https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg

 

LỄ AN TÁNG THẦY GIUSE TRẦN QUANG ĐẠO

Lc 12,35-40 (sách Bài đọc Ngoại Lịch tr.122)

 


Từ khi thông tin về thầy Giuse Trần Quang Đạo được Chúa gọi về một cách đột ngột, một số người gọi điện thoại hỏi tôi như để biết rõ hơn về cái chết của thầy. Biết thầy bị đột quỵ trong lúc đang ngồi học bài cùng anh em trong lớp, có người thốt lên: sợ thật! Tôi trích lại lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng Luca 13,5: “Nếu các người không sám hối, các ngươi cũng chết như vậy”. Có thầy gọi điện cho tôi với giọng trầm buồn nói nghe tin này thấy bất ngờ quá! Tôi nói với thầy: “Chúa đến vào lúc chúng ta không ngờ, vào giờ ta không biết”. Có thầy thì buồn bã nói: “Chúng con không biết làm gì bây giờ”. Tôi trả lời: Hãy thêm lời cầu nguyện cho thầy, người anh em hạnh phúc được Chúa gọi về với Ngài. Người khác thì gặng hỏi tôi về tiền sử sức khỏe của thầy trước đây khi còn học ở Tiền Chủng viện thế nào. Tôi trả lời: tôi chỉ biết thầy đi khám sức khỏe, bác sĩ kết luận: có đủ sức khỏe để tu học. Người đó lại hỏi thêm: tại sao Chúa lại gọi thầy lúc này? Tôi trả lời: vì đó là điều Chúa muốn. Người anh em quá cố của chúng ta đây được Chúa gọi ra đi gây bất ngờ cho mọi người. Nhưng đó lại là thánh ý Chúa. Chúa muốn điều mà con người không thể chống lại được. Điều quan trọng là người được Chúa gọi ra đi đã chuẩn bị như thế nào trước khi được Chúa gọi mãi mãi về với Ngài.


Cha cố Pio Ngô Phúc Hậu khi đang trong bàn ăn với chúng tôi, nghe kể lại sự việc thầy Giuse Trần Quang Đạo bị đột quỵ đang lúc ngồi học bài ở Đại Chủng viện Hà Nội và qua đời ở tuổi 28. Ngài liền nói ngay: “sao mà sướng vậy!”. Mọi người xung quanh đều cười vẻ ngạc nhiên. Thoáng nghe như thế, ta dễ lầm tưởng rằng một sự ra đi nhanh chóng mà không phải trải qua thời gian đau bệnh, không phiền hà đến bất cứ người nào chăm sóc, không tốn kém tiền của chạy thầy chạy thuốc…và cho rằng, chết nhanh chóng như thế là một cái chết sướng. Cái chết sướng mà cha Piô muốn nói, đó là thầy Giuse đã chết ngay trong khi đang làm công việc bổn phận hằng ngày, được hiểu là chết trong ân nghĩa của Thiên Chúa. Một cái chết tốt lành. Một cái chết thật đẹp. Rồi ngài nói tiếp: cuộc đời một linh mục ai cũng mong được chết đẹp như thế. Cái chết đẹp nhất là chết dưới chân bàn thờ, nhất là chết ngay sau câu kết lễ: Lễ xong chúc anh chị em đi bình an.

Đúng vậy, cuộc đời một thầy chủng sinh không bao giờ đẹp bằng thời gian học trong Đại chủng viện. Thực tế rất hiếm khi có thầy Chủng sinh nào lại được Chúa gọi về với Ngài ngay khi đang còn ngồi học trong Đại Chủng viện, cũng như hiếm có linh mục nào được chết ngay dưới chân bàn thờ. Thầy Giuse Trần Quang Đạo đã được hạnh phúc sống và chết trong ân nghĩa của Thiên Chúa. Bởi vì trong suốt những năm tháng học ở Đại Chủng viện, thầy Chủng sinh được nuôi dưỡng đầy đủ bởi Lời Chúa và bí tích Thánh Thể mỗi ngày. Cũng trong thời gian này, mỗi Chủng sinh được dạy dỗ nghiêm túc và ân cần bảo ban của các cha giáo, được sự chỉ dạy cẩn thận của các cha linh hướng, được chăm sóc chu đáo về cả đời sống vật chất và thiêng liêng. Có thể nói được Chúa gọi về với Chúa vào đúng thời gian Chủng sinh là một ân phúc lớn lao mà kinh nghiệm của một linh mục hơn 85 tuổi, có hơn 70 năm sống đời tu trì đã thốt lên: sao mà sướng vậy!

Thật vậy, dưới ánh sáng Lời Chúa hôm nay, chúng ta thấy thầy Giuse là một người đầy tớ luôn biết sống thức tỉnh và sẵn sàng chờ đợi ông chủ đi ăn cưới trở về, cho dù vào giữa đêm khuya hay tảng sáng, Chủ về gõ cửa thì mở ngay cho Chủ. Đó là người biết tỉnh thức.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người trung thành với niềm tin của mình. Một khi đã xác tín về điều mình tin, họ luôn trung thành giữ vững đức tin cho đến cùng.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người luôn biết thi hành nhiệm vụ dưới con mắt của Thiên Chúa. Họ luôn ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi công việc mình làm. Họ là người công chính trước mặt Thiên Chúa và con người.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người luôn biết trung thành với công việc được trao phó, biết vâng lời Bề Trên, chu toàn mọi việc một cách có trách nhiệm.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người khôn ngoan biết được thánh ý Thiên Chúa để cộng tác tích cực với ơn Chúa để làm tốt nhiệm vụ được trao.

Đối với thầy Giuse Trần Quang Đạo, kể từ ngày thầy tĩnh tâm nhập tu năm 2014, tôi có trách nhiệm đồng hành với thầy. Tôi biết thầy là một người đơn sơ đạo đức và chăm chỉ. Nét đơn sơ chân thật ấy lại là niềm vui cho anh em bạn bè hay trêu trọc đùa giỡn. Vốn hiền lành thánh thiện, thầy chỉ biết mỉm cười và im lặng. Bên cạnh đó là sự chăm chỉ cần cù trong công việc, siêng năng tìm tòi trong học tập… Điều đáng ngại nhất đối với ơn gọi của thầy thể hiện ngay nơi vóc dáng gầy guộc khắc khổ mà nhưng người làm công tác đào tạo chỉ biết hy vọng Chúa sẽ có cách giải quyết tốt nhất. Thế thì hôm nay Chúa đã chọn thầy theo cách của Chúa, không phải theo cách mà chúng ta vẫn mong đợi và hy vọng thầy sẽ là một linh mục tốt lành trong tương lai. Đời sống tốt lành thánh thiện của thầy đã sớm trở nên của lễ xứng đáng trước mặt Chúa trong tư cách là một chủng sinh hơn là một linh mục. Hình ảnh thầy Giuse và cái chết của thầy gợi nhắc cho mỗi chúng ta về lời mời gọi của Chúa Giêsu: “hãy tỉnh thức và sẵn sàng”. Đó cũng là sống tinh thần sống mùa Chay thánh.

Cộng đoàn chúng ta thương tiếc thầy, thì hãy thêm lời cầu nguyện cho thầy. Chúng ta hãy phó dâng linh hồn của thầy trong tay Thiên Chúa quyền năng, Đấng muốn cho mọi người được ơn cứu độ, sẽ ban ơn cứu độ cho thầy, một người con ngoan của Thiên Chúa, một người môn đệ trung tín, luôn sống tỉnh thức và sẵn sàng đón chờ Chúa đến. Amen.

Lm. Đaminh Hoàng Minh Tiến

Đặc trách Chủng sinh Gp. Hưng Hóa

(Chúng con chân thành cảm ơn cha Đaminh đã cho phép chúng con chia sẻ bài giảng này) 


 BÍ MẬT ƯỚC MƠ CỦA THẦY CHỦNG SINH GIUSE TRẦN QUANG ĐẠO


Đôi lời giới thiệu:

Được tin Thầy Giuse Trần Quang Đạo, chủng sinh giáo phận Hưng Hóa, đột ngột qua đời, khi tuổi đời còn rất trẻ (1993-2021), ai nấy không khỏi giật mình và bùi ngùi xúc động. Chúng tôi chợt nhớ hai năm trước có chụp lại một bài viết rất cảm động và sâu sắc về châm ngôn sống đời tu của Thầy. (Bài viết trích từ môn Việt Văn, năm Tu Đức cơ sở Phát Diệm, năm 2018-2019).

Trong tâm tình hiệp thông cầu nguyện, chúng tôi xin mạn phép được chia sẻ công khai bài viết để hi vọng có thêm nhiều tâm hồn đồng cảm, viết tiếp ước mơ còn dang dở ấy.

Hi vọng những tâm tình thao thức của Thầy Giuse sẽ đem lại niềm an ủi cho quí đấng bậc, cho gia đình và mọi người thân yêu rằng giờ này linh hồn Giuse cũng được Thiên Chúa xót thương cách đặc biệt như chính Thầy đã xác tín, đã chọn và đã sống câu châm ngôn cho đời tu của mình.  

Đình Chẩn



 


Đề bài: Thầy hãy chọn cho mình một câu châm ngôn hay một câu Kinh Thánh bất kỳ làm phương châm sống cho đời tu của mình. Thầy hãy nêu suy nghĩ của thầy về câu thầy đã chọn.



BÀI VIẾT

Trên lộ trình của mỗi con người, chắc chắn bất cứ ai cũng đưa ra cho mình một phương châm sống, một hướng đi hay một lý tưởng để theo đuổi. Nào là hãy làm chủ cuộc đời; hãy là chính mình…Một cách minh nhiên, người chọn đời sống tu trì cũng không ngoại trừ. Bản thân nó cũng vậy! Khi chọn lựa đời sống dâng mình cho Chúa, nó đã khao khát và luôn muốn trở nên giống Chúa. Nó muốn giống Chúa tối thiểu ở một khía cạnh nổi bật nào đấy để suốt cả đời, nó sẽ thực hiện khẩu hiệu mà nó đã chọn. Khẩu hiệu đó mang tên: “Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).

“Xót thương người” là một hành vi và là một việc làm cao cả. Nó chính là mối giây thông hiệp giữa người với nhau. Nó giúp mọi người thêm bình đẳng và gần nhau hơn. Hơn thế nữa, việc “xót thương người” là việc làm của con cái Chúa và Chúa sẽ chúc phúc cho những ai luôn biết xót thương kẻ khác.

Chẳng phải tự nhiên mà nó chọn câu khẩu hiệu trên, nhưng là bởi nó đã bị ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của gia đình nó trước kia. Nó sinh ra trong một gia đình nghèo nàn lại đông anh em thành thử ra đã nghèo lại càng nghèo hơn. Ngay từ nhỏ nó đã sống với cộng đoàn và làm quen với đồng áng, nên với nó, việc sống cộng đoàn và lam lũ đã trở nên quen thuộc. Nó được cha mẹ dạy những lời chân lý; các con phải yêu thương nhau; đừng cãi nhau…

Nhớ lại quá khứ, trong bữa cơm chỉ toàn là cơm trộn; nào là sắn, nào là ngô, nào là khoai…và thức ăn chỉ có vài ba quả trứng rang rõ nhiều muối ăn mặn chát. Nghĩ lại cũng thấy tội nghiệp cả cây sấu, quanh năm bị ngắt lá để nấu canh, lắm khi chỉ còn trơ trọi những cành không lá.

Ôi! Nghĩ về ngày đó thật tội nghiệp. Bản thân nó giờ đây, tuy đã là một chủng sinh, nhưng thỉnh thoảng lại mơ về quá khứ. Qua giấc ngủ, nó lại thấy mình đang vất vả quần quật ngoài đồng. Nước mắt nó lại lã chã rơi. Vì thế mà, khi xem những bộ phim, hay bài hát buồn hoặc thấy những đứa trẻ tội nghiệp giống nó trước kia, là lòng nó lại se thắt. Những lúc như vậy, nó khóc và xin Chúa đừng để những người giống nó phải khổ thêm nữa. Vì thế, lòng thương người hay giúp người khác cũng bắt nguồn trong nó lúc nào không hay.

Chẳng ai cho cái mà mình không có bao giờ. Khi giáng trần, Chúa Giêsu cũng đã quá nghèo. Ngài sinh ra trong một cái hang, cái hang đó chỉ dành cho con vật. Không biết sau này Bà Cố có kể lại cho Chúa biết về việc Chúa phải sinh ra khổ cực như thế không ? Nếu có, chắc Chúa cũng thấy tủi lắm. Có lẽ Chúa cũng ngấm cái nghèo, Chúa cũng biết người ta khổ vì đói là như thế nào. Bởi thế, Chúa mới xót thương người một cách mãnh liệt như vậy. Bản thân nó khi được sinh ra cũng nghèo lắm, nên nó đã biết đồng cảm và xót thương người khác. Nó mong rằng cả thế giới luôn được hạnh phúc để không ai phải nghèo khổ, tật nguyền đói rách…

Thật vậy, xót thương người là một điều quan trọng. Nó là sợi dây tình yêu, nối con người lại với nhau. Thế nhưng, tiếc thương thay, xã hội ngày nay đang mắc một căn bệnh thật nghiêm trọng, đó chính là căn bệnh vô cảm. Căn bệnh này còn nghiêm trọng hơn bất cứ căn bệnh thể lý nào khác. Căn bệnh ung thư chỉ cướp đi mạng sống của một cá nhân nào đó, nhưng với chứng bệnh vô cảm, nó sẽ cướp đi tình người và đẩy con người vào hố diệt vong. Chúng ta thử nghĩ xem, nếu một ngày con người mất đi sự quan tâm tới nhau, xã hội này sẽ ra sao ? Ôi! Không, xã hội này phải được quan tâm.

Nhìn lại bản thân, khi trước nó đã khốn khổ, vất vả thế nào, nhưng Chúa đã thương xót và gọi nó gia nhập hàng chủng sinh. Nhờ đó, chính nó sẽ học đòi bắt chước Chúa và xót thương người giống Chúa để cả đời này nó sẽ là Con Đường Sáng đem niềm vui cho tất cả mọi người.

“Phúc thay ai xót thương người; vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”. Đây là thông điệp mà Chúa đã trao cho nó. Nó sẽ dùng thông điệp này để thực thi theo Ý Chúa. Nó hằng mong ước, tất cả mọi người sẽ yêu thương nhau và biết xót thương kẻ khác như Chúa luôn hằng xót thương chính nó cũng như mọi người. Cuối cùng nó mong muốn tất cả mọi người hãy cầu nguyện cho nó, để câu Kinh Thánh mà nó đã chọn sẽ đi theo và đồng hành trong suốt hành trình trong đời của nó.

Giuse Trần Quang Đạo

 




 X U Â N  Ở  M Ộ T  M I Ề N  Q U Ê  K H Á C

Francis Assisi Lê Đình Bảng.



1. Có loài hoa nào, lạ đời, xuyên tuyết ?

Như kẻ tha hương, chạnh nhớ, thèm về

Cái ổ rơm, bờ duối dại, đường đê...

Và hết thảy những gì đang tàn lụi ...

Nhớ nồi nước, nấu vỏ bòng, vỏ bưởi

Bếp liu riu, bồng gạch đỏ riêu cua

Quê hương ơi, trong ngọn gió đầu mùa

Nắm lá thuốc, mẹ xao vàng, hạ thổ

Nhớ từng mảnh chai, mảnh sành, vôi vữa

Mồ hôi cha thấm bộ ghế chân quỳ

Tha hương hề, ai là bạn cố tri ?

Nghêu ngao hát bản tình ca yêu dấu

Cánh quýt cánh cam lưng chừng hàng giậu

Vợ chồng sáo nâu trên nóc nhà thờ...

Tất cả lúc này nhoà nhạt trong mơ...

Ách nước, tai trời?Corona virus ?


2.Chỉ gang tấc, nhưng làm sao đến được ?

Bên ấy, bên đây, mai nở rực vàng

Nhắn giùm ta, về Trà Kiệu, La Vang

Những miền đất đẫm lời kinh cầu nguyện

Bởi có lúc, đành im hơi, lặng tiếng

Để tập nghe, tập nói giọng nước ngoài

Lại một lần, phải hoá kiếp Lão Lai

Sống là sống, mượn linh hồn người khác

Ta lầm lũi, như con chim tha hạt

Ta ngu ngơ, như anh Mán về thành

Dinh tê rồi, lòng vẫn ở non xanh

Nghe lá hát, nhói đau niềm cố quốc

Thấy cái bóng mình hắt hiu, dài thượt

Mỗi đêm về, nằm trở giấc, lơ mơ

Ngó ngoài hiên, bông tuyết nõn, nhung tơ

Nghe con suối reo vui bên ghềnh núi

Đâu, thấp thoáng, ngựa thồ đi, đỏ bụi

Giữa hoang vu, là sen súng, bãi bờ

Chiều nay, một mình, trễ chuyến metro

Chưa nóng chỗ, đã ầm ào vun vút


3.Cố nhắm mắt, nhẩm lời khuyên nhẫn nhục

Làm trẻ con, chơi trận giả cờ lau

Cái thuở nhà nghèo, ngất ngưởng lưng trâu

Sáng ra đồng cói, mờ mờ sương phủ

Như hạt thóc trổ mầm vừa mưng nhú

Xóm mình, nay thêm mấy hộ da màu

Vừa đông vui, vừa đắp đổi, thương nhau

Họ cũng líu lo như con chim khách

Là miền đất vừa xôn xao quy hoạch

Còn thơm tho mùi kẻ gỗ, xây hồ

Có những cô nàng duyên dáng hái nho

Áo váy với khăn choàng màu xanh cốm

Mở vội lá thư tình ra, đọc trộm

Thấy rưng rưng muôn rạo rực lòng mình

Của quê nhà, thời giặc giã, chiến chinh

Chiều giáp Tết, chút hanh hao, chớm lạnh

Loanh quanh mãi, chuỗi ngày đời nhàm chán...

Tít xa xăm, rồi trở lại ban đầu

Người và xe rồng rắn nối đuôi nhau

Như trốn nợ giữa chiều ba mươi Tết


4.Có nhiều thứ, tưởng chừng như mất biệt

Như cái nôn nao, giục giã quê nhà

Bổi hổi bồi hồi, ta vẫn là ta

Cậu bé ngày xưa tung tăng xứ đạo

Nay, pha tạp, những đổi dời, giông bão

Một vòng xoay sinh tử , tính từng ngày

Để rộn ràng cùng Âu Mỹ, Đông, Tây

Hớp từng ngụm một, cà phê nóng bỏng

Những câu chữ mới lần đầu, ngập ngọng

Những thói quen mình chưa dễ rập khuôn

Mãi mà không sao vơi bớt nỗi buồn

Bởi đã thấm sâu tận cùng vô thức

Này, Đường Tăng, thỉnh kinh bên Tây Vực

Còn bao nhiêu hệ luỵ gửi cho đời ?

Một mình tôi, sao gánh nổi thân tôi

Giữa mê chấp và trùng trùng duyên khởi ?

Có đôi lúc, không cầm lòng, nóng vội

Hỏi, mình là ai trong cõi ta bà ?

Niệm một lời kinh, xin Chúa thứ tha

Con, người lính gác, đêm đêm chờ sáng.

Xin đừng chấp, những hoàng hôn chạng vạng

Ngày đầu Xuân ở xứ lạ, chưa quen....

Chỉ mong một ngày, nước lớn, thuyền lên

Trăm nhung nhớ vẫn đong đầy mắt biếc.

 Những khuôn mặt thơ ca Công giáo đương đại

NHÀ THƠ XUÂN LY BĂNG

Bùi Công Thuấn

            Xuân Ly Băng là bút danh của Đức Ông G.B Lê Xuân Hoa (1926-2017). Ngài thụ phong linh mục năm 1959 tại Gia Định. Ngài từng là Giáo sư Tiểu Chủng viện Chân Phước Tự, Thủ Đức-Gia Định, Tiểu Chủng viện Sao Biển, Nha Trang. Ngày 25-1-1998, ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong tặng Giám Chức Danh Dự (Đức Ông). Từ 2006 ngài là Tổng Đại diện giáo phận Phan Thiết. Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, Giám mục Nha Trang trong thánh lễ mừng Kim Khánh Linh mục của  Đức ông đã nhận xét: Ngài “Dùng thi phú để hát ca tán tụng Thiên Chúa. Ngài nhìn thấy Thiên Chúa trong mọi sự và tâm hồn thi sĩ đã tác tạo nên những vần thơ ngợi khen cảm tạ…Ngài ca tụng Thiên Chúa với cả hồn thơ trữ tình dạt dào lòng yêu mến Chúa.”[1]

Đức Ông Xuân Ly Băng đã viết trên 1000 bài thơ và đã xuất bản các tập thơ [2]: Thơ kinh, Hương kinh, Trầm tư, Nỗi niềm, Bài ca thương khó, Dụ ngôn Phúc âm, Như trầm hương, Kinh trong thời gian, Khúc hát ân tình, Một vùng châu lệ, Kinh sầu trên quê hương…

Để hiểu Xuân Ly Băng về quan niệm sáng tác, hành trình nghệ thuật, và những nguồn cội thơ của ngài, xin đọc “Nhà thơ Xuân Ly Băng-Cuộc đời và tác phẩm”(Nxb Phương Đông 2011) và bài phỏng vấn của nhà thơ-Linh mục Trăng Thập Tự với Xuân Ly Băng ngày 25.8.1988.[3] Tôi xin không nhắc lại trong bài viết này.

NHÀ THƠ CÔNG GIÁO CÓ NHIỀU THƠ PHỔ NHẠC

Theo nhà thơ An Thiên Minh [2 đd], Xuân Ly Băng có 120 bài thơ được các nhạc sĩ Công giáo phổ nhạc.

Đơn cử bài thơ Say Noel:

Đêm nay Noel về
Hồn hỡi lắng tai nghe
Đàn muôn cung réo rắt
Dồn dập khắp sơn khê
Đêm nay Hài Đồng đến
Đem hoan lạc trời cao
Đêm nay thơ kính mến
Sẽ say ngã lao đao
Ôi Noel đêm trời nhiệm mầu
Rượu nồng ta không nếm
Sao lòng trí ngất ngư?
Ta say muôn ánh nến
Ngời rạng vạn hào quang

Ta say tiếng chuông vàng
Trong gió trời hổn hển
Từng trận đổ vang vang…
Ta say muôn lời kinh
Thơm như hoa thiên đình
Êm như dòng suối nhạc
Đẹp như lệ đồng trinh
Ôi Noel! Đêm trời nhiệm mầu
Nhạc an hòa, thơ kính mến
Hương phượng thờ đang ngào ngạt dâng lên
Ban cho lòng người đau khổ trần gian
Hiểu ý nghĩa Noel miền cao cả.

Nhạc sư Kim Long phổ bài thơ này thành một bài hợp xướng hoành tráng. Trong đêm

 Noel, tiếng hát ca đoàn vang lên như tiếng của hàng vạn thiên thần hân hoan. Cái thần của bài hợp xướng này là thanh âm diễn tả được trạng thái “say Noel” của mọi tâm hồn trong đêm thánh.  Câu thơ Đêm nay sẽ say ngã lao đao” rất khó phổ nhạc, nhưng nhạc sư Kim Long đã phổ rất tuyệt câu này. Hầu như các ca đoàn Công giáo đều đã có lần hợp giọng trong bản hợp xướng này. Xin nghe (theo link) ca đòan Hương Kinh  hợp xướng:

                

(Say Noel-Đọan mở đầu)

Nhạc sĩ-Lm Xuân Thảo phổ nhạc bài Say Noel thành bài Đêm Noel giai điệu Slowrock ngọt ngào, đằm thắm, lắng rất sâu trong mọi tâm hồn giáo dân giờ phút Con Chúa nhập thể làm người. Bài này không chỉ được các ca sĩ Công giáo trình bày mà còn thịnh hành trong các CD nhạc phổ thông mùa Noel. Xin nghe ca sĩ Thu Phương hát ca khúc này (theo link):

(Trích đoạn đầu)

Cả hai khuôn mặt lớn của nhạc sĩ Công giáo Việt Nam cùng phổ một bài thơ và tạo nên hai tác phẩm âm nhạc rất hay, và rất khác nhau về màu sắc thẩm mỹ. Điều này là biểu hiện của một nền nghệ thuật Công giáo có tầm vóc riêng, có bản sắc riêng, giàu có sự sáng tạo trong lòng nghệ thuật dân tộc.

Tôi ghi nhận được (không đầy đủ) trên mạng xã hội một số bài thơ sau đây của Xuân Ly Băng đã được phổ nhạc và được vang lên trong nhiều nhà thờ Công giáo:

Nhạc sư-Lm Kim Long phổ nhạc 31 bài:

  1. Cho hồn con hát -2. Chúng tôi có Ngài -3. Đêm về con yêu Ngài – 4. Hát bài tân ca
  2. Khi nào Ngài đến- 6. Nếu hôm nay –7. Ngài là tất cả -8. Người thợ vô danh –9. Vì Lời Ngài -10. Xin Ngài là ánh sáng -11. Giao duyên –12. Noel không có Chúa –13. Ngài đi vào lịch sử –14. Say Noel – 15. Theo vì sao cứu thế – 16. Hỡi người bộ hành – 17.Trong máu giao hòa – 18. Bên tòa Mẹ – 19. Đoàn người diễm lệ – 20. Con sợ gì – 21.Hương xuân/1- 22. Xuân chầu Mẹ – 23. Xuân sang – 24. Khi nào Ngài đến – 25. Cho hồn con hát- 26. Bên hang đá (hợp xướng) -27. Ngày về – 28. Nhạc hòa bình (hợp xướng) – 29. Khúc hát mùa xuân (hợp xướng) – 30. Mầu nhiệm Tình thương (hợp xướng)  –31. Bài ca máu đỏ (hợp xướng)

            Nhạc sĩ Tuấn Kim phổ nhạc các bài:  Lời trên Thập giáPhút linh thiêngĐến lượt conHết nghe chuông NoelDứt lời cầu nguyệnTán tụng MẹKính mừng Maria 2Thuyền bơi sông MẹĐức Mẹ TàPao 1Bóng hồng trong sương – Hỡi người bộ hành –  Nếu con nhớ –  Thơ mừng Xuân –  Trên sông Babilon…

            Đức cố Giám mục Vũ Duy Thống phổ nhạc bài Sao không (Sao em không lần chuỗi). Ns Phạm Trung phổ bài Linh mục một huyền nhiệm, NS Linh Huyền Dung phổ bài Mẹ TàPao…(Xin lỗi các nhạc sĩ đã phổ nhạc thơ Xuân Ly Băng mà tôi không nêu ở đây).

            Nhớ lại trước đây (1958) Nhạc sư Hải Linh phổ thành hợp xướng bài thơ Đà Lạt trăng mờ của Hàn Mặc Tử và từ bài thơ Ave Maria của Hàn Mặc Tử viết thành Trường ca Ave Maria. Cả thơ và nhạc đều đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, đưa người nghe vào thế giới huyền diệu, cao rộng của âm thanh, ánh sáng và sự thánh thiện. Say Noel của Kim Long và Xuân Thảo cũng đem người nghe vào thế giới của tâm linh cao rộng đẹp đẽ như vậy.

            Hiện tượng thơ Xuân Ly Băng được phổ nhạc nhiều có ý nghĩa gì?

            Các ca khúc Công giáo đều dùng trong phụng vụ, hát lên để ca tụng và cảm tạ Thiên Chú. Điều ấy có nghĩa, thơ Xuân Ly Băng đậm tính chất cầu nguyện, là tiếng nói của tâm hồn giáo dân vươn lên tới Thiên Chúa. Ca khúc hát trong thánh đường còn là ca khúc dành cho cộng đoàn. Vì thế thơ Xuân Ly Băng được phổ nhạc là thơ hướng về công chúng. Lời thơ gần gũi, dễ hiểu.

            Các nhạc sĩ tìm đến thơ để phổ nhạc còn có một nhu cầu khác. Lời kinh đọc, Kinh thánh, bài giảng lễ hầu như đã trở thành ngôn ngữ đời thường. Một đời sống đạo mấy chục năm nghe giảng Kinh thánh, đọc kinh cầu nguyện thì những lời kinh đạo ấy đã thành ngôn ngữ đời thường. Viết được giai điệu mới đã khó, viết được lời mới còn khó hơn. Người nghệ sĩ sáng tác làm thế nào để tìm được ý tứ mới, ngôn ngữ mới, cách diễn đạt mới? Vì thế nhiều người tìm đến thơ. Thơ Xuân Ly Băng đáp ứng yêu cầu này. Say Noel có cái mới ấy.

Ta say muôn lời kinh
Thơm như hoa thiên đình
Êm như dòng suối nhạc
Đẹp như lệ đồng trinh
Ôi Noel! Đêm trời nhiệm mầu
Nhạc an hòa, thơ kính mến

                         (Say Noel)

ĐỐI THOẠI VỚI CÁI TÔI CỦA “THƠ MỚI”

Tôi hát tôi ca

Và tôi ngân nga

Tôi buông ra muôn cung huyền diệu…

Cần chi ai hiều

Thế giới hồn tôi

(Thanh sắc)

            Những dòng thơ ấy của Xuân Ly Băng có dáng dấp khẩu khí của Xuân Diệu nhưng lại rất khác Xuân Diệu. Trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn, Xuân Diệu viết:

Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất.
Không có chi bè bạn nối cùng ta…

…Ta bỏ đời mà đời cũng bỏ ta
Giữa vắng ngắt, giữa lạnh lùng thê tuyệt!

                  (Hy Mã Lạp Sơn)

Xuân Ly Băng có một mảng thơ viết theo thi pháp của “Thơ Mới” (1930-1945). Nhà thơ cũng khai thác thi tứ Thơ Mới, nhập thân vào “Cái Tôi” của nhà thơ tiểu tư sản, nói tiếng nói của họ trước thực tại, rồi từ đó thoát hẳn ra bên ngoài để đối thoại, cảm thông. Bạn đọc phổ thông thường được đọc những đánh giá rằng thơ Lãng Mạn trước 1945 là thơ của Cái Tôi cô đơn, buồn, bế tắc.

Xuân Diệu: “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới/ Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối” (Khi chiều giăng lưới). Huy Cận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” (Tràng giang). Chế Lan Viên: “Với tôi, tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!”(Xuân)…

Hoài Thanh nhận định: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy cận. Cả trời thực, trời mộng vẫn neo neo theo hồn ta.

Xin đọc Xuân Ly Băng:

CHUÔNG CHIỀU

Chiều tàn trên bến cô liêu
Đò ngang thưa chuyến, quán chiều vắng tanh
Gió đưa hiu hắt trên cành
Đồng không sương bủa buồn tanh chim về
Hồn chiều lên ý não nề
Buồn ơi! xa vắng đê mê là buồn
Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!
Vang lên cao vút tầng mây
Rồi ngân nhè nhẹ như ngây ngất lòng

Tiếng êm nhạc gió rừng thông
Ru như tiếng trúc dịu trong chiều vàng
Rồi tan trong gió mênh mang
Những âm thanh đã nhịp nhàng trong tôi
Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm

Huy Cận viết Sông dài trời rộng bến cô liêu…/ Mênh mông không một chuyến đò

ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật” (Tràng giang). Xuân Ly Băng dùng lại tứ thơ này: “Chiều tàn trên bến cô liêu/ Đò ngang thưa chuyến, quán chiều vắng tanh;

Thế Lữ viết: “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng, Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn”(Tiếng sáo Thiên Thai). Xuân Ly Băng nhắc lại tứ thơ này: “Hồn chiều lên ý não nề/ Buồn ơi! xa vắng đê mê là buồn”.

Rõ ràng Xuân Ly Băng nhắc lại các tứ thơ của “thơ mới” là để gợi ra không gian nghệ thuật và không gian tư tưởng của Huy Cận, Thế Lữ (cũng là của thơ Lãng Mạn). Xuân ly Băng nhập thân vào nhà thơ tiểu tư sản để hiểu và cảm thông với họ rồi dùng tiếng chuông thánh đường dẫn đến không gian tư tưởng mới, đầy màu sắc, âm thanh trong sáng, cao rộng hơn. Không gian ấy hướng lên trên. Cái Tôi không còn buồn cô đơn bế tắc mà tràn ngập niềm vui của sự kết nối với “nước trời” (một nội dung quan trọng của Kinh Thánh).

“Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!…

…Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm”

Bài thơ Củi mục, cũng đối thoại với triết lý vô thường, hư vô trong thơ Lãng mạn.

Huy Cận từng viết, đời người như một cành củi khô trôi dạt không viết về đâu giữa giòng đời trăm ngả: “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng” (Tràng Giang). Xuân Ly Băng suy tư từ một cành củi mục:

Khi vớt lên một cành củi mục
Và bắt về chiếc lá vàng trôi
Ta sẽ nghe tiếng hồn ai thổn thức
Lệ trào tuôn than khóc ngậm ngùi

Đó là quy luật của vô thường

Nhưng than ôi gió thời gian quét sạch
Hồn thảo thu man mác bóng tà dương
Khiến bao nhiêu cành vàng cùng lá ngọc
Dạt về đâu trên mặt đất vô thường

Và đây là tâm trạng nhà thơ Lãng mạn:

Và người nghệ sĩ những chiều hôm
Ngắm bóng non xa bỗng thấy buồn
Trời không mưa gió không tiễn biệt
Mà thấy trong lòng giọt lệ tuôn

Xuân Ly Băng chia sẻ với nhà thơ Lãng mạn và gieo một niềm tin yêu:

Thôi đừng khóc nữa lá cành ôi
Có khóc đời cũng thế mà thôi
Vì trong thời gian có vĩnh cửu
Trong ly rượu nồng có mùi ngải cứu
Vị đắng đót sẽ còn lại muôn năm
Là lộc trời để nhắc nhở xa xăm.

Trong đối thoại, Xuân Ly Băng tuyệt nhiên không nói gì đến Tôn giáo mà nhà thơ đối thoại bằng tư tưởng với tư tưởng, đem cái “vĩnh cửu”, “cái muôn năm” để hóa giải cái “vô thường”, những cái bị “thời gian quét sạch”. Đó là thái độ trân trọng và cảm thông chia sẻ, và là nghệ thuật. Dùng thi pháp thơ Lãng Mạn để nói chuyện nghệ thuật với nhà thơ lãng Mạn.

Điều đặc sắc là Xuân Ly Băng làm mới thơ Lãng mạn bằng cách đem tư tưởng mới, ý tứ mới thay cho nỗi buồn sự bế tắc hư vô chủ nghĩa trong thơ lãng mạn.

Do đâu Xuân Ly Băng có cuộc đối thoại này với thơ Lãng mạn ? Nhà thơ cho biết: “Khi còn nhỏ, học theo chương trình Pháp, nhờ học văn chương Pháp, tôi biết và chịu ảnh hưởng của Paul Verlaine, Alfred de Vigny, Alfred de Musset, đặc biệt là Lamartine. Nguồn ảnh hưởng thứ hai là Thơ Mới Việt Nam: Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, Huy Cận, Thanh Tịnh, nhất là Hàn Mạc Tử.”[3 đd]

Lưu ý rằng sau, thơ Lãng Mạn (1930-1945), thi ca Việt Nam có nhiều nỗ lực cách tân. Xu hướng Hiện thực xã hội chủ nghĩa trở về với công chúng. Nhóm sáng tạo ở Sài Gòn, các nhà thơ miền Bắc như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm đều nỗ lực vượt qua Thơ Mới. Họ chủ trương đổi mới bằng bút pháp. Xuân Ly Băng đổi mới về tư tưởng mỹ học.

Tư tưởng mỹ học trong thơ Xuân Ly Băng là tư tưởng Thần học và mỹ học Thiên Chúa giáo. Xuân Ly Băng ý thức rõ: “Phải khẳng định rằng thơ là để nói lên cái đẹp là Thiên Chúa. Những gì thuộc về Thiên Chúa đều đẹp. Chúng ta ca tụng Thiên Chúa bằng cái đẹp thể hiện qua văn chương, qua thơ ca”[3, đd]. Ngài chủ trương làm “nghệ thuật”  dưới bóng cây Thánh giá và Ánh Sáng Phục Sinh của Đức Kitô. Thơ Xuân Ly Băng miêu tả rất nhiều thiên nhiên đẹp , và đó là cái đẹp của Thiên Chúa. Ngài mong muốn làm sao để đem Chúa từ trong ánh trăng, từ gió vào trong khối óc, trái tim, rồi từ đó trào ra nơi ngọn bút? Thiên nhiên này hoàn toàn khác với thiên nhiên trong thơ Lãng mạn, khác cả với thiên nhiên thơ Đường và thơ Trung đại Việt Nam. 

CỐT CÁCH THƠ XUÂN LY BĂNG

            Nhà thơ Xuân Ly Băng trước hết là một Linh mục. Ngài dùng thơ để ca tụng Thiên Chúa, để loan báo Tin Mừng. Đó là nhiệm vụ ngài nhận từ Đức Giêsu và giáo hội của Người. Đời dâng hiến của ngài là để thực hiện nhiệm vụ đó. Thế nên phần lớn thơ Xuân Ly Băng có nội dung giáo huấn. Mảng thơ này bị giới hạn trong nội dung, tư tưởng và ngôn ngữ giáo huấn của Giáo hội. Xuân Ly Băng khó thể hiện cốt cách thơ. Ngày xưa, thời cộng đoàn dân Chúa không biết chữ, các “cố đạo” đã đặt thành vè các nội dung giáo lý để cộng đoàn đọc trước giờ lễ. Vè bình dân dễ thuộc, dễ nhớ nên có tác dụng dạy đạo rất hiệu quả. Ngày nay, trình độ của cộng đoàn đã khác. Vè, kinh vãn không còn là phương tiện dạy đạo đắc dụng như ngày xưa. Nếu các nhà thơ Công giáo làm thơ chỉ ở dạng vè, sẽ không có người đọc.

Bậc làm cha làm mẹ
Xin gởi gắm đôi lời
Ghi nhớ lấy ai ơi
Để thi hành bổn phận
Hầu chu toàn bổn phận

Sinh con thì cẩn thận
Có chừng mực điều hòa
Có trách nhiệm sâu xa
Vì gia đình hạnh phúc
Để giống nòi hạnh phúc

        (Bổn phận cha mẹ)

Xuân Ly Băng có nhiều bài thơ giáo huấn. Ở những bài này, tính giáo huấn lấn át tính thơ (thí dụ: Bổn phận cha mẹ, Bài học truyền giáo, Sao em không lần chuỗi, Chuỗi Môi Côi, Xâu chuỗi Mân Côi, Sự thánh thiện của Chúa Giêsu, Những danh hiệu của Chúa Giêsu, Năm Linh Mục, Linh mục, ngài là ai? Trái Thánh kinh, Đoản khúc Tin Mừng, Lâu đài đêm…). Tuy vậy cũng có những vừa bài đáp ứng được nhiệm vụ giáo huấn lại vừa đạt được phẩm chất văn chương. (14 chặng đàng Thánh giá).

            Cốt cách thơ Xuân Ly Băng hiển lộ ở những bài thơ tự tình (Bài ca tình ái, Thanh sắc, Say Noel, Đàn vọng cố hương, Bao giờ cho hết mùa thu, Suy nghĩ cúi đầu, Thơ không về, Vì Ngài là tất cả, Tôi nằm xuống…) và thơ trải nghiệm tư tưởng từ đời thực (Noel không có Chúa, Ha-ga và Ít-ma-ên, Lời Chúa Trên Đại Dương, La Vang đất Mẹ…)

            Thơ tự tình bộc lộ một hồn thơ thanh khiết, trọn vẹn tin yêu phó thác, hồn thơ hòa vào hạnh phúc miên viễn của nước trời, không vướng bận trần ai.

Gửi vào Chúa tâm hồn tín thác
Đêm linh hồn man mác tình yêu
Có bình minh sáng thật nhiều
Có hiu hiu gió mỗi chiều mơn man

Gửi vào Chúa muôn vàn giọt lệ
Đêm linh hồn xiết kể hân hoan
Du dương tiếng sáo tiếng đàn
Giữa cô liêu ấy chứa chan ân tình

            (Lâu đài đêm tối)

            Thơ trải nghiệm tư tưởng lại khác hẳn. Nhà thơ phóng túng trong nghĩ suy, trong cách thể hiện những điều gan ruột và trong tìm tòi những tứ thơ mới lạ. Xin đọc

Ha-ga và Ít-ma-ên
           ( St 21, 8-20)

Nàng bế con chúi đầu đi trong sa mạc
Gió cát dập vùi
Hừng hực nắng trời như thiêu đốt mẹ con
Bánh ăn đã kiệt
Bầu nước cạn hết từ lâu
Khốn đốn vô cùng !
Nàng ngồi bệt xuống
Hôn con rồi đẩy nó vào bụi cây
Ngước mắt lên trời
Nghẹn ngào nàng than thở:
Đức Chúa ở đâu rồi?
Đau lòng tôi lắm, Chúa ơi !
Làm sao để con tôi thoát chết
Nàng ngoái lại nhìn bầu trời quê hương
Nước mắt chảy ròng ròng
Nhớ lúc ra đi!
Nàng nghẹn ngào than thở :
Ap-ra-ham, tôn chủ ơi !
Tình nghĩa sao chỉ có thế thôi,
Ai đem tôi đến cho ông?
Sao ông nhẫn lòng xua đuổi tôi đi?
Sa-ra, lệnh bà ơi!
Ghen chi ghen lắm hủy đời tôi nay

Rồi nàng khóc rống lên
Ít-ma-ên khóc giật giọng
Âm thanh chạm đến mây trời
Đức Chúa sai thần sứ xuống:
Can đảm lên, đừng sợ, Ha-ga ơi!
Hãy nâng đứa trẻ dậy
Nước uống đã có đây
Hãy cho nó uống gấp!
Nàng biết chăng:
Đức Chúa đã chọn nó từ lâu
Làm thành một dân tộc
Lang thang khắp sa mạc
Cung tên vút kín bốn phương trời.

Sáng Thế ký kể rằng: “Ha-ga và Ích-ma-ên bị đuổi đi

Y-sác lớn lên và khi cậu bé đủ tuổi ăn thức ăn bình thường thì Áp-ra-ham bày một bữa tiệc lớn ăn mừng. Nhưng Sa-ra thấy đứa con, mà người nữ nô lệ Ha-ga đã sinh cho Áp-ra-ham, cười giỡn [a]10 Nên Sa-ra bảo Áp-ra-ham, “Ông hãy đuổi con nhỏ nô lệ nầy và con nó đi đi. Con nó sẽ không được hưởng chút gia tài nào hết; con tôi sẽ hưởng tất cả.”

11 Lời yêu cầu nầy khiến Áp-ra-ham khó xử, vì nó cũng là con mình. 12 Nhưng Thượng Đế bảo Áp-ra-ham, “Đừng quá băn khoăn về đứa trẻ và người nữ nô lệ. Hãy làm theo điều Sa-ra yêu cầu. Dòng dõi mà ta hứa với con sẽ ra từ Y-sác. 13 Ta cũng sẽ làm cho dòng dõi của con trai người nữ nô lệ thành ra một dân lớn vì nó cũng là con trai con.”

14 Sáng sớm hôm sau Áp-ra-ham lấy ít thức ăn và một túi da đựng đầy nước. Ông trao mọi thứ cho Ha-ga rồi đuổi nàng đi. Mang các thứ đó theo người, Ha-ga đi lang thang trong sa mạc gần Bê-e-sê-ba.

15 Chẳng bao lâu, túi đựng nước cạn, Ha-ga để con mình dưới một bụi cây. 16 Rồi nàng đi một khoảng xa xa xong ngồi xuống. Nàng nghĩ, “Con tôi thế nào cũng chết. Tôi không có can đảm nhìn cảnh đau lòng nầy.” Nàng ngồi đó và òa khóc.

17 Thượng Đế nghe tiếng đứa trẻ, nên từ thiên đàng thiên sứ của Thượng Đế gọi Ha-ga, “Ha-ga, có việc gì vậy? Đừng sợ! Thượng Đế đã nghe tiếng đứa trẻ đàng kia. 18 Hãy đến cầm tay đỡ nó dậy. Ta sẽ khiến dòng dõi nó thành ra một dân lớn.” 19 Rồi Chúa chỉ cho Ha-ga thấy một giếng nước. Nàng đến đó lấy nước đổ đầy bình cho đứa nhỏ uống.

20 Thượng Đế ở cùng đứa nhỏ khi nó khôn lớn. Ích-ma-ên sống trong sa mạc và trở nên tay bắn cung rất giỏi”.

Nếu so sánh bài thơ với đoạn tường thuật của Sáng Thế ký, người đọc sẽ nhận ra

những đặc sắc của ngòi bút Xuân Ly Băng.

 Xuân Ly Băng sáng tạo hẳn một tác phẩm mà không trói mình trong khuôn khổ của Sáng Thế Ký. Nhà thơ xây dựng riêng một hình tượng người phụ nữ của thơ mình. Thơ tự do làm cho hồn thơ Xuân Ly Băng trở nên khoáng đạt mạnh mẽ. Truyện được kể với tốc độ nhanh, đường nét miêu tả, dựng cảnh, thiết kế hành động nhân vật đầy sáng tạo (Ít-ma-ên khóc giật giọng/ Âm thanh chạm đến mây trời”. Người phụ nữ bị ruồng bỏ, xua đuổi, cô độc bồng con đi trong sa mạc đầy nắng, đối mặt với cái chết. Con người đau khổ ấy trở nên lớn lao và lẫm liệt. Nàng Ha-ga được khắc tạc trong không gian, thời gian và tình huống, với chiều cao “chạm đến mây trời” và trải ra chiều rộng “bốn phương trời”. Nàng tiếp cận được với Đức Chúa, và Đức Chúa đã an ủi và cứu giúp nàng. Ẩn sâu dưới câu chuyện kể khách quan và con chữ tưởng như vô tình lại là tấm lòng của nhà thơ với con người đau khổ cô độc và niềm tín thác vào Chúa. Chúa lắng nghe và thấu hiểu, Chúa chở che và an ửi, Chúa còn làm những điều kỳ diệu mà con người không thể biết. Đức Chúa nói với Ha-ga rằng Ngài đã chọn con nàng, dù nàng chỉ là nô tỳ, để “Làm thành một dân tộc/ Lang thang khắp sa mạc/ Cung tên vút kín bốn phương trời.”

Chuyện của Haga là truyện của Sáng Thế Ký. Chuyện của Thánh Phanxicô Xavie là đời thực:

Lời Chúa Trên Đại Dương
(Kính nhớ Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận)

Có những con hải âu soãi cánh,
Bay sà xuống ngỡ ngàng,
Hơn một lần,
Trên đại dương,
Để nghe lời Kinh Thánh,

Từ một chiếc thuyền nan.
Và những đám mây chiều,
Chụm đầu trên hải đảo cô liêu,
Khi nghe reo lên một hồi chuông nhỏ,
(Dù cuộc hành trình còn dang dở)
Để nghe lời Chúa Tình Yêu,
Từ một người bé nhỏ.
Và những đợt sóng bạc đầu,
Bỗng một ngày thấy mình sáng láng,

Oà kìa, cây Thánh giá
Xuất hiện trên bầu trời,
Khi một người khách lạ,
Nói về Chúa Ba Ngôi
Cho chim cho cá,
Cho người thổ dân nghèo đói tả tơi.
Hỡi người con của lâu đài Navarre,
Thừa vinh quang phú quý,
Thừa gấm vóc lụa là,
Thừa học vấn cao xa,
Đã bỏ mình cô đơn trên hoang đảo.

Hôm nay đây,
Trên độ dày lịch sử,
Tôi thấy người hiện ra
Trên nhật nguyện thành Goa,
Trên đại dương đầy dông bão,
Trên sương mù eo biển Ma-lắc-ca,
Trên vườn đào của xứ Mặt trời thức giấc.

Với đàn hải âu, tôi kính chào Người,
Với mây biển muôn màu, tôi hát bài ca đẹp nhất,
Với sóng bạc trùng dương,
Tôi vỗ tay reo,
Hỡi Phanxicô loan Tin Mừng Cứu độ.

 

Chỉ có vài chi tiết trong bài thơ giúp người đọc nhận ra Phanxicô Xavie: Ngài là người

con của lâu đài Navarre (miền bắc Tây Ban Nha), truyền giáo ở Goa (Ấn Độ 1542), ở xứ Mặt trời (Nhật)… Và người “Đã bỏ mình cô đơn trên hoang đảo”(Xavie chết trên đảo Thượng Xuyên, ngay cửa khẩu Quảng Châu khi chờ thuyền lén vào Trung Quốc).

Xuân Ly Băng sáng tạo hẳn một hình tượng Phaxicô Xavie trong không gian và thời gian cao rộng tráng lệ. Nhà thơ không kể “thành tích” truyền giáo của Xavie. Cũng không kể như “hạnh các thánh”. Xavie hiện lên là một người khách lạ, một người bé nhỏ, vây quanh là Có những con hải âu soãi cánhmột chiếc thuyền nan, đám mây chiều, Và những đợt sóng bạc đầu để nghe Lời Kinh thánh, để nghe lời của Chúa Tình Yêu. Bài thơ mở rộng lên cao bằng một hình ảnh đẹp đến lạ lùng: Và kìa, cây Thánh giá/ Xuất hiện trên bầu trời,/ Khi một người khách lạ,/ Nói về Chúa Ba Ngôi/ Cho chim cho cá,/ Cho người thổ dân nghèo đói tả tơi.” Xavie có sức thu hút tất cả đến với mình để nghe Kinh Thánh, và cũng chính Lời Tình yêu từ Xavie có sức làm biến đổi mọi tạo vật:

Và những đợt sóng bạc đầu,
Bỗng một ngày thấy mình sáng láng,

Sóng bạc đầu trên biển là sóng dữ, nhưng sau khi nghe Lời Chúa Tình Yêu, nó tự nhận

 thấy mình sáng láng. Sóng trở nên đẹp hiền hòa rạng rỡ, không còn là sóng dữ. Khám phá được một hình ảnh diễn tả sự cảm hóa của Tin Mừng với tạo vật như vậy không phải người làm thơ Công giáo nào cũng có thể đạt tới.

Hình tượng Xavie còn được tô đậm hơn nữa trên nền thiên nhiên tráng lệ giàu ý nghĩa biều tượng và chiều sâu lịch sử, nhờ thế “người khách lạ, một người bé nhỏ” trở nên thân thiện và kỳ vỹ :

Hôm nay đây,
Trên độ dày lịch sử,
Tôi thấy người hiện ra
Trên nhật nguyện thành Goa,
Trên đại dương đầy dông bão,
Trên sương mù eo biển Ma-lắc-ca,
Trên vườn đào của xứ Mặt trời thức giấc.

Khổ thơ gồm những câu thơ ngày càng dài ra như là một bức tường thành đang xây

lên, sự khẳng định tầm vóc Xavie ngày một bề thế vững chãi và vươn dài hơn trong lịch sử và thời đại.

Với đàn hải âu, tôi kính chào Người,
Với mây biển muôn màu, tôi hát bài ca đẹp nhất,
Với sóng bạc trùng dương,
Tôi vỗ tay reo,
Hỡi Phanxicô loan Tin Mừng Cứu độ.

Nhân vật  Tôi (nhà thơ) cũng đẹp trong không gian cao rộng (biển mây, trùng dương

sóng bạc) giữa muôn loài hội tụ đầy màu sắc, thanh âm reo vui hân hoan. Tôi trong bài thơ này thật mới lạ so với Thơ Lãng mạn.

 

 Viết về thánh Phaxicô Xavie để “Kính nhớ Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận”, hẳn Tác giả muốn làm sống lại hình ảnh Đức Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận trong lòng người đọc Công giáo hôm nay? Đức Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận cũng là người rao giảng tin Mừng trong mọi hoàn cảnh, và ngài, bằng sức mạnh của Tin Mừng, đã cảm hóa mọi người đến với ngài như Xavie. Xuân Ly Băng đã khẳng định tầm vóc lịch sử và thời đại của ngài.

NÓI VỚI NGƯỜI TRẺ

            Đức cha Giuse Vũ Duy Thống giải thích bút danh Xuân Ly Băng: “Xuân Ly Băng quả là ”Mùa Xuân trên núi Li Băng”. Vừa mượt mà tươi xanh, vừa nhẹ nhàng trìu mến …” Mùa xuân ấy một mùa xuân mầu nhiệm, rất diệu huyền và rất đổi anh hoa ”…”Xuân Ly Băng là một cuộc đời đã làm nên Mùa Xuân cho mình và không ngừng kiến tạo Mùa Xuân cho những người mình gặp gỡ…” (gpphanthiet.com)

Đức Ông Xuân Ly Băng chia sẻ với Lm – nhà thơ Trăng Thập Tự điều tâm huyết của mình: “Cha phải tìm kiếm những mầm non trong Hội Thánh để nối dõi tông đường: Liên lạc gặp gỡ nhau, vun trồng, nâng đỡ nhau về thi ca và về đức tin. Có thế ta mới làm tròn nhiệm vụ Chúa trao phó và đáp ứng điều Hội Thánh chờ đợi.”

Nhà thơ Xuân Ly Băng đặc biệt lưu ý: “Làm thơ là sáng tạo. Khi Xuân Diệu viết: “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm”, Tản Đà đòi lôi ra chém vì Xuân Diệu dám bảo mặt trời đi ngủ. Thế nhưng làm thơ là phải vậy, phải sáng tạo.”  

Người làm thơ “cần hai chữ thành thực và khiêm nhường, đừng tự tôn vinh mình. Thời gian sẽ sàng lọc và đào thải những gì không phải là thơ.[4]

Tôi tâm đắc hai điều trong ý thức sáng tạo của nhà thơ Xuân Ly Băng. Đó là: làm thơ là sáng tạo và sự sàng lọc “những gì không phải là thơ”.

Nhiều người làm thơ Công giáo chỉ chú ý đến nội dung giáo huấn mà không nỗ lực sáng tạo (làm ra cái mới nghệ thuật), thành ra thơ rất cũ. Người làm thơ không biết rằng mình đang làm ra những thứ “không phải thơ”, tất nhiên những gì không phải là thơ sẽ bị đào thải.

Xuân Ly Băng đã góp vào thi ca Công giáo và thi ca dân tộc những hình tượng mới như hình tượng người phụ nữ bồng con đi trong sa mạc (Ha-ga và It-ma-ên), hình tượng Xavie, con người bé nhỏ giảng Kinh thánh cho muôn loài trên hoang đảo giữa biển khơi (Lời Chúa trên đại dương); làm mới hình ảnh thiên nhiên trong thơ so với thơ cổ điển và Thơ Mới, đem vào thơ một Cái Tôi mới (khác với Cái Tôi trong thơ Lãng mạn và thơ Hiện thực xã hội chủ nghĩa); Đem vào thơ cái nhìn mới của Kinh Thanh về vạn vật về cuộc đời (Mỹ học Thiên Chúa giáo): Tất cả đều đẹp, đều tốt tươi; và thay thế hồn thơ bi thiết của Hàn Mặc Tử bằng một hồn thơ trong veo hân hoan kết nối với trời cao.

Chỉ một tiếng chuông ngân cũng dạt dào cảm xúc thơ mới mẻ và thánh thiện.

Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!
Vang lên cao vút tầng mây
Rồi ngân nhè nhẹ như ngây ngất lòng…

…Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm

                         (Chuông chiều)

Tháng 5/ 2020

________________

[1] tường thuật của Lm Giuse Nguyễn Hữu An:

      https://sites.google.com/site/giadinhpherokhoa/co-cau-to-chuc/Gii-thiu/dhuc-ong-j-b-le-xuan-hoa

[2] hiện các sáng tác của Đức ông Xuân Ly Băng chưa được tập hợp đầy đủ:

-Phan Chính cho biết: Xuân Ly Băng có 25 tập thơ, trên 120 bài thơ phổ nhạc:

       https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=18007

-Lm Giuse Nguyễn Hữu An: Ngài đã sáng tác 12 tập thơ đạo đời (đd 1]

-Nguyễn Quân TT, VRNs tường thuật Buổi ra mắt tác phẩm nhà thơ Xuân Ly Băng vào lúc 18g 15 phút chiều qua, ngày 13.02.2012 cho biết: Xuân Ly Băng có gần 30 tập thơ và hơn 1000 bài thơ:

                  (chuacuuthenews.wordpress.com › 2012/02/14 › xuan-ly-bang.)

Nhà thơ An Thiện Minh trong Thánh lễ “Tưởng niệm Đức ông – Nhà thơ Xuân Ly Băng” ngày 17.8.2017, tại Trung tâm Mục vụ TGPSG cho biết: Xuân Ly Băng có 27 thi phẩm, tổng cộng trên 1000 bài thơ; 1 kịch; 4 tác phẩm dịch; 4 bản thảo bị thất lạc. Có trên 120 bài thơ đã được phổ nhạc:

       https://tgpsaigon.net/bai-viet/tuong-niem-duc-ong-%E2%80%93-nha-tho-xuan-ly-bang-48029

[3] Xuân Ly Băng trả lời Trăng Thập Tự ngày 25/8/1988:

   https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/xuan-ly-bang-hon-tho-va-tam-long-muc-tu-48041

[4] https://www.tapsanmucdong.net/2017/07/xuan-ly-bang-loi-ngo-cho-em-tho.html

Được tạo bởi Blogger.