Thị Trấn Chula Vista


(giải nhất văn thơ lạc việt 2009)

Thánh lễ ở Kenya


Thị trấn sa mạc Chula Vista tháng Mười Hai năm nay tự nhiên tuyết đổ trắng xóa phố phường. Thiên hạ Chula Vista trăm người là cả trăm,

— Trời ơi! Khùng ơi là khùng!

Cứ thế, gặp nhau, người dân Chula Vista bật ra ngay cửa miệng câu than nghe đến là nhàm, nhưng vẫn đều đặn phát ra như chuông đồng hồ điện tử sáng sớm rú lên từng hồi, “Tít! Tít! Tít!”. Thôi đủ rồi, đừng rơi tuyết nữa, bởi dân du lịch trốn tuyết của Bắc Mỹ và Âu Châu giờ đã rục rịch dọn đồ bỏ đi trống hoắc phố phường. Nền kinh tế của thị trấn nằm sát ngay đường biên giới giữa Mỹ và Mễ chỉ trông mong vào số lượng khách du lịch vào mấy tháng mùa đông, giờ này tanh banh chỉ vì tuyết bất ngờ đổ dầy từng tảng. Thì đấy, ai bảo chế cho lắm xe hơi vào, xăng dầu cứ đổ ồng ộc vô miệng như người chết khát. Giờ thán khí bốc lên xám đen bầu trời, thế là global warming.

— Hả? Nói cái gì?

— Điếc hả? Global warming chứ còn nói cái gì nữa. Không tin thì cứ leo hẳn lên nóc tháp chuông nhà thờ mà nom cho rõ, khói xăng bốc cao đục ngầu cả cái bầu trời San Diego rồi. Sống ở đó, đố mà có nom thấy mặt người…

— Global warming! Rồi thì sao?


(Mã số 18-092)
1.
- Anh Sơn!...
- Gì thế em?
- Em tính thế này anh có chịu hông?
- Mà chuyện gì mới được chứ em?
- Chúng mình ly dị đi!...
- Gì thế!... Em có điên không mà bảo vợ chồng mình ly dị? Tội chết chứ chẳng chơi đâu!
- Chưa gì hết mà anh đã gào lên thế!... Chỉ là ly dị giả thôi!... Mẹ em đã tính hết rồi. Em ly dị giả với anh, rồi kết hôn với anh Hòa Việt kiều. Sau đó, em qua Mỹ, ly dị với ảnh, xong bảo lãnh anh và các con qua. Gia đình mình sẽ sum họp như trước. Giả thôi, có gì đâu mà anh sợ...
- Anh vẫn thấy không ổn. Mình giả chứ giấy tờ có giả đâu. Mà chuyện vợ chồng không nên giả dối như thế. Nhà mình ở đây vẫn dư dả, vẫn đủ lo cho con ăn học. Việc gì em phải khổ thân...
- Mệt anh quá! Đúng là đồ khờ mà!... Qua Mỹ đương nhiên sống sung sướng hơn, con cái có cơ hội học hành tốt hơn. Anh còn muốn gì nữa mà không chịu?... Thôi, em quyết rồi! Anh không đồng ý, em vẫn làm. Chừng đó, anh đừng hối hận...
Nghe vợ gắt, Sơn làm thinh, không muốn cãi cọ chi cho rách việc. Với lại, tính anh từ trước tới giờ vẫn thế. Mỗi lần có chuyện to tiếng với vợ, anh đều nhường nhịn. Nhịn vợ chứ nhịn ai đâu mà sợ người ta cười. Nhịn vợ một chút cho êm chuyện. Gia đình phải trong ấm ngoài êm mới hạnh phúc, con cái mới học hành nên người. Anh nhịn, nhất định phải nhịn. Được thế, Son lại lên nước, đụng chuyện gì cũng la chồng được hết. Son lại thường làm mình làm mẩy, bắt Sơn phải chiều chuộng đủ thứ. Cả ngày, sau buổi chợ, Son về nhà nằm ngủ, xem phim, lên mạng… chứ chẳng buồn động tay vào những việc trong nhà. Tất cả mọi chuyện đều do một tay Sơn chăm nom. Sáng sớm, Sơn phải dậy mổ heo cho Son đem ra chợ bán. Sau đó, Sơn chuẩn bị bữa sáng, gọi các con dậy, cho chúng ăn và đưa đi học. Trở về nhà, Sơn lại lui cui với đống mỡ heo, da bò rồi nấu cơm cho bữa trưa. Hết trưa lại đến chiều, Sơn chẳng nghỉ ngơi được chút nào. Công việc cứ quấn lấy Sơn hết ngày này đến ngày khác một cách tẻ nhạt đến nỗi Son phải bực mình. Cho nên không ít lần, Son mắng anh là thằng “ngố”, chỉ biết làm với ăn, chẳng biết hưởng thụ, chẳng biết quan tâm tạo niềm vui cho vợ con vào những ngày cuối tuần. Mỗi lần như thế, Sơn chỉ biết cười cho qua chuyện. Vì thế, lần này, Son quyết thực hiện ý định đưa Sơn và các con sang Mỹ để thay đổi cuộc sống buồn tẻ này. Để thực hiện dự tính ấy, Son nhờ mẹ của mình sắp xếp.

NHỚ NHÀ


Từ chốn xa xôi nhớ về nhà
Tuổi thơ đã sống cùng mẹ cha
Mái tranh, vách đất, nền nứt nẻ
Bữa cơm đạm bạc: mắm, dưa, cà
Bạc đầu, lam lũ vì con trẻ
Nắng, bão, mưa sa, chẳng nề hà
Làm sao đền đáp ơn trời bể ?
Xin Chúa ban ơn: giúp mẹ cha.


Cung chiều dạo khúc xôn xao
Nắng reo tình Chúa tỏa vào giấc thơ.
Nhịp đời đánh thức niềm mơ
Nỗi yêu bừng tỉnh, níu bờ linh thiêng.

Tháp tình dìu gánh truân chuyên
Trao con tim mộng bình yên dâng Ngài.
Nương theo ngõ hẹp lưu đày
Sóng đời trần lụy dặm dài mù khơi!...


(Mã số 18-091)
Bóng chiều nghiêng đổ bên thềm, những tia nắng cuối ngày xoay tròn vũ điệu hạ màn rồi chớp nhoáng ẩn mình trên tán lá mỏng manh. Tiếng gọi chủ tính tiền, leng keng những ly, muỗng, đĩa... Nhịp điệu nửa hối hả, nửa ngập ngừng của phút giây cuối ngày như ẩn mình trong ánh mắt của Nam. 
Khi “nàng bao tử” rung hồi chuông ọc ạch để kết thúc cuộc tỉ thí xem ai kiên nhẫn hơn ai, Quân vỗ nhẹ vào vai Nam:
- Về thôi, mày!
- Tao...
- Tao, tao cái gì! Mày nói đại ra có hơn không. Nãy giờ tao biết mày có chuyện muốn nói. Mày “mang váy” từ lúc nào thế, hả?
- Tao... tao...

TRANH VỀ THÁNH LUCA
BỔN MẠNG CỦA CÁC HOẠ SĨ



Theo truyền thuyết, Thánh Luca là tác giả của Thánh tượng (icon) "Đức Mẹ hằng cứu giúp" mà từ thế kỷ thứ XIV, từ Hy Lạp đã được đưa vào Ý, và từ giữa thế kỷ thứ XIX đến nay được trưng bày tại nhà thờ Thánh An Phong, ở Rôma. Không thể xác minh tính xác thực của truyền thuyết này. Nhưng một điều ai cũng tin chắc: Thánh Luca là người đầu tiên, đưa ra niềm tin về sự Thông công của Đức Mẹ Maria trong công cuộc Cứu chuộc của Thiên Chúa, và niềm tin đó đã trở thành chỗ dựa cho các qui phạm thần học trong việc thể hiện hình ảnh Đức Mẹ Maria cùng Chúa Hài đồng trong hội họa, ngay từ khởi thủy của nghệ thuật Công giáo kéo dài cho đến hết thời Trung cổ.

Niềm tin này đã được thể hiện trong hội họa: hình ảnh Thánh Luca trong hội họa, từ xưa đến nay, phần lớn, đều được thể hiện như là họa sĩ đầu tiên thể hiện hình ảnh Đức mẹ Maria cùng Chúa Hài đồng.

Bức icon dưới đây, có nguồn gốc Hy Lạp được tìm thấy vào khoảng thế kỷ XII, được xem là icon đầu tiên thể hiện Thánh Luca ở tư cách như vậy.


(Mã số 18-089)
Sinh làm người, bơi vào dòng đời, sống giữa trần gian, con người ta trải qua vòng xoay của tình ái, của mưu sinh cơm áo gạo tiền, và ngụp lặn trong bể khổ của cảnh vô minh, không nhìn thấy ánh sáng của chân lý. 
Ai khao khát chân lý thì mong mỏi kiếm tìm, ai không khát khao chân lý thì chạy đua trên con đường vật chất với những đam mê và dục vọng, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến bể khổ trần gian.
Trong cái bể khổ trần gian, hình như chỉ còn tình yêu là con thuyền đưa người ta đến bến bờ hy vọng của hạnh phúc. Vì thế, cho dù mưa sa, cho dù nắng cháy thì Trọng Hải vẫn luôn cảm thấy vui khi nghĩ về gia đình, nơi đó anh có người vợ hiền và thằng con học lớp một.
Lưu lạc đất khách quê người làm một người thợ hàn, Trọng Hải luôn mang trong mình giấc mơ dành dụm tiền để về xây một căn nhà khang trang cho vợ cho con đỡ cực, tuy căn nhà cấp bốn hiện tại của hai vợ chồng cũng không đến nỗi nhỏ bé.
Theo đoàn người vượt biên ồ ạt sang Trung Quốc vào dịp sau tết, Trọng Hải cố giấu nổi buồn khi phải xa vợ xa con. Yến Nhi vợ anh cũng không giấu được nước mắt khi tiễn chân chồng lên xe. 
Sau những ngày vất vả trèo đèo lội suối, trốn đội tuần tra biên giới của hai quốc gia thì họ cũng đến được chỗ làm việc. Với tay nghề của mình, Trọng Hải dễ dàng tìm được việc trong một xưởng gò hàn. Anh làm việc chăm chỉ không quản ngại nặng nhọc vất vả, lương của anh cũng được gần 15 triệu mỗi tháng. 

tVỊ LINH MỤC TRÊN ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN


Tác Phẩm Đạt Giải Khuyến Khích Truyện Ngắn – Cuộc Thi Sáng Tác Văn Hoá Nghệ Thuật Đất Mới 2016

Côn Đảo


(Kính tặng linh mục Phạm Gia Thụy)

Tết đang về. Gió xuân se se lạnh tràn ngập thành phố.

Tiếng chùa nhà thờ thong thả ngân nga trong ánh sáng vàng vọt của các ngọn đèn cao áp trong hẻm vắng. Leng keng…leng keng…những âm thanh trong veo dồn dập như hối thúc mọi con chiên của Sài Gòn hoa lệ thức giấc để chuẩn bị cho một ngày mới đầy phúc lành. Một bóng người nhỏ bé chậm rãi bước ra từ con hẻm tiến về phía nhà thờ. Cái điệp khúc quen thuộc ấy đã lặp đi, lặp lại đã gần bốn mươi năm qua. Quen thuộc đến nỗi người bắt đầu điệp khúc lúc tóc hãy còn đen nay mái tóc ấy đã phơ phơ ông Sáu sửa xe đầu hẻm cất lên khe khẽ. màu bạc. Ở cái xóm Dòng chúa cứu thế nầy đâu ai còn xa lạ với vị linh mục luôn nở bụ cười trên môi đi kèm với đội mắt sáng ngời đầy nghị lực dù ông đã bước sang cái tuổi tám mươi mốt.

- Chào cha. Chúc cha một ngày mới tốt lành. A men. Tiếng ông Sáu sửa xe đầu hẻm nhỏ nhẹ.
- Xin Cảm ơn. Cầu chúa ban phước lành cho con. 
Vị linh mục trả lời. Vừa nói, ông vừa bước chậm rãi trên vĩa hè của con đường đầy lá me bay. Nhanh quá. Những hàng me dẫn đến nhà thờ lúc ông từ Côn Đảo trở về sau ngày giải phóng còn nhỏ xíu nay đã trở thành những cây me cổ thụ khổng lồ như những nhân chứng thời gian của thành phố nầy. Bất giác ông nhìn lên bầu trời cao trong xanh đang ửng dần theo bình minh buổi sáng.


con có nghe nói
chuyện con chiên già kia trong góc núi
cả tuần nay chẳng có cái để ăn
con đã nhờ anh xe ôm mang gạo tới
bận họp bận hành, thôi thì nợ một lần thăm

con có nghe nói
chuyện con chiên già kia lâm trọng bệnh
chẳng có lấy một đồng cho ấm cái sống lưng
con có bảo bà con góp kẻ nhiều người ít
đem giúp cho người lúc khốn khó đau thương

con có nghe nói
chuyện con chiên già kia hấp hối
lúc con vắng nhà đi hành khất xa xăm
có điện về nhờ cha bên giúp đỡ
cha ấy đang ở tòa, buổi đầu tháng tĩnh tâm


(Mã số 18-088)
Chiều dần xuống trên những mái nhà cũ kĩ xiêu vẹo khuất sâu trong con hẻm dài ngoằn nghèo mà người dân quen gọi là xóm nhà lá. Cái thời khắc mặt trời khuất dần sau những rặng núi, le lói những ánh vàng cuối cùng của một ngày, cũng là lúc những người dân trong xóm trở về từ các nhà máy, công xưởng, bến tàu, từ những nơi bụi bặm nhất của của cuộc mưu sinh.
Gia cảnh chị vốn khó khăn, lương công nhân của hai vợ chồng cộng lại tằn tiện lắm mới lay lắt qua ngày. Đã vậy ngày chị sinh bé Na, chồng chị chán nản, chẳng chịu đi làm, suốt ngày tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, khi về cứ đè chị ra mà chửi, đánh túi bụi. Chị lấy làm khó hiểu, vốn trước kia chị yêu anh vì tính thiệt thà, chịu thương chịu khó… mà nay anh thay đổi đến chóng mặt. Hỏi ra mới biết anh bị bạn bè khích báng là “vợ mày không biết đẻ, rồi cũng chẳng ra nổi thằng cu nào đâu”. Chị hoảng hốt, đúng là nhà chị chỉ toàn con gái thôi. Chị lo sợ, đêm nào bế con trong tay chị cũng thầm nguyện xin Đức Mẹ, xin Mẹ hiểu cho nỗi lòng của chị… Con nào cũng là con… nhưng Mẹ ơi!... Nghĩ tới đó nước mắt chị chảy dài. 


150 NĂM SINH NHẬT LM PHÊRÔ TRẦN LỤC

Thưa quý độc giả và quý tác giả,
Giải Viết Văn Đường Trường sẽ kết thúc “hành trình 6 năm” của nó khoảng hai tháng sau ngày bế mạc Năm thánh mừng 400 năm loan báo Tin mừng trên quê hương Giáo phận Qui Nhơn, 1618-2018. Cuộc họp mặt trao giải 21-22/9 năm 2018 cũng nhằm vào dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Linh mục Phêrô Trần Lục (1868-1927), thuộc giáo phận Qui Nhơn, tác giả tiểu thuyết thiếu nhi: “Hai Chị Em Lưu Lạc” [Xin lưu ý: Đừng lẫn lộn tác giả này với vị linh mục cùng tên, Phêrô Trần Lục (1825-1899), quen gọi là “Cụ Sáu”, tác giả cụm kiến trúc Nhà thờ Phát Diệm” nổi tiếng].
Đây là người đã có nhiều công lao đóng góp cho sự phát triển của Nhà in Làng Sông trong thời kỳ ấy, và tiểu thuyết “Hai Chị Em Lưu Lạc” cũng đã được tủ sách Nước Mặn cho tái bản vào năm 2012. Để làm quen và tìm hiểu thêm về Linh mục Nhà văn có kỷ niệm 150 năm sinh nhật này, xin mời quý vị và các bạn thưởng thức bài viết của Tác giả Lê Nhật Ký, giảng viên Trường Đại học Quy Nhơn”, vừa đăng trên Báo Bình Định số ra ngày 9/5/2018 với tựa đề: Tiểu thuyết “Hai chị em lưu lạc”: Một tấm lòng dành cho thiếu nhi.

Chùm thơ NỞ MUỘN



ĐAU KHỔ
Đau khổ là cơ hội tuyệt vời
Giúp ta cầu nguyện mãi không ngơi
Càng xin càng được nhiều ân phúc
Đưa thẳng ta lên đến tận trời.

CÁI BẪY MA
Chỉ cho vui thú trong dăm phút
Mà tặng đau thương suốt vạn ngày
Quỷ ma gài bẫy tài tình quá
Rất dễ sa mà gỡ khó thay

CẦU XIN THÌ SẼ ĐƯỢC
Mọi sự là của Chúa
Cần gì cứ việc xin
Và hãy vững lòng tin
Chúa sẽ cho toại nguyện



TÌNH KHÚC THÁNG NĂM


Tôi thưa với Mẹ:
- Mẹ ơi! Tháng Năm về, Tháng Hoa dâng Mẹ. Con là đứa con xa, rất xa về với Mẹ.

Rồi thôi. Câm lặng. Tôi chẳng biết nói gì.
Tôi nhìn lên Mẹ. Không gian và thời gian lắng đọng thành một. Đến nỗi tôi nghe thấy được tiếng nói với tôi từ ánh mắt Mẹ:

- Không xa đâu con ạ! Có lúc nào Mẹ không ở bên con?

Và tôi nghe được lời có khi là vô ngôn từ đáy lòng tôi:
- Sao con không nghe, không thấy?
- Con không nghe vì con bịt chặt tai con bằng những thanh âm xô bồ trần gian. Con không thấy vì con nhắm mắt, ngoảnh mặt đi đó thôi.


(Mã số 18-086)
Anh vớ vội cái áo khoác, bước vội bỏ đi, không ngoảnh mặt nhìn Dung lấy một lần, để lại chị đơn độc trong chính ngôi nhà của mình. Mọi chuyện diễn ra quá vội vàng, cả hai đều muốn là người nói và một người ra đi là tất yếu của cuộc cãi cọ không điểm dừng. Dung không chỉ buồn vì sự cứng cỏi, nóng nảy cũng như những cáo buộc vô cớ của anh, mà trên hết chị buồn bởi anh không đặt niềm tin nơi chị.
 Cửa hàng chị chiếm một góc nhỏ giữa thành phố ồn ào, tấp nập. Vẫn người ra kẻ vào, vẫn nhịp sống quen thuộc mà đầy nhựa sống nhưng chỉ khác là hôm nay, ngay lúc này cô chủ nhỏ cửa hàng TUYLIP  chỉ còn thấy tất cả như gánh nặng, mệt mỏi và vô hồn. Lòng chị không thôi nguôi được nỗi buồn đang đeo bám, đang víu chặt mà chưa cách nào để gỡ, để thoát ra, để về với những tháng ngày bình yên ban sơ chị từng có. Dung thở dài, một ý nghĩ lóe lên, không đợi lâu chị gọi điện nhờ Mong trông hộ cửa hàng dăm ngày để chị về quê. Dung biết đây là lúc chị cần nghỉ ngơi, cần một người lắng nghe, cần một người cho chị lời khuyên đúng đắn và người đó chỉ có thể là mẹ. Lúc này chị cần về với mẹ…


 Đừng Đánh Con Đau!


 Là một truyện vừa ngắn vừa dài bàn về những chọn lựa trong đời sống có khả năng thay đổi vận mạng của một đời người. Tương lai thật sự ra vẫn chỉ là một tờ giấy trắng. Người ta vẽ tranh, tờ giấy hóa ra tranh treo trong bảo tàng viện cho thiên hạ ngắm nhìn, trầm trồ khen ngợi. Nếu người ta lấy mực đổ lên tờ giấy trắng, kết quả ra sao, ai cũng biết. Đừng Đánh Con Đau! diễn tả những thay đổi quyết liệt trong cuộc sống có khả năng biến đổi cuộc đời của một người...


Thằng Khôi nằm trong phòng, lăn qua lăn lại nhớ lại lời càm ràm của má nó chiều nay,

— Ba chục năm rồi, bây giờ má mới nói cho con hay. Người trong thôn họ vẫn nói mày là con ruột của tía mày đó…

Thằng Khôi đăm chiêu, thắc mắc, không hiểu tại sao má nó lại nói như vậy.

Thằng Khôi bâng quơ nhìn ra bên khung cửa. Trăng rằm Bắc Mỹ chiếu sáng rực rỡ khuôn mặt của Kim, giờ này ngủ say, cặp mắt nhắm chặt, bờ vai nho nhỏ, dáng vẻ hiền lành. Nhìn vợ, thằng Khôi thắc mắc không hiểu tại sao gần đây Kim tánh tính nóng lạnh bất thường, đã thế lại còn hay cau có khó chịu. Thằng Khôi thở dài nhớ lại bầu không khí cơm nhão cháo khê từ khi má nó đặt chân tới phi trường San Francisco. Suốt cả một chặng đường dài hơn sáu chục dặm từ phi trường về tới căn nhà vùng thung lũng San Jose, Kim chỉ ngồi yên lặng ở băng sau, mắt lơ đãng nhìn ra hai bên đường. Ngồi lọt thỏm ở băng trước, nhận ra bầu không khí ngột ngạt trong xe, thím Tám cứ lúng ta lúng túng tuồng như người đang ngồi trên ổ kiến lửa. Để phá tan bầu không khí nặng nề như bữa cúng đình, thằng Khôi e hèm cần cổ,

— Má! Má đi đường xa có mệt không?





NHỚ MẸ YÊU


Đêm đã khuya, một mình trong tĩnh lặng
Ngẫm cuộc đời... Con nhớ mẹ, mẹ ơi!
Con còn thơ, mẹ vất vả tơi bời
Thân cò vạc đâu quản gì sương gió.

Quên tháng ngày vì đàn con thơ nhỏ
Tuổi xuân thì trao tặng cả chồng con,
Gánh nỗi niềm dầu dãi mãi chưa tròn
Con khôn lớn, mẹ thỏa lòng ước nguyện.

Thuở sinh thời, Mẹ dạy đều thánh thiện:
“Sống trên đời phải coi trọng nghĩa nhân,
Biết sẻ chia và theo đúng tinh thần
Đạo làm người, con phải luôn ghi nhớ!




(Một thoáng Quy Hòa, tháng 8.2017)
(Mã số 18-080)
Ở ngôi nhà thờ cổ này, cha tôi dị ứng với tiếng còi tàu. Mỗi khi nghe tiếng còi tàu, dù ban trưa hay khuya tối, ông đều chạy ra đường tàu, la hét ỏm tỏi. Có lần ông suýt quăng đá vào những toa tàu đang chạy, nếu người ta không ngăn ông kịp chắc ông đã nhận hậu quả về việc đó. 
Ở ngôi nhà thờ cổ này, ai cũng nói cha tôi khùng. Nhưng ông không phải là người khùng duy nhất. Hình như ở nơi chốn này, ai cũng bị “tưng tưng” hết. Không la hét vô cớ thì đánh nhau, không cãi nhau thì nát rượu.
Như trêu ngươi, bên một đường tàu, sót lại một ngôi nhà thờ cổ bỏ hoang. Người ta chưa có ý định gì với ngôi nhà thờ cổ này. Phá bỏ thì tiếc, tu sửa thì không khả thi vì tốn quá nhiều tiền. Và những phận người không nhà cửa trôi dạt đến ở trong ngôi nhà thờ cổ bỏ hoang, dột nát. Ngày tỏa ra đi làm, tối về ngủ. Trú trong ngôi nhà thờ cổ không chỉ có người, mà còn có cả những con dơi. Chúng kêu chí chóe trên trần nhà thờ, tranh giành chỗ ngủ.
Tôi biết vì sao cha tôi ghét tiếng còi tàu. Nhưng lẽ ra ông chỉ nên ghét tiếng còi tàu ban trưa. Đằng này ông ghét luôn cả tiếng còi tàu tầm khuya tối. Ông quên hay là ông quá nhớ?
Mẹ tôi bỏ chạy trốn khỏi cha tôi vào một buổi trưa trên một chuyến tàu. Ở xóm nhà thờ cổ này, có người nói mẹ tôi là người xấu khi bỏ chồng bỏ con chạy trốn như thế. Hoặc bỏ chồng thôi chứ sao lại bỏ con? Nhưng cũng có người thở phào nhẹ nhõm, mừng cho mẹ tôi chạy trốn thành công khỏi ông chồng vũ phu, bài bạc và nát rượu. 
Tôi luôn nhớ ngôi nhà cũ của gia đình tôi ngoài ruộng. Ngôi nhà đó, với nhiều người, chẳng cao sang gì. Một ngôi nhà nhỏ nằm giữa đồng không mông quạnh. Có tiền người ta ở làng, ở phố. Không tiền mới ra ngoài ruộng, cất đỡ một nơi chốn đi ra đi vào để có thể gọi là “nhà”. Ngôi nhà đó mẹ tôi nấu ăn trong căn bếp hẹp, sau nhà nuôi vài con heo, thả ít con gà. Ngoài giờ học, tôi lang thang ngoài ruộng mót lúa khi tới mùa gặt, bắt ốc bươu, rượt đuổi chú chim cúm núm xuất hiện trên đồng, đi hái những bông cỏ gà chơi với mấy đứa nhóc chăn bò, trâu gần đó. Tôi còn trồng những bông hoa mười giờ trong những gáo dừa, treo đong đưa mỗi khi gió đến.
Cha tôi bán nhà sau nhiều lần thua bạc. Mẹ tôi không còn được đứng nấu ăn trong căn bếp của mình nữa. Sau đó là những ngày tháng xin ăn nhờ ở đậu. Rồi dắt díu nhau tụ về ngôi nhà thờ cổ, nơi chứa chấp những linh hồn sống nửa người nửa ngợm, không có éo le này thì có khiếm khuyết kia. Người tin Chúa, người tin Phật, người vô thần… tụ tập dưới ngôi nhà thờ cổ bỏ hoang. Mẹ đem theo tràng chuỗi Mân côi, đêm nào cũng lần chuỗi, mơ về một căn bếp giống như căn bếp cũ. Mẹ xin Chúa có lại một căn bếp.
“Nhà” của chúng tôi là một góc trong nhà thờ cổ. Cha đi phụ hồ cho công trình xây dựng và tiếp tục cá độ đá banh, đánh bạc. Mẹ đi bán hàng rong ngoài ga. Sáng nào mẹ cũng đạp xe trong gió lạnh, chở lỉnh kỉnh thúng nia. Vài chai nước, đủ loại bánh, hộp thuốc, kẹo cao su… Món nào cũng có mà chẳng giá trị món nào. 
Chiều chủ nhật, mẹ luôn nghỉ bán, đạp xe chở tôi đi lễ nhà thờ. Xe chạy ngang qua lán trại công trình xây dựng. Những công nhân ở trần, hoặc mặc quần áo xộc xệch, hút thuốc, ngồi nhậu, trêu ghẹo hai mẹ con tôi.

Toàn Bộ Tông Huấn Gaudete Et Exsultate Của Đức Thánh Cha Phanxicô
Về Ơn Gọi Nên Thánh Trong Thế Giới Ngày Nay

Tin, bài liên quan:


1. “CÁC CON HÃY VUI MỪNG VÀ HÂN HOAN” [là câu] Chúa Giêsu nói với những người bị bách hại hoặc bị xỉ nhục vì Người (Mt 5:12). Chúa đòi hỏi mọi sự nơi chúng ta, và đổi lại Người ban cho chúng ta sự sống thật, là hạnh phúc mà vì nó chúng ta được dựng nên. Người muốn chúng ta thành những vị thánh chứ không phải chỉ hài lòng với một cuộc sống tẻ nhạt và tầm thường. Ơn gọi nên thánh hiện diện nhiều cách khác nhau ngay từ những trang đầu của Thánh Kinh. Chúng ta thấy điều ấy được diễn tả trong lời Chúa phán cùng ông Abraham: “Hãy đi trước mặt Ta, và hãy nên trọn lành” (St 17: 1).

2. Những điều sau đây không phải là một tiểu luận về sự thánh thiện, chứa đựng các định nghĩa và sự phân biệt hữu ích cho sự hiểu biết chủ đề quan trọng này, hoặc một cuộc thảo luận về các phương tiện thánh hoá. Mục tiêu khiêm tốn của tôi là tái đề nghị lời mời gọi nên thánh một cách thực tế cho thời đại của chúng ta, với tất cả những rủi ro, thách đố và cơ hội. Vì Chúa đã chọn mỗi người trong chúng ta “để nên thánh và trọn lành trước mặt Người trong tình yêu” (Eph 1: 4).

ĐƯỜNG ĐỜI


Đường đời vòng quanh như một con rắn tự ngoặm lấy đuôi mình. Con người trần trụi từ lúc bắt đầu mở mắt, năm này qua năm khác, đi lên cho tới giữa cuộc đời, vào tuổi trung niên, rồi dần dần đi xuống.
Rốt cuộc, với tấm hình hài trần trụi, con người lại trở về vị trí khởi hành.


Dần dần, con người tăng trưởng, tầm vóc cao lên.
Rồi một ngày, lưng thêm còng, gối thêm mỏi, thân hình như lụn dần, cuối cùng thì nghiêng mình cúi xuống cát bụi.


Dần dần con người khai triển ngũ quan, mở rộng tầm nhìn tầm nghe, những quan năng khác cũng tăng tiến hoàn chỉnh như thể buổi sáng mở toang các cánh cửa sổ.
Rồi mỗi ngày, mắt thêm mờ, tai thêm lãng, khép dần các ngũ quan như thể đóng cửa về đêm.


* Tặng các đội dâng hoa

“Vần thơ Lục bát Tháng Hoa,
Con xin dâng kính trước Toà Nữ Vương”

Ngàn Hoa năm sắc Cầu vồng,
Thơ vương ý nhạc sóng lòng dâng cao.
Hương thơm lan toả ngạt ngào,
Lòng con trùm phủ biết bao ân tình !

Ngàn Hoa khoe sắc tươi xinh,
Lời thơ, điệu nhạc, câu kinh diệu huyền,
Bụi trần lọc suối tinh tuyền,
Bao nhiêu khắc khoải ưu phiền xua tan !
Được tạo bởi Blogger.