https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg

 

Đôi bạn


Vui – hai đóa xương rồng

Vươn theo Nắng nở hoa

Hoa này khoe nụ trước

Búp kia vội chớm theo.

 

Chen nhau đóa này reo

Đóa kia cùng hòa tiếng

Vươn nhụy hồng lúng liếng

Tạ ơn mỗi sớm mai.

 

Những khi trời u ám

Hoa mong Nắng ướp hương

Đêm chờ Sương dưỡng gốc

Mướt cánh trắng mịn màng.

 

Hoa thơ sống nghèo nàn

Chẳng cần nhiều phân bón

Đất cát đẹp thân tròn

Duyên vẫn xinh bụ bẫm.

 

Đôi bạn sống âm thầm

Một cuộc đời khiêm hạnh

Không ham hố cạnh tranh

Không tranh dành đất cát.

 

Chỉ lắng nghe Thần Nhạc

Gió vi vu mỗi ngày

Cho cánh trắng thêm say

Theo Mây trời phiêu lãng.

 

Song Lam

 

CẢM NHẬN THƠ

“Đôi bạn”, một bài thơ 5 chữ của Song Lam thật nhí nhảnh và dễ thương làm sao. Theo tôi, có lẽ thi nhân muốn mượn vẻ đẹp của những cánh hoa để diễn tả tâm tình sống đạo của người Kitô hữu, tuy đơn sơ nhưng thật sâu lắng.

Hai đóa xương rồng tựa như hai người bạn tri kỷ, luôn quấn quýt bên nhau. Niềm vui, là cả hai đang cố gắng giúp nhau thăng tiến trên đường nên thánh “Vui – hai đóa xương rồng”. Ai cũng khao khát, cũng muốn sống Lời Chúa, noi gương Đức Giêsu để mỗi đóa hoa đều trở nên một vẻ đẹp của Thiên Chúa “Vươn theo Nắng nở hoa. Cho nên nếu bạn trước nỗ lực thực hành nhân đức này “Hoa này khoe nụ trước” thì bạn sau cũng cố gắng tu tập nết hạnh kia “Búp kia vội chớm theo”. Vui biết bao!

Niềm vui của đôi bạn còn là ngày ngày dâng lời ca tiếng hát để tán dương, chúc tụng và tạ ơn Thiên Chúa đã cho họ được hiện hữu và ban cho họ vẻ đẹp của một loài hoa, dù là nhỏ bé. Tựa như tiếng hót líu lo của những chú chim đón bình minh vào mỗi sáng, khi bạn này hát ‘Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa…’ thì bạn kia cũng hòa theo ‘Tự muôn đời và chính hiện nay, luôn mãi đến thiên thu vạn đại…’ “Chen nhau đóa này reo”. Và nếu bạn kia xướng ‘Kính mừng Maria đầy ơn phước Đức Chúa Trời ở cùng Bà…’ thì bạn này thưa ‘Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng tôi …’, và cứ thế đôi bạn xướng đáp trong từng chuỗi hạt Mân Côi “Đóa kia cùng hòa tiếng”. Và mỗi sớm mai khi vươn mình thức dậy, trong niềm vui đón ngày mới “Vươn nhụy hồng lúng liếng”. Đôi bạn hân hoan đến nhà thờ tham dự tiệc Thánh Thể, với ước mong được rước Chúa Giêsu ngự vào lòng, vì ‘Phúc cho ai đến dự tiệc Thiên Chúa’, để trong ân sủng của Ngài, đôi bạn sẽ ngày càng yêu mến nhau hơn và ngày càng xinh đẹp hơn “Tạ ơn mỗi sớm mai”. Đẹp biết bao!

Khi cuộc sống gặp những khó khăn thử thách “Những khi trời u ám”. Đôi cánh hoa không tìm nương tựa nơi cây đa gốc đề nào khác, mà chỉ một lòng trông cậy vào lòng thương xót của Thiên Chúa “Hoa mong Nắng ướp hương”. Cũng như sự nâng đỡ và phù hộ từ lời bầu cử của Mẹ Maria “Đêm chờ Sương dưỡng gốc”. Những khi vượt qua gian nan thử thách, khi trải qua mưa gió bão bùng, là cơ hội giúp cho xương rồng bám chặt hơn vào đất, để thân trở nên cứng cáp và mạnh mẽ, vẻ đẹp những cánh hoa càng thanh khiết và óng ả hơn nhờ ân sủng của Thiên Chúa “Mướt cánh trắng mịn màng”. Tín thác biết bao!

Đôi bạn sống cảnh thanh bần, không dựa nhiều vào các nhu cầu thể lý “Hoa thơ sống nghèo nàn”, bởi vì xương rồng không cần đất có nhiều chất dinh dưỡng, nếu đất quá nhiều chất đạm thì xương rồng dễ bị úng rữa “Chẳng cần nhiều phân bón”. Chỉ cần đất cát và một ít nước thì thân xương rồng cũng đủ sức phát triển tròn trịa “Đất cát đẹp thân tròn”. Có thể nói, nhờ sống tiết độ trong việc dinh dưỡng mà thân và dáng, cánh và nhụy hoa vẫn giữ được nét đẹp riêng của mình “Duyên vẫn xinh bụ bẫm”. Đơn sơ biết bao!

Đôi bạn không tự hào về vẻ đẹp, không khoe khoang tài năng, cũng không thể hiện mình đạo đức, mà âm thầm quy hướng mọi sự về Thiên Chúa “Đôi bạn sống âm thầm”. Chính trong sự kín lặng này mà họ cùng nhau tập sống khiêm nhường trong từng nhân đức “Một cuộc đời khiêm hạnh”. Đôi bạn tôn trọng nhau, nhường nhịn và giúp đỡ nhau cùng sống mà không ai đòi mình có nhiều quyền lợi hơn người kia “Không ham hố cạnh tranh”. Đôi bạn cũng không quá bận tâm lo lắng đến việc mình sẽ sống như thế nào, mà tín thác mọi sự trong tay Chúa quan phòng. (28) Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; (29) thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy (Mt 6, 28-29). Cho nên dù trong một giới hạn chật hẹp với ít đất cát, đôi bạn vẫn không tranh dành, nhưng chia sẻ cho nhau, để cùng đua nở những cánh hoa tuy bé nhỏ nhưng đầy duyên sắc, hầu góp phần làm đẹp cho đời “Không tranh dành đất cát”. Thanh thản biết bao!

Trên con đường về quê trời, đôi bạn không bám vào một chút đất cát để xây dựng cho mình một nơi cư trú vĩnh viễn. Nhưng, những cánh hoa thơ chỉ quan tâm lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố và dấu chỉ “Chỉ lắng nghe Thần Nhạc” dưới sự soi sáng và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần trong từng ngày sống “Gió vi vu mỗi ngày”. Nhờ đó, đôi bạn phân định được đâu là Ý Chúa và đâu là ý riêng để có thể sống trọn vẹn cho tình Ngài “Cho cánh trắng thêm say”. Và chính nhờ tín thác vào quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa, mà cuộc sống vắn vỏi của một loài hoa luôn toát lên vẻ đẹp của sự bình an và hiệp nhất với nhau và với Chúa “Theo Mây trời phiêu lãng”. Hạnh phúc biết bao!

Nha Trang, ngày 02/05/2021

Tháng hoa mừng Mẹ

 

Bình Nhật Nguyên






Tùy bút

TO TIẾNG VỚI MÁ

---|sss|---

Có một điều mà tôi luôn cảm thấy áy náy trong lòng mình, đó là không bao giờ tôi nói chuyện nhỏ nhẹ với má. Chẳng biết từ bao giờ, lúc nào và khi nào tôi trở nên cộc cằn với má như thế.

***

Nhớ ngày mới đi tu, năm đó tôi vào tập ngặt và không được về nhà. Đó là cái tết đầu tiên tôi không được ăn tết ở nhà với má. Tôi biết má rất mong mỏi để gặp tôi. Má chờ đợi trong nước mắt! Đến tết năm tập hai, tôi được về nhà ba ngày. Vì nhà nhỏ, mà ngày tết các chị và cháu về đông đủ, nên không đủ phòng để ngủ. Tối mùng một, tôi trải chiếu nằm ngay hành lang. Trước khi ngủ, tôi nói má không cần giăng mùng cho con, con đã sức thuốc chống muỗi rồi! Đang lơ mơ ngái ngủ thì nghe thấy lục đục trên đầu, mở mắt ra tôi thấy má đang giăng mùng cho tôi. Như một phản xạ tự nhiên, tôi quát lên: Đã nói không nằm mùng rồi... Thế là bật dậy, ra ngoài hiên, dưới gốc cây mít tố nữ, chỗ có cái võng, tôi nằm đó mà ngủ.

Sáng hôm sau mùng hai tết, tôi thức dậy thật sớm đi lễ và quay trở lại nhà dòng luôn, dù vẫn còn ngày mùng ba để ở nhà với má.

***

Rồi lâu lâu tôi cũng về nhà thăm má. Má cứ hay hỏi con có ăn gà không để má làm. Tôi nói con không ăn. Má nói con ăn đi, gà ba con nuôi nhiều lắm. Chỉ vậy thôi mà tôi đã quát lên: Đã nói con không ăn...

Mới đây thôi chứ có xa xôi gì lắm đâu, tôi về nhà, và lần này cố gắng lắm để ăn cơm ở nhà. Tôi vừa ngồi vào bàn, thì đã thấy má bước thấp bước cao khập khiễng mang chén cơm đến cho tôi, chỉ vậy thôi mà tôi cũng to tiếng với má: Đã nói rồi, con muốn ăn gì con lấy, má không cần phải phục vụ con.

***

(Hình minh họa)

NÉT ĐẸP CHÂN TU (1)

Chân tu, chân lý, chân thành,
Ba chân đều quý, khởi hành chân tu.
Trở nên giống Chúa Giêsu
Tu là chỉnh sửa, đời dù nổi trôi.

Tu là gìn giữ tinh khôi
Con người bản thiện từ hồi sơ sinh (2)
Tu là nét đẹp nguyên trinh
Giống hình ảnh Chúa, Thánh Linh rạng ngời.
Chân tu diễn tả cuộc đời
Xoá đi nước mắt, nụ cười rạng lên.
“Đi ra, sống giữa ngoại biên”(3)
Êm đềm tình Chúa, an nhiên tình người.
Hài hoà sức sống đất trời
Bình an, hạnh phúc là đời chân tu.
Tới ngày hoà nhập thiên thu
Kết trong chân lý - Giêsu nhân lành.

Chân tu, chân lý, chân thành,
Ba chân đều quý, khởi hành chân tu!

Lm Phêrô Hồng Phúc

________________
(1) Hứng khởi từ bài giảng của Đức Tổng Giuse Nguyễn Năng đề cập tới chân tu.



(2) “Nhân chi sơ, tính bản thiện”
(3) Evangelii Gaudium số 20-24.

VIẾT CHO NHÃ*

(Dựa trên câu chuyện có thật về em Phêrô Khoa Nguyễn Văn Nhã)


Nhã thương mến!

Gặp em vô tình trên một trang truyền thông của giáo phận Vinh, khi em đã về với Chúa. Tôi miên man nghĩ về sự chết, sự chết của em ngay chính giữa mùa Phục sinh này. Chết là một hiện tượng rất bình thường với con người. Chúng ta ai cũng phải chết. Nhưng chúng ta có thản nhiên chấp nhận nó không? Nó có phải là một sự cố số phận chúng ta không thể tránh? Tôi hình dung ra trong buổi lễ an táng của em, đã có rất nhiều bài thánh ca tôn vinh Thiên Chúa và cả những khúc ca ly biệt đang da diết xót xa vang lên trong chính tâm hồn những người thân yêu, những bạn bè của em. Và khi quan tài em từ từ đi vào lòng đất, chúng tôi, những người còn sống nghĩ gì về bài học em để lại?


Nhã à! Cảm ơn em, cảm ơn về hành động của em. Chẳng có thứ huân chương nào đong đo được sự hy sinh của em, một sự hy sinh vì người khác, một sự hy sinh xuất phát từ những bài học về Đức Ái Kitô giáo phải không em? Em đã lớn lên trong âm hưởng từ những câu kinh của bà, của mẹ. Cái nôi xứ đạo đã nuôi lớn em. Dù gia cảnh khốn khó, nhưng em vẫn vượt khó để bước tới giảng đường đại học. Em là niềm tự hào, là niềm vui của nội, của bố mẹ và chỗ dựa cho các em. Chiếc hình bà em làm tôi xúc động, đôi mắt ấy đã cạn nước vì thương đứa cháu ngoan. Nơi cổ bà, tôi thấy chiếc Áo Đức Bà đã cũ mèm, như thể bà đã cầu xin sự chết lành từ lâu rồi. Có lẽ mái đầu bạc ấy chưa đành tin vào sự ra đi của em. Phải chăng bà đang nghĩ: giá mà bà được chết thay cho em, để em được sống và thực hiện ước mơ tuổi đôi mươi.



Câu chuyện về cuộc đời em đã được viết lên, không phải em là một vĩ nhân hay thiên tài. Em bình thường, rất bình thường như bao cậu sinh viên khác. Đôi mắt và nụ cười của em nói lên những ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ. Tôi còn được biết, tháng 7 này em sẽ tốt nghiệp Đại học và dự định sẽ đi tu. Đó là một ước mơ đẹp, rất đẹp Nhã ạ! Nhưng chương trình của Chúa chúng ta sao có thể thấu biết hết được. Chúa muốn điều tốt đẹp cho chúng ta, và chúng ta có quyền tự do để vẽ lên bao sáng kiến làm vinh danh Ngài. Em đã bắt chước Chúa trước cả khi em đi tu. Hy sinh vô điều kiện vì lòng yêu người.

Câu chuyện của em được viết lên như một bản tình ca trong thời đại vô cảm ngày hôm nay. Câu chuyện ấy chỉ trong chớp nhoáng và ngắn ngủi nhưng bài học từ tấm gương em thì mãi mãi ngời sáng. Tuổi 23 của em sẽ đi vào vĩnh cửu với hai chữ Hy sinh cao cả. Tôi tự hỏi, trong giây phút giữa lằn ranh tử thần của ngọn sóng ngoài kia đang đe dọa ba mạng người với tiếng cầu cứu vang lên, em đã nghĩ gì? Liệu em có kịp nghĩ để đắn đo lựa chọn? Thứ gì đã thôi thúc bước chân em chạy về phía đó? Để ba con người được cứu sống, em đã chấp nhận tan biến giữa lòng đời. Sự ra đi của em không vô nghĩa! Lòng tốt nơi đáy tâm hồn của con người trong khoảnh khắc nào đó chợt vụt sáng như vì sao chổi. Nhưng lòng tốt ấy không bao giờ rơi chìm vào bóng đêm thất vọng. Lòng tốt của em mãi mãi là vệt sáng không lịm tắt trên nền trời hôm nay. Đẹp biết mấy và trân quý biết mấy. Em đã về Thiên đường, về với Chúa là Cha. Nhà văn Hemingway đã từng nói: “Khi bạn yêu thương, bạn muốn làm vì người khác. Bạn muốn hy sinh. Bạn muốn phục vụ.” Có lẽ em chưa từng đọc câu nói ấy nhưng em đã sống chân lý đó rồi! Và em cũng sẽ sống mãi trong lòng mọi người, sống mãi ở lứa tuổi đẹp nhất của đời người - tuổi trẻ.



Nhiều lúc, tôi nghĩ mình chẳng có gì để cống hiến cho tha nhân, nhất là khi ngồi bên những người nghèo, những người đau khổ hay những người đang hấp hối. Nhưng khi tôi nghĩ về một ngày nào đó, tôi cũng sẽ chết, nhưng chẳng ai có thể biết trước mình sẽ chết cách nào. Nghĩ như thế, bỗng nhiên tôi lại thấy gắn bó hơn với những cảnh đời trước mắt và có thêm nghị lực để can đảm lên đường sống đời chứng nhân cho Chúa. Cám ơn em, vì bài học về lòng can đảm tuyệt vời. Lòng can đảm và sự chết của em đã truyền đi như một thông điệp, một cách để làm chứng cho Đức tin của chúng ta phải không Nhã?

Cuối cùng, tôi xin chép gửi tặng em lời kinh về Thánh Quan Thầy của em - Thánh Phêrô Khoa. Ngài đã được nhiều người quý mến và tôn kính trên quê hương em và trong lòng Giáo hội Việt Nam. Cái tên của em giờ đây cũng sẽ mãi được khắc ghi như thế: Phêrô Khoa Trần Văn Nhã, người con của xứ Nghệ. Nguyện cầu cho em về hưởng Nhan Thánh Chúa.

Lạy ơn Đức Chúa Trời lòng lành vô cùng
Đã đoái thương nước Việt Nam
Ban cho anh em chúng con được phúc Tử vì đạo
Xin Chúa Con vì công nghiệp Cha Thánh Phêrô Khoa
Nghe lời chúng con cầu xin cho được mọi sự lành
Và ban ơn cho chúng con được bắt chước Cha Thánh Phêrô Khoa
Làm sáng danh Chúa con ở đời này
Cho ngày sau được lên Thiên đàng
Hưởng phúc đời đời Amen.

(Lời Kinh Cha Thánh Phêrô Khoa)

Thân mến chào em!

Chị.

Anna Bích Hạt

*Ghi chú: Em Phêrô Khoa Nguyễn Văn Nhã, thuộc giáo họ Đồng Lăng, Giáo xứ Cẩm Trường, Gp. Vinh. Nhã 23 tuổi, sinh viên Khoa Công nghệ thông tin, Trường ĐH Khoa học Huế. Chiều 30.4. 2021, tranh thủ thời gian nghỉ lễ, nhóm bạn của em Nhã đã cùng nhau về biển Thuận An (Huế) vui chơi tắm biển. Tại đây, phát hiện 3 bạn nữ trong nhóm bị sóng cuốn xa bờ, đuối nước, nên Nhã bơi ra ứng cứu. Sau khi đưa được các bạn vào nơi an toàn thì Nhã kiệt sức và bị sóng cuốn trôi.




Ảnh Đêm rằm trên Nhà Nguyện Thánh Tâm- Nhà thờ Phát Diệm

Nét mặt nó u sầu phiền muộn, đôi mắt hốc hác, hình hài chỉ còn ‘da bọc xương’. Nó nhìn về phía cửa sổ ra sân trước bệnh viện. Ngoài trời đổ mưa phùn, gió bấc đuổi bắt vài hạt mưa bụi làm nhiệt độ giảm xuống thấp hơn. Hình như Nó lo cho hai đứa trẻ bị lạnh hay đang chờ đợi điều gì đó?

Thân hình nó tiều tụy lắm! Nó nhìn vào khoảng không vô định, miệng không mấp máy. Đôi tay Nó như người bại liệt, da dẻ nhợt nhạt như người thiếu máu. Tôi không nhận ra nó trước lúc đọc bệnh án và lý lịch! Nó cố tình không nhận ra tôi hay đối với nó giờ này, mọi ký ức đã trôi vào quên lãng?

Phượng ơi! Cậu có phải là Phượng Lan, ở Bản Eo không? Mắt nó lờ đờ nhìn tôi, miệng run lẩy bẩy, ấp úng không thốt nên lời, hàng lệ bắt đầu lăn trên gò má gầy guộc!

Sao cô biết tên Tôi? Cô là ai? Nó hỏi Tôi.

Tớ Thu đây! Thu choắt. Phượng còn nhớ không? Nó gục đầu xuống oà khóc nức nở! Nó khóc như chưa được khóc bao giờ vậy. Thật ra, Nó đã khóc quá nhiều. Tôi cùng khóc với Nó! Cơ thể nó suy nhược vì lao lực. Có lẽ, vì nó quá khổ cực và bần cùng. Nó ôm lấy tay tôi vừa khóc vừa run lên.

Hoàng hôn đã xuống núi, nhưng tôi không muốn về phòng trọ. Đêm nay tôi ở lại với nó. Nó thật đáng thương, chẳng ai đến chăm và thăm nom. Cha mẹ đẻ của nó đã già lại đau bệnh. Anh chị em thì lập gia đình ở xa. Gia đình nhà chồng không đoái hoài đến nó. Chồng nó thì trôi dạt ở phương trời nào không ai hay! Nó được láng giềng đưa đi cấp cứu.

***

Nó và tôi sống cùng một bản và học chung một lớp. Nhưng từ khi nó sang sông! Tôi lao vào học tập, nên chúng tôi chẳng biết thêm gì về cuộc sống của nhau. Tình cờ gặp lại nó ở nhà thương, khiến chúng tôi xúc động. Sau ngần ấy năm, giờ nó là bệnh nhân của tôi. Bệnh án của nó không có gì đáng lo, chỉ cần nghỉ ngơi bồi dưỡng là ổn, chỉ lo những chuỗi ngày còn lại của đời nó sẽ ra sao? Tôi lặng lẽ nhìn nó trong nước mắt! Quả đúng như nhiều người nói, cuộc sống như là một mầu nhiệm. Và để hiểu mầu nhiệm ấy, con người cần sống chậm lại, thinh lặng thì mới có thể thấu cảm được.

Gần chục năm qua, nó lặn lội đi sớm về khuya như một thân cò, “eo xèo mặt nước buổi đò đông.” Nó đã làm nhiều nghề, nhưng không có nghề nào ủng hộ nó! Từ mò cua bắt ốc, lao công dọn dẹp, thu phế liệu, thậm chí bán máu lấy tiền nuôi con! Buôn bán nó cũng từng làm. Đi ở, nó cũng đã thử. Cuộc đời nó ba chìm bảy nổi sau ngày vu quy!

Thời áo trắng của nó khép lại sớm. Nó buộc phải nghỉ học để bước sang sông, bao mộng mơ hoài bão bị cuốn trôi theo dòng nước. Một ngã rẽ ngoài sự tưởng tượng của nó và nhiều người. Tuy nơi nó bắt đầu cuộc sống mới là một nơi nhiều hứa hẹn.

Chồng nó đẹp trai, có khiếu ăn Nói. Nó quen anh trong dịp lễ Noel. Tiếng xét yêu đương khiến nó đánh đổi với chính niềm tin của mình. Cuộc hôn nhân “tai nạn” của nó và hắn diễn ra trong vội vã nhưng âm thầm, như báo trước một tương lai không bình yên!

Một vài người thân như ruồng bỏ nó. Mẹ nó khóc nhiều. Nó cũng tủi thân, nhưng điều đau khổ hơn là hắn đã bỏ rơi nó. Nó đã yêu và trao hiến cho hắn trọn vẹn, vô vị lợi, đánh đổi tất cả, gia đình và niềm tin. Nó sống những chuỗi ngày đầy nước mắt kể từ về với hắn. Hắn làm tan nát cuộc đời nó. Khi nó nhận ra đàng sau sự ngọt ngào đường mật của hắn thì đã quá muộn! Ngày qua ngày, nó ôm con gào thét trong nỗi đau quằn quại.

Nó nghe thiên hạ nói đủ điều về hắn: cờ bạc, rược chè, gái gú, côn đồ máu lạnh… Trước khi cưới nhau, hắn là một chàng trai lịch lãm, nhưng hắn đã trở nên một con người khác từ khi nào? Chỉ có hắn mới biết được. Việc gì hắn cũng dám làm. Ngay cả nắm đấm vào mặt vợ, vào anh chị em và cha mẹ hắn! Hắn không quan tâm sự tồn tại của bất cứ ai. Thứ hắn cần là tiền và những cuộc ăn chơi trụy lạc thâu đêm.

Tôi không hiểu tại sao nó có thể sống với hắn với hai mặt con? Trái tim nó lớn quá, nên dù hắn xem nó như nô lệ nhặt từ xó chợ về, nó vẫn yêu hắn. Thật ra, nhiều lần nó muốn bỏ lại tất cả để ra đi, nhưng một phần vì thương con, một phần vì yêu hắn, nên nó cam chịu. Nhưng có thể, nó muốn giữ trọn lời thề của giao ước hôn nhân mà niềm tin dạy nó?

Cho đến một ngày, tận mắt nó nhìn thấy hắn gian díu với người phụ nữ khác ngay trong nhà mình! Từ đó, bầu trời trong tim nó sụp đổ. Nó kìm lòng chịu đựng, không phải vì yêu hắn, nhưng vì thương con. Nó không muốn con nó không có cha. Thật ra, Nó nhiều lần tha thứ và hi vọnghHắn trở về, nhưng hắn vẫn ngựa quen đường cũ!

Quá đau khổ, Nó giận cả Chúa. Nó bỏ lễ. Nó sợ gặp nhiều người, nhất là những người trước đây là khuyên Nó không nên lấy chồng ngoại đạo. Nó bắt đầu oán trách về cuộc đời mình. Nó hối tiếc về chọn lựa sai lầm ngày ấy, nhưng nó không hề nói ra. Nó trách mình đã nhẹ dạ cả tin, Nó trách mình đã yêu một cách mùa quáng, nên không nghe lời khuyên của cha mẹ và bạn bè. Nhưng có lẽ, nó ăn năn với Chúa nhiều hơn, Đấng mà nó một đời tin yêu một đời, nhưng giờ nó như đã quên Ngài.

Thật ra, nó không bỏ đức tin, nhưng vì hắn không cho nó đến nhà thờ. Có lần, nó đưa con đi rửa tội và đi lễ, bị hắn cho một trận đòn chí tử. Hắn nói: “Mày rửa tội cho bọn nó, thế sau này ai thờ tao? Mày đi lễ làm gì? Mày đi lễ có được tiền không? Mày đi lễ, mày cầu nguyện thế nào mà tại sao tao không trúng được số đề, làm ăn toàn thất bại vậy?...” Rồi hắn xúc phạm niềm tin mà trước đây hắn từng đi theo, xúc phạm đến lời cam kết khi bước vào cuộc hôn nhân này.

Khi say, hắn chửi cả cha đứa nào sinh ra hắn. Hắn giống Chí Phèo. Nhưng Chí Phèo năm xưa còn cao thượng hơn hắn. Vì Chí Phèo có khao khát lương thiện. Câu nói cuối cùng của Chí Phèo nói với Bá Kiến, khiến người đời suy nghĩ! Rằng: “ai cho tao lương thiện?” Còn hắn, có lẽ đời hắn không cần lương thiện, hắn cần lương tháng!

Hắn không cần lương thiện vì dù hắn đã trở thành một người theo đạo Công giáo. Nhưng hắn đã chối bỏ sự thánh thiện! Chẳng qua, ngày ấy, hắn vì bất đắc dĩ, nên miễn cưỡng theo đạo để làm đẹp lòng gia đình bên vợ, cũng như để tiến tới đám cưới hợp lệ, bằng không, đám cưới ấy sẽ vắng bóng họ hàng bên ngoại. Hắn đã thực hiện cú lừa ngoại mục. Hắn đã đạt được mục đích. Ôi ! Vô phúc cho kẻ dùng sự thánh thiện để lừa dối!

***

Phượng! Cậu về sống ở nhà Thu nhé? Tớ thì đang sống một mình. Nhà tớ rộng lắm!

Cậu Nói sao? Cậu đang độc thân hả? Nó hỏi tôi.

Uhm ! Tớ còn độc thân. Tớ đang chờ người đến rước về nhà họ đây. Nói rồi tôi quay ra cửa sổ như muốn trốn cái nhìn tò mò của nó. Hình như nó đoán ra điều gì đó.

Nó cười và nói: “Lấy chồng thì chọn đứa cho đàng hoàng, đừng lấy chồng ngoại đạo nhé. Đừng đi lên vết xe đổ của tớ nhé tớ. Tớ đã đau khổ một đời. Nhiều năm nay tớ không được đến nhà thờ. Tớ sống như đã chết vậy! Nhưng lúc nào tớ cũng cầu nguyện, xin Chúa, xin Mẹ nâng đỡ.”

Cả hai chúng tôi òa khóc!

Tôi thì thào với nó: “Đức tin của cậu lớn quá. Dù sống trong đau khổ, cậu vẫn không quên Chúa, cậu vẫn cầu nguyện. Tớ tin là Chúa sẽ nhận lời cầu nguyện của cậu. Thú thật với cậu, nhiều lúc tớ bỏ quên và than trách Chúa, nhất là lúc gặp khó khăn tớ không cầu nguyện nhiều như cậu. Cám ơn Cậu đã dạy cho tớ một bài học quý giá”

Thưa bác sĩ! Có chuyện gì thế? Một y tá tìm tôi.

Dạ có người nhà của bệnh nhân Phượng xin gặp.

Alo ! Xin lỗi ai vậy? “Dạ tôi là mẹ chồng của Phượng. Phiền bác sĩ nói với Phượng rằng: Hưng, chồng của nó vừa qua đời do xốc thuốc phiện!”

Nó ngã gục ngay xuống giường và bất tĩnh!

Tôi cầm điện thoại lên chỉ kịp nghe: “xin bác sĩ làm ơn nhắn dùm Phượng, cho con nó về chịu tang bố chúng, cám ơn bác sĩ!”

***

Hơn bốn tháng sau, tôi mới có dịp về thăm nó. Điện thoại của nó không liên lạc được. Tôi tìm đến căn nhà nhỏ của nó, nhưng hoàn toàn vắng tanh. Căn nhà lá lát gạch nung vách nứa lạnh tanh! Ở giữa nhà, bát hương khói, phía trên là di ảnh Hắn, phía sau là dòng chữ: “cầu cho anh Phêrô Hải mới qua đời, hưởng dương 32 tuổi!”. Người trong tấm ảnh thờ khá đẹp trai! Thật ra, tôi không hiểu tại sao lại gọi chồng nó là hắn? Lẽ nào, tôi thành kiến về người đã gây đau khổ cho Phượng? Nhưng từ tận đáy lòng, tôi vẫn cầu nguyện cho chồng nó. Đúng vậy, con người được phép lên án tội lỗi, nhưng phải xót thương tội nhân.

Đột nhiên, bà lão tiến tới hỏi: “Cô tìm cô Phượng à?

Dạ! Cháu là bạn Phượng, cháu tới thắp hương cho chồng nó.

Bà hàng xóm thở dài đáp: “Ừ! Phượng dắt con đi được hơn 1 tuần nay. Tội nghiệp con bé! Nhưng có khi chồng nó chết coi như là một sự giải thoát cho nó! Hi vọng nó về với cha mẹ nó, may ra đỡ cơ cực hơn, rồi làm lại cuộc đời, chứ ở đây như là địa ngục trần gian, ai mà chịu được! Vậy mà con bé nó chịu đựng được ngần ấy năm thật không thể tin được? Thôi coi như con bé đã trả nghĩa vợ chồng. Cái thằng Hải, nó có phúc mà không biết hưởng. Mà nghe đâu vợ chồng nó là người theo đạo Công giáo gì đó?”

Tôi chào bà cụ ra về mà lòng buồn tê tái, xót xa cho cuộc đời nó. Nhưng điều bà cụ vừa nói khiến Tôi đau nhói hơn! Đi hết con đường đất, phía trước tôi là con đường liên huyện dẫn tôi về Bản Eo. Mặt trời ngã dần xuống sườn đồi, con dốc cao dẫn về bản Eo. Hai bên đường là đồi keo xanh mướt. Mùi hoa dẻ thoang thoảng. Xa xa phía đồi trọc, hoa sim, hoa mua và mẫu đơn đang đua sắc. Trên nền trời, từng khóm mây vội vã cuốn lại như muốn thúc dục đàn én về tổ. Lâu lắm rồi tôi mới được thưởng thức hương vị mặn mà thân thương của đất mẹ. Quả đúng như người đời thường nói: “dù vui hay buồn, đất mẹ là nơi ta muốn về nhất”

Không biết nó có về lại quê xưa không? Không biết nó có nhớ và suy nghĩ gì về tôi không? Có lẽ, giờ này nó đã biết về ý định của tôi qua gia đình? Hi vọng nó không quá ngạc nhiên về việc tôi quyết định sống độc thân dâng hiến để phục vụ nhiều người, trở thành ‘bác sĩ tình thương’, để điều trị cho những tâm hồn bị thương tổn! Vì thiếu tình thương cũng là một căn bệnh nan y, một ‘thứ virút’ đã và đang gây đau khổ cho nhân loại này!

Nó và tôi, ai cũng có ơn gọi. Chúng tôi chỉ khác nhau về bậc sống. Đau khổ hay hạnh phúc phụ thuộc khả năng phân định ơn gọi của từng người. Vậy nên, lựa chọn ơn gọi không giống một ván bài theo kiểu may rủi. Phân định và lựa chọn ơn gọi cần ơn Chúa, và sống ơn gọi đó nhờ Người. Vì lựa chọn ơn gọi luôn là điều khó, và sống trọn vẹn ơn gọi đã lựa chọn lại càng khó hơn gấp bội.



Mùa Phục Sinh 2021

Hướng tới Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, cầu cho ơn thiên triệu.

Lighthouse


Trên Patheos ngày 9 tháng 4, Cha Matthew P. Schneider, LC, có bài tường thuật về một ơn gọi đặc biệt trong thời đại xô bồ hiện nay. Đó là trường hợp Montserrat Medina Martínez, một thiếu nữ Tây Ban Nha. Cô thành công rất sớm trên đường đời: ở tuổi 30, cô sáng lập một công ty được giới kinh doanh mệnh danh là công ty khởi nghiệp.



Theo từ điển mở Wikipedia, Công ty khởi nghiệp là một công ty hoặc dự án do một doanh nhân thực hiện nhằm tìm kiếm, phát triển và chứng thực một mô hình kinh tế có khả năng qui mô lớn. Công ty của Medina đang lên như diều trong lĩnh vực kinh doanh tại Tây Ban Nha. Dù mới 36 tuổi nhưng cô đã đi từ thành công này đến thành công khác trong sự nghiệp. Với học bổng từ Stanford, cô đã tạo ra một công ty khởi nghiệp ở Thung lũng Silicon mà sau đó cô đã bán cho Pay Pal với giá vài triệu dollars và dù còn trẻ nhưng cô đã được ký hợp đồng với tư cách là đối tác của công ty kế toán thời danh Deloitte. Danh tiếng, tiền bạc, nổi tiếng quốc tế… Cô có tất cả mọi thứ, ngoại trừ hạnh phúc. Sau một thời gian phân định, cô thấy Chúa đang kêu gọi cô sử dụng tài năng của mình một cách khác: cô quyết định bỏ mọi thứ và vào một tu viện dòng Thánh Augustinô với tư cách là một nữ tu chiêm niệm.

Cô đã thổ lộ cõi lòng trong một bức thư và giải thích quá trình dẫn cô đến tu viện với các đối tác của cô tại Deloitte. Người ta có thể tưởng tượng phản ứng của họ sẽ ra sao.

Montserrat tốt nghiệp ngành Kỹ sư Hàng không, hạng danh dự. Ngay sau đó, Stanford đã cung cấp cho cô một học bổng có trả tiền để lấy bằng Tiến sĩ về Toán học vi tính ở đó. Chính trong môi trường này, cô đã đồng sáng lập Jetlore, một công ty trí tuệ nhân tạo mà kết cục trở thành một chuẩn mực ở Thung lũng Silicon và cuối cùng bán cho công ty khổng lồ PayPal. Sau đó, cô được đề nghị trở thành đối tác của Deloitte ở Tây Ban Nha khi mới 34 tuổi.

Tuy nhiên, cô đã quyết định từ bỏ tất cả những thứ đó để theo Thiên Chúa. Trong bức thư gửi cho các đồng nghiệp, cô thừa nhận mình là người Công Giáo nhưng bấy lâu nay không đặt Thiên Chúa làm trung tâm. Cô nhận định, “Tôi đã sử dụng mọi tài năng mà lòng tốt vô hạn của Thiên Chúa chúng ta đã ban cho tôi, nhưng tôi sử dụng chúng vì vinh quang của chính mình và để tích lũy sự giàu có trên thế giới này. Tôi đã chiếm đoạt các hồng ơn nhận được chỉ để tìm kiếm lợi ích cho riêng mình. Tôi đang tự lừa dối bản thân: không hề làm tôi hạnh phúc, thái độ đó chỉ gây ra cho tôi sự trống trải ngày càng lớn thêm”.

Montserrat giải thích với những đối tác khác của Deloitte, “Tôi chìm trong nỗi khốn cùng, không biết phải làm gì với tất cả tội lỗi của mình, tôi hiểu rằng Thiên Chúa đã tha thứ tất cả vì Người là tất cả mọi sự tốt lành và thương xót. Bây giờ tôi muốn bỏ tất cả để đi theo vị Thiên Chúa này, Đấng đã chinh phục trái tim tôi. Tôi sống một món nợ tình yêu… mặc dù tôi biết rằng về phần mình, món nợ đó sẽ luôn được trả”.

Trước khi xin lỗi đồng nghiệp về những lỗi lầm mà cô có thể đã làm đối với họ, người phụ nữ trẻ này tuyên bố rằng cô đã đưa ra “quyết định quan trọng nhất và đồng thời là quyết định đơn giản nhất trong cuộc đời tôi”.

“Tôi đã quyết định, không hối tiếc, ngừng đầu tư vào tương lai trần thế của mình và bắt đầu đầu tư vào tương lai vĩnh cửu của mình. Vì tôi rời bỏ thế gian để phục vụ và làm theo Thánh Ý Thiên Chúa, nên tôi chắc chắn rằng Chúa nhân từ sẽ cung cấp nhiều hơn sự thiếu thốn của tôi với những thứ mà tôi để lại để đi theo Người. Đúng ra, tôi không rời khỏi thế giới, mà chỉ rời bỏ những thứ thuộc về thế giới. Tôi muốn dâng cuộc đời mình cho cầu nguyện và dâng hiến cho tất cả những người được Thiên Chúa yêu thương”, cô khẳng định như thế.

nguồn: Vietcatholic




SỨC MẠNH CỦA SỰ THINH LẶNG

(Cảm nhận từ câu chuyện người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng Gioan 8,1-11)


Người xưa có câu “không có gì mềm bằng nước, nhưng cũng không có gì mạnh bằng nước”. Thật vậy, trong điều kiện bình thường, nước là một loại vật thể hết sức mềm mại. Nó có thể thích nghi với tất cả mọi địa hình hay vật chứa nó. Thế nhưng, nước lại có sức mạnh khủng khiếp trong cơn giông bão hay mưa lũ. Nước chảy cuồn cuộn, mạnh mẽ đến mức có thể phá đổ và cuốn phăng tất cả những gì trên dòng chảy của nó.

Trong cuộc sống con người, có một trạng thái tinh thần có tính chất tương tự như nước, đó là sự thinh lặng. Thinh lặng là một trạng thái cần thiết cho sự cân bằng và phục hồi sự sống, sức khoẻ… Thinh lặng là điều kiện đem lại cho con người sự nghỉ ngơi, bồi bổ sức khoẻ tâm thể lý. Tuy nhiên, trong những lúc cô đơn buồn bã; sau những sai lầm hay lỗi phạm; sau những xung đột và nóng nảy… thinh lặng là lúc con người cảm thấy sợ hãi và trống trải nhất. Quả thật, chính trong những giây phút hồi tâm trong thinh lặng, con người cảm thấy mình bị trần trụi, phải đối diện với chính mình, với những yếu đuối và lầm lỗi, với cảm giác bơ vơ và bị bỏ rơi… Chính giây phút ấy, tiếng nói của lương tâm gào thét khiến cho con người điên đảo, hoảng loạn, mất bình an và thậm chí là bị điên loạn. Đó chính là sức mạnh của sự thinh lặng. Nó buộc con người phải đối mặt với sự thật, với quan toà lương tâm và với sự trần trụi thực sự của con người. Chính vì thế, tôi có thể nói rằng “không có gì dễ chịu bằng thinh lặng, những cũng không có gì đáng sợ bằng thinh lặng”.

Một số người ngày nay quan niệm rằng, thinh lặng là biểu hiện của sự hèn nhát và thất bại. Trái lại, sự náo nhiệt, hoan hỉ là biểu hiện của niềm vui, của thành công, của sức mạnh. Quan niệm này đúng không? Để trả lời cho câu hỏi này, người viết xin dùng câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng Gioan (Ga 8,1-11) để lý giải. Trước hết, chúng ta cùng tìm hiểu xem phải chăng sự ồn ào náo động là biểu hiện của sức mạnh.


1. Phải chăng sự ồn ào náo động là biểu hiện của sức mạnh?


Đoạn Tin Mừng Gioan 8,1-11 kể lại: Khi Chúa Giêsu đang giảng dạy cho dân chúng thì có một đám đông gồm các kinh sư và người Pharisêu điệu đến trước mặt Chúa Giêsu một người phụ nữ với lời tố cáo là đã bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Họ xin Chúa Giêsu xử lý người phụ nữ ấy. Tin Mừng không mô tả chi tiết về bối cảnh của đám đông này, nhưng tôi có thể hình dung ra đó là một đám đông náo động, hầm hầm sát khí, vừa la ó vừa tố cáo. Sự náo động của đám đông tạo sức ép lên Chúa Giêsu, đòi Ngài xử lý hoặc theo luật là ném đá người phụ nữ, hoặc vi phạm lề luật nếu tha bổng hay bảo vệ người phụ nữ.


Theo dõi cách hành xử của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ thấy được sự khôn ngoan của Ngài. Quả thật, giả sử trong bối cảnh đó nếu không có sự khôn ngoan và điềm tĩnh, thì chắc chắn sự náo động của đám đông sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của Chúa Giêsu. Chúng ta còn nhớ quan tổng trấn Philatô khi xét xử Chúa Giêsu, dù biết Ngài vô tội, nhưng đứng trước một đám đông hò hét, náo động, ông vẫn phải chiều theo họ mà kết án Chúa Giêsu. Với lại, theo sự thường, tiếng nói của quần chúng luôn luôn có sức mạnh và sức ảnh hưởng. Chẳng hạn như ở các nước tự do, khi dân chúng đổ ra đường biểu tình đòi hỏi quyền lợi gì thì hầu như nhà cầm quyền đều phải nhân nhượng. Cũng vậy, sự cổ vũ ồn ào và cuồng nhiệt của đám đông khán giả trên các sân vận động cũng thường có tác động tâm lý rất lớn đến các vận động viên thi đấu trên sân. Tương tự như thế, trên chiến trường, tiếng hò la xung trận cũng là một cách tạo sức mạnh hữu hiệu. Thấy được sức mạnh từ sự ồn ào náo động như thế, chúng ta mới hiểu được áp lực Chúa Giêsu phải chịu lớn đến mức nào trước một đám đông đang nhao nhao lên án người phụ nữ ngoại tình.


Thế nhưng, qua những gì vừa nêu lên chúng ta thử hỏi phải chăng sự ồn ào náo động là biểu hiện của sức mạnh thực sự? Thiết nghĩ không phải như vậy. Đúng hơn, sức mạnh thực sự phải đến từ sự bình an trong thinh lặng sâu xa. Xét trên bề mặt thì ồn ào quả có sức mạnh thật. Nhưng xét trong chiều sâu, đằng sau sự náo động đó là gì? Phải chăng sự ồn ào ấy là tấm bình phông che đậy một tâm hồn trống rỗng, một sự nhu nhược sợ hãi hay những âm mưu đen tối? Chẳng hạn đám đông những người kinh sư và Pharisêu tố cáo người phụ nữ ngoại tình, họ dùng sự ồn ào để gây sức ép có vẻ như chính đáng là bảo vệ luân lý, thi hành lề luật, nhưng thực ra là họ đang có âm mưu hãm hại Chúa Giêsu. Sự ồn ào ấy che giấu âm mưu đen tối của họ.


Trong thế giới hôm nay, người ta chuộng sự náo nhiệt hơn là thinh lặng. Nói đúng hơn, người ta sợ thinh lặng và chạy trốn thinh lặng trong những tiếng nhạc đinh tai nhức óc, trong sự náo nhiệt của hội hè, đình đám. Thậm chí có những người “sợ thinh lặng” mà lại “nghiện tiếng ồn”. Họ thích tìm niềm vui trong sự náo nhiệt không phải vì nó đem lại hạnh phúc cho họ, nhưng thực ra là để che giấu một tâm hồn trống trải không có gì lấp đầy. Tiếng ồn làm cho họ quên đi phần nào sự thiếu thốn và trống trải ấy. Người ta cho rằng sự náo động mới là sức mạnh, còn thinh lặng là hèn nhát, là nhu nhược, là sợ hãi… thế mà con người ngày nay lại sợ thinh lặng, sợ những giây phút cô đơn vì thinh lặng bắt họ phải đối diện với chính mình, với sự trần trụi và thiếu thốn tinh thần của mình. Nhưng khi sợ thinh lặng thì cũng cho thấy thinh lặng thực sự có sức mạnh.


2. Sức mạnh của sự thinh lặng


Đương đầu với âm mưu đen tối của các kinh sư và những người Pharisêu cùng với đám đông ồn ào trước mặt, Chúa Giêsu không lớn tiếng chế ngự họ, cũng không đứng ra phân xử điều họ muốn Ngài làm. Họ càng hối thúc, Ngài càng thinh lặng, đến khi thấy họ hết kiên nhẫn, Ngài mới ngẩng đầu lên và nói rất nhẹ nhàng như một lời mời gọi: “Ai trong các ông thấy mình vô tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi”. Nói rồi Ngài lại thinh lặng! Lời nói của Ngài rất nhẹ nhàng, nhưng khi được kết hợp với sự thinh lặng, lời nói ấy lại trở thành lời phán xét rất nghiêm khắc. Câu nói của Chúa Giêsu tạo nên một bầu khí thinh lặng bao trùm đám đông. Và theo tôi nghĩ, trong những giây phút thinh lặng ngắn ngủi ấy, đám đông phải đối diện với con người thật và với lương tâm của họ, nơi đó tiếng nói của Chúa Giêsu đang âm vang tận đáy sâu: “Ai thấy mình vô tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi”. Đó! Sức mạnh của thinh lặng chính là ở đó. Tiếng nói của toà án lương tâm vang lên trong thinh lặng. Đây chính là điều làm cho người ta sợ thinh lặng. Vì khi đó, con người thật của họ bị phơi bày.


Cách hành xử của Chúa Giêsu rất nhẹ nhàng nhưng lại rất hiệu quả, có thể nói là hiệu quả hơn cả cách dùng vũ lực hay lời quát tháo. Hẳn mọi người còn nhớ khi Chúa Giêsu vào đến thờ Giêrusalem (x.Ga 3,13-22; Lc 19,45-46) và thấy đền thờ bị ô uế vì những người buôn bán chiên bò, bồ câu và đổi tiền, Ngài đã lớn tiếng quát nạt: “Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 3,16), và Ngài còn xua đuổi, lật nhào bàn ghế của họ. Tôi không dám nói là cách làm của Chúa Giêsu trong hoàn cảnh này là sai hay quá đáng, nhưng so sánh kết quả của hai cách hành xử trong hai trường hợp đó, chúng ta thấy rằng khi Ngài mạnh tay với dân chúng, thì họ quay lại đối chất với Ngài: “Ông lấy dấu nào chứng tỏ ông có quyền làm như thế?”. Rồi họ còn dùng chính câu nói của Chúa Giêsu lúc đó: “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại” để tố cáo Ngài sau này (x.Mt 26,61). Ngược lại, trong trường hợp này, sau khi Chúa Giêsu mời gọi đám đông đi vào thinh lặng để tra vấn lương tâm thì họ đã tự động rút lui, không cần Ngài xua đuổi hay giải tán.


Rõ ràng, thinh lặng không chỉ làm cho bên nguyên cáo là đám đông câm miệng mà còn làm cho bị cáo là người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình suy nghĩ về việc làm của chị. Không biết khi thấy đám đông giải tán, chị đã thở phào nhẹ nhõm vì được cứu mạng, hay bật khóc vì nhận ra tình thương của Thiên Chúa cũng như tội lỗi của mình mà ăn năn sám hối, có thể là cả hai. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là thinh lặng có sức mạnh đẩy lui những âm mưu đen tối, bởi vì như M.Zundel khẳng định: “Trong sự thinh lặng của Thiên Chúa, người ta học được nhân phẩm của con người, người ta thấy được chỉ duy một sự cần thiết, đó là sự thật, sự công chính”. Trong sự thinh lặng, đám đông không chỉ nhận ra tội lỗi của họ, mà còn thấy bị đòi hỏi phải tôn trọng chân lý, điều đó làm họ xấu hổ vì tội lỗi cũng như vì đầu óc xấu xa, đen tối của mình. Chính ở điểm này, thinh lặng tạo nên sự biến đổi.


Trong những trận cuồng phong bão tố, khi chứng kiến sự hung hãn của những cơn sóng biển dập dồn, người ta cứ nghĩ rằng đó chính là sức mạnh của biển cả. Nhưng họ đâu biết rằng, những con sóng đó chỉ là biểu hiện nơi bề mặt, còn nguồn tác động tạo nên chúng lại là những dòng hải lưu ngầm, âm thầm lưu chuyển dưới lòng biển sâu. Chúng rất âm thầm lặng lẽ, nhưng có khả năng làm biến đổi thời tiết. Điều đó cho thấy, không hẳn là sự náo động và ồn ào bề mặt là sức mạnh thực sự. Trái lại, sự thinh lặng mới là thời gian, là không gian và cơ hội cưu mang sức mạnh thực sự, đồng thời sự thinh lặng ấy có khả năng tạo nên sự đột biến và sự thay đổi: Hạt giống nảy mầm trong thinh lặng; những mầm sống được hình thành và phát triển trong thinh lặng...


Thinh lặng thật có giá trị và ý nghĩa đối với đời sống mọi người, cách riêng là đối với các tu sĩ nam nữ. Thinh lặng giúp cho chúng ta lắng đọng tâm hồn, để kết hợp với Chúa, để hồi tâm và tìm lại được sự quân bình cho đời sống của mình. Đó chính là khẳng định của M.Zundel: “Đối với chúng ta, điều tối cần thiết để giữ lấy sự quân bình và bình an là phải liên tục trở về với thinh lặng”. Không chỉ có thế, trong tương quan với tha nhân, thinh lặng cũng là điều kiện và cơ hội giúp ta nhận ra nét đẹp nơi tâm hồn tha nhân; đồng thời, trước những yếu đuối và lầm lỗi của họ, thinh lặng giúp chúng ta đồng cảm, tha thứ và có khả năng trao cho họ những lời khuyên hữu hiệu. Về điều này, Michel Hubaut trong cuốn “Những nẻo đường thinh lặng” đã nhắc nhở chúng ta: “Để đánh giá người khác, để khuyên bảo hay góp ý người khác, chúng ta hãy bình tâm để xem những ý kiến đó đi đến từ trong thinh lặng nội tâm hay bộc phát từ cái nhìn và đánh giá vội vã. Lời khuyên đến từ người có tài ăn nói có thể hay nhưng chưa chắc đã ý nghĩa và thấm đậm bằng lời khuyên của người nói trong thinh lặng. Đó là ‘sự thinh lặng nhẫn nại biết có một thời để nói và một thời để im. Sự thinh lặng cẩn trọng và cân nhắc từng lời, sự thinh lặng thông cảm biểu hiện bằng hành động hơn lời nói. Sự thinh lặng khiêm nhường thừa nhận những giới hạn của mình và mở lòng ra với những ánh sáng khác” (tr.32).


Cầu chúc mọi người, nhờ ơn Chúa, sẽ khám phá ra được ý nghĩa và sức mạnh của sự thinh lặng đối với cuộc sống tinh thần cũng như thiêng liêng của mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ lợi dụng được giá trị của thinh lặng mà xây dựng đời sống thiêng liêng, đồng thời luôn biết dừng lại trong thinh lặng để hồi tâm suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Nhờ đó, chúng ta sẽ có được định hướng đúng đắn cho cuộc sống.

M. Hạnh Tử

 

TÔNG THƯ

VẺ HUY HOÀNG CỦA ÁNH SÁNG VĨNH CỬU

(CANDOR LUCIS AETERNAE)

CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

DỊP GIỖ 700 NĂM

THI HÀO DANTE ALIGHIERI

 


Vẻ huy hoàng của Ánh Sáng vĩnh cửu, Ngôi Lời Thiên Chúa, đã mặc lấy xác phàm trong lòng Đức Trinh Nữ Maria khi Mẹ thưa “Xin Vâng” như lời sứ thần truyền (x. Lc 1,38). Ngày mà Phụng vụ cử hành Mầu nhiệm khôn tả này cũng là ngày hết sức ý nghĩa đối với biến cố mang tính lịch sử và văn học của thi hào tuyệt đỉnh Dante Alighieri, vị ngôn sứ của niềm hi vọng và chứng nhân ​​của niềm khát khao bẩm sinh vô hạn trong lòng con người. Vì vậy, nhân dịp này, tôi cũng ước mong hòa mình vào dàn hợp xướng đông đảo những người muốn tôn vinh tưởng nhớ dịp 700 năm ông qua đời.

Thực vậy, ngày 25 tháng 3, ở Firenze, bắt đầu năm theo cách tính từ mầu nhiệm Nhập thể. Ngày đó, gần với thời điểm xuân phân và trong viễn tượng vượt qua, nó được liên kết với cả công trình sáng tạo vũ trụ và cả công trình cứu chuộc nhờ Đức Kitô thực hiện trên thập giá, là khởi đầu cuộc sáng tạo mới. Vì thế, trong ánh sáng của Ngôi Lời Nhập Thể, chúng ta được mời gọi chiêm ngưỡng kế hoạch của tình yêu vốn là trọng tâm và là nguồn cảm hứng của Thần Khúc, tác phẩm nổi tiếng nhất của Thi Hào, mà trong ca khúc cuối cùng thì sự kiện Nhập thể đã được thánh Bênađô ghi nhớ với những câu thơ trác tuyệt:

“Trong lòng Mẹ, lửa yêu thương bừng cháy

Mến-Cậy-Tin luôn son sắt nồng nàn

Trong lòng Mẹ, nôi vĩnh cửu bình an

Cho Nụ Sen trắng ngần e ấp nở”.

(Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXXIII, 7-9).

Ngay từ trong Luyện ngục, Dante đã tái hiện, cảnh Truyền tin được khắc trên những bậc thang núi đá (Thần Khúc Luyện Ngục, Ca khúc X, 34-37, 40-45).

Vì vậy, trong hoàn cảnh này, không thể thiếu tiếng nói của Giáo hội đồng tâm nhất trí tưởng niệm con người và nhà thơ Dante Alighieri. Hơn ai hết, ông đã biết cách diễn tả chiều sâu của mầu nhiệm Thiên Chúa và tình yêu, bằng chính vẻ đẹp của thơ ca. Thi phẩm của ông, biểu hiện tuyệt đỉnh của thiên tài, là kết quả của một nguồn cảm hứng vừa mới mẻ vừa sâu sắc, mà Thi Hào nhận thức được khi nói:

“Đến bao giờ tiếng thi phẩm thiêng thánh

Trời và đất cùng viết với bàn tay”

(Thần Khúc Thiên Đàng, Ca khúc XXV, 1-2).

Với Tông thư này, tôi muốn hiệp ý cùng các vị Tiền nhiệm, tôn vinh và kỷ niệm Thi Hào, đặc biệt là vào dịp kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày mất, để một lần nữa mời gọi Giáo hội quan tâm, từ các tín hữu thông thường đến các học giả văn học, các thần học gia và các nghệ sĩ.

Tôi xin gợi nhớ lại một cách ngắn gọn những sự kiện này, tập trung vào các vị Giáo hoàng gần nhất và các tài liệu quan trọng nhất của các Ngài.



1. Những lời của các vị Giáo hoàng Roma của thế kỷ trước nói về Dante Alighieri

Một thế kỷ trước, vào năm 1921, nhân dịp kỷ niệm 600 năm giỗ Thi Hào, Đức Giáo hoàng Biển Đức XV, đã thu thập những ý tưởng xuất hiện trong các triều đại Giáo hoàng trước đó, đặc biệt là của Đức Lêô XIII và Thánh Piô X, đã kỷ niệm sinh nhật Dante với một Thông điệp, [1] hay bằng cách thúc đẩy công việc trùng tu Vương cung thánh đường thánh Phêrô ở Ravenna, thường được gọi là nhà thờ thánh Phanxicô, nơi cử hành tang lễ và mai táng thi hào Alighieri. Khi đánh giá cao nhiều sáng kiến ​​nhằm tôn vinh kỷ niệm, Đức Giáo hoàng đã tuyên bố quyền của Giáo hội là “Mẹ”, trở thành nhân vật chính trong những lễ tưởng niệm này, tôn vinh Dante “người con của mình”[2]. Ngay trong Thư gửi Đức Cha Pasquale Morganti, Tổng Giám mục Ravenna, vị chấp thuận chương trình kỷ niệm trăm năm, Đức Biển Đức XV đã nêu lý do như sau: “Hơn nữa (và điều này còn quan trọng hơn) thêm một lý do đặc biệt giải thích tại sao chúng ta tổ chức lễ kỷ niệm trọng thể để tưởng nhớ với sự tham gia đông đảo của dân chúng, vì sự thật là Alighieri là của chúng ta.  [...]

Thật vậy, ai có thể phủ nhận rằng Dante của chúng ta đã được tiếp thêm sức mạnh và nhiệt huyết khéo léo cùng với phẩm chất thi ca lấy cảm hứng từ đức tin Công giáo, đến mức thi sĩ đã hát lên những mầu nhiệm tuyệt diệu của đạo trong một thi phẩm gần như thần thánh? ”. [3]

Trong một thời điểm lịch sử được đánh dấu bởi nhiều ác cảm giác với Giáo hội, Đức Giáo hoàng đã nhắc lại, trong Thông điệp nói trên, rằng Thi Hào thuộc về Giáo hội, “sự kết hợp mật thiết của Dante với Ngai tòa Phêrô”; thậm chí, Ngài đã tuyên bố rằng tác phẩm của Thi Hào, mặc dù diễn tả “rộng lớn phi thường và cực kỳ tinh tế”, thì ông cũng đã khơi “Nguồn cảm hứng mạnh mẽ” từ chính đức tin Kitô giáo. Vì lý do này, Đức Biển Đức XV tiếp tục nhận định, “chúng ta không chỉ ngưỡng mộ nơi ông chiều cao thiên tài cực kỳ tinh tế, mà còn bởi những chủ đề vô cùng rộng lớn mà đạo thánh đã khơi nguồn thi phẩm của ông”. Và ông ca ngợi, đáp lại cách gián tiếp những người phủ nhận hoặc chỉ trích ma trận tôn giáo trong tác phẩm của ông: “Alighieri cùng hít thở bầu khí sùng đạo tương tự ở trong chúng ta; đức tin của ông cũng có cùng những tâm tình như vậy. […] Đây là lời tôn vinh chính yếu của ông: được làm một thi sĩ Kitô giáo và được hát lên với hầu hết mọi cung giọng thần thánh những lý tưởng Kitô giáo mà ông đã chiêm ngưỡng bằng cả tâm hồn vẻ đẹp và sự huy hoàng”. Tác phẩm của Dante- Đức Giáo Hoàng nói tiếp -là một minh chứng hùng hồn và hợp lệ để "chứng minh rằng thật sai lầm khi cho rằng tâm trí qui phục Thiên Chúa là kìm hãm đôi cánh thiên tài, trong khi ngược lại, Ngài thúc đẩy và nâng nó lên”. Đối với điều này, Đức Giáo hoàng còn tuyên bố: “Những lời dạy của Dante để lại cho chúng ta trong tất cả các tác phẩm của ông, nhưng đặc biệt là trong bộ ba của ông” có thể phục vụ “như một hướng dẫn rất có giá trị cho con người của thời đại chúng ta” và đặc biệt là cho các sinh viên, các học giả, vì “khi sáng tác thi phẩm ấy, ông không có mục đích nào khác ngoài việc giải thoát những người phàm khỏi tình trạng khốn khổ, tức là khỏi tội lỗi và dẫn họ đến tình trạng hạnh phúc, tức là được ân sủng thiêng liêng”.

Mặt khác, dịp kỷ niệm 700 năm ngày sinh, năm 1965, Thánh Phaolô VI đã có nhiều động thái khác nhau. Ngày 19 tháng 12, Ngài tặng một cây thánh giá vàng, tô điểm thêm cho ngôi nhà nguyện ở Ravenna, nơi thi hào Dante an nghỉ, cho tới bấy giờ, còn thiếu “một dấu chỉ tôn giáo và hi vọng như thế”. (4)

Vào ngày 14 tháng 11, Ngài đã gửi đến Firenze một vòng nguyệt quế vàng được đặt trong Giếng rửa tội của nhà thờ thánh Gioan. Cuối cùng, ở phần kết công trình của Công đồng chung Vatican II, Ngài muốn tặng một ấn bản nghệ thuật tác phẩm Thần Khúc cho các Nghị phụ Công đồng. Nhưng trên tất cả, Ngài tôn vinh tưởng nhớ Thi Hào Đỉnh Cao với Tông thư Altissimi cantus-Ca Khúc Tuyệt Đỉnh [5] trong đó, Ngài đã tái khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa Giáo hội và Dante Alighieri: “Có thể ai đó hỏi rằng đời thuở nào Giáo hội Công giáo, qua ý muốn và sứ vụ của người Đại diện hữu hình, lại lưu tâm tổ chức kỉ niệm và tôn vinh thi sĩ Phirenxê đến mức như thế. Câu trả lời thật dễ dàng và có ngay lập tức: bởi vì Dante Alighieri là người của chúng tôi với một quyền lợi đặc biệt: là người của chúng tôi, tức là của Đạo Công giáo, bởi vì tất cả đều xoay quanh tình yêu Đức Kitô; là người của chúng tôi vì ông đã tha thiết yêu mến và hát lên với bao niềm tôn kính Giáo Hội, là người của chúng tôi vì ông đã thừa nhận và tôn kính Vị Đại diện Chúa Kitô ở trần gian là Đức Giáo Hoàng Roma”.

Nhưng đặc quyền này, Đức Giáo hoàng nói tiếp, không cho phép thái độ đắc thắng, mà đại diện cho một cam kết: “Dante là của chúng tôi, xin phép được nhắc lại, và chúng tôi khẳng định điều đó không phải là để tự tôn mình vì lòng cao ngạo hay tham vọng có chiến tích ấy, cho bằng để nhắc nhở chính mình có bổn phận phải thừa nhận như thế, và truy tìm trong tác phẩm của ông những sự phong phú khôn tả về sức mạnh và ý nghĩa của tư tưởng Kitô giáo, như chúng tôi tin tưởng rằng chỉ có ai biết đào sâu xuống đáy hầm bí mật của tâm hồn sùng đạo nơi thi sĩ tuyệt đỉnh này mới có thể hiểu được sâu sắc và nếm hưởng được những niềm vui tương xứng với những kho tàng tâm linh tuyệt diệu ẩn dấu trong thi phẩm”.

Nghĩa vụ này cũng không miễn trừ Giáo hội đón nhận cả những lời chỉ trích mang tính ngôn sứ do Nhà Thơ phê bình những người có trách nhiệm loan báo Tin Mừng và đại diện, không phải chính họ, mà là Chúa Kitô: “Giáo Hội cũng không hối tiếc nhắc lại rằng ông đã cất cao tiếng nói và đã mạnh mẽ chống lại một số vị Giáo Hoàng Roma, và với niềm cay đắng, ông đã khiển trách các cơ chế của Giáo Hội, và các thừa tác viên đại diện Giáo Hội”. Tuy nhiên, rõ ràng là: “Phần còn lại, phải thừa nhận rằng tính khí của ông nồng nhiệt như thế, song chưa bao giờ ông bị chao đảo về đức tin Công giáo, vốn rất vững chắc, cũng như tấm lòng con thảo luôn sắt son với Mẹ Hội Thánh”.

Do đó, Đức Phaolô VI đã minh họa những đặc điểm khiến thi phẩm của Dante trở thành một nguồn tâm linh phong phú cho tất cả: “Chắc chắn thi phẩm của Dante Alighieri có giá trị phổ quát: trong bề rộng mênh mông ôm trọn cả thực tại, cả trời và đất, cả vĩnh cửu và thời gian, cả những mầu nhiệm của Thiên Chúa và những sự kiện của con người, cả những giáo lý thánh thiêng và những quy luật thế tục, cả khoa học khơi nguồn trong Mạc Khải thánh và khoa học kín múc từ ánh sáng lí trí, cả bao nhiêu kinh nghiệm mà ông đã trực tiếp kinh qua cộng với những ký ức về lịch sử”. Nhưng trên tất cả, Ngài đã xác định được mục đích nội tại của sự nghiệp Dante và đặc biệt là Thần Khúc, một mục tiêu không phải lúc nào cũng được đánh giá và đánh giá rõ ràng: “Mục đích của Thần Khúc trước tiên là thực tiễn, nhằm đổi mới và hoán cải. Thực vậy, nó không chỉ trình bày đẹp hết sức thi vị và tốt lành về mặt đạo đức, mà nhất là nhằm biến đổi con người tận gốc rễ và dẫn đưa từ cảnh hỗn loạn đến đức khôn ngoan, từ tình trạng tội lỗi đến sự thánh thiện, từ đau khổ tới hạnh phúc, từ việc suy xét những cảnh rợn rùng trong Địa Ngục tới chiêm ngắm các Mối phúc thật trên Thiên Đàng”.

Trong một thời điểm lịch sử đầy căng thẳng giữa các dân tộc, Đức Giáo hoàng đã lưu tâm đến lý tưởng hòa bình và được tìm thấy trong tác phẩm của Thi Hào một phản ánh quý giá để thúc đẩy và khơi dậy nó: “Sự bình an vốn liên quan tới các cá nhân, các gia đình, các quốc gia, tới xã hội loài người, bình an nội tâm cũng như bình an bên ngoài, bình an của từng người cũng như bình anh nơi công cộng. Trật tự hòa bình này bị xáo trộn và lung lay bởi vì lòng đạo đức và công lý bị coi thường. Vì thế, để tái lập trật tự này cũng như thực hiện ơn cứu độ, thì lương tâm thức tỉnh về tình trạng sống của nhân loại trên trần gian cần được soi dẫn trong sự tương tác hài hòa giữa đức tin và lý trí, giữa Thiện Bích và Vinh Dự Lưu, giữa Thập Giá và Đại Bàng, giữa Giáo Hội và Đế Quốc”. Trong dòng này, Ngài đã định nghĩa Thi Phẩm dưới góc độ hòa bình như sau:

“Chắc chắn rằng Thần Khúc là thi phẩm của hòa bình: là ca khúc sầu thảm về bình an bị đánh mất vĩnh viễn trong Địa Ngục; là ca khúc du dương về bình an mà con người khao khát hướng tới trong Luyện Ngục; và Thiên Đàng hiển nhiên là ca khúc tuyệt diệu tán dương sự bình an đạt được cách trọn vẹn và vĩnh viễn”.

Mô hình tác phẩm Thần Khúc

Theo quan điểm này, Đức Giáo hoàng tiếp tục: “Chính vì thế, thi phẩm này bận tâm đến việc thanh tẩy mọi khía cạnh của xã hội, với việc khẳng định tự do giải phóng khỏi ách nô lệ của sự dữ, và nó thúc đẩy tâm hồn biết tìm kiếm và mến yêu Thiên Chúa trong việc sử dụng xứng đáng những hồng ân của Người, dù là những quà tặng liên quan tới lịch sử, hay những hồng ân liên quan tới mọi khía cạnh cuộc sống. [...] tuyên xưng một bảng định giá và một hệ thống thăng tiến tất cả những gì là nhân bản”. Nhưng Đức Phaolô VI còn nhắc lại những điều khác chính là những phẩm chất trong chủ nghĩa nhân văn của Dante: “Trong Dante Alighieri không những thừa nhận mà còn tôn vinh tất cả những giá trị nhân văn (trí tuệ, đạo đức, tình cảm, văn hóa, văn minh). Điều đáng lưu ý ở đây là những điều thiện hảo này đều được đánh giá và được quý mến khi ông trầm mình trong Thần Linh, nơi mà việc chiêm niệm có thể xa rời những yếu tố trần gian”. Do đó, Đức Giáo hoàng đã công minh tuyên bố danh hiệu Thi Hào Tuyệt Đỉnh và định nghĩa tính từ thần thánh gán cho Thần Khúc, cũng như công bố Dante là “chúa tể của Ca Khúc Tuyệt Đỉnh”, trong chính Tông thư.

Hơn nữa, bằng cách đánh giá những phẩm chất nghệ thuật và văn chương phi thường của Dante, Đức Phaolô VI đã khẳng định lại một nguyên tắc mà nhiều lần được Ngài khẳng định: “thần học và triết học đều có một tương quan khác với thơ ca, hệ tại ở điều này: khi vẻ đẹp trao tặng cho học thuyết những nét trang trí và tấm áo choàng của nó- khi thì bằng vẻ êm dịu của ca khúc, khi thì với những hình ảnh nghệ thuật gợi hình,- nó sẽ mở đường cho nhiều người tiếp cận những giáo huấn quý báu. Những phân tích cao siêu và những lý luận tinh vi không tới được những người hèn mọn, -dẫu rằng họ là số đông-, vốn luôn khao khát ăn bánh chân lý. Ngược lại, họ cảm nhận được, nếm được, đánh giá được công hiệu và quà tặng của vẻ đẹp; và chính qua con đường này, mà chân lý tỏa sáng cho họ và nuôi dưỡng họ. Chính tác giả của ca khúc tuyệt đỉnh đã đảm nhận và thực hiện công việc này, vì thế, vẻ đẹp trở thành nữ tì của sự thiện và của chân lý, và sự thiện là chất liệu của vẻ đẹp”. Cuối cùng, trích dẫn Thần Khúc, Đức Phaolô VI đã kêu gọi mọi người: “Hãy tôn vinh Thi Hào Tuyệt Đỉnh !” (Thần Khúc Địa Ngụ, Ca Khúc IV, 80).

 

Về Thánh Gioan Phaolô II, người đã nhiều lần đưa các tác phẩm của Thi Hào Tuyệt Đỉnh trong các bài diễn từ của Ngài, tôi chỉ xin nhắc lại sự kiện ngày 30 tháng 5 năm 1985 tại lễ khánh thành triển lãm Dante ở Vatican . Cũng như Đức Phaolô VI, Ngài nhấn mạnh thiên tài nghệ thuật: “Tác phẩm của Dante được minh giải như là “một thực tại tưởng tượng, vốn nói về đời sống ở thế giới bên kia và về mầu nhiệm của Thiên Chúa với sức mạnh tư tưởng thần học, được biến đổi bởi ánh quang huy hoàng của nghệ thuật và thơ ca kết hợp với nhau”. Sau đó, Đức Giáo hoàng tạm dừng để xem xét một thuật ngữ chìa khóa trong tác phẩm của Dante: “Thần hóa. Đây là nỗ lực tột cùng của Dante: để đảm bảo rằng sự nặng nề của con người không phá hủy chất thiêng liêng trong chúng ta, cũng như sự vĩ đại của thần thánh không phá bỏ giá trị của con người. Vì lý do này, Thi Hào đã đọc đúng câu chuyện của cá nhân mình và của toàn thể nhân loại bằng từ chìa khóa thần học”.

Đức Biển Đức XVI thường đề xuất lại hành trình của Dante, lấy ý tưởng từ các tác phẩm của ông để suy tư và chiêm niệm. Ví dụ, khi nói về Thông điệp Deus caritas est đầu tiên của mình, Ngài bắt đầu từ chính viễn tượng của Dante về Thiên Chúa, trong đó “ánh sáng và tình yêu là một” để tái đề xuất một suy tư của Ngài về sự mới mẻ trong thi phẩm của Dante: “Cái nhìn của Dante trực giác thấy một điều hoàn toàn mới […]. Ánh sáng vĩnh cửu hiển hiện trong ba vòng tròn mà ông đề cập đến trong những câu thơ đặc sắc mà chúng ta biết:

 

Hỡi Ánh Sáng vĩnh hằng tỏa linh hứng

Chỉ trong Người mới hiểu được Người thôi

Người thấu hiểu ! Yêu say đắm ! Mỉm cười !

Người hiểu Người và chỉ Người thấu hiểu !

     (Thần Khúc Thiên Đàng XXXIII, 124-126).

Trên thực tế, thậm chí còn gây sốc hơn về mặc khải của Thiên Chúa như một vòng tròn tri thức và tình yêu Ba Ngôi là nhận thức về một khuôn mặt con người - khuôn mặt của Chúa Giêsu Kitô - xuất hiện với Dante trong vòng tròn trung tâm của Ánh sáng. […] Vị Thần này có một khuôn mặt con người và - chúng ta có thể thêm vào - một trái tim con người”. [6] Đức Giáo Hoàng nêu bật tính độc đáo của thị kiến của Dante trong đó nét mới mẻ của kinh nghiệm Kitô giáo, nảy sinh từ mầu nhiệm nhập thể, được truyền đạt một cách thi vị: “Sự mới mẻ của một tình yêu đã thúc đẩy Thiên Chúa mang một khuôn mặt con người, thực sự là cả máu thịt, toàn thể con người ”. [7]

Về phần mình, trong Thông điệp đầu tiên, Lumen fidei, [8] tôi đã nói đến Dante để thể hiện ánh sáng của đức tin, trích dẫn câu thơ trong Thiên Đàng, trong đó nó được mô tả là:

                        “Tia sáng chân lý bừng lên như ngọn lửa

                        Cháy trong tôi như sao giữa trời đêm”.

                        (Thần Khúc Thiên Đàng XXIV, 145-147). 

Nhân dịp 750 năm ngày sinh của Thi Hào, tôi muốn tôn vinh tưởng nhớ ông với một thông điệp, hy vọng rằng “hình bóng Alighieri và tác phẩm của ông sẽ được hiểu và đánh giá một cách mới mẻ”; và tôi đã đề xuất đọc Thần Khúc như là “một hành trình vĩ đại, thực sự là một cuộc hành hương đích thực, dù mang tính cá nhân và nội tâm, cũng như mang tính cộng đồng, giáo hội, xã hội và lịch sử ”; trên thực tế, “nó đại diện cho mô hình của mọi cuộc hành trình đích thực, trong đó nhân loại được kêu gọi rời bỏ cái mà Dante định nghĩa là “thảm họa vốn làm cho chúng ta trở nên hung dữ” (Thiên Đàng ca khúc XXII, 151) để đạt đến một tình trạng mới, được đánh dấu bằng sự hòa hợp, an bình và hạnh phúc”. [9] Do đó, tôi đã chỉ ra chân dung của Thi Hào Tuyệt Đỉnh cho những người đương thời với chúng ta, khi đề xuất ông là “Tiên tri của hy vọng, người báo trước về khả năng cứu chuộc, giải phóng, về sự thay đổi sâu sắc của mọi người nam và nữ, của toàn thể nhân loại”. ​​[10]

Cuối cùng, vào ngày 10 tháng 10 năm 2020, Phái đoàn của Tổng giáo phận Ravenna-Cervia, nhân dịp khai mạc Năm Dante và công bố tài liệu này, tôi đã nhận định công trình của Dante ngày nay có thể thậm chí vẫn còn làm phong phú cho lòng trí của rất nhiều người, đặc biệt là những người trẻ, những người tiếp cận thơ ông “chừng nào có thể tiếp cận được, thì chắc chắn, không tránh khỏi, họ sẽ thấy, một mặt, tất cả sự xa cách với tác giả và thế giới ấy; và mặt khác, họ lại cảm nhận được một sự đồng điệu đáng ngạc nhiên” [11]

2. Cuộc đời của Dante Alighieri, kiểu mẫu về thân phận con người

Với Tông thư này, tôi cũng mong muốn được tiếp cận cuộc đời và tác phẩm của Nhà thơ lừng lẫy để cảm nhận chính sự đồng điệu này, cho thấy cả tính thời sự và vĩnh cửu của thi phẩm, để nắm bắt được những cảnh báo và những suy tư mà ngày nay vẫn còn cần thiết không chỉ cho những người tín hữu mà cho toàn thể nhân loại. Công trình của Dante, trên thực tế, là một phần không thể thiếu của nền văn hóa chúng ta, nó đề cập đến chúng ta về nguồn gốc Kitô giáo của Châu Âu và Phương Tây, nó đại diện cho kho tàng của những lý tưởng và giá trị mà ngay cả Giáo hội và xã hội dân sự ngày nay cũng đề xuất làm nền tảng cho đời sống chung mang tính nhân bản, trong đó tất cả chúng ta có thể và phải nhìn nhận nhau là anh em. Không đi sâu vào những phức tạp lịch sử cá nhân, chính trị và pháp lý của Alighieri, tôi chỉ muốn nhắc lại một số khoảnh khắc và sự kiện trong cuộc đời ông, mà dường như đặc biệt gần gũi với rất nhiều người cùng thời với chúng ta cũng như là cần thiết để hiểu tác phẩm của ông.

Tại thành phố Firenze, nơi ông sinh ra vào năm 1265 và nơi ông kết hôn với bà Gemma Donati và sinh ra bốn người con, ngay từ đầu, ông đã có một cảm thức gắn bó sâu sắc với quê hương, tuy nhiên, do những bất ổn chính trị, theo thời gian ông đã trở thành kẻ lưu vong lạc lõng. Tất nhiên, khao khát trở lại quê hương không bao giờ hao mòn, không chỉ vì tình cảm mà ông không ngừng dành cho quê mình, nhưng trên hết là để được trao vương miện thi sĩ nơi ông đã được lãnh nhận Bí tích rửa tội và đức tin (x. Thiên Đàng XXV, 1-9). Trong tiêu đề của một số bức thư (III, V, VI và VII), chính Dante xác định mình là “florentinus et exul inmeritus” (người Firenze bị lưu đày bất công), còn trong thư XIII, gửi đến Cangrande della Scala, ông xác định mình là “Florentinus natione non moribus”(người Firenze được sinh ra chứ không do sinh sống). Ông, một người Guelph da trắng, thấy mình có liên quan đến cuộc xung đột giữa người Guelph và Ghibellini, giữa những người Guelph da trắng và đen, và sau khi nắm giữ các chức vụ công ngày càng quan trọng, lên đến chức giáo trưởng, do những biến cố chính trị bất lợi, vào năm 1302, ông bị lưu đày trong hai năm, bị cấm đến công sở và bị kết án phải trả tiền phạt. Theo quan điểm của mình, Dante bác bỏ phán quyết là bất công, và điều đó càng làm cho hình phạt trở nên gay gắt hơn: bị lưu đày vĩnh viễn, tịch thu tài sản và án tử hình trong trường hợp trở về quê hương. Đó là khởi đầu câu chuyện đau đớn của Dante, người cố gắng vô vọng để có thể trở lại với quê hương Firenze yêu dấu, nơi ông đã chiến đấu với niềm đam mê.

Do đó, ông trở thành kẻ lưu đày, “người hành hương trầm ngâm”, rơi vào tình trạng “nghèo khổ đau đớn” ( Convivio I, III, 5) khiến ông phải tìm nơi ẩn náu nơi một số lãnh chúa địa phương, bao gồm cả Scaligeri của Verona và Malaspina ở Lunigiana. Theo lời của Cacciaguida, tổ tiên của Nhà thơ, cay đắng và lo lắng nhận thấy trong điều kiện mới này:

“Phải rời xa những gì yêu quý nhất

Như mũi tên bắn vào kiếp lưu đày

                                    Đây khởi đầu trăm ngàn nỗi đắng cay

                                    Con sẽ thấy như ăn mày kẻ khác

                                    Từng miếng cơm nếm mùi vị mặn chát

                                    Từng bước chân cầu thang thật nặng nề”. 

                                    (Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XVII 55-60)

Rồi, do không chấp nhận những điều kiện nhục nhã của một lệnh ân xá cho phép ông trở lại thành Firenze, trong năm 1315 một lần nữa ông bị kết án tử hình, lần này là cùng với những đứa con tuổi niên thiếu của mình. Chặng cuối cùng ông phải lưu đày là thành Ravenna, nơi ông được Guido Novello da Polenta chào đón, và nơi ông qua đời, sau nhiệm vụ trở về từ thành Venice, ở tuổi 56, vào đêm giữa ngày 13 và ngày 14 tháng 9 năm 1321. Ông được mai táng trong mộ bên đền thờ Thánh Phêrô Cả, gần bức tường bên ngoài của tu viện dòng Phanxicô cổ, sau đó được chuyển đến một ngôi đền liền kề vào thế kỷ XVIII, nơi mà, sau những biến cố đau khổ, vào năm 1865, hài cốt của ông đã được thu thập lại. Ngày nay nơi đây vẫn là điểm đến của vô số du khách và những người ngưỡng mộ Thi Hào Tuyệt Đỉnh, cha đẻ của ngôn ngữ và Văn học Ý.

Trong cuộc đời lưu vong, tình yêu dành cho thành phố quê hương, bị “những người đồng hương khét tiếng” (Ep . VI, 1) phản bội, đã biến thành nỗi buồn hoài cổ. Sự thất vọng sâu sắc vì sự sụp đổ của các lý tưởng chính trị và dân sự nơi ông cùng với cuộc lữ hành đau đớn từ thành này đến thành khác để tìm nơi ẩn náu và hỗ trợ không phải là điều xa lạ với tác phẩm văn học và thơ ca của ông, thậm chí chúng tạo thành gốc rễ thiết yếu và động lực cơ bản cho các tác phẩm ấy. Khi Dante mô tả những người hành hương trên đường đến thăm các thánh địa, một cách nào đó, nó đại diện cho tình trạng hiện hữu và thể hiện tình cảm sâu kín nhất của ông: "Ôi, những người hành hương vừa đi vừa trầm tư..." ( Vita Nova, 29 [XL (XLI), 9], câu 1). Mô típ này trở lại nhiều lần, như trong câu phần Luyện ngục :

“Như đoàn hành hương gặp những kẻ không quen

Ngoái cổ nhìn mà không dừng lại”

(Luyện Ngục, Ca Khúc XXIII, 16-18). 

Nỗi sầu muộn của Dante lữ hành và lưu vong cũng được cảm nhận trong những câu thơ nổi tiếng của Ca khúc VIII Luyện Ngục:

“Nghiêng nghiêng bóng ngả giăng màn

Thuyền xa khơi sóng sánh tràn hoàng hôn

Trầm đưa văng vẳng lầu chuông

Vẳng lan điệu nhớ, trầm buông cuống chiều”.

(VIII, 1-3).

Khi chiêm nghiệm sâu sắc về hoàn cảnh sống lưu vong của cá nhân mình, về sự bấp bênh triệt để, về sự mong manh yếu đuối, về sự di chuyển liên tục, Dante đã biến đổi nó, thăng hoa nó, thành một kiểu mẫu về tình trạng con người, thể hiện như một cuộc hành trình, nội tâm hơn là ngoại tại, không bao giờ dừng lại cho đến khi đạt được mục tiêu. Chúng tôi bắt gặp, do đó, trong hai chủ đề cơ bản trong tất cả các tác phẩm của Dante: điểm khởi đầu của mọi hành trình hiện sinh, ước muốn bẩm sinh trong tâm hồn con người, và điểm đến, hạnh phúc, được ban cho qua thị kiến về Tình yêu là Thiên Chúa.

Nhà thơ tối cao, dù trải qua những biến cố kịch tính, đau buồn và khốn khổ nhưng không bao giờ cam chịu, ông không bao giờ khuất phục, không chấp nhận kìm nén khao khát hạnh phúc viên mãn âm ỉ trong lòng, cũng không cam chịu nhượng bộ bất công, đạo đức giả, sự kiêu ngạo quyền lực, ích kỷ làm cho thế giới của chúng ta “góc sân đình bon chen gian ác” (Thần Khúc Thiên Thiên Đàng, Ca Khúc XXII, 151).

3. Sứ mệnh của Nhà thơ, nhà tiên tri của hy vọng

Do đó, Dante đọc lại cuộc đời của chính mình trên hết dưới ánh sáng đức tin, cũng khám phá ra ơn gọi và sứ mệnh được giao phó cho mình, mà thật nghịch lý, vì một người dường như đã thất bại và thất vọng, một tội nhân và thất vọng, ông trở thành một nhà tiên tri của hy vọng. Trong Thư gửi Cangrande della Scala, ông minh định, hết sức rõ ràng, mục đích công việc của ông, được thực hiện và không còn được thể hiện thông qua các hành động chính trị hoặc quân sự nhưng nhờ thơ ca, nghệ thuật ngôn từ cho tất cả, có thể thay đổi tất cả mọi người: “Chúng ta phải nói ngắn gọn rằng mục đích của toàn bộ và từng phần của tác phẩm là giúp những người sống trong cuộc đời này thoát khỏi tình trạng khốn khổ và đưa họ đến trạng thái hạnh phúc” (XIII, 39 [15]). Mục đích này đặt ra một con đường giải phóng khỏi mọi tình trạng khốn khổ và suy thoái của con người (“khu rừng tăm tối”) đồng thời hướng đến mục tiêu cuối cùng: hạnh phúc, được hiểu cả là cuộc sống viên mãn trong lịch sử và như niềm hạnh phúc vĩnh cửu trong Thiên Chúa. Với mục đích kép của chương trình sống táo bạo này, Dante là một sứ giả, nhà tiên tri và nhân chứng đã được trao sứ mệnh từ nàng Thiện Bích:

Chàng đừng quên chú ý khải hoàn xa

Khi về dưới đó chàng sẽ viết ra

Tất cả những gì tai nghe mắt thấy”.

 (Thần Khúc Luyện Ngục, Ca Khúc XXXII, 103-105). 

Cacciaguida, tổ tiên của ông, cũng khuyên ông không được chùn bước cho sứ vụ của mình. Gửi nhà thơ, người nhớ lại thoáng qua cuộc hành trình của mình trong ba cõi của thế giới bên kia, và những gì ông thấy khó khăn khi truyền đạt những sự thật gây đau đớn, khó chịu đó, vị tổ tiên nổi tiếng trả lời:

“Những lương tâm mờ ám đáng xấu hổ

Bởi việc mình gây ra hay bất cứ ai

Lời con nói họ nghe phát chói tai.

Đừng vì thế mà quanh co nói dối

Hãy nói ra những gì con xem thấy

Cho phường ghẻ lở phải gãi thôi”

(Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XVII, 124-129).

Trong phần Thiên Đàng, thánh Phêrô cũng thúc đẩy Dante tương tự để ông can đảm sống sứ mệnh tiên tri của mình, sau một cuộc phản công khủng khiếp chống lại Giáo hoàng Boniface VIII, thì thánh nhân đã hướng về Nhà thơ:

                                                “Còn phần con, hỡi con trai yêu quý

                                                Qua thập tử nhất sinh về dương gian

                                                Hãy lên tiếng điều ta đã truyền ban

                                                Đừng che giấu điều tai nghe mắt thấy”

(Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXVII, 64-66).

Do đó, việc tố cáo và chỉ trích những người đó cũng được đưa vào sứ mệnh tiên tri của Dante, dù là các tín hữu, hay cả Giáo hoàng, những người phản bội sự trung thành với Chúa Kitô và biến Giáo hội thành công dụng cho lợi ích vị kỷ, quên đi tinh thần của các Mối phúc và lòng bác ái đối với những người nhỏ bé và người nghèo và thần tượng hóa những người quyền lực và giàu có:

                                    “Hết những gì mà Giáo hội quản lý

                                    Để dành cho Dân Chúa đến cầu xin

                                     Chứ đâu phải để phì gia vinh thân

                                    Hay để làm điều gì tồi tệ khác”

Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXII, 82-84). 

Nhưng qua lời kể của Thánh Pier Damiani, Thánh Biển Đức và Thánh Phêrô, Nhà thơ, trong khi tố cáo sự thối nát của một số thành phần trong Giáo hội, cũng loan báo cuộc đổi mới sâu sắc và khẩn cầu ơn Chúa quan phòng phù trợ cho thành hiện thực:

                                    “Nhưng nhờ ơn quan phòng trên cao thẳm

                                    Cho Đấng kia xuất hiện ở Roma

                                    Sẽ sớm thôi như ta đã nói ra

                                    Sẽ gìn giữ vinh quang của thế giới”

                                    (Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXVII, 61-63)

Dante, kẻ lưu vong, người hành hương, mong manh yếu đuối, nhưng bây giờ ông mạnh mẽ trong trải nghiệm vừa sâu sắc vừa thân mật; kinh nghiệm ấy đã biến đổi ông, tái sinh ông nhờ thị kiến từ đáy Địa Ngục, từ thân phận con người suy thoái tột cùng đã nâng ông lên thị kiến chính Thiên Chúa, do đó, ông đứng lên như một sứ giả về một hiện sinh mới, như một nhà tiên tri của một nhân loại mới khao khát hòa bình và hạnh phúc.

4. Dante ca sĩ của khát vọng con người

Dante biết cách đọc trong sâu thẳm trái tim con người và trong tất cả mọi người, ngay cả trong những nhân vật đáng kinh ngạc và đáng lo ngại nhất, ông có thể nhìn thấy một tia sáng khát khao đạt được một niềm hạnh phúc nào đó, một cuộc sống viên mãn. Ông dừng lại để lắng nghe những linh hồn gặp gỡ trên đường, đối thoại với họ, hỏi họ để xác định và tham gia vào những đau khổ của họ hoặc trong hạnh phúc của họ. Khởi đi từ tình trạng cá nhân của mình, ông đã trở thành người giải thích niềm khát khao chung của mọi người, muốn tiếp tục cuộc hành trình cho đến khi đạt được bến đỗ cuối cùng, cho đến khi sự thật, lời giải đáp cho ý nghĩa cuộc đời được tỏ lộ, để như thánh Augustino đã khẳng định, lòng người không được yên nghỉ cho đến khi nghỉ yên nơi Chúa. 

Trong tác phẩm Bữa Tiệc-Convivio, ông phân tích chính xác tính năng động của ước muốn: “Ước muốn tột cùng của tất cả, và trên hết từ bản chất được phú bẩm, là trở về với căn nguyên của nó. Tất nhiên, Thiên Chúa là nơi khởi đầu của linh hồn chúng ta […], thì linh hồn khát mong nhất là được trở lại với Ngài. Đúng như một người hành hương đi trên đường mà anh ta chưa từng đến, anh thấy mọi ngôi nhà nhìn xa xa đều tin rằng đó là quán trọ, và khi không tìm thấy nhà này, anh lại hướng đến nhà khác, và cứ thế từ nhà này sang nhà khác, cho đến khi tới quán trọ; tâm hồn của chúng ta cũng vậy, trong hành trình mới và chưa bao giờ có ai từng đi qua, nó hướng mắt về điều thiện tốt đẹp nhất của mình ở cùng đích hành trình, và do đó, bất cứ điều gì nó thấy có một số điều có vẻ tốt, thì nó đều tin rằng đó là cùng đích” (IV, XII, 14-15).

Hành trình của Dante, đặc biệt là hành trình được minh họa trong Thần Khúc, thực sự là hành trình khát vọng, về nhu cầu sâu sắc và nội tâm để thay đổi chính cuộc đời mình, để đạt được hạnh phúc và như thế là tìm thấy con đường cho những ai kiếm tìm, giống như chính ông, trong một “khu rừng tối tăm” và đã lạc mất “chính đạo”. Nó cũng có ý nghĩa rằng, ngay từ chặng đầu tiên của cuộc hành trình này, người hướng đạo, thi hào Latinh vĩ đại Virgil, đã chỉ cho ông điểm đến mà ông phải đến, thúc giục ông không được nhượng bộ vì sợ hãi và mệt mỏi:

“Còn ngươi sao nản lòng chuyện rối bời ?

                                    Sao không hướng đỉnh thiên khơi ?

                                    Sao không về bến rạng ngời hạnh phúc ?

 (Thần Khúc Địa Ngục, Ca Khúc I, 76-78).

 

5. Thi sĩ về lòng thương xót của Thiên Chúa và tự do của con người

Đó không phải là một con đường viển vông hay ảo tưởng mà thực tế và khả thi, trong đó mọi người đều có thể bước vào, bởi vì lòng thương xót của Thiên Chúa luôn cho khả năng thay đổi, hoán cải, tìm lại chính mình và tìm đường trở lại hạnh phúc. Đáng chú ý, về mặt này, một số tình tiết và nhân vật trong Thần Khúc, biểu hiện như không một ai trên trần gian bị loại trừ khỏi con đường ấy. Ở đây, ví dụ, hoàng đế Traiano, ngoại giáo nhưng được đặt ở Thiên Đàng. Dante biện minh cho sự hiện diện này theo cách:

                                    “Bởi Nước Trời phải mạnh mới chiếm được

                                    Bằng tình yêu và hi vọng tràn trào

                                    Chiến thắng được cả Thiên Ý tối cao

                                    Không theo kiểu phàm nhân quen bạo lực

                                    Nhưng chiến thắng bằng cách bị chinh phục

                                    Chịu khuất phục là chiến thắng nhân từ”.

(Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XX, 94-99). 

Cử chỉ từ thiện của Traiano đối với một “góa phụ” (45), hay “giọt nước mắt” ăn năn đổ xuống lúc chết bởi Buonconte Montefeltro ( Luyện Ngục, Ca Khúc V, 107) không chỉ thể hiện lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa, mà còn xác nhận rằng con người luôn có thể lựa chọn, với tự do của mình, đi theo con đường nào và số phận nào xứng đáng.

Trong ánh sáng này, Vua Manfredi, được Dante đặt trong Luyện ngục, có ý nghĩa quan trọng, do đó gợi lên kết cục của chính ông và phán quyết thiêng liêng:

“Khi thân ta bị đâm thâu hằn hai mũi kiếm hiểm sâu chí tử

Máu hòa suối lệ ta hướng lòng về Đấng cứu đời xót thương.

Ôi ta tội lỗi khôn lường !

Nhờ Lượng Cả trùng dương đoái nhìn

Nhờ lời tha thiết van xin gột rửa tấm linh hồn vấy máu

                                                (Thần Khúc Luyện Ngục, Ca Khúc III, 118-123). 

Dường như người ta thấy bóng dáng người cha nhân hậu trong dụ ngôn Phúc âm, mở rộng vòng tay sẵn sàng đón người con hoang đàng trở về với mình (x . Lc 15,11-32).

Dante đấu tranh cho phẩm giá của mỗi con người và tự do là điều kiện cơ bản dù là lựa chọn cuộc sống hay là lựa chọn của chính đức tin. Số phận vĩnh cửu của con người - Dante gợi ý, kể cho chúng ta những câu chuyện về nhiều nhân vật, nổi tiếng hay ít được biết đến - phụ thuộc vào sự lựa chọn của anh ta, tự do của anh ta: ngay cả những cử chỉ hàng ngày và rõ ràng là không đáng kể, chúng có một phạm vi vượt thời gian, chúng được phóng chiếu vào không gian vĩnh cửu. Món quà lớn nhất mà Thiên Chúa ban cho con người để con người có thể đạt được mục tiêu cuối cùng chính là tự ơn do, như nàng Thiện Bích khẳng định:

            “Hồng ân ban tuyệt nhất cho nhân thế

            Không chỉ là được mang hình ảnh Chúa

            Nhưng chính là quyền quyết định tự do”

                                    (Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc V, 19-22). 

Đó không phải là những lời khẳng định khoa trương hay viển vông, bởi vì chúng phát xuất từ chính cuộc đời của người đã biết đến cái giá của tự do:

“Thân kia suốt mấy mươi năm

                                    bôn ba xuôi ngược chỉ nhằm Tự Do”

                                                (Thần Khúc Luyện Ngục, Ca Khúc I, 71-72).

Nhưng Alighieri nhắc nhớ chúng ta rằng tự do không phải là cùng đích, mà chỉ là điều kiện để tiếp tục tiến lên, và hành trình qua ba vương quốc minh họa hết sức sống động chính sự vươn lên này, cho tới khi chạm tới Trời, đạt  tới hạnh phúc viên mãn.

Những “ước muốn cao cả” (Luyện Ngục XXII, 61), khuấy động bởi sự tự do, không thể dập tắt, trừ khi đối mặt với mục tiêu, trước thị kiến cuối cùng và hạnh phúc:

“Vì ham muốn tột cùng được như ý

Trọn vẹn hòa trong Ánh Cửu khôi nguyên

Lòng không còn thấy khao khát gì thêm

Quên phù vân, hiệp nhất trong toàn hảo”.

                                    (Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXXIII, 46-48). 

Khát khao sau đó trở thành lời cầu nguyện, khẩn nài, lời chuyển cầu, một khúc ca đi kèm và đánh dấu hành trình của Dante, cũng như lời cầu nguyện phụng vụ đánh dấu thời khắc và khoảnh khắc trong ngày. Diễn giải về Kinh Lạy Cha mà Thi Hào đề xuất (Luyện Ngục Ca Khúc XI, 1-21) đan xen Bản văn Tin Mừng với kinh nghiệm cá nhân, với những khó khăn và đau khổ:

“Nguyện Nước Cha tuôn thánh ân hòa quyện

            Xuống muôn loài khao khát được thỏa thuê

            Bởi “mưu sự tại nhân” lắm ê chề

            Xin phó dâng “thành sự tại Thiên” giới.

            Xin ban xuống Man-na đầy linh dược

            Cho từng ngày bồi bổ sức tâm thân

            Xin thứ tha dù tái phạm muôn lần

            Dạy chúng con luôn sẵn sàng tha thứ”.  

(Thần Khúc Luyện Ngục, Ca Khúc XI 7-8.13-15). 

Tự do của người tin vào Thiên Chúa là Cha nhân từ, không thể không phó thác chính mình cho Ngài trong lời cầu nguyện, ít nhất sự tự do ấy không bị tổn thương, mà được củng cố.

6. Hình ảnh con người trong thị kiến Thiên Chúa

Trong hành trình của Thần Khúc, như đã được Đức Giáo hoàng Benedict XVI nhấn mạnh, hành trình của tự do và của lòng khao khát, như người ta có thể tưởng tượng, không đơn giản là một sự suy đồi nhân tính cụ thể, không tự tha hóa, không hủy bỏ hoặc bỏ qua những gì đã được tạo nên trong sự hiện hữu lịch sử. Thực vậy, ngay ở phần Thiên Đàng, Dante tái hiện các bậc chân phước - như những “voan trắng” (XXX, 129) – trong dáng vẻ hữu hình của các ngài, gợi lên tình cảm và cảm xúc, vẻ ngoài và cử chỉ của các ngài, cho chúng ta thấy, nói tóm lại, tính nhân văn trong sự hoàn thiện cả linh hồn và thể xác, điều đó báo trước sự phục sinh của thân xác. Thánh Bê-na-đô, người đồng hành cùng Dante trong phần cuối của cuộc hành trình, cho Nhà thơ thấy những đứa trẻ hiện diện trong bông hồng của những người được chúc phúc và mời gọi ông quan sát và lắng nghe họ:

                                    “Con có thấy những gương mặt ngời sáng

                                    Con có nghe những cung giọng trẻ thơ

                                    Nếu con nhìn và lắng nghe chăm chú”

                                    (Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXXII, 46-48). 

Dường như chuyển động như thế này chứng tỏ bản thân những người được diễm phúc trong tính nhân bản trọn vẹn ngời sáng của họ không chỉ được thúc đẩy bởi tình cảm yêu thương dành cho những người thân yêu, mà trên hết là ước muốn rõ ràng muốn nhìn thấy lại thân thể của họ, những đặc điểm trần thế của họ:

“Ngày tán loạn hợp nhất lại tâm thân

Để thấy mẹ, thấy cha, thấy người mình yêu mến

Trước khi hợp cùng ánh sáng thiên thu”.

(Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XIV, 63-66).

Và cuối cùng, ở trung tâm thị kiến tối thượng, trong cuộc gặp gỡ với Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, Dante chỉ nhìn thấy một Gương mặt Con Người, Gương mặt Chúa Kitô, của Ngôi Lời vĩnh cửu đã hóa thành xác thịt trong lòng Đức Mẹ Maria:

            “Khi toàn tâm chìm đắm trong thần hiển

Màu huyền vi biến hóa theo mắt thơ

Tôi thấy ba vòng toàn bích hiện ra

Cùng chu vi với ba màu khác biệt

            (…)

Như bác học tọa thiền toàn tâm trí

Mà không đo được kích thước vòng tròn

Tôi cũng thế cứ đoán già đoán non

Hình Con Người khớp vòng tròn sao được !”

            (Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXXIII, 115-117.127-131). 

Chỉ trong visio Dei -Thị kiến Thiên Chúa thì khao khát của con người mới được xoa dịu và kết thúc tất cả cuộc hành trình mệt mỏi của mình:

“Hồn tôi bay tới đây đành bất lực

Chợt ánh quang giác ngộ rực chói lòa

Ôi ân sủng! Ước muốn lại thăng hoa

Mà trí phàm, siêu tưởng, đành câm nín”

(Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXXIII, 140-142).

Mầu nhiệm Nhập thể, mà chúng ta cử hành ngày nay, là trung tâm cảm hứng thực sự và là hạt nhân cốt yếu của tất cả thi phẩm. Trong đó người ta nhận ra điều mà các Giáo phụ gọi là “thần hóa”, cuộc biến đổi diệu kỳ, sự trao đổi phi thường, theo đó, trong khi Chúa đi vào lịch sử của chúng ta bằng cách mặc lấy xác phàm, thì con người, với thân xác của mình, có thể đi vào thực tại thiêng liêng, được tượng trưng bằng bông hồng của những người diễm phúc. Nhân loại, trong nét cụ thể, với cử chỉ và lời nói hàng ngày, với trí thông minh và tình cảm của mình, với cơ thể và cảm xúc, được tháp nhập trong Chúa, nơi con người tìm thấy hạnh phúc thực sự và sự viên mãn cuối cùng, đầy đủ, mục tiêu của toàn bộ cuộc hành trình. Dante đã mong muốn và thấy trước mục tiêu này khi bắt đầu chạm tới Thiên Đàng:

“Lòng khát khao rực cháy lên vô hạn

Được cung chiêm mầu nhiệm nhập thể xưa

Khi nhân tính trong thần tính hòa bưa

Mắt phàm trần chỉ thấy bằng tin kính”.

 (Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc II, 40-45).

7. Ba người phụ nữ của Thần Khúc: Maria, Thiện Bích[1], Lucia

Hát về mầu nhiệm Nhập thể, nguồn cứu rỗi và niềm vui cho toàn thể nhân loại, Dante không thể không hát những lời ca ngợi Đức Maria, Đức Mẹ Đồng trinh, với hai tiếng “xin vâng”, đã hoàn toàn đón nhận chương trình của Thiên Chúa, qua đó, Ngôi Lời có thể trở nên xác phàm. Trong tác phẩm của Dante, chúng ta tìm thấy một luận đề rất đẹp về Thánh mẫu học: với những giọng trữ tình rất cao, đặc biệt là trong lời cầu nguyện do Thánh Bê-na-đô cất lên, ngài tóm tắt toàn bộ suy tư thần học về Đức Maria và sự tham dự của Mẹ vào mầu nhiệm Thiên Chúa:

“Ôi Mẫu Trinh tuyệt vô song trời đất

Cực khiêm nhường, cực thánh, cực cao sang

Mẹ cứu sinh, nương tử Chúa Thiên Đàng 

Ngai Vương Nữ, đường thấp hèn tôi tớ !

Đức Khôn Ngoan tiền định từ muôn thuở

Để nâng cao phẩm giá của người đời

Cho Thánh Linh rợp bóng hiến Ngôi Lời

Tình nhập thể đầu thai từ thuở ấy”

            (Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXXIII, 1-6). 

Đoạn khởi đầu và những câu tiếp theo với những từ đối nghĩa làm nổi bật vị thế và vẻ đẹp độc đáo của Đức Mẹ Maria.

Cũng Thánh Bê-na-đô, khi giới thiệu các vị chân phước đứng trong bông hồng huyền bí, đã mời gọi Dante chiêm ngưỡng Đức Maria, mà Ngài có đã chỉ ra các đặc điểm của con người giống Ngôi Lời Nhập Thể:

                        “Bây giờ con hãy ngước mắt cung chiêm

                        Gương mặt nào giống Chúa Kitô nhất

                        Gương mặt nào sáng ngời lên trác tuyệt”

(Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXXII, 85-87). 

Mầu nhiệm Nhập thể một lần nữa được gợi lên bởi sự hiện diện của Tổng lãnh thiên thần Gabriel. Dante hỏi thánh Bê-na-đô:

                                    Thiên thần đó là ai mà hoan hỉ

                                    Say đắm nhìn trong đôi mắt Nữ Vương

                                    Nhìn đắm say như sinh ra từ lửa?”

                        (Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXXII, 103-105). 

và Ngài trả lời:

                                    “Đó là vị đem theo cành vạn tuế

                                    Loan tin cho Đức Mẹ Maria

                                    Khi Con Chúa mặc xác phàm nhân thế”

(Tiếp câu 112-114). 

Việc đề cập đến Đức Maria là thường xuyên trong tất cả Thần Khúc. Trên hành trình Luyện Ngục, Mẹ là khuôn mẫu của các nhân đức đối lập với các thói hư tật xấu; là ngôi sao ban mai giúp thoát ra khỏi rừng âm u để đi về phía núi Thiên Chúa; là sự hiện diện thường xuyên, thông qua lời chuyển cầu của Mẹ:

                        “Tên loài hoa đẹp lung linh phẩm tiết

                        Tôi nguyện cầu luôn luôn cả sớm chiều”

(Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXIII, 88-89)

-là đấng chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô và với mầu nhiệm Thiên Chúa.

Dante không bao giờ đơn độc trong cuộc hành trình của mình, nhưng trước tiên ông để bản thân được hướng dẫn bởi Virgil, biểu tượng của lý trí con người, và do đó từ Thiện Bích và thánh Bênađô, giờ đây, nhờ sự chuyển cầu của Mẹ Maria, có thể đến được quê hương và tận hưởng niềm vui trọn vẹn mong muốn trong từng giây phút hiện hữu:

“Tâm trí tôi như chìm đắm trong mơ

Dù mới nếm xuất thần qua giây lát”

(Thần Khúc Thiên Đàng, Ca Khúc XXXIII, 62-63). 

Chúng ta không thể tự cứu mình, Nhà thơ dường như lặp lại với chúng ta, ý thức về sự thiếu sót của riêng mình:

“Tôi đáp rằng: “Sức riêng cháu không thể

Vị ngoài kia mới là thầy dẫn đường

 (Thần Khúc Địa Ngục, Ca Khúc X, 60-61); 

thật là cần thiết khi hành trình của chúng ta được những ai có thể đồng hành, hướng dẫn chúng ta bằng sự khôn ngoan và thận trọng.

Sự hiện diện của phụ nữ có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh này. Khi bắt đầu hành trình mệt mỏi, Virgilio, người đầu tiên hướng dẫn, an ủi và khuyến khích Dante tiếp tục vì có ba người phụ nữ đã cầu bầu cho anh và sẽ hướng dẫn anh: Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, nhân vật bác ái; Thiện Bích, biểu tượng của hy vọng; Thánh Lucia, hình ảnh của niềm tin. Do đó, với những lời cảm động, Thiện Bích tự giới thiệu:

Tiểu nương quê chín tầng mây          

                        Xuống trần tế độ, xong bay trở về      

                       “Yêu nhau vạn khó không nề

                                                (Thần Khúc Địa Ngục, Ca Khúc II, 70-72),

khẳng định rằng nguồn duy nhất có thể ban cho chúng ta ơn cứu rỗi chính tình yêu, tình yêu thiêng liêng chuyển hóa tình yêu của con người. Nàng Thiện Bích sau đó đề cập đến ơn cầu thay của một người phụ nữ khác, Đức Trinh Nữ Maria:

“Bởi thiên cung có Đức Bà    

            Đầy lòng trắc ẩn, xót xa cảnh tù

                        Dứt lời cầu, hứa ra đi

            Án phạt liền xóa tức thì trên cao!”(94-96). 

 

Sau đó, thánh nữ Lucia can thiệp, người quay sang Thiện Bích:

Ôi Thiện Bích, diễm thần linh

            Kìa mau xuống cứu người tình đắm say !

                        Như nai thương tích lưu đày

            Nàng chưa nghe tiếng tơ bay ưu phiền ?!

 (103-105). 

Dante thừa nhận rằng chỉ những ai được tình yêu lay động mới có thể thực sự hỗ trợ chúng ta trên cuộc hành trình và dẫn chúng ta đến ơn cứu rỗi, đến sự đổi mới đời sống và đến hạnh phúc.

8. Thánh Phanxicô- Hôn phu của Cô Nương Nghèo Khó

Trong bông hồng những vị chân phúc, ở trung tâm hình bóng Đức Maria, Dante cũng đặt nhiều vị thánh, trong đó làm nổi bật cuộc sống và sứ mệnh, đề xuất các Ngài như những nhân vật, trong nét cụ thể cuộc đời các Ngài và cũng trải qua muôn vàn thử thách, các Ngài đã đi đến cùng đích cuộc đời và ơn gọi của mình. Tôi chỉ xin ngắn gọn gợi lại Thánh Phanxicô Assisi, được minh họa trong Ca Khúc XI Thiên Đàng, nói về các linh hồn khôn ngoan.

Có một sự hòa hợp sâu sắc giữa Thánh Phanxicô và Dante: Một người thì cùng với các đệ tử, rời khỏi tu viện, đi gặp dân chúng qua đường làng, thành phố, rao giảng cho dân chúng, dừng lại ở các nhà; người thứ hai đưa ra lựa chọn, không thể hiểu được vào thời điểm đó, là sử dụng ngôn ngữ bình dân cho kiệt tác thi ca về thế giới bên kia và kể chuyện về những nhân vật nổi tiếng cũng như ít được biết đến, nhưng họ hoàn toàn bình đẳng về phẩm giá với những kẻ quyền thế trên trần gian. Một đặc điểm khác hợp nhất hai gương mặt này: cởi mở với vẻ đẹp và giá trị của thế giới sáng tạo, là tấm gương và "dấu tích" của Đấng tạo hóa. Làm sao mà không nhận ra trong “Hằng yêu thương hết thảy như Cha yêu/Hằng ngợi khen sướng vui như thiêng triều” của Dante diễn giải Kinh Lạy ( Luyện Ngục Ca Khúc XI, 4-5) một tham chiếu đến Ca khúc vạn vật của Thánh Phanxicô?

Trong ca khúc XI của Thiên Đàng, sự đồng điệu này xuất hiện ở một khía cạnh mới, khiến chúng thậm chí còn giống nhau hơn. Sự thánh thiện và sự khôn ngoan của thánh Phanxicô nổi bật chính xác bởi vì khi Dante từ trời cao nhìn xuống trái đất, đã thấy lòng dạ hẹp hòi của những người tin cậy vào của cải trần thế:

            Ôi những khát khao điên rồ trần thế

            Xoáy bao hồn trong bể khổ chơi vơi

Vòng lý sự trói đôi cánh tâm hồn hụt hơi

Muôn kiếp xoay theo vòng nô lệ

                        (1-3). 

Toàn bộ lịch sử hay đúng hơn là "cuộc đời tuyệt vời" của vị thánh được tập trung vào chính mối quan hệ của ngài với Cô Nương Khó Nghèo:

“Ta muốn nói về cặp tình nhân: Phan Sinh và Bần Nương.

Họ tâm đầu ý hợp tuyệt vời, gương mặt rạng ngời hạnh phúc

Những cái nhìn trìu mến làm nảy sinh bao điều thánh thiện"(73-75). 

Trong khúc ca về thánh Phanxicô, ghi dấu những khoảnh khắc đáng nhớ nổi bật của cuộc đời Ngài, những thử thách, và cuối cùng là sự kiện mà Ngài nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, nghèo khó và bị đóng đinh trên thập giá, Ngài được ghi năm dấu thánh thiêng liêng:

“Người thấy dân nơi ấy cứng lòng không hoán cải

Để khỏi phí thời gian vô ích, Người trở lại quê hương

Trên núi đá Verna giữa Tevere và Arno

Người đã lãnh nhận dấu ấn cuối cùng của Đức Kitô

Là năm dấu thánh Người mang trên thân mình suốt hai năm”.

(103-108).

9. Đón nhận lời chứng của Dante Alighieri

Khi khép lại cái nhìn tổng quan về công trình của Dante Alighieri, một kho tàng kiến ​​thức gần như vô hạn, về kinh nghiệm, về phản ánh trong mọi lĩnh vực nghiên cứu của con người, xin đặt ra một suy tư. Sự phong phú của những chân dung, những câu chuyện kể, những biểu tượng, những hình ảnh gợi mở và hấp dẫn mà Dante cung cấp cho chúng ta chắc chắn đã khơi dậy sự ngưỡng mộ, kinh ngạc và biết ơn. Ở nơi ông, chúng ta gần như có thể nhìn thấy tiền thân của nền văn hóa đa phương tiện của chúng ta, trong đó ngôn ngữ và hình ảnh, biểu tượng và âm thanh, thơ ca và vũ điệu đều hợp nhất với nhau trong một thông điệp duy nhất. Vì thế, dễ hiểu tại sao thi phẩm của ông lại truyền cảm hứng cho vô số tác phẩm nghệ thuật ra đời với đủ thể loại.

Nhưng tác phẩm của Thi Hào Tuyệt Đỉnh cũng khơi dậy một số thách thức cho thời đại của chúng ta. Nó có thể truyền đạt những gì cho chúng ta, trong thời đại của chúng ta? Ông vẫn còn điều gì đó để nói với chúng ta, để cung cấp cho chúng ta? Thông điệp của ông có còn tính thời sự, có chức năng nào đó để thực hiện cho chúng ta? Ông vẫn có thể chất vấn chúng ta?

Dante - chúng ta hãy thử trở thành người thông dịch tiếng nói của ông- không yêu cầu chúng ta, ngày nay, chỉ đơn giản là đọc, nhận xét, nghiên cứu, phân tích. Thay vào đó, ông yêu cầu chúng ta lắng nghe, bắt chước theo một cách nào đó, để biến chúng ta thành những người bạn đồng hành của ông, bởi vì ngay cả hôm nay ông cũng muốn cho chúng ta thấy đâu là hành trình hướng tới hạnh phúc, con đường ngay chính sống trọn vẹn con người của chúng ta, vượt qua khu rừng tăm tối mà chúng ta mất định hướng và nhân phẩm. Cuộc hành trình của Dante và tầm nhìn của ông về cuộc sống bên kia cái chết không chỉ đơn giản là chủ đề của một tường thuật, không chỉ là một sự kiện cá nhân, mặc dù một sự kiện đặc biệt.

Nếu Dante kể tất cả những điều này - và ông làm điều đó theo một cách tuyệt vời - bằng cách sử dụng ngôn ngữ của người dân, ngôn ngữ mà mọi người có thể hiểu biết, nâng nó lên thành một ngôn ngữ phổ thông, là bởi vì nó có một thông điệp quan trọng muốn truyền tải đến chúng ta, một từ muốn chạm vào trái tim và khối óc của chúng ta, định mệnh được biến đổi và thay đổi chúng ta ngay bây giờ, trong cuộc sống này. Thông điệp của ông có thể và phải làm cho chúng ta nhận thức đầy đủ về chúng ta là gì và chúng ta đang sống ngày qua ngày trong căng thẳng nội tâm và liên tục hướng tới hạnh phúc, hướng tới sự sống viên mãn, hướng tới quê hương cuối cùng, nơi chúng ta sẽ được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, Tình yêu vô tận và vĩnh cửu. Mặc dù Dante là một người thuộc về thời đại của ông và ông có những nhạy cảm khác với chúng ta về một số vấn đề, nhưng chủ nghĩa nhân văn của ông vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự và có thể chắc chắn là một điểm tham khảo cho những gì chúng ta muốn xây dựng trong thời đại của chúng ta.

Do đó, điều quan trọng là công trình của Dante, nhân dịp thuận lợi kỷ niệm này, phải được biết đến thậm chí nhiều hơn nữa theo cách phù hợp nhất, tức là làm cho không chỉ sinh viên và học giả có thể tiếp cận và hấp dẫn, mà còn cho tất cả những ai, lo lắng trả lời các câu hỏi nội tâm, mong muốn nhận ra đầy đủ sự hiện hữu của họ, họ muốn sống hành trình sống và đức tin của riêng họ một cách có ý thức, chào đón và sống với lòng biết ơn về hồng ân và cam kết tự do.

Do đó, tôi xin chúc mừng những giáo viên đã có thể truyền đạt thông điệp của Dante với niềm đam mê, để giới thiệu kho tàng văn hóa, tôn giáo và đạo đức chứa đựng trong các tác phẩm của ông. Và di sản này đòi hỏi được mở rộng sự tiếp cận ra ngoài trường học và các giảng đường đại học.

Tôi kêu gọi các cộng đồng Kitô giáo, đặc biệt là những người có mặt tại các thành phố lưu giữ ký ức về Dante, các tổ chức học thuật, hiệp hội và các phong trào văn hóa, để thúc đẩy các sáng kiến ​​hướng tới hiểu biết để lan tỏa thông điệp của Dante một cách trọn vẹn.

Sau đó, theo một cách cụ thể, tôi khuyến khích các nghệ sĩ thể hiện giọng nói, khuôn mặt và trái tim, tạo hình dạng, màu sắc và âm thanh cho Thi Phẩm của Dante, theo con đường của cái đẹp, mà ông đã bước đi một cách thành thạo, và do đó truyền đạt nhiều chân lý sâu sắc hơn và lan tỏa hơn, với ngôn ngữ nghệ thuật, thông điệp về hòa bình, tự do và tình huynh đệ.

Trong thời điểm lịch sử đặc biệt này, được đánh dấu bởi nhiều bóng tối, bởi những tình huống làm suy giảm nhân loại, bởi thiếu sự tự tin và triển vọng cho tương lai, hình bóng của Dante, nhà tiên tri của hy vọng và nhân chứng của khát vọng hạnh phúc của con người, vẫn có thể cho chúng ta những lời nói và tấm gương tạo động lực cho cuộc hành trình của chúng ta. Ông có thể giúp chúng ta thăng tiến với sự thanh thản và can đảm trong cuộc hành trình cuộc đời và đức tin mà tất cả chúng ta được kêu gọi thực hiện, cho đến khi trái tim của chúng ta đã tìm thấy sự bình an thực sự và niềm vui thực sự, cho đến khi chúng ta đạt được mục tiêu cuối cùng của tất cả nhân loại: “Tình yêu xoay mặt trời xoay tinh tú !” ( Par. XXXIII, 145).

Vatican, ngày 25 tháng Ba, Lễ Trọng Truyền Tin năm 2021,

Năm thứ chín trong triều đại giáo hoàng của tôi.

PHANXICÔ


Đình Chẩn dịch từ bản tiếng Ý, Tuần Thánh 2021
Thi phẩm Thần Khúc sẽ được giới thiệu chính thức trên
 www.vanthoconggiao.net

Các chú thích:

[1] Tông thư In praeclara summorum (Giữa những thiên tài đỉnh cao) (30/04/1921): AAS 13 (1921), 209-217.

[2] Cfr ibid. : 210.

[3] Thư Nobis, ad Catholicam (28/10/1914): AAS 6 (1914), 540.

[4] Diễn văn với Hồng Y Đoàn và Phủ doãn Roma  (23/12/1965): AAS 58 (1966), 80.

[5] Cfr AAS 58 (1966), 22-37.

[6] Diễn văn với Các Tham Dự viên Hội Nghị do Hội Đồng Giáo Hoàng Cor Unum cổ vũ, (23/01/2006): Insegnamenti 2006 II/1, 92-93.

[7] Ibid. , 93.

[8] Cfr n. 4: AAS 105 (2013), 557.

[9] Sứ điệp gửi Chủ tịch Hội Đồng Văn Hóa (4/05/2015): AAS 107 (2015), 551-552.

[10] Ibid. : 552.

[11] L’Osservatore Romano, 10/10/2020, p. 7.

[12] Cfr Conf. , I, I, 1: PL 32, 661.



[1] Phiên âm tên nàng Beatrice, người yêu của Dante-người dịch.

Được tạo bởi Blogger.