai, đã không tố cáo mà chọn cách rời đi lặng lẽ... 
* * *
Chiều nay Sài Gòn bất chợt đổ mưa. Trời đang trong xanh là thế tự nhiên mây đen ở đâu kéo đến. Mưa tầm tã. Gã hốt hoảng tạt xe vào quán cà phê ven đường. Quán nhỏ, bên trong kê vài ba bộ bàn ghế cho có lệ, chừa khoảng không cho lối đi dẫn vào buồng phía sau. Không khó để khách nhận ra chủ quán thực sự bán gì. Nhưng ấn tượng của gã về quán là sự sạch sẽ. Thoang thoảng mùi nước hoa dễ chịu. Sạch và thơm thường khiến đàn ông quyến luyến. 
Cô chủ quán ngoài ba mươi, nét son đậm, bận cái váy hoa có cổ khoét sâu. Lúc bưng khay đựng cà phê ra, cô ả cố tình chạm cả khuôn ngực ngồn ngộn vào vai gã. Chao ôi, mùi đàn bà ngầy ngậy. Gã ngước lên hít hà. 
Sáu năm rồi gã chưa chạm đến da thịt đàn bà. Bỏ làng đi, gã khăn gói vào Sài Gòn xin làm nhân viên cho một xưởng in. Ngày theo việc, tối mịt mới mò về phòng trọ. Gã thấy Sài Gòn hay hay. Vừa là chốn dung thân cho tất cả vừa chẳng dành riêng cho ai cả. Nhiều đêm nằm vật ra, mắt mở trừng lên trần nhà, gã thèm một hơi ấm. 
Công bằng mà nói, Sài Gòn đối đãi với gã không tệ. Tiếc là nó không khiến gã cảm thấy bớt phần lạc lõng. Nhưng nhà với gã bây giờ cũng có gì khác, cũng lạc lõng hệt như thành phố này. Mà lạc lõng trong căn nhà của chính mình còn đáng thương và đáng sợ hơn nhiều. 
Nào phải một mình gã, chiếc nhẫn là tôi cũng lạc lõng không kém. Đang yên đang lành tự dưng theo chủ nhân vào đây, biền biệt xa cách với chiếc nhẫn kia. Trong phòng trọ, tôi bị tháo ra ném đi không biết bao nhiều lần. Trầy xước. Méo mó. Đau đớn đến phát khóc. Tôi nhớ những lúc hai chiếc nhẫn bọn tôi kề nhau. Ấy là những lúc cả nhà gã ngồi đọc kinh mỗi tối. Là khi gã với vợ thủ thỉ trước lúc đi ngủ, bao nhiêu chuyện trên đời. Ấy là khi mấy đứa con bị ốm, vợ chồng gã trắng đêm lo lắng…
Chủ quán khe khẽ hát. Chân cô ả vắt chéo, chiếc váy lệch sang hớ hênh, để lộ cặp đùi mời mọc. Gã liếc nhanh rồi lại ngước cổ hít hà. Hai chân xoắn xuýt, hết nhấc lên rồi đặt xuống. Ngoài trời, mưa vẫn không ngừng rơi.
Đột nhiên gã đặt bàn tay phải lên tay trái, ngón cái và ngón trỏ siết lấy tôi mà riết. Tôi gần như chết ngạt. Gã dùng sức day đi day lại, có lúc đã gần như tháo tuột tôi ra khỏi ngón nhưng rồi lại nhanh chóng đẩy ngược vào. 
Lần gần đây nhất gã làm như thế này cũng đã hơn hai năm. Là lễ cưới của con gái bà chủ xưởng in. Trên cung thánh, chú rể trao nhẫn cho cô dâu: "Em hãy nhận lấy chiếc nhẫn này làm bằng chứng tình yêu và lòng trung thành của anh", thì bên dưới gã nhay nhay tôi, miệng lầm rầm: "Không dễ đâu chú em". 
Chưa hết, gã còn đưa tay trái lên, để thật sát miệng, như thể sợ tôi không nghe thấy mà nhả rành rọt từng chữ một: "Mày là cái giống nặng nhất mà người ta có thể nghĩ ra được". Nếu mà nhẹ thì hẳn tôi đã không bị vứt đi như thế. Đọc kinh Lạy Cha đến đoạn "và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con" thì gã đứng dậy, bỏ ra ngoài.
Tôi không rõ những lời đính ước, những chiếc nhẫn mà bao nhiêu người con gái con trai trao cho nhau có chất chứa một thiên mệnh khủng khiếp nào không? 
Người ta rung cảm mà yêu nhau. Người ta vì sắc mà say nhau. Có người vì tiền mà mê nhau. Mà khi đó thì nói gì chẳng được. Trèo đèo lội suối còn được nữa huống hồ là nói một vài câu nhẹ bẫng. Mất chưa đầy một phút để nói một câu kết ước. Nhưng để sống và giữ nó thì mất cả một đời. 
Mưa vẫn rơi, nhưng hạt nhỏ dần. Gã liếc nhìn đồng hồ. Bốn giờ kém mười. Bà chủ xưởng in đang đợi. Gã gọi tính tiền rồi uể oải đứng lên. Cô váy hoa mặt buồn như đưa đám. Gã bỏ đi trong hoàn cảnh thế này thì đúng là có lỗi với thời tiết lắm.
Bà chủ xưởng in bị phát hiện ung thư gan hơn một năm nay. Chồng bà mất được tám năm, để lại cho bà xưởng in và đứa con gái. Vợ chồng đứa con gái vẫn sống chung với bà, nhưng vắng nhà suốt, chỉ thuê một người giúp việc trông nom bà và phục vụ cơm nước. Thành thử bà cô đơn lắm. Lúc gã đến bà đang ngồi trên chiếc xe lăn, mắt nhìn ra phía cửa sổ, nơi có mấy giỏ phong lan rất đẹp. Với bà thì mấy giỏ lan kia mới là thứ của nả lớn nhất mà ông để lại. Nghe tiếng chào, bà quay lại, nụ cười ấm áp. Tuồng như chưa hề có cơn mưa chiều bất chợt ngoài kia. Bà ra hiệu cho gã ngồi, trong khi mắt vẫn không ngừng dán vào tấm ảnh cầm trên tay:
- Có những điều bình dị mà vui mất cả buổi chiều.
Gã hơi rướn mình đón lấy tấm ảnh bà đưa, mặt bỗng dưng biến sắc, miệng há hốc như không thể tin vào những gì mắt thấy. Trời đất ơi, bức ảnh của vợ con gã đây mà! Bức ảnh chụp chung với bà chủ trên giường bệnh. Mà tại sao đầu vợ gã lại rụng hết tóc, trắng hớn thế này. Gã lật phía sau, những nét chữ quen thuộc hiện ra: 
"Bà ơi, mẹ bảo cháu gửi hình và viết cho bà mấy dòng. Mẹ bảo mẹ khoẻ nhiều rồi. Bà chịu khó uống thuốc nha bà. Bốn mẹ con cháu vẫn đang cố gắng đây, thêm cả phần của bố cháu nữa. Lúc ở nhà, bố vẫn hay dặn cháu là không được bỏ cuộc. Cháu mong gặp lại bà, nhưng không phải ở cái nơi đáng sợ đó nữa đâu bà nhỉ! Cháu chào bà! Lê Vy".
Từ khoé mắt đã hằn vết chân chim của người đàn ông khắc khổ, những giọt nước chảy ra. Bà chủ trố mắt nhìn, hỏi xem có chuyện gì. Đợi cho phút nghẹn ngào qua đi, gã cố lấy lại vẻ điềm tĩnh, nói dối là không quen nhìn bà với cái đầu trọc và mấy dòng thư đọc rất cảm động. Bà mỉm cười hiền hậu. Cứ theo lời bà kể thì bà và vợ gã nằm chung phòng điều trị ở bệnh viện K vài tháng trước. Cả hai vừa trải qua một đợt hóa trị, tóc rụng hết. Bà tỏ ra rất thiện cảm với mấy đứa trẻ, bảo chúng ngoan và rất thương mẹ. 
- Buồn nhất bọn chúng là trẻ mồ côi.
Gã cuống quýt:
- Mồ côi?
- Đúng. Chị kia cũng không phải là mẹ ruột của chúng.
Đến lúc này thì gã hoàn toàn mất kiểm soát, không thể kết nối những gì đã và đang xảy ra. Bà chủ vẫn tiếp tục kể, chất giọng trầm đều. Cưới nhau mấy năm không có con, đi khám, bệnh viện kết luận gã bị vô sinh. Sợ gã suy sụp, có thể vì chuyện này mà sinh quẫn trí làm liều nên chị vợ giấu tiệt, chỉ động viên anh đi xin ơn ở La Vang, Tắc Sậy. Chị tìm đến một cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi của các nữ tu. Ba lần nhận con, chị vờ ốm nghén, rồi lấy cớ là con cầu tự nên thuyết phục chồng cho vào ở hẳn trong nhà dòng để an thai, sinh nở xong hẵng về. Sau ngày gã bỏ đi, chị nói dối mấy đứa con là bố đi công tác xa. Ngày lễ tết, sinh nhật, chị tự tay mua cho con cái áo, đôi giày rồi bảo quà bố gửi về…
* * *
Đường về làng mùa mưa, se sắt những cơn gió mang hơi lạnh phả vào da thịt. Gã cắm đầu bước như chạy. Người làng túa ra nhìn. Gã chỉ cúi chào cho có lệ rồi mãi miết bước. Mà có lẽ gã cũng chẳng còn quan tâm người ta nghĩ gì, bàn tán gì về gã nữa. Có một nơi gã cần phải về. Không cần biết nơi đó có chào đón gã không, có cần gã không. Còn gã, gã cần họ, rất cần.
Lạ là cửa không khoá. Không có cánh cửa nào chốt bên trong. Có lẽ giờ này Khanh và Vy đang ở trường, Vân thì đi làm phụ mẹ. Đồ đạc trong phòng khách hình như đã vơi đi nhiều. Vợ gã đang thiếp ngủ trên chiếc giường xếp, mặt hướng ra phía cửa sổ, tay buông thõng xuống. Chiếc nhẫn trở nên lỏng lẻo trong ngón áp út xanh xao. Nó không tuột hẳn ra nhưng mắc lại ở khớp ngón tay. 
Gã quỳ mọp xuống. Sáu năm rồi, và đằng đẵng mười mấy năm trước đó nữa, bao nhiêu là gió mưa ràn rạt, bao nhiêu bão tố quần quật giáng xuống trên thân thể người đàn bà bé nhỏ, mà vẫn không thể bứt nổi chiếc nhẫn ra khỏi ngón tay gầy rộc kia sao?
- Đừng tha thứ cho anh… Vì anh không cầu xin sự tha thứ… Mà anh cũng… không đáng được… tha thứ. Anh về để xin em… một ân huệ cuối cùng, ân huệ… được chăm sóc em và các con… những ngày còn lại…
Chị mở mắt, tay run run đặt lên miệng gã. Cổ họng nghẹn ứ, nhưng chị không khóc. Mà có lẽ cũng chẳng còn nước mắt mà khóc nữa.
- Anh về… là đủ rồi… Em chỉ sợ… không kịp… nói với anh, em chỉ sợ… không kịp…
Ra là thế. Trên đời này, nếu là vì nhau, người ta cần đến những hi sinh thầm lặng, cả những nỗi đớn đau. Nhưng để giữ được nhau, để đi với nhau cả chặng đường dài thì chưa đủ. Người ta còn phải kể cho nhau nghe về nỗi chông gai của riêng mình. 
Nhà là nơi để về. Đó không phải là nơi không còn giông bão. Có thứ giông bão đến từ bên ngoài, có thứ từ bên trong. Gió vẫn quần quật thổi. Mưa vẫn táp liên hồi. Nếu không khéo chằng chéo, nhà vẫn cứ tốc mái, đổ sập như thường. Đúng hơn, nhà là nơi học cách sống chung với giông bão. Nhà dạy người ta cách vượt qua giông bão, thậm chí là cách dựng lại nhà sau hoang tàn đổ nát.
Lễ Thánh Gia Thất năm nay trùng với dịp tổ chức lễ kim khánh, ngân khánh cho một số cặp vợ chồng trong giáo xứ. Cha xứ chuẩn chước cho vợ chồng gã được mừng lễ bạc trong dịp này, có lẽ vì tiên lượng xấu về khối u ác tính của chị. Gã mặc vest đen, đẩy chiếc xe lăn đưa vợ đến nhà thờ. Vợ gã diện bộ áo dài gã mới đặt may ở tiệm, mặt đánh một lớp phấn nhẹ, cái đầu trọc đung đưa theo nhịp đẩy của chiếc xe. Mắt môi tươi tắn, chị cười bẽn lẽn. Người dự lễ xúm lại trầm trồ.
Gã đưa tay trái lên, nói thật khẽ: "Cũng có lúc mày nhẹ đấy chứ". Tôi phì cười. Hôm nào đó, tôi sẽ kể cho chiếc nhẫn kia nghe về những ngày đơn độc khốn khó của mình. Và còn thủ thỉ rằng, trong những ngày tháng chia lìa, chiếc nhẫn kia có cảm thấy đơn chiếc, có thấy thương nhớ tôi không, có phút nào trở nên nặng nề trong ngón tay kia? 
Những chiếc nhẫn như chúng tôi, dù làm bằng chất liệu gì, có lấp lánh đến đâu, trong những ngón tay tròn trịa hay gầy guộc, nếu thiếu đi một chiếc, sự tồn tại của chiếc còn lại chẳng còn ý nghĩa. Đó chỉ là những chiếc nhẫn mồ côi.
Tan lễ, gã đẩy xe ra phía cửa. Ba đứa con tíu tít chạy theo. Chốc chốc, gã dừng lại, cúi xuống hôn lên cái đầu trọc của vợ, rồi đẩy xe đi tiếp. Tôi ngước lên, rõ là mắt gã đang cười.

(Mã số: 18-028)

Vốn là một đứa trẻ hiếu động, hay tò mò, tôi thường ngồi cạnh bà, hỏi những câu hỏi mà thường không ai hỏi. Hôm ấy khi theo chân bà đến thăm nghĩa trang xóm đạo, thấy một bác gái đã đứng tuổi đang quét dọn các ngôi mộ, tôi thắc mắc. Về nhà tôi khẽ hỏi bà: 
 - Bà ơi, cô ấy là ai hả bà? Sao cô lại làm thế? Có người làm rồi mà bà? 
Bà tôi khẽ xoa đầu tôi rồi kể: 
Năm ấy, một buổi chiều yên bình như thường lệ của xóm đạo ven sông, khi lá vàng rơi nhè nhẹ nơi mái hiên nhà… Chuông nhà thờ xóm đạo nhỏ vang ngân cũng là lúc con tàu chuyển bánh đưa Mai lên thành phố với cái tuổi đôi mươi đầu đời. Tiếng tàu vang inh ỏi lấn át cả tiếng chuông chiều thân thuộc. Mai là một người cọn gái xinh đẹp, nết na, là chị cả sinh ra từ một làng quê nghèo ven sông. Nàng chăm chỉ làm việc với ước mơ cỏn con là được đưa con chữ về làng. Ước mơ cũng là hoài bão lớn cả đời của nàng- mơ ước với con chữ của làng quê nghèo khó. Mang trong mình ước mơ với con chữ, nàng ra đi với cái balo cỏn con có vài bộ quần áo cũ, với giọt nước mắt của người mẹ già. Mai sẽ đi, sẽ đến với một thành phố mới, một miền đất mới hoàn toàn xa lạ, một vùng đất văn minh đang chứa đựng cả niềm mơ ước của nàng. Khóe mắt nàng cay cay…. “ Mẹ ơi con đi nhé! Con sẽ trở về!” 

- Bà ơi, cô ấy đi lâu không bà? 

- Từ từ đã cháu, nghe bà kể… 

(Mã số 18-027)
- 5 triệu đây, cầm lấy và đi giải quyết cái thai giúp tôi. 
- Anh điên à? Sao anh có thể nhẫn tâm vậy… Nó là con của anh đó. 
- Con tôi ư? Tôi không muốn có nó, tôi cũng chẳng còn yêu thương gì cô. Tôi đâu có ngu đâu mà cưới cái loại con gái như cô. 5 triệu là số tiền quá lớn đối với con bé nhà quê nghèo hèn như cô rồi đấy… Biến đi cho khuất mắt tôi! 
- Sao anh lại đối xử với tôi như vậy chứ? Chẳng lẽ bấy lâu nay những lời hứa hẹn chỉ là để lừa dối tôi thôi sao, anh thật đê tiện! 
- Đê tiện ư? Thì sao chứ? Cô cũng chỉ là một trong những đứa con gái qua đường của tôi thôi. Cô muốn nuôi nó thì tự nuôi đi, đừng phiền tôi. Biết đâu nó không phải con tôi. 
- Anh… anh... anh đừng quá đáng!
Cổ họng cô nghẹn ứ. Thế giới như sụp đổ trước mắt cô, trái tim cô đau như có lưỡi dao cứa vào. Trời bỗng chốc đổ mưa, những cơn gió lạnh thoáng qua làm lòng Trinh tê tái. Đường phố vắng tanh, buồn hiu hắt... 
*** 
- Con trai, mẹ xin lỗi, mẹ không muốn giết con đâu. Nhưng mẹ cũng không thể nuôi con được, đừng trách mẹ nha con, mẹ mong kiếp sau con sẽ đầu thai trong một gia đình tử tế hơn, con nhé! 
Đang miên man với biết bao suy nghĩ, bất chợt có người chạm vào vai cô. 
- Chị sao vậy? Sao chị khóc thế, bộ có chuyện gì hả? 
- Không... không... tôi không sao, tôi ổn mà. 
- Chị ổn thật không? Nếu ổn sao chị lại khóc. Có chuyện gì cứ tâm sự với em, có thể em giúp được chị thì sao. 
Cô ngước mắt lên, đôi mắt sưng húp vì khóc quá nhiều. Nỗi đau bấy lâu này dồn nén, cô cần được ủi an. Cô như người bị lật thuyền vớ được cái phao, cô muốn trút bầu tâm sự, muốn mọi người hiểu nỗi lòng của cô bây giờ. Trinh lau nước mắt, rồi kể trong tiếng nấc đầu đuôi câu chuyện về hoàn cảnh và cả những nỗi đau mà cô đang chịu. 
- Chị phải phá thai em ạ! Nếu không bỏ nó, chị không biết tương lai của mình sẽ như thế nào. Rồi cả bố mẹ chị nữa, làm sao họ có thể chấp nhận được chuyện này. Chắc ông bà sẽ chết vì tức chị mất. 
- Chị có thương nó không? 
- Chị thương nó chứ, con của chị mà, khúc ruột của chị làm sao chị không thương nó cho được. 
- Chị thương nó, thì tại sao phải giết nó? Nó cũng là một con người mà chị. 
 - Chị biết, nhưng mà… nếu không bỏ nó, chị biết sống như thế nào?
 - Chị có dám chắc sau khi bỏ nó cuộc sống của chị sẽ tốt hơn không? Lương tâm của chị sẽ bình an hay sao? - Chị không muốn giết con trai chị đâu em ơi, chị phải làm sao bây giờ? Trinh gào khóc thảm thiết. 
 - Em có thể giúp chị, nhưng chị không được bỏ đứa con này. 
- Là sao hả em?
 - Thực ra, chúng em đang là sinh viên năm nhất ở trường đại học Vinh. Chúng em ở nhóm bảo vệ sự sống Fautina Vinh của đạo Công giáo. Nhóm của chúng em chôn cất các thai nhi và nuôi những người cơ nhỡ, cũng tìm tới các bệnh viện để tư vấn và giúp đỡ những người như chị. Đứa bé trong bụng chị là một con người và chị là người quyết định sự sống của nó bây giờ. Nếu chị không nuôi được thì còn có biết bao nhiêu gia đình muốn nuôi nó. Em mong chị suy nghĩ lại, nếu chị đồng ý thì chị có thể theo em về trung tâm. Mọi thông tin của chị sẽ được bảo mật. Xin chị hãy nghĩ tới đứa con mà chị đang cưu mang, nó có quyền được sống mà. Sẽ có một gia đình tốt hơn nuôi nó. Sau khi sinh chị muốn nuôi hay cho nó đi thì tùy ý chị. 
- Nhưng… chị tin được sao? 
- Chúng em theo đạo Thiên Chúa, chúng em không lừa chị đâu. 
Trinh được đưa về trung tâm Bảo Vệ Sự Sống Fautina Vinh. Bước vào căn phòng nhỏ dành cho mẹ con cô, hình ảnh đập vào mắt cô là một người đang bị treo trên cây gỗ kia, trên đầu có một vòng gai, đầu gục xuống và khuôn mặt toát lên một tình yêu cao quý. Cô thấy thương thương con người đó nhưng rồi cũng “chậc”, mặc kệ! Cô được gặp cha linh hướng nhóm Bảo Vệ Sự Sống, sau khi trình bày mọi chuyện với cha, cô được cha đón nhận vào trung tâm. 
Đứa trẻ trong bụng lớn lên từng ngày. Càng thương nó bao nhiêu thì sự căm thù của cô càng lớn bấy nhiêu. 
 *** 

- Giờ con muốn nuôi đứa nhỏ không? 
- Không… thấy nó là con nhớ tới ba nó. Con căm hận anh ta. 
 - Vậy cha cho người khác nuôi nó nhé. - Không… không… cha ơi…! 
- Vậy con nuôi nó? 
- Con không thể...! 
- Con... con... hi vọng gia đình đó thương nó, cho nó một mái ấm hạnh phúc... 
Cha ẵm đứa con trai của cô đi, đứa nhỏ khóc ré lên. Tình mẫu tử bỗng nhiên đứt đoạn khi cô cho đi đứa con của mình. Tiếng khóc của đứa trẻ như một lời van xin “Mẹ ơi, đừng bỏ con”. Cha bước đi, Trinh như muốn níu kéo thứ gì đó. Nhưng cô không thể, đứa con cô cưu mang 9 tháng 10 ngày đang rời xa cô. Cô như muốn hét lên: “Đừng đưa con tôi đi”, nhưng nghẹn lời. Cô khóc, tiếng khóc xé lòng, cô không muốn bỏ đứa con đáng thương này. Cô đứng xa xa, lặng lẽ nhìn người ta ẵm đứa con bé bỏng của cô lên xe rồi đi khuất. 
- Mẹ xin lỗi, đừng trách mẹ, con nhé! Mong con có một cuộc sống tốt hơn, mẹ thương con. 
Về lại trung tâm, cha và mọi người lui tới hỏi thăm cô. Dù cõi lòng tan nát nhưng cô vẫn cố tỏ ra mạnh mẽ. Đêm dần buông, nỗi nhớ con lại tràn về, trái tim cô như vỡ vụn từng mảnh. Con cô và cả kẻ phản bội cô nữa, không một ai ở bên cô. Tình thương và sự căm hận luôn song hành với nhau. 
Cô bé miền quê chân chất ngày xưa đánh đổi cả tương lai của mình vì chữ “yêu”, để rồi giờ đây phải mang nỗi căm hận, sự tổn thương mà không ai chữa lành được. Cô hận đời, bao lần cô muốn tự tử nhưng cha mẹ cô sẽ ra sao khi cô rời bỏ họ mà ra đi. Cô phải trả thù, phải cho tên phản bội kia nếm mùi đau khổ hơn cô gấp ngàn lần. 
 *** 
- Cô cần gì? 
- Cần các anh xử giúp tôi một người. 
- Ok, 5 triệu. Cô em có không? 
- Ok. 
Trinh cùng đám côn đồ tới chỗ Nguyên. Cô bất chấp tất cả trốn ra ngoài để dạy cho Nguyên một bài học. Cô muốn nhìn thấy Nguyên đau khổ. Đám côn đồ lao tới, đánh Nguyên tơi bời. Trinh đứng bên nhếch mép cười khinh bỉ, mặc cho Nguyên hết lời van xin. Cứ ngỡ rằng khi nhìn thấy Nguyên đau đớn, Trinh sẽ hả dạ. Nguyên nằm thoi thóp, nhưng sao Trinh lại thấy đau đớn, dày vò hơn. 
Cô trở về nhà, lòng đầy bất an, và chẳng hiểu sao cô vẫn không thấy vui khi đã cho hắn ta nếm mùi đớn đau. Bất chợt tiếng chuông nhà thờ, rồi những bài thánh ca vang lên làm tâm hồn cô thấy bình an khác lạ; như những lời ru êm đềm cho lòng cô được bình yên sau những gục ngã và tổn thương. 
Chiều chiều, ngồi trên phòng, nghe tiếng chuông nhà thờ, tiếng kinh cầu vang vọng, cô chưa từng biết Chúa là ai, cô chỉ nghe người ta gọi người bị treo trên Thánh Giá kia là Chúa. Nghe những lời kinh, cô chẳng hiểu gì, chỉ thấy mỗi khi lời kinh ấy cất lên làm lòng cô thấy bình an lạ thường. Cô thèm nghe những tiếng kinh nguyện, những bài thánh ca; như những lời ru giúp xoa dịu lòng cô sau những tổn thương và gục ngã, sau sự căm hận mà cô đã dành cho kẻ phụ tình. Trinh lén vào nhà thờ, muốn tìm kiếm Chúa, muốn biết Chúa là ai? Mà sao người ta yêu Chúa tới vậy? Chúa là người đàn ông trần truồng mà cô thấy ở trong phòng cô lúc cô mới về đây. Người bị đóng đinh trên cây Thánh Giá, với đầy dẫy những vết thương quanh mình, cạnh sườn bị đâm thủng. Bỗng nhiên, Trinh thấy khóe mắt mình cay cay. Cô tự hỏi: “Người là ai? Mà sao đáng thương tới vậy?”. Cô nhìn Người với ánh mắt cảm thương rồi tâm sự với Người, cô thấy nhẹ lòng hơn dù cô chẳng nghe Người nói gì cả. Cô như người bị lật thuyền vớ được khúc cây, chiều nào cô cũng vào nhà nguyện thì thầm với Chúa. Rồi Chúa gieo vào lòng cô khe khẽ một khao khát đi tìm kiếm Ngài, biết về Ngài. 
 - Dạ, thưa cha. 
- Có chuyện gì vậy con? 
 - Thưa cha, con muốn biết về Chúa của cha. Cha nhìn cô với ánh mắt tò mò. 
- Tại sao con lại muốn biết Người? 
- Chính Người bị treo trên Thánh Giá kia làm con muốn tìm hiểu về đạo này. Con đã tìm được nguồn an ủi mỗi khi tâm sự với người đó. 
Cha mỉm cười và trao cho cô một cuốn sách Tân Ước. 
- Con đọc cuốn sách này nhé, rồi con sẽ biết Người là ai? 
 - Con cảm ơn cha! 
Cô hình dung ra cuộc đời đầy đau khổ và tình yêu của Chúa Giêsu qua những trang Tin Mừng. Chúa yêu con người tới nỗi phải hi sinh, chết nhục nhã trên Thánh Giá. Chúa hi sinh như thế nhưng sao người ta lại ghét Chúa tới vậy?”. Hình ảnh Chúa đổ mồ hôi máu trong vườn dầu đánh động tâm trí của cô. Người là Chúa nhưng cũng là con người, mồ hôi máu của Người đổ ra, một nỗi đau chua chát, nỗi đau dày xéo để quên đi tình cảm lãng mạn, giữ lòng chung thủy với tình yêu, với sứ mạng sống trao ban của Người. 
Cô thương Chúa, thương một người mà cô chưa từng biết, cũng chưa thấy bao giờ. Chính những nỗi đau mà cô chịu, khơi dậy trong cô một niềm cảm thương sâu sắc, khơi dậy trong cô lòng trắc ẩn của một cô bé lương thiện. 
Cô vào nhà nguyện, ngước mắt lên nhìn Thánh Giá, cô nghe như bên tai có tiếng ai đó đang nói với cô: “Hãy theo Ta” 
*** 
Cô cầu nguyện, nói chuyện với Chúa thật nhiều. Rồi cũng quyết định tìm cho mình một con đường. Bỗng nhiên cha xuất hiện ngay lúc cô cần đến. 
- Con chào cha. 
- Con khỏe không? 
- Dạ, thưa cha...con...con… 
- Con sao vậy? Cô hơi lúng túng, cô chẳng biết bày tỏ với cha như thế nào lúc này. 
- Dạ, thưa cha, hôm trước con có nói với cha con muốn gia nhập đạo Thiên Chúa. Xin phép cha cho con được theo đạo. 
 - Con suy nghĩ kỹ chưa? 
Cô cúi đầu lặng thinh một lúc lâu, nước mắt cô chực trào. 
- Con suy nghĩ kỹ rồi cha ạ. Con cảm nhận được tình yêu của Chúa. Chỉ khi đến bên Thánh Giá, chỉ khi cầu nguyện con mới cảm thấy lòng mình thực sự bình an. 
- Vậy con tha thứ cho người đàn ông đã phản bội con khiến cho con tổn thương được rồi chứ? - Con…con không thể, con không bao giờ tha thứ cho anh ta. Anh ta có lỗi với con, có tội với đứa con trai bé bỏng của con. Cô bắt gặp nét đượm buồn trên khuôn mặt của cha. Chợt cô nhớ lại hình ảnh Chúa Giêsu treo trên Thập Giá, Người cũng buồn như thế. Cha trầm ngâm một lúc như đang suy nghĩ điều gì đó, rồi ngước mắt lên nhìn cô. 
- Con ạ, Đức Giêsu đã bị đánh đập tàn nhẫn, chịu bị người ta sỉ vả. Đức Giêsu đã vui lòng vác thập giá để nêu gương chịu đựng đau khổ cho chúng ta và dạy chúng ta bài học về sự quên mình, hy sinh và tha thứ. Người buồn sầu tan nát nhưng vẫn nguyện cầu với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ lầm chẳng biết”. Tình yêu Chúa lớn lao quá phải không con? 
Cổ họng cô nghẹn đắng lại. Làm sao để tha thứ cho kẻ bội bạc kia, để quên đi sự đau đớn mà cô phải chịu. Nước mắt bỗng chốc rời trên gò má gầy của cô. Cô nhìn chăm chăm vào cây Thánh Giá gỗ trong phòng. 
 - Ngay cả con mình mà anh ta cũng kêu con bỏ, anh ta là một kẻ không có lương tâm. Dù con có rộng lượng tới đâu đi chăng nữa, thì làm sao có thể tha thứ cho con người bội bạc chỉ biết nghĩ tới mình đó hả cha? 
Cô đưa tay gạt dòng nước mắt. Cô nói tiếp: 
- Con tha thứ cho anh ta, vậy những vết thương trong lòng con ai sẽ chữa lành bây giờ? Chẳng lẽ con cứ để nó gặm nhấm tâm hồn con thế này sao? Con không chịu nổi nữa cha ạ. 
- Chúa sẽ chữa lành con, nếu con biết tin tưởng và phó thác vào Ngài. - Nhưng còn con trai con, nó có tội gì đâu. Tại sao bắt nó phải chịu khổ như thế? 
- Con yêu, Mẹ Maria cũng là một người mẹ như con. Khi Chúa Giêsu nhận án tử trên Thánh Giá Mẹ vẫn luôn yêu thương và cầu nguyện cho họ. Mẹ đã tha thứ vì tình yêu, vì Mẹ chấp nhận thánh ý Cha trên trời. Dù đau đớn nhưng cuộc đời Mẹ vẫn luôn trọn vẹn hai tiếng “Xin vâng”. Con trai con sẽ có một gia đình và nó sẽ được thương yêu, được bao bọc và che chở. 
 - Con...con…! 
- Con còn muốn theo Đức Giê su chứ? - Cha hỏi cô. 
- Dạ con muốn, con muốn biết về Người nhưng con thấy mình tội lỗi quá. 
- Chúa luôn yêu thương những người tội lỗi. Nếu Chúa không tha thứ cho những kẻ tội lỗi, thì chẳng phải thiên đường mà Chúa tạo ra sẽ vắng bóng người, chẳng có ai hoàn hảo và xứng đáng để một bước về hưởng phúc thiên đàng con gái ạ… Và Cha tin tình yêu trong con đủ để con chiến thắng sự ích kỷ của bản thân mình. Chúa luôn yêu thương con và chờ đợi con. Bây giờ con hãy mở rộng lòng mình ra để tha thứ, quên đi quá khứ của mình và cầu nguyện cho con trai của con có một cuộc sống tốt đẹp. Những vết thương trong trái tim con sẽ được Chúa Giêsu chữa lành. Con nhé! 
- Con cảm ơn cha! 
Cô ra về, lòng nặng trĩu những tâm sự. Tha thứ cho kẻ bội bạc kia bây giờ quả thật là một điều rất khó đối với cô. Cô thở dài não nề, tiếng lòng thổn thức không nguôi. Cô bước vào nhà nguyện, Người duy nhất cho cô tựa vào bây giờ chỉ có Chúa. 
Cô nhìn lên Thánh Giá, hít một hơi thật sâu như để làm dịu đi những cơn sóng ào ạt đang dậy lên trong lòng mình. Trên Thánh Giá kia Chúa vẫn im lặng, đầu Ngài gục xuống mà vòng gai vẫn siết chặt. Nhưng trên khuôn mặt Ngài không có sự đau đớn mà lại toát lên vẻ bình an đến lạ. 
Cô hỏi Chúa: 
- Vì sao con người bội bạc với Ngài, sỉ nhục Ngài, rồi đóng đinh Ngài trên Thập Giá mà Ngài vẫn có thể tha thứ cho họ? Chúa ơi, con đau lắm, đau lắm Ngài biết không? Con đau như muốn chết đi được. Ngài ở đâu rồi, sao lại để con bơ vơ lúc này? 
Cô mệt lả, dường như cô không còn chút sức lực nào nữa. Cô gục đầu xuống ghế, miệng vẫn lẩm bẩm: “Chúa ơi, con đau, đau lắm!”. Rồi cô thiếp đi lúc nào không hay. 
*** 
- Hãy theo Ta. 
Cô ngước mắt lên nhìn, trước mặt cô bây giờ là một người đàn ông. Xung quanh Người tỏa ra một luồng sáng thật tuyệt diệu. Cô hoảng sợ, người cô run lên, không thể nào đứng vững được nữa, cô ngã xuống nhưng vẫn cố lấy hết can đảm hỏi Người: 
- Ông là ai? Tại sao tôi lại phải theo ông? 
- Ta là Giêsu, Người con đang tìm kiếm. 
- Ông là người… ng...ư...ờ...i… b...ị….treo trên Thánh Giá trong nhà thờ hả? 
 - Chính Ta. Người nhìn cô mỉm cười. 
- Muốn biết về Ta con phải biết đón nhận cuộc sống khổ đau từng ngày thì con mới có thể hiệp thông vào cuộc tử nạn của Ta. Con hãy tìm kiếm Ta trong sự đau khổ của con, hãy mở rộng lòng mình, tha thứ và cho đi. - Nhưng… con... con… Ngài ơi...! 
Ngài biến mất, cô giật mình tỉnh dậy. 
- À, thì ra là một giấc mơ. Nhưng chẳng lẽ đó là điều Ngài muốn. Con phải biết tha thứ, biết yêu thương và cho đi thì mới làm con của Ngài được. 
Cô mỉm cười nhìn lên Thánh Giá. Ngay lúc này, cô cảm thấy lòng mình thật bình an. Giọt nước mắt một lần nữa lại lan dài trên má. Nhưng nó không còn là giọt nước mặt của đau khổ, hận thù và đắng cay. Nó là giọt nước mắt của bình an, của hạnh phúc mà cô tìm được bây giờ. Tơ lòng trong cô đã được tháo cởi, cô cảm thấy lòng mình thật nhẹ nhàng. Cô nhận ra rằng hạnh phúc hay đau khổ cũng do cô tạo ra mà thôi. Tâm tịnh lòng sẽ an, chỉ cần cô biết mở lòng tha thứ thì bao nhiêu đau khổ trong lòng cô cũng bị xóa nhòa. 
Cô cúi đầu trước Thánh Giá, bao tâm tư thổn thức của cô nay đã vơi dần. Hơn bao giờ hết, ngay lúc này cô cảm thấy lòng mình bình an. Cô bước ra khỏi nhà nguyện, gánh nặng trong cô đã được gỡ bỏ một phần nào đó. Tảng đá đau khổ trong lòng cô nay đã được tháo cởi bởi tình yêu và lòng xót thương của Thiên Chúa. Cô tới gặp cha để xin gia nhập đạo, bây giờ cô đã có đủ niềm tin và dũng khí để tha thứ cho người đàn ông mà cô căm hận nhất trên cuộc đời này. 
Cô chợt nhận ra rằng: “Có những lúc cuộc sống của cô thật bình yên, cô thấy cuộc đời của cô thật đẹp, mọi sự tưởng chừng như dễ chấp nhận. Nhưng cho tới khi cuộc sống lao đao như biển gào sóng thét, lại thấy cuộc đời đầy dẫy những bất công”. 
 *** 
- Chị ổn chứ, bé con của chị sao rồi? 
- Cảm ơn chị, nó vẫn khỏe ạ! Dạo này nó đạp ghê lắm. 
- Chị nhớ ăn uống đầy đủ để cả bé và chị đều khỏe mạnh nhé. Không đủ chất là bé suy dinh dưỡng đó. 
 - Dạ, em biết rồi. Cảm ơn chị nhé! May mà có mái ấm Bảo Vệ Sự Sống không thì em đã giết con em rồi. Em cũng chẳng biết cuộc đời em sẽ đi về đâu. 
Trinh mỉm cười, nhớ lại câu chuyện đời mình, rồi ngước nhìn lên Thánh Giá. 
- Mọi chuyện Chúa sẽ lo…. 
Có những con người vì quá bám víu vào một mối tình mà họ ngỡ đẹp nhất trên cuộc đời này, đến một lúc nào đó khi họ nhận ra mình bị phản bội, giải pháp cuối cùng họ đi đến là giết đi sinh linh vô tội trong cung lòng mình. Nhiều người đã khước từ hồng ân sự sống mà Chúa ban vì không nhận ra giá trị của đời mình như chính cô trước đây. Và cô sẽ giúp những con người đó nhận ra Chúa, nhận ra hồng ân vô giá mà Chúa dành cho họ…

GIẢI VIẾT VĂN ĐƯỜNG TRƯỜNG 2018: BẢN TIN 03 

  Kính chào quý Bạn đọc và quý Tác giả, 
  Trước thềm Xuân mới, Ban Tổ chức Giải Viết Văn Đường Trường xin gửi đến quý độc giả và quý tác giả lời kính chúc một mùa Xuân vui tươi thánh thiện cùng một Năm mới khỏe mạnh, an lành và hạnh phúc trong Chúa. 
  Giải Viết Văn Đường Trường mang ước vọng sẽ phát hiện được nhiều tài năng văn thơ Công giáo trẻ và thúc đẩy cảm hứng để các tác giả viết nên những tác phẩm mới, nhờ đó họ tự nâng cao khả năng cầm bút của mình. Chẳng hạn như trong cuộc thi lần thứ V năm 2017 vừa qua, mục tiêu phát hiện đã đạt được một cách cụ thể với trường hợp tác giả đạt giải III là một nhà văn trẻ đã được biết đến nhiều trong làng văn: Nguyễn Văn Học. Cứ thử gõ tên anh trên Google, quý bạn đọc có thể gặp thấy nhiều bài viết về anh. 
  Năm nay, một trong các chủ đề của Giải Viết Văn Đường Trường là bảo vệ môi sinh. Cùng lúc, trước thềm Olympic và Paralympic mùa Đông PyeongChang 2018 (diễn ra từ ngày 9 đến 25/2 tại tỉnh Gangwon, Hàn Quốc), thì vào các ngày 19-22/1, tại Seoul và Pyeongchang , "Diễn đàn nhân văn quốc tế 2018" đã được tổ chức nhằm mục đích vận động cho nền hòa bình thế giới và thảo luận về vấn đề môi trường, với sự tham gia của hơn 200 nhà văn đến từ 18 quốc gia. Có một sự trùng hợp lý thú: Nhà văn trẻ Nguyễn Văn Học của chúng ta được mời tham dự diễn đàn này và có những chia sẻ khá sâu sắc về vấn đề bảo vệ môi trường. 
  Ban Tổ chức Giải Viết Văn Đường Trường xin chúc mừng nhà văn Nguyễn Văn Học và giới thiệu đến bạn đọc bài phỏng vấn của báo Văn nghệ Đà Nẵng dành cho nhà văn, tại: http://www.tapsanmucdong.net/2018/02/cay-but-viet-van-duong-truong-chia-se-moi-truong.html 
 Diễn đàn nhà văn thế hệ mới hướng đến thế giới thiên nhiên, cuộc sống hòa bình (Ảnh: FBNV) 

  Vui Xuân, xin mời quý bạn đọc cùng thưởng thức đợt truyện thứ ba đã qua vòng sơ loại của Giải Viết Văn Đường Trường 2018, gồm truyện dưới đây và sáu truyện khác sẽ được đăng dần trên blog Văn Thơ Công Giáo và Mục Đồng trực tuyến. 
  Năm nay là chặng đường cuối của Giải Viết Văn Đường Trường, mà thời hạn “nước rút” của cuộc thi lại trùng vào dịp Tết Nguyên Đán. Do đó, để quý tác giả có thêm thời gian hoàn thành tác phẩm dự thi một cách tốt nhất, Ban Tổ chức quyết định gia hạn nhận bài tới hết ngày 15-4-2018. Mong quý tác giả tiếp tục suy tư và gởi thật nhiều truyện dự thi (không hạn chế số lượng). Mến chúc mọi người vui Tết an lành và Năm mới gặt hái nhiều thành quả cho Chúa. Quy Nhơn, ngày 11-2-2018 Lm. Trăng Thập Tự Trưởng ban Tổ chức 

(Mã số 18 - 024)

1.
Võ thường đi dạo trên bãi biển Qui Hòa vào mỗi buổi sớm khi mặt trời chưa ló dạng. Anh cảm thấy thích thú khi được ở một mình với biển, gió và sóng nước rì rào. Thế nhưng mấy bữa nay, tâm trạng của anh không được vui. Anh dậy sớm hơn và đi thơ thẩn trên bãi biển như người mất hồn. Anh nhìn trước ngó sau như đang tìm thứ gì đó. Anh không còn biết thưởng thức không khí trong lành và cảnh đẹp ban mai. Hết đi, anh lại ngồi bệt trên cát, hai tay cào cấu và bóp chặt những nắm cát trong tay. Anh nhìn đăm đăm vào sóng nước rồi ném thật mạnh những nắm cát vào biển. Anh gào lên những âm thanh ghê rợn, đấm ngực và khóc. Anh khóc vì không cứu được Trí.
Chiều hôm ấy, Võ ra biển tắm. Khi đến nơi, anh thấy rất nhiều người vui đùa, bơi lội. Anh cởi chiếc áo mai-ô, chạy nhảy một lúc rồi dìm người vào làn nước mát. Gần chỗ anh tắm, có một nhóm học sinh đang ngụp lặn như những con rái cá. Anh phát cười khi nhìn thấy những động tác vụng về của chúng.

(Mã số 18 - 022)

1.
Mặt trời dần dần nhú lên khỏi mặt biển. Gió nồm vẫn cứ thổi. Sóng vỗ dịu dàng, không mạnh như hồi chiều hôm qua, lúc thủy triều đang lên. Dưới ánh nắng sớm, hàng phi lao ngả bóng lên mấy dãy lầu của nhà dòng Phan Sinh. Dì Liên bước đều đều trên hành lang lầu hai, tay mân mê tràng hạt Mân côi. Từ sáng tới giờ, dì lần không biết bao nhiêu chuỗi, từ chuỗi Mân côi đến chuỗi lòng Chúa thương xót. Dì đang cầu nguyện cho linh hồn cụ bà Anna, một bệnh nhân phong vừa mới qua đời.
Bà cụ chết cách đây mấy hôm. Bà không phải chết vì bệnh phong mà chết vì cô quạnh lúc tuổi già khi vừa tròn bảy mươi. Đúng ra, bà không thể thọ đến tuổi ấy. Nhưng nhờ sự chăm sóc tận tình của các dì Phan Sinh mà bà sống thêm ngần ấy năm. Bà chỉ có một mình. Chồng bà đã chết cách đây 10 năm. Từ đó, bà sống thui thủi một mình trong căn nhà nhỏ lụp sụp do nhà nước cấp trong khu bệnh nhân phong Qui Hòa. Con cái bà đã bỏ đi làm ăn xa hết rồi. Lâu lâu, chúng gửi tiền về phụng dưỡng bà. Chúng ít khi về thăm bà. Chúng mắc cỡ vì có ba mẹ bị bệnh phong. Cũng thông cảm cho chúng. Từ lúc chúng sinh ra, đi học, đi làm cho đến giờ, người ta vẫn cứ coi chúng là đồ cùi hủi, là dòng dõi bệnh nhân phong. Chúng cất bước đi xa cũng chỉ để yên thân. Ở đấy, người ta không biết chúng là ai thì mới có cơ may ngóc đầu lên được. Vì thế, dù thương cha thương mẹ, chúng vẫn không thể trở về sống trên quê hương. Chính cha mẹ chúng cũng bị gia đình, dòng họ hắt hủi, phải trốn tránh mọi người và dạt về khu trại phong Qui Hòa này. Từ đó, cha mẹ chúng là những kẻ không dòng dõi gốc tích. Chúng ghét cái gốc tích của mình lắm! Thế là bà cụ Anna phải sống cô quạnh một mình trong những năm còn lại của cuộc đời. Bà sống cô quạnh và chết trong cô quạnh. Chỉ có các dì Phan Sinh là người đồng hành với bà mỗi ngày cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay.

2.
Dì Liên cứ nhớ mãi cái hôn của bà Anna trước lúc ra đi. Bà thì thào trong hơi thở cuối đời.
- Con cảm ơn dì Liên nhiều lắm…! Ước gì con có được những đứa con như dì!... Cảm ơn Chúa đã đưa dì đến với con. Xin dì cho con được ôm dì lần cuối…!
Mắt dì Liên đỏ hoe, nước mắt trào ra chảy dài trên hai gò má cao gầy. Dì cứ để cho nó chảy tự nhiên. Dì không kiềm được cảm xúc của mình. Thương bà cụ quá chừng quá sức! Dì đưa hai tay nắm lấy hai cùi tay của bà, đưa lên hôn rồi vòng tay ôm lấy bà hồi lâu. Dì thổn thức:
- Con cảm ơn cụ đã thương con, đã dành cho con nhiều tình cảm. Bà lại coi con như con gái. Thú thật, con chẳng được như bà nghĩ đâu… Khi bà về cùng Chúa, xin bà nhớ đến con!
Hai bà cháu ôm nhau khóc. Được ít phút, nước mắt bà cạn dần, tóc dựng lên, da lạnh dần. Bà cố nhồi người lên hôn vào má dì Liên rồi yếu dần và lịm đi. Bà đã về cùng Chúa trong vòng tay yêu thương của dì. Làm sao dì không nhớ, không xót xa trong lòng.
Dì Liên nhớ lại ngày trước, khi mới tập tò bước vào nhà thỉnh sinh của dòng, dì còn trẻ lắm, mới mười chín đôi mươi. Dì ước mong mình sẽ noi gương thầy chí thánh Giêsu và cha thánh Phan Sinh để lo cho những người nghèo khổ, bé mọn. Hết thời thỉnh sinh, bước lên nhà tập, dì lại càng lý tưởng con đường Phan Sinh hơn. Con đường ấy không gì khác là sống nghèo khó như những người nghèo của Chúa, sống với những người khổ cực, bệnh tật. Ngày đêm dì suy niệm cuộc khổ nạn của Chúa và thấm thía nỗi đau của những người bị đời ghẻ lạnh, hắt hủi. Dì tâm niệm, hành trình của Chúa là hành trình của con. Dù con yếu hèn nhưng con xin làm theo thánh ý Chúa. Thế rồi, mấy năm tập sinh cũng hết. Ngày bước lên cung thánh, quỳ trước Đức Giám mục và Mẹ Bề trên giám tỉnh để thề hứa là ngày vui khôn tả trong đời dì. Dì mừng đến khóc thành tiếng, không đọc nổi lời khấn. Kiềm nén cảm xúc mấy lần dì mới đọc xong. Dì hân hoan trong Chúa đến hết những ngày nghỉ phép.
Cuộc đời của dì Liên bắt đầu hành trình mới. Dì được bề trên sai về giúp cho trại phong Qui Hòa, ở giáo phận Qui Nhơn. Nghe đến trại phong, trong lòng dì rờn rợn một nỗi sợ. Dì mường tượng những bệnh nhân phong đầy ghẻ chốc, hôi hám, bị người đời hắt hủi. Dì phải chăm sóc những người này sao? Mặc dù, dì đã được học y tá, chuyên chăm sóc những bệnh nhân hiểm nghèo nhưng chưa bao giờ dì chăm sóc cho bệnh nhân phong. Dì lo lắng bối rối trong lòng. Tuy nhiên, vâng lời bề trên, dì đến với trại phong vào một ngày gió nồm thổi rất mạnh.
Dì Liên nhớ những ngày đầu bước vào chăm sóc cho những người cùi, dì muốn ói vì mùi hôi tanh tỏa ra từ các vết thương. Tay chân, mặt mày họ biến dạng, đầy mủ và nước. Mủ càng chảy, mùi càng hôi thối. Nhìn từng mắt tay mắt chân rơi rụng, từng miếng thịt bị rớt ra, dì rùng mình ớn lạnh. Bệnh gì mà ác nhân thế! Trưa hôm ấy, dì bỏ cơm, vì đi đâu dì cũng nghe mùi hôi thối và nhìn đâu dì cũng thấy ghẻ chốc. Dì thẫn thờ và hụt hẫng. Dì phải quỳ trước Thánh Thể Chúa hàng giờ để xin thêm sức mạnh.
- Lạy Chúa! Nếu Chúa không giúp con, chắc chắn con phải ra về thôi! Sức con làm sao chịu đựng nổi những cám dỗ ghê tởm trước đau khổ của những người bệnh.
- Này con, chẳng phải con đã muốn bước theo chân Cha sao? Con đã từng háo hức chờ đợi phút giây này sao? Con hãy nhìn họ và con sẽ thấy Cha. Cha chính là họ đấy! Cha đã từng đưa tay ra chạm vào biết bao nhiêu người bị đời coi là ô uế. Họ là những người cùi và cha đã bị cùi như họ. Cha sẽ vui sướng biết chừng nào khi con chạm đến Cha!… Nếu con ước muốn chạm đến Cha mỗi ngày trong bí tích Thánh Thể thì con cũng phải biết chạm đến Cha trong những người cùi này. Nào, con của Cha! Mạnh mẽ lên con. Cha ở cùng con...
- Dạ, thưa Cha! Xin Cha ở cùng con…!
Dì Liên giật mình kinh ngạc. Dì đang quỳ trước Thánh Thể Chúa. Ai đã nói với dì. Là Chúa Giêsu. Là Chúa… Không ai khác! Con đã hiểu rồi, xin Chúa giúp sức cho con…
Dì Liên thao thức suốt đêm ấy. Nhắm mắt là dì liền thấy Chúa Giêsu đứng bên cạnh những người cùi. Nước mắt dì trào ra vì hối lỗi và vì tình thương Chúa đã dành cho dì.

3.
Những ngày sau đó, lòng dì vẫn còn ghê tởm khi tiếp xúc với bệnh nhân phong. Tuy nhiên, dì điềm đạm hơn, mạnh dạn hơn, không còn nghe thấy mùi thối nơi cánh mũi của mình. Dì mừng thầm trong lòng. Dì không còn ghê rợn khi chăm sóc cho những vết thương đầy máu và mủ. Dì nhìn thấy nơi những vết thương đỏ hỏn kia chính là vết thương của Chúa Giêsu trên thập giá. Cho nên, mỗi tiếng rên la của họ là mỗi tiếng đau xé lòng dì. Chính bà cụ Anna cũng từng được dì chăm sóc cho đến lúc bà ra đi. Dì thương bà cụ lắm. Dì thương vì bệnh phong một thì thương vì hoàn cảnh cô quạnh của bà mười. Dì muốn bù đắp sự trống trải trong lòng bà. Cho nên, khi bà mất, lòng dì cũng trống đi một chỗ. Dì lần hạt cầu nguyện cho bà nhiều cũng vì thế.
- Chị Liên, hôm nay chị có đi dạy giáo lý không?
- Ừ, có. Mà em hỏi làm chi vậy?
- Đến giờ rồi! Em thấy chị cứ đứng ngẩn ngơ nên em nhắc.
- À phải! Bảy giờ rồi nhỉ! Chị cảm ơn em nghen. Chúc em một ngày bình an.
- Dạ, không có chi! Chị đi thong thả.
Dì Liên bước vào phòng, lấy chiếc cặp rồi bước xuống cầu thang, đi thẳng đến nhà thờ. Khi đi đến cổng nhà thờ, có nhóm người hỏi thăm.
- Chào chị! Xin cho hỏi, khu điều trị bệnh nhân phong ở chỗ nào?
- Chào anh! Anh đến đây làm chi?
- Dạ, đoàn của em nghe biết trong Qui Hòa này có trại phong nên đến đây thăm và muốn biếu ít quà cho bệnh nhân.
- À, thế hả! Cảm ơn anh. Anh đi thẳng đến ngôi nhà màu trắng kia, xin người ta dẫn vào thăm các bệnh nhân phong thì họ sẽ dẫn đi.
- Cảm ơn chị. Chúc chị ngày mới bình an...
Theo hướng chỉ của dì Liên, cả nhóm từ thiện đi vào bệnh viện. Họ được một nhân viên bệnh viện dẫn đi thăm những bệnh nhân phong đang được điều trị ở các dãy phòng. Họ nhìn thấy nhiều người cụt chân cụt tay, mặt mày biến dạng nhưng sạch sẽ gọn gàng. Tuy nhiên, họ chỉ nhìn thấy những lớp vải trắng băng kín những vết thương. Cho nên, họ chẳng thấy gì ghê tởm. Họ thăm người này, hỏi người kia rồi trao quà cho từng người. Họ hớn hở chụp hình hết chỗ này đến chỗ khác, với hết người này đến người nọ. Chốc lát mọi người đã thấy hình của họ đầy trên facebook. Họ tự hào về một ngày làm từ thiện đầy tiếng cười và niềm vui. Họ lướt hết trang này đến trang khác để khoe thành quả của mình. Xong việc, họ ra về trong vui vẻ mà đâu biết những đau đớn của các bệnh nhân mỗi khi đêm đến. Họ cũng đâu biết ai là người chăm sóc những vết lở loét đầy mủ và hôi thối của mỗi bệnh nhân. Họ chỉ biết thăm nom, tặng quà, chụp hình. Thế là xong! Cũng may là họ còn biết đến thăm những người đau khổ hơn họ. Bởi còn biết bao người dửng dưng, chẳng biết bệnh phong là gì, chẳng biết có những người đau khổ đang mang trên mình bệnh phong. Họ chỉ biết cùi hủi là đồ ghê tởm.
Dì Liên đi dạy giáo lý về, có người hỏi.
- Chị ơi! Cho em hỏi thăm mộ của nhà thơ Hàn Mạc Tử ở đâu?
- Chị cứ đi theo con đường này! Rẽ trái, đi ra tới biển, rồi rẽ trái đi theo con đường dọc bãi biển là tới mộ nhà thơ.
- Dạ, cảm ơn chị! Chào chị em đi…
Đi một đoạn lại có người hỏi.
- Chào chị! Chị cho hỏi, đây có phải là trại phong Qui Hòa không ạ?
- Chào chị! Dạ phải. Chị hỏi chi vậy?
- Em ở Sài Gòn ra. Nghe nói ở đây có bãi biển đẹp nên em ghé thăm chơi. Mà chị công tác ở trại phong này ạ?
- Dạ, đúng rồi! Đây là trại phong Qui Hòa. Chị cứ đi theo con đường này là ra tới biển. Biển chiều nay đẹp lắm!
- Cảm ơn chị, em đi đây...

4.
Dì Liên bước vào nhà, đi lên phòng rồi đứng trên hành lang nhìn ra bãi biển. Hàng phi lao vẫn cứ đu đưa theo chiều gió. Tiếng vi vu cứ rít lên từng hồi mỗi khi gió mạnh. Dì nhìn thấy từng đoàn người cứ ùn ùn kéo đến bãi biển. Người đi tắm, kẻ đi chơi. Họ lang thang khắp vườn dương, đi dọc theo bãi biển, ngắm nhìn các tượng đài Đức Mẹ, Chúa Giêsu, các thầy thuốc, các bệnh nhân… Họ trầm trồ khen ngợi. Đẹp, đẹp thật! Họ đâu để ý ngoài bãi biển đẹp, nơi đây còn có những người đau khổ vì bệnh phong, còn có những con người âm thầm phục vụ những người ấy. Họ đến nơi đây chỉ để vui chơi giải trí, chỉ để lướt qua đây như làn gió thoảng. Họ đến rồi đi như dã tràng xây tổ trên bãi biển. Họ ngụp lặn trong làn nước mát của biển mà chẳng biết ngoài khơi kia có những người cụt tay cụt chân vẫn phải mưu sinh hàng ngày. Mà họ đâu cần quan tâm. Đã có người làm giúp họ công việc ấy rồi. Đó là các dì Phan Sinh một đời lặng lẽ với các bệnh nhân.
Chiều nay, gió nồm thổi mỗi lúc một mạnh. Thủy triều mỗi lúc một dâng cao. Lẫn trong tiếng vi vu là tiếng kinh chiều của các dì. Trời mỗi lúc mỗi tối. Bãi biển càng lúc càng vắng người. Nơi đây, trại phong Qui Hòa, chỉ còn lại các dì âm thầm cầu nguyện cho những người đau khổ của Chúa.

(Mã số 18 - 020)

Sách Thủ Lãnh kể về việc ông Giptac đã khấn với Thiên Chúa: nếu ông chiến thắng quân thù, thì ông sẽ thượng tiến cho Thiên Chúa người đầu tiên ra khỏi nhà ông để đón ông. Sau khi ông chiến thắng trở về nhà, cô con gái duy nhất của ông ra đón. Vừa thấy con, ông liền xé áo ra và nói với con về lời khấn. Cô xin cha hoãn lại hai tháng để cô khóc thương cho đời con gái của cô cùng với bạn bè trên các núi đồi (x. Tl 11, 29-40).
 
1.
Đến Ba Đồn, xe đò bắt đầu rẽ vào con đường thân thuộc gắn liền với vô vàn kỉ niệm thời học sinh cấp ba của Linh. Trên xe, Linh bồi hồi xúc động nhìn qua cửa.
Hai mươi tuổi, vừa học xong Trung cấp y dược, và sau hai năm ở Thanh Tuyển Viện của Dòng Mến Thánh Giá, Linh được chọn vào lớp tiền tập. Tuy nhiên, trong thời gian qua, Linh cảm thấy sự năng động hoạt bát, những khả năng và tự do của mình bị hạn chế nhiều khi sống trong nhà dòng, không thể sống đúng con người đầy nhiệt huyết của mình, không được tự do thoải mái, và tuổi thanh xuân của đời con gái sẽ khép lại sau cánh cổng tu viện. Linh muốn trải nghiệm cuộc sống bên ngoài để xác quyết hơn về ơn gọi trước khi bước vào tiền tập, nên tối qua, Linh trình bày quyết định ấy với sơ phụ trách, rồi trở về phòng thu dọn hết sách vở, đồ đạc.
Vừa ra khỏi cổng nhà dòng sáng nay, Linh không cảm thấy vui như những lần trước, nhưng bước chân trở nên nặng nề bởi nỗi lắng lo mơ hồ xen lẫn ngậm ngùi luyến tiếc. “Mình sẽ trở lại đây trong một thời gian không xa, nhất định như vậy!”. Ý tưởng này làm Linh cảm thấy vẫn còn hy vọng.

(Mã số 18-018)

Chào mọi người, tôi là Trăng. Đã lâu lắm rồi tôi chưa tổ chức một chuyến đi cho riêng mình, tôi rất ít giao lưu với thế giới bên ngoài và cứ dành hết thời gian để học. Vào kì nghỉ hè tháng bảy, tôi đã quyết định tự đi và chuẩn bị một số đồ dùng cần thiết.
Thế là mọi thứ cũng xong, tôi bắt đầu đi ra đường, đi qua những đoạn đường quen thuộc mà không biết hôm nay sẽ có điều gì xảy ra. Tôi khởi hành rất sớm và chào ba mẹ, ba mẹ tôi luôn ủng hộ mọi điều tôi làm, ít có cha mẹ nào như thế.
Đi đến một ngã tư, vì không cẩn thận nên tôi đã xém té bởi một hòn đá to dưới chân, đúng thật là thú vị! Sau đó tôi đi thẳng, băng qua đường và bất chợt, tôi nhìn thấy một bà lão ăn xin, với một đống ve chai bùi nhùi bên cạnh là một đống rác. Bà để tóc chẻ ngôi với búi tóc đằng sau, đầu lổm nhổm là những cọng tóc lù xù đen bạc và chẻ ngọn… Bà mặc một bộ đồ màu xám cũ kĩ và có vài mảnh vá. Trông bà thật đáng thương!

(Mã số 18-017)

1.
Năm giờ sáng, chuông nhà thờ Gò Thị đổ vang. Hồng đã dậy từ sớm, lo lắng đủ thứ chuyện lặt vặt trong nhà, rồi chuẩn bị bữa sáng. Nàng vừa làm xong cũng đúng lúc chuông đổ lần hai. Nàng vào phòng gọi Hiền và các con dậy ăn sáng.
- Anh ơi! Dậy ăn sáng rồi chở con đi lễ.
- Ừ, anh dậy ngay đây... Dậy thôi các con!
- Ngủ thêm chút nữa đi ba! Con mệt quá à!

(Mã số 18-016)

1.
Trời càng gần sáng càng lạnh. Thế mà cả người Hiền ướt đẫm mồ hôi, miệng không ngớt kêu cứu. Hiền đang bị người ta khiêng tới nhà thờ để chữa bệnh. Lạ chưa! Chữa bệnh thì phải đến bệnh viện chứ! Nhưng không, bệnh của Hiền quá đặc biệt. Chỉ có Chúa mới chữa được thôi. Đang khi bị khiêng đi, Hiền lại bị mọi người nhào vô đánh đấm túi bụi. Hiền sợ hãi quá, nhảy phốc xuống khỏi cáng, vừa chạy vừa kêu cứu.
- Cứu tôi với!... Đừng giết tôi!...

(Mã số 18-015)

1.
Đã hơn một năm kể từ ngày đám cưới của Trân và Ngọc. Ba má Trân vẫn không ngớt buồn sầu lo lắng. Ông bà buồn không chỉ bởi lời ra tiếng vào của bà con lối xóm về chuyện Trân “sinh con thiếu tháng” mà còn bởi chuyện của đứa cháu không được rửa tội. Dẫu rằng, hai mẹ con Trân đang ở nhà ông bà.
Trân sinh đứa con đầu lòng nên ông bà mừng lắm, chăm chút cho hai mẹ con từng li từng tí. Nhớ ngày Trân sinh con ở bệnh viện, ông cứ đi qua đi lại trong phòng chờ, miệng cầu nguyện lâm râm, tay lần hạt không ngớt. Bà cũng thế. Ngọc và ba má nó thì làm một lễ lớn cầu khấn ở nhà cho mẹ con Trân được “mẹ tròn con vuông”. Ai cũng lo lắng cho mẹ con Trân hết. Nỗi lo ấy chỉ dần tan biến khi nghe tiếng khóc của đứa nhỏ. Một thằng cu tí khôi ngô trắng trẻo, đẹp như thiên thần. Nghe tiếng con khóc, Ngọc cảm đội ơn trời liên hồi, lòng thầm hứa sẽ đối xử tốt với hai mẹ con. Trân cũng vui mừng không kém. Dầu cơn đau vẫn còn nhưng nó hạnh phúc đến rơi nước mắt. Nó đưa tay ôm đứa con bé nhỏ vào lòng. Yêu ơi là yêu luôn! Nó nhắm mắt cảm ơn Chúa và Đức Mẹ Maria đã gìn giữ hai mẹ con nó đến giờ này. Trong thâm tâm nó quyết định đặt tên con là Thiên Ân. Niềm vui, niềm hạnh phúc ấy kéo dài được hơn tháng thì dường như tắt dần. Thay vào đó là sự gay gắt giữa Trân và Ngọc, sự giành giật của gia đình hai bên. Bên này muốn rửa tội, còn bên kia lại không.
Hôm đó, sau ngày bên nội sang nhà bên ngoại cúng đầy tháng thì Trân đề nghị với Ngọc.
- Anh, đã hơn tháng rồi, chúng mình nên đưa con đến nhà thờ để cha rửa tội.
- Rửa gì em? Nó nhỏ, tội tình gì mà rửa!
- Anh này nói gàn thế mà cũng nói được! Con trẻ không có tội gì nhưng nó còn mắc tội tổ tông. Nó phải được rửa tội để cho Chúa gìn giữ nó chứ!
- Thế chẳng lẽ Chúa ích kỷ đến mức không gìn giữ con của chúng ta vì nó chưa được rửa tội sao?
- Ừ! Chúa của em lạ vậy đó!... Nếu biết trước, thà ở một mình nuôi con còn hơn. Với lại, anh và ba má anh đã hứa cho em rửa tội con rồi mà. Anh muốn nuốt lời sao? Người lớn gì mà nói một đàng làm một nẻo. Thôi, em chẳng cần gì nữa. Để em nuôi con một mình được rồi. Người ta biết cái bụng anh quá rồi!... - Nói xong, Trân khóc không cầm được nước mắt.

(Mã số 18-013)
1.
Chiều nay, trời Nha Trang tự nhiên mưa nhẹ nhàng, không có gió cũng chẳng có sấm chớp. Tiếng mưa cứ rỉ rả không ngớt ngoài sân. Ở trong phòng, Hồng ngồi trên giường nhìn ra cửa sổ. Căn phòng tối om. Hồng cũng chẳng bật đèn. Bóng tối bao trùm lấy dáng người nhỏ bé đang co lại. Hồng nghiêng người tựa đầu vào vách, mái tóc đen xõa xuống bờ vai. Hai tay nâng tràng chuỗi Mân côi, Hồng lần về những ký ức trong nước mắt. Mỗi hạt là một nỗi lòng ùa về. Hồng nghĩ về cha mẹ già đang ở quê, nghĩ đến những chị em trong dòng, nghĩ đến những người dân trong giáo xứ và nghĩ đến những đôi mắt ngây thơ của các bé nhà trẻ.
Chắc hẳn giờ này, cha mẹ già đang buồn vì Hồng nhiều lắm. Hôm gọi điện về nhà báo tin ra khỏi dòng, Hồng đã làm cho mẹ ngất xỉu, còn cha lặng yên chẳng nói tiếng nào. Ở đầu dây bên kia, Hồng chỉ nghe được tiếng khóc của con út và tiếng mưa rơi lộp bộp. Tim Hồng như rớt ra ngoài. Hồng không thể hình dung hết cú sốc mà mình đã gây ra cho mẹ cũng như cả gia đình. Hồng chỉ biết chắc chắn rằng điều ấy sẽ xảy ra. Cho nên, lòng Hồng không khỏi đắng cay chua xót. Hồng biết cha độ lượng hay chiều theo quyết định của con gái; còn mẹ luôn ước ao, hy vọng rất nhiều vào ngày con gái khấn trọn. Thế mà nay, mọi sự sụp đổ hết. Mẹ Hồng không ngã gục mới là chuyện lạ. Hồng đặt ống nghe xuống, tâm hồn như lạc ở cõi nào vô định, tiếng khóc nấc lên tự sâu thẳm trong cõi lòng nát tan.
Thấy Hồng quyết định trong đau đớn, chị em trong dòng cũng rụng rời. Cái phần chi thể đang yên đang lành bị cắt khỏi thân thể sao lại không đau. Ngày Hồng thông báo quyết định ra đi, ai cũng ngỡ ngàng. Cái con bé sao lại bỏ chúng mình ra đi nhỉ? Nó có bồ hay sao? Không đâu! Nó ghét chúng mình ư? Có thể lắm chứ! Nhưng vì chuyện gì mới được chứ? Chẳng ai biết. Với lại, nó dễ thương thế, ai nỡ ghét nó. Chắc nó cũng chẳng ghét ai. Hay nó… hay nó… Bao nhiêu câu hỏi chị em tự đặt ra cho mình để suy xét xem mình có lỗi gì trong chuyện này chăng. Hồng biết lòng mọi người đang bối rối. Cho nên hôm ra đi, Hồng đã cho mọi người biết chẳng ai có lỗi trong chuyện của Hồng. Đây là quyết định riêng của Hồng thôi! Hồng ra đi không có nghĩa là nghỉ tu, là vĩnh biệt mọi người để đi tìm tổ ấm cho riêng mình. Hồng ra đi, vì cần có một thời gian suy nghĩ chín chắn hơn ơn gọi của mình. Nếu mọi người tin tưởng Hồng xin đừng buồn, đừng khóc nhưng xin cầu nguyện cho Hồng. Hồng an ủi mọi người nhưng chính cô lại là người khóc trước. Hồng xin ôm mọi người lần cuối, từng người, từng người một. Cảm xúc chia ly bắt đầu trào lên mạnh mẽ trong lòng mọi người. Hết người này đến người khác ôm Hồng bằng đôi tay siết chặt và đôi mắt đỏ hoe hờn dỗi.

(Mã số 18-011)
1.
Ngày ấy, sau biến cố 1954, dòng họ của ông Bảy Nhỏ quyết định vào Nam sinh sống. Ông nội của ông quyết định đổi hết gia tài lấy con tàu gỗ cũ. Sau khi sắp xếp ổn thỏa, cả nhà ông lên tàu xuôi vào Nam theo tiếng gọi của lương tâm, thà bỏ quê hương xứ sở chứ không chịu bỏ đạo. Quyết định của ông nội đã làm thay đổi vận mệnh của cả dòng họ nhà ông.
Theo dòng người xuôi vào Nam, gia đình ông Bảy căng buồm ra đi không biết ngày nào trở lại, cũng không biết mình sẽ đỗ ở bến nào. Suốt mấy tuần liền lênh đênh trên biển, thuyền của gia đình ông đã đến vùng đất Gò Thị. Đây chẳng phải là đích đến đã dự tính trước của gia đình ông. Theo ý của ông nội, cả nhà ông phải chạy đến tận miền Nam, vì nghe nói trong đó làm ăn dễ dàng. Tuy nhiên, nhờ một trận cuồng phong của biển mà cả nhà ông đã bén duyên với vùng đất này. Thật người tính không bằng trời tính! Chiếc tàu gỗ đã ghé vào đầm Thị Nại trú ẩn, rồi men theo bờ, đi dần vào vùng đất Gò Thị. Khi ấy, Gò Thị là một vùng đất ven đầm, cây cối um tùm, đất đai trù phú, lắm cá nhiều tôm, rất thích hợp để sinh sống. Nhìn chung quanh, dân cư ở đây vẫn còn thưa thớt. Người dân sống đơn sơ chân thành nhưng không có vẻ gì là nghèo khổ cả. Họ dựng ở ngay giữa làng một ngôi nhà thờ vững vàng khá rộng. Sớm sớm chiều chiều, họ qui tụ với nhau trong ngôi nhà thờ để đọc kinh xem lễ sốt sắng. Đối với họ, mỗi khi nghe tiếng chuông nhà thờ là mỗi khoảnh khắc họ tạ ơn Chúa với lời kinh Truyền Tin. Cả ngày, không có sinh hoạt nào qui tụ đông đủ và vui vẻ bằng việc đến nhà thờ. Cho nên, gia đình ông Bảy định cư lại đây thật là phù hợp với ước muốn an cư lạc nghiệp và lòng đạo đức thiêng liêng đã có truyền thống lâu đời trong gia đình.
Cứ thế, gia đình ông đã sống trên vùng đất Gò Thị này hơn 60 năm. Trải qua nhiều đời, đến đời của ông Bảy và con cháu, mọi thứ đều thay đổi. Tuy không bằng những khu phố hào hoa nhưng Gò Thị cũng đầy đủ tiện nghi sinh hoạt vui chơi. Đủ thứ dịch vụ đã mọc lên trên mảnh đất đầy cây cối, lau sậy này. Trước nhà ông Bảy nhỏ, cái khu đất trũng ấy cũng được qui hoạch xây dựng đủ thứ dịch vụ. Nào là cà phê, bi da, karaokê… và nhiều thứ khác nữa. Tuy nhiên, cách chỗ đó không xa lại có một khu đất rộng hơn, cũng đầy đủ tiện nghi để dành cho người chết.
2.
Một hôm, sau những chén rượu ở nhà ông Thịnh về, Bảy Nhỏ nằm ngủ lăn quay trên chiếc chõng tre ngoài hè. Ông không biết rằng không khí buổi chiều hôm nay thật mát mẻ. Bởi hồi xế chiều, trời có đổ ít mưa, không khí không còn oi nóng như mấy ngày trước. Với lại, trời đã chặp tối, cái không khí lành lạnh nhè nhẹ làm người ta sướng hết chỗ nói. Thế mà toàn thân ông lại toát đầy mồ hôi, tóc dựng đứng lên từng đợt. Cái miệng tu hít liên hồi theo nhịp thở. Ông ngủ mê mệt đến nỗi chẳng biết trời trăng mây gió gì hết. Trong giấc ngủ, ông cũng chẳng biết gì ngoài một giấc mơ kinh hoàng.
Đang ngủ, Bảy Nhỏ thấy mình đứng dậy đi theo tiếng gọi từ xa xa. Ông bước đi chậm rãi, ra khỏi vườn xoài, rẽ qua khu phố ăn chơi. Tại đây, ông nhìn thấy biết bao nhiêu trai gái đang vui chơi nhảy múa. Đứa đầu xanh đầu đỏ, đứa xăm trổ đầy mình, đứa xỏ tai xỏ mũi… Tất cả đều răm rắp theo lệnh của bà Tám Béo. Bà chỉ bên trái, quát bên phải, chẳng đứa nào dám hó hé. Thế nhưng ông vẫn cứ đi, dù cho bà Tám có gào thét, chửi rủa đủ thứ.
Bảy Nhỏ vẫn cứ đi, qua hết phố ăn chơi đến thành phố chết. Bỗng nhiên, giữa thành phố ấy hiện ra một ngôi mộ đen rất lớn. Nó lẫn trong đám mây đen đầy âm khí. Trên ngôi mộ ấy lại hiện ra một con người lạ lẫm, ghê rợn. Nó vận đồ đen, có bảy đầu đầy lửa cháy rừng rực. Bảy cái đầu đều là đầu chó. Cái đầu thứ nhất trông có vẻ kênh kiệu lắm. Nó luôn khạc ra lửa. Cái thứ hai trông có vẻ gầy gò, khắc khổ và cay nghiệt. Cái đầu thứ ba trông múp máp, đẹp đẽ, lém lỉnh, mắt liếc ngang liếc dọc. Cái thứ tư luôn cúi mặt, trông có vẻ căm hờn lắm. Cái thứ năm, miệng luôn nhai nhốp nhép một thứ gì đó trong miệng, trông như muốn nuốt hết tất cả. Cái đầu thứ sáu có đôi mắt rực lửa, nó nhìn đăm đăm vào Bảy Nhỏ, miệng đay nghiến. Còn cái đầu cuối cùng ngủ gà ngủ gật, lâu lâu nó tỉnh giấc, ngáp dài rồi lại ngủ. Tất cả góp vào sự dữ dằn đáng sợ, đáng gớm ghiếc của nó. Ở giữa những cái đầu dữ dằn ấy, có một cái đầu nhỏ xíu, trắng toát. Đó là cái đầu của ông Thịnh. Một cái đầu lý lắc, nhưng nó điều khiển tất cả những cái đầu kia. Nó lòi ra hô hoán, ra lệnh tất cả tấn công Bảy Nhỏ.
- Tiến lên, giết nó, giết chết nó! Giết quách thằng Bảy Đồng mau mau…!
Bảy Nhỏ vẫn cứ đứng trân người ra quan sát cái hình thù gớm ghiếc kia là gì. Ông chỉ nghe chúng đòi giết thằng Bảy Đồng nào đó. Thằng Bảy Đồng có liên can gì đến mình. Mặc kệ cho chúng muốn giết sao thì giết. Ông vẫn cứ đứng cho đến khi chúng tiến đến gần và ra tay vồ lấy ông. Ông mới giật mình nhận ra chúng muốn giết mình. Bây giờ, ông thấy tên Bảy Đồng nghe quen lắm. Ông lục lại trí nhớ. Bảy Đồng, Bảy Đồng… À, tên của mình chứ còn ai nữa! Sao nó lại gọi mình bằng cái tên đã bị chôn giấu bấy lâu nay. Mình đã là Bảy Nhỏ rồi mà! Bảy Nhỏ, cái tên đúng với tính cách lông bông của ông. Trước kia, ông đâu phải là Bảy Nhỏ. Ông trở thành Bảy Nhỏ bởi ông cứ lông bông, lấy hết bà này sang bà nọ, để cuối cùng chỉ sống hiu quạnh một mình. Ông lại chẳng chịu chí thú làm ăn như ông nội và cha mẹ mà lại nhảy hết nghề này đến nghề khác, để cuối cùng phải đi mò tôm bắt ốc sống qua ngày. Ông còn vô trách nhiệm, chẳng biết chăm lo đạo hạnh, lễ nghĩa gì cả, chỉ biết chơi bời lêu lổng. Ông cũng chẳng biết lo cho gia đình vợ con, chỉ biết đùn đẩy công việc cho người khác. Bấy nhiêu sự ấy làm thành tên Bảy Nhỏ, chuyên “bỏ nhảy” mỗi khi có chuyện động đến mình… Ông cũng biết nhưng bấy lâu nay ông chẳng buồn để ý. Chẳng lẽ ông tồi tệ như thế sao? Cái hình thù gớm ghiếc kia, sao lại gọi tên thật của ông. Cái tên Đồng mang đầy ước muốn đỗ đạt thành tài của cha mẹ đặt nơi ông. Vì thế, ông đau đớn trong lòng muốn ngã quỵ nhưng cái con người kia cứ cố đuổi giết ông. Ông vắt chân lên cổ chạy, chạy hết sức mà vẫn cứ thấy nó chạy theo. Tiếng giết vẫn phóng về phía ông. Ông thở hồng hộc, toát hết cả mồ hôi. Trong vô thức, ông gào lên: “Chúa ơi! Cứu con!”… Ông giật mình tỉnh giấc trong sợ hãi tột độ, mồ hôi, nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt.
Trên chiếc chõng tre, ông vẫn còn nằm im như chết, tay chân bủn rủn, cả thân mình ướt đẫm. Ánh nắng sáng đã chói chang đầy người ông, chiếu vào mắt ông. Con vện nằm gần đó vẩy vẩy đuôi mừng chủ đã hết say. Nó liếm vào lòng bàn chân ông mấy cái nhồn nhột. Ông dần tỉnh. Dù mệt, ông cũng đủ nhớ hôm nay phải đi cảo hồ tôm cho nhà ông Báu Già. Ông này là chủ vựa tôm lớn nhất vùng Gò Dài và cả vùng núi Xương Cá nữa. Ông có nhiều tiền lắm. Ông hay lên khu phố ăn chơi của bà Tám Béo để xả hơi. Cái bụng béo của ông căng tròn như cái trống đình. Nhờ cái bụng ấy mà ông ăn nên làm ra và ăn chơi cũng dữ. Ăn chơi lắm nên chuyện ông già trước tuổi cũng là lẽ đương nhiên, dù ông ta chỉ mới  chừng bốn  mươi.
Bảy Nhỏ đứng dậy, xách cái giỏ đựng tôm, dắt con vện đi ra khỏi nhà. Ông đến thẳng hồ tôm của ông Báu Già. Khi đến nơi, người ta đã bắt được nửa buổi. Sau mấy lời chào qua loa, ông sà xuống như con rái cá tìm mồi. Hai tay ông đưa lia lịa kéo lưới bắt tôm cá rất điệu nghệ. Lòng ông bắt đầu vui trở lại. Ông vui và sống với nghề này ngay từ khi còn nhỏ. Dẫu không muốn biến nó thành kế sinh nhai lâu dài nhưng sự thật bây giờ ông chỉ biết gắn bó với nó. Cho nên, lâu dần nó trở thành niềm vui không thể thiếu trong ngày. Hôm nào không động đến tôm cá, lòng ông buồn rười rượi. Cho nên, giờ này ông thực sự được vui sống trong cuộc đời. Niềm vui này hơn cả những lần vui chơi tại khu phố sung sướng của Bà Tám. Cứ thế, ông say sưa ngụp lặn trong hồ tôm cho đến trưa, rồi đến chiều, cho đến bữa nhậu lai rai cuối ngày với ông Báu Già và nhóm người làm mướn.
3.
Sau khi lãnh tiền công và sau mấy lượt rượu đế, Bảy Nhỏ đi xiên xẹo về nhà rồi ngã lăn trên chiếc chõng ngoài hè ngủ say. Một lần nữa, ông lại thấy y hệt giấc mơ của ngày hôm qua. Lần này, bảy cái đầu chó dữ dằn hơn. Tuy nhiên, cái đầu chỉ huy lần này lại là cái đầu đen của ông Báu Già.  Cái đầu đen nhặn xị há hốc cái miệng rỗng tuếch chẳng còn cái răng nào nữa. Nó cứ thét ra lửa:
- Giết! Giết chết thằng già lựu đạn đó! Thằng Bảy Đồng vô tích sự, đen đúa, xấu xí. Nó chẳng đáng là con người nữa. Giết, giết…!
Nghe lệnh, bảy cái đầu chó rứt ra, lao thẳng đến chỗ Bảy Nhỏ. Nó muốn cắn, muốn xé xác ông ra làm trăm mảnh cho tan đời ông luôn. Thấy thế, ông bắt đầu chạy. Lần này, ông không chạy qua khu phố vui vẻ nữa, dù bà Tám Béo có kêu gào, mời gọi ông vào lánh nạn. Ông rẽ phải, chạy thẳng trên con đường dẫn đến Nhà Thờ. Con đường này từng là bạn của ông trong gần nửa cuộc đời. Thế mà hôm nay nó lạ lẫm và hoang vu đến thế. Điều này làm ông sợ hãi hơn, cắm đầu cắm cổ chạy miết. Nhưng lạ một diều, càng chạy đến gần Nhà Thờ, ông càng thấy mình khỏe hơn, hai chân nhẹ bẫng. Ông nhìn lên tháp Thánh Giá và chạy như bay. Ngược lại, những cái đầu chó càng lúc càng yếu sức. Nó muốn lồng lên chạy thật nhanh nhưng phí sức. Chúng càng chạy càng yếu. Chúng nhìn thấy ánh sáng chói lòa từ Nhà Thờ tỏa ra thì mất hết sức lực rồi dần biến mất. Bây giờ, ông được hai Thiên Thần nâng lên và đem đặt trước cửa tiền đường Nhà Thờ. Ông xúc động và bỡ ngỡ hết sức. Dẫu rằng vẫn khung cảnh ấy, vẫn ngôi Nhà Thờ và hàng ghế gỗ cũ đen bóng ấy, nhưng ông lại thấy ấm cúng và hạnh phúc không tả nổi. Ông từ từ đi vào Nhà Thờ.
Trước mặt, ông không còn thấy cảnh thê lương của đám tang vợ và các con ông nữa. Chuyện là năm ấy gia đình ông mắc dịch chết hết. Từ vợ đến những đứa con thân yêu đều lần lượt ra đi. Vỗn dĩ ông rất sùng đạo. Ông đã cầu nguyện tha thiết, thâu đêm suốt sáng cho gia đình tai qua nạn khỏi. Thế mà chẳng còn ai ở lại với ông. Cũng từ đó, đức tin của ông vào Thiên Chúa toàn năng dần dần vơi cạn. Ông bỏ ăn bỏ uống, bỏ tất cả mọi thứ. Cái thú để ông sống chỉ còn có rượu. Ông chìm trong rượu, chìm trong bóng tối, chẳng còn muốn biết mình là ai. Lúc trước, dẫu ông có lông bông một chút nhưng chưa bao giờ bỏ Chúa, còn bây giờ trong ông chẳng còn Chúa nào cả. Cái cảm giác chẳng còn Chúa, đối với ông thật là sảng khoái. Ông sẵn sàng bỏ quách Chúa để giữ lấy mạng sống và đày đọa trong chén rượu. Mỗi lần đi qua Nhà Thờ, ông vẫn luôn muốn nhìn lại khuôn mặt của Chúa Giêsu trên Thánh Giá nhưng ông chẳng dám. Ông sợ mình lại nhớ đến nỗi đau năm xưa. Ông lại nghĩ, Chúa sẽ chẳng tha cho ông vì ông đã bội bạc với Ngài. Ông chẳng hy vọng gì về việc Chúa sẽ tha thứ nên ông đã bít các lối về của mình… Thế mà hôm nay, Chúa lại đưa tay ra cứu lấy ông. Ông có xứng đáng không. Ông vừa vui mừng, vừa hạnh phúc, vừa xấu hổ. Ông tiến đến trước Thánh Thể Chúa và sụp lạy. Lòng ông thổn thức, khóc òa lên. Bỗng Chúa Giêsu hiện ra và nói.
- Này con, con đến đây làm gì! Những cái đầu chó không còn theo con nữa sao?
Bảy Nhỏ ngước mắt lên tha thiết.
- Ôi! Lạy Cha! Con sợ quá! Con không biết mấy cái đầu chó ấy từ đâu mà ra. Nó ghét con lắm. Nó cứ chạy theo con và muốn giết con. Xin Cha cứu lấy con!...
Chúa Giêsu âu yếm nhìn đứa con bé nhỏ.
- Con ơi, chẳng phải con yêu thích nó sao? Nó là của con mà! Nó không có giết con. Con đã từng kiêu ngạo, từng tằn tiện với Cha và anh em con, từng ăn chơi lăng loàn tại khu phố vui vẻ, từng giận dữ độc ác với vợ con và mọi người, từng ham ăn mê uống nhậu nhẹt, từng ganh ghét anh chị em con vì họ giàu hơn con và vì thế con ghét luôn cả Cha, không còn đếm xỉa gì đến Cha nữa. Đã bao nhiêu năm rồi, con đã không đến thăm Cha nhưng Cha vẫn luôn ở đây đợi con.
Nghe những lời ấy, lòng Bảy Nhỏ đau khổ tột cùng. Ông ôm chân Chúa Giêsu khóc hết nước mắt.
- Lạy Cha, xin Cha tha tội cho con, vì con tội lỗi quá nhiều!...
- Này con - Phaolô Nguyễn Thành Đồng - con hãy đứng lên mà về bình an. Vì con đã được tha tội rồi. Chính con đã mở đường cho Cha đến với con. Con xứng đáng được nhận sự tha thứ và yêu thương.
Bỗng dưng Bảy Nhỏ thấy người mình nhẹ nhõm, thân mình đầy ánh sáng. Ông được hai Thiên Thần cất lên, cao dần cao dần và biến mất. Trong không trung, chỉ còn nghe tiếng cười vui rộn rã của trẻ con lẫn vào tiếng khóc hạnh phúc của người phụ nữ bên cạnh ông.
4.
Bảy Nhỏ cười vang trong giấc ngủ và giật mình thức dậy khi nghe tiếng gà gáy canh ba. Ông mở mắt và chăm chú nghe tiếng gà gáy đến mấy lượt. Ôi, sao trong sáng và hay đến thế! Ông còn đang miên man cảm nếm hạnh phúc đã bấy lâu ông bỏ quên thì tiếng chuông nhà thờ đổ vang. Ông giật mình, nghe nhoi nhói trong lòng một cảm giác đau đớn nhưng sao vô cùng dễ chịu. Đã bao nhiêu lần tiếng chuông nhà thờ đổ mỗi sớm mỗi chiều mà nay ông mới nghe. Tiếng chuông cảnh thức ấy giúp ông ôn lại bao nhiêu chuyện đã xảy ra trong quá khứ. Ông đã trách Chúa oan uổng sau cái chết của vợ con ông. Bởi trước sự mất mát, ông chỉ thấy đau khổ của ông mà chẳng thấy đau khổ của người khác. Năm đó, cả làng bị dịch, nhà nào cũng có người chết chứ đâu có riêng nhà ông. Ông lại chẳng thấy những ơn lành Chúa đã ban cho gia đình ông kể từ khi lập nghiệp tại vùng đất này. Ông đã để cho đau khổ choán hết chỗ của Chúa trong cõi lòng mình. Thế là tiếng chuông nhà thờ đã không còn vang lên trong lòng ông nữa mãi cho đến nay.
- Tiếng chuông hôm nay sao giòn giã và vui thế nhỉ? Tiếng chuông lòng ta sao!
Bỗng dưng, Bảy Nhỏ sực nhớ hôm nay là Chúa Nhật. Ừ phải! Tiếng chuông hôm nay to và giòn giã hơn ngày thường nhiều. Tiếng chuông Chúa gọi con cái của mình đi thờ phượng và cầu mong hạnh phúc. Tiếng chuông thức tỉnh bao tâm hồn đen tối ngu muội. Tiếng chuông xóa tan bóng đêm của ma quỷ, thế gian và xác thịt.
- Thật âm vang và ấm lòng con quá, Chúa ơi!
Chúa Nhật, Chúa Nhật phải đi lễ, phải nghỉ việc xác. Ông đã quên điều này từ bao nhiêu năm qua. Nay lòng ông lại xôn xao như những ngày đầu được rước Chúa vào lòng. Ông đứng dậy, muốn đi đến nhà thờ để nối lại các mối quan hệ đã bỏ quên từ lâu. Ông muốn đi lễ, muốn được xưng tội rước lễ như mọi người. Ông phải tự đi, không cần ai khuyên nhủ dẫn dắt. Ông đã đủ thấm cái khổ nhục khi bỏ Chúa. Ông đưa tay với lấy cái khăn, bước ra lu nước sau nhà, rửa mặt và tắm gội. Ông vận quần áo đẹp nhất. Ông thấy mình đĩnh đạc, đẹp đẽ như thời trai trẻ. Ông hét lên.
- Bảy Đồng! Phaolô Nguyễn Thành Đồng! Nào đứng lên đi gặp Chúa! Nào chúng ta cùng đi lễ!...
Ông hớn hở bước ra đường, vui mừng đi đến nhà thờ.
Đường càng lúc càng đầy người và trời càng lúc càng sáng dần.



































Được tạo bởi Blogger.