GIÊSU – KITÔ



Nguyên tác: Jesus le Christ
Tác giả: Joseph Doré
Dịch giả: Gs. Nguyễn Đăng Trúc


Tác giả tập sách nhỏ nầy là một chủ chăn trong Giáo Hội và cũng là một trong những nhà thần học trụ cột hiên nay. Ngài là giáo sư thần học và là thành viên của Ủy ban quốc tế về thần học, nổi bật trong những công trình nghiên cứu về Kitô-học và thần học các tôn giáo.

ĐGM Joseph Vũ Duy Thống

TM CN B Thường niên 33

…TRƯỚC NGÀY CÁNH CHUNG

(Suy niệm từ Mc 13, 24-32)


Chúa loan báo, cho hay, thời thế mạt:
Cả đất, trời chuyển biến lạ, bất thường.
Trong hoang mang, dân chúng chịu đau thương.
Họ sẽ thấy Con Người tái giáng thế.

***
Ngài sẽ đến trong vinh quang Vương Đế
Ngày cánh chung là ngày xét xử công minh
Những kẻ lành: sẽ nhận phúc trường sinh,
Còn kẻ dữ: đời đời trong hoả ngục.

Chiếc ghế cuối nhà thờ…


Mình còn nhớ trước ngày chịu chức linh mục, cha linh hướng của mình dạy rằng, “sau khi con chịu chức, con đừng quên chiếc ghế phía cuối nhà thờ mà thỉnh thoảng con vẫn ngồi… hãy quay lại ngồi vào chiếc ghế đó một vài lần trong tháng trước giờ lễ.” Mãi về sau mình mới hiểu sự sâu sắc của lời khuyên đó.

Sau ngày chịu chức, các linh mục của Chúa được ngồi trên cung thánh, mọi người đều hướng về linh mục, và người linh mục trở thành trọng tâm của tất cả sự chú ý. Vị trí ngồi trên cung thánh nói lên vai trò của người linh mục, là người mục tử dẫn dắt cộng đoàn, cử hành phụng vụ dâng lên Chúa.

Tuy nhiên, đó cũng là vị trí ẩn đầy cám dỗ và nguy hiểm. Một khi ngồi ở vị trí trên cùng, người ta dễ xa cách người khác vì vị trí cao trọng của mình, đôi khi người ta làm mọi sự để bám lấy vị trí đó, và nghĩ rằng ở bất cứ nơi đâu mình cũng phải được ngồi trên cùng, phải được chú ý, phải là người quan trọng nhất.

2014 CHA VÀO ĐẤT


-"Sáu mươi năm rồi con ạ!" 
– "Dạ, đã sáu mươi năm."

Im lặng.

- "Ba mươi chín năm rồi Ba ạ!"
 – "Phải. Đã ba mươi chín năm."

- "Mỗi năm mình đều phải làm toán lại Ba à! Con làm toán cộng. Con vẫn không tin ở tài làm toán của mình. Bài toán rất đơn giản. Chỉ có cộng một vào con số có sẵn."
- "Phải. Đơn giản mà rất hóc búa."

Cha con tôi lại im lặng. Tôi biết trong khối óc còn rất tinh tường của ba tôi, những tháng năm xa xưa đang trở lại. Như một đoạn phim. Tôi ước gì người ta có thể sửa đổi như sửa đổi những đoạn phim hoặc những đoạn thu âm một cách dễ dàng. Xóa đi và làm lại. Kỹ thuật, chuyện nhỏ! Nhưng những đoạn phim đời của chúng ta, không thể làm gì được. Không xóa đi và làm lại. Mỗi năm tôi đều phải làm một con tính cộng. Ba cũng vậy.

Tôi thu dọn căn nhà lại cho Ba. Trong căn nhà này, Ba và Mẹ đã có nhau. Sau khi Mẹ mất, Ba không muốn dời đi đâu cả. Ba sống thoải mái một mình. Mỗi ngày chúng tôi đều thay nhau đến với Ba. Vậy là Ba đã cảm thấy đủ. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa ngăn nắp. Tôi chỉ việc hút bụi, và trang trí một chút cho vui. Ba còn dặn khi nào Ba quá lú lẫn rồi thì các con cứ gửi Ba vào “nursing home”. Chúng tôi nói chắc không bao giờ đâu, vì Ba luôn khỏe khoắn mà. Nói thế rồi tôi cũng nghĩ rằng cho dù Ba có thế nào, chúng tôi cũng sẽ săn sóc Ba tại nhà. Ở nhà, Ba sẽ luôn "có" Mẹ bên cạnh.

- "Ba! Cái tấm hình này..."
- "Chi đó?"
- "Tấm hình nhà mình chụp chung... lâu lắm rồi, Ba xem này, giấy hình đã ố vàng."
- "Đưa Ba xem. À phải, tấm hình chụp năm 1954, trước nhà mình ở Hà Nội. Sau đó… gia đình mình đã ra đi."
- "Dạ. Lúc nhà mình ra đi, con mới có sáu tuổi, nhưng tới bây giờ con vẫn nhớ."
- "Con giỏi lắm!"
- "Con nhớ lắm Ba à! Lúc xuống tàu, cảnh thật là hỗn độn. Ba Mẹ chỉ mang một ít vật dụng thật cần thiết, và vài món quý giá. Con giành mang cái túi đựng những vật quý giá đó, chỉ là hình ảnh của gia đình. Sau này con thấy quý thật, vì vàng bạc mình còn sắm lại được, còn hình ảnh thì không.”
- “Đúng đó con! Quý lắm!”

Hai cha con giở lại quyển album. Những kỷ niệm êm đềm ở quê cũ Hà Nội lần lượt hiện ra. Tôi dạo đó còn bé quá, chỉ là một cậu nhóc mới vào tiểu học. Trí óc non nớt của tôi còn lãng đãng những câu chuyện Ba Mẹ kể về trận đói năm Ất Dậu 1945. Họ hàng của tôi nhiều người đã chết trong trận đói ấy, lúc tôi chưa ra đời. Thế nên tôi chỉ nghĩ về chuyện ấy như một sự kiện lịch sử mà mình được học. Nhưng với Ba Mẹ thì khác. Đó là những gì họ phải chứng kiến, nên tôi biết trong lòng Ba Mẹ không bao giờ nguôi được những nỗi kinh hoàng.

“Con xem, tấm hình này, chụp lúc mình mới về định cư ở Đà Lạt. Ba Mẹ làm vườn để sinh sống, nuôi các con. Vất vả lắm! Nhưng mình đã có một thời bình an.”

Tôi nghe như thật sâu trong câu nói của Ba có một tiếng thở dài. Phải, nhà mình đã có một thời bình an. Khi đã quen với cuộc sống mới, có một mái nhà, Ba bắt đầu đi làm lại tại công sở. Mẹ tiếp tục công việc vườn tược. Trời thương nên rau trái tốt tươi, Mẹ thuê được người cùng làm vườn nên đỡ vất vả hơn. Ba anh em chúng tôi lớn lên.

Nhưng mỗi khi nhìn bé An, em gái út, chúng tôi không khỏi tội nghiệp cho em. Cái cảnh cả nhà chen chúc lên “chiếc tàu há mồm” tại cảng Hải Phòng chúng tôi nhớ rất rõ. Mẹ lúc đó còn mặc áo dài, nách em An một bên, tay kia dắt em Thành. Ba và tôi mỗi người một cái túi. Ba xách cái túi to đựng vật dụng cần thiết của cả nhà, tôi vác cái túi nhỏ vừa đủ đè oằn vai thằng bé sáu tuổi. Có một lúc dòng người như sóng cuộn xô đẩy vô tình, em An bị đám đông làm ngộp thở. Em khóc không thành tiếng. Cánh tay em bị nhiều người xô mạnh, em đau đớn gần ngất xỉu. Em mang tật nơi khuỷu tay từ dạo ấy. Em Thành và tôi cũng suýt bị chẹn ngộp thở. Và cuối cùng, chúng tôi cũng lên được trên tàu. “Chiếc tàu há mồm”, kỷ niệm sâu đậm trong đời của chúng tôi! 

(Ảnh minh họa cuộc di cư năm 1954)

Bài toán đơn giản mà rất hóc búa. Không phải chỉ có cộng một vào con số có sẵn. Mà đúng ra là phải lấy năm hiện tại trừ đi năm đó. Năm đó là gì? Là cái mốc thời gian ai cũng nhớ. Ba thì trừ với năm 1954. Tôi thì trừ với năm 1975. Tôi rùng mình. Cái ý nghĩ mình cứ làm toán trừ hay toán cộng mỗi năm như vậy thật đáng sợ. Tôi bây giờ không phải là cậu bé sáu tuổi hay chàng thanh niên trẻ trung lanh lợi, mà đã thành một người có tuổi, mái tóc điểm nhiều sợi bạc, và cũng đang nặng gánh gia đình. Tôi sẽ làm toán cộng như thế này mãi ư? Và để làm gì? Một công việc, tuy chỉ là một động tác nhỏ, nhưng sao nặng nề quá, và đủ sức làm đau nhói trái tim.

Hôm nay tôi đưa Ba ra bãi biển. Cả hai cha con không hiểu sao bỗng dưng cùng muốn ra biển. Ba nói sắp đến Lễ Phục Sinh. Mùa Phục Sinh năm đó trùng với những ngày cuối của Miền Nam. Tôi cũng nhớ rất rõ chuyện ấy. Lúc đó tôi không phải là cậu nhóc con, mà là một thanh niên. Vâng, một thanh niên đang khoác màu áo lính. Những đoạn đường chiến binh gian khổ tôi hầu như đã nếm trải. Bước chân tôi đã đi khắp mọi miền. Cho đến ngày mất Miền Nam, tôi theo bạn bè chạy về chốn địa đầu. Tôi đã trôi dạt ra xứ biển. Nơi đó, đất mũi Cà Mau, tôi ẩn thân rồi ra khơi trong một ngày đầu tháng Năm…

… Biển ở đây lạnh. Cha con tôi không thể tắm. Ba cùng tôi ngồi trên cát, không ai bảo ai điều gì, yên lặng ngó ra chân trời phía tây nam. Đôi mắt Ba bỗng như dâng lên một chút sóng.
- “Ba!”
- “Gì con?”
- “Có phải… Ba đang nhớ…?”
- “Ừ. Ba nhớ quá, Việt Nam!”
- “Con cũng vậy.”
- “Những ngày đó, con đi đâu mất tích. Còn Đà Lạt của mình cũng đã thua. Mọi người kéo nhau về Sàigòn. Lại làm dân di cư. Ba Mẹ tiếc vườn rau trái của mình quá! Yêu Đà Lạt như yêu Hà Nội xưa vậy. Cho nên sau đó lại trở về. Trở về để phải chịu những điều cay đắng.”

Phải, Ba Mẹ đã chịu cay đắng. Ba phải đi “tập trung cải tạo” mấy tháng vì là viên chức chính phủ, Mẹ ở nhà chịu cảnh “đánh tư sản mại bản” vì nhà có chút của cải do kinh doanh nông sản mà có. Lại trở về hai bàn tay trắng. Thằng con trai lớn đi biệt tăm. Hai đứa còn lại học hành lay lắt, chán chường…

Bỗng Ba đổi giọng hơi vui:
-“Nhưng Trời sắp đặt cả con ạ, rồi con cũng đã đem hết nhà mình qua đây. Mình không còn được sống trong đất nước của mình nữa, nhưng đã hưởng một đời tự do. Mẹ con cũng có một khoảng thời gian sung sướng trước khi lìa cha con mình. Ba nghĩ Ba không có gì để luyến tiếc cả.”
- “Ba!”
- “Phải. Thật sự thì Ba vẫn luôn mong có ngày Ba về lại quê nhà. Nhưng nơi chốn này cũng gắn bó lắm chứ! Con có nhớ câu hát của Nguyễn Đức Quang không? “Xin nhận nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương.” Đất nước này cũng đầy thương khó, nào thiên tai, nào khủng bố, nào xung đột màu da… Nhưng đây vẫn luôn là một đất nước đẹp xinh và hào hiệp, ai mà không yêu mến?”

Ba vùi đôi bàn chân trong cát ướt, nói nhẹ:
- “Cát êm quá con ạ! Thật là dễ chịu!”
- “Dạ.”
- “Ba cứ ao ước cuối đời sẽ về Việt Nam, để được chết ở đó. Nhưng ngày nào còn chế độ độc tài, ngày nào chưa có tự do, Ba sẽ không về.”
- “Ba, ngày đó sẽ tới.”
- “Nhưng lâu quá con ạ! Chắc hết đời Ba vẫn chưa thấy đâu cả. Mỗi năm lại phải làm bài toán cộng, Ba thấy mòn mỏi quá!”
- “Ba, Ba đừng nghĩ tới chuyện đó nữa đi Ba!”
- “Ừ, Ba sẽ không nghĩ tới nữa. Ba thật sự thương cái xứ này.”

Tôi kéo Ba đứng dậy. Tôi thấy mình bé lại, như thằng nhóc sáu tuổi ngày xưa. Hai cha con đi dọc theo bờ biển. Những con tàu nhấp nhô phía xa tít ngoài khơi. Tôi nghe Ba nói như reo:
“Trông kìa! Chiếc tàu há mồm!”

**

Căn nhà của Ba, mỗi lần tôi đến, tôi đều dọn dẹp lại một chút. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa cũng ngăn nắp lắm. Những ngày khác, các em tôi cũng làm như vậy. Rồi hai cha con cùng nấu ăn. Ba thích công việc ấy. Chẳng bù với thời gian xưa, lúc Ba làm công chức, về nhà Ba chỉ đọc báo, nghe radio, rồi dạy các con học. Bây giờ chúng tôi đã “già đầu”, bay nhảy tứ phương, Ba nói “Ba không còn chữ để dạy”…

Lần này tôi đến, cũng dọn dẹp căn nhà cho Ba. Tôi thừ người nhìn đồ đạc hơi bề bộn một chút. Chẳng là trong cái đêm đưa Ba đi cấp cứu, chúng tôi đã không kịp thu dọn. Đêm đó là phiên tôi ở lại với Ba. Cả ngày Ba vẫn khoẻ, tự nhiên đến đêm Ba làm mệt. Ba nói ngực của Ba đau lắm. Tôi gọi xe cứu thương rồi báo cho hai em. Vào bệnh viện, Ba mất. Trái tim của Ba không muốn đập nữa. Ba ra đi rất an lành.

Những ngày trước khi Ba đi, trong tháng Tư, tôi thường được anh em bạn mỗi lần họp mặt yêu cầu tôi hát bản “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của Phạm Duy. Họ biết hoàn cảnh của gia đình tôi cũng giống như thế. Khi tôi hát, tôi thấy cả nhà mình đang ngồi san sát với các di dân trên “chiếc tàu há mồm”, bỏ quê. Tôi thấy khu vườn rẫy của nhà tôi xanh tươi ngút ngàn ở Đà Lạt. Tôi thấy anh em chúng tôi vui đùa học tập bên nhau, Ba Mẹ tràn trề hạnh phúc. Rồi tôi thấy tôi âm thầm đi về xứ biển địa đầu, lên chiếc thuyền nhỏ dập dềnh ra đi… bỏ nước.

Lúc Ba ra đi cũng là mùa Phục Sinh. Khi đưa Ba đi vào đất, tôi nhìn ảnh Ba, chợt cứ nghe văng vẳng như Ba đang nói với tôi “Ba thật sự thương cái xứ này… Cát êm lắm, thật là dễ chịu…”

Tôi vào phòng ngủ. Tôi bỗng muốn nằm lên chiếc giường của Ba. Mai mốt căn nhà sẽ đóng cửa, rồi được trả lại cho “housing”. Tôi thấy mình như đứa trẻ thơ đi tìm chút hơi hướm của mẹ. Tôi vùi mặt vào chiếc gối của Ba. Ba cứ như còn nằm bên tôi, khi tôi là một cậu nhóc con. Ba kể chuyện đời xưa cho tôi nghe cho đến khi tôi không biết Ba đang nói gì nữa. Bỗng tôi ước muốn ôm lấy chiếc gối như là ôm lấy Ba. Khi tôi nhấc chiếc gối lên để ôm vào lòng, tôi thấy một tấm ảnh nơi chỗ của chiếc gối. Tấm ảnh Đà Lạt. Một Đà Lạt sạch sẽ, nên thơ, chan hòa nắng ban mai. Ba hẳn đã ngắm tấm ảnh Đà Lạt mỗi ngày, vui trong từng kỷ niệm và đau xót với cái ý tưởng quê hương đất đỏ đang quằn quại trong các dự án bauxite. Tôi siết chặt chiếc gối. Như là Ba với tôi cùng đang khóc.

Cam Li NGUYỄN THỊ MỸ THANH, 5.2014
Ephata 807

CON ĐƯỜNG ĐỨC TIN VÀO NƯỚC CHÚA QUA CÂY CẦU HỒNG Y FX NGUYỄN VĂN THUẬN - Phần 2


Trong thời gian đấy, cục tôi, do ông Hoàn Thành cục trưởng, ông Lam trưởng phòng Tôn giáo có trách nhiệm quản thúc Đức cha Nguyễn Văn Thuận tại số nhà 23 phố Hòa Mã. Sau mười năm công tác, tôi đã trở thành một cán bộ cốt cán nằm trong chỉ tiêu được nâng lên cao hơn, khi các ông cục trưởng và trưởng phòng hỏi tôi về nguyện vọng, tôi đã trả lời: “Thưa các thủ trưởng, hiện nay tôi đã hoàn thành chương trình học tiếng Anh khóa buổi tối, nay tôi theo học trình độ C tiếng Pháp. Vậy nguyện vọng của tôi chỉ mong được hàng tuần gặp Đức cha Nguyễn Văn Thuận để tập nói tiếng Pháp”. Với tổ chức, nguyện vọng đó khá giản dị, vì tôi không đòi thăng quan, tiến chức mà chỉ đòi học. Thế là tôi được cấp cục và cấp phòng đồng ý cho gặp Đức Đức cha và tất nhiên tôi được ông trưởng phòng sửa soạn cho lập trường tư tưởng, làm sao không để “đối tượng” cảm hóa ngược.

TA CÒN LẠI GÌ?



Ta còn lại gì trong cuộc đời này?
Chẳng còn gì khi nhắm mắt xuôi tay
Đời ảo ảnh cũng chỉ là ảo ảnh
Nỗi băn khoăn sống xứng đáng làm người.

Trên môi khô nhưng vẫn nở nụ cười
Nỗi khổ cuộc đời chẳng thể nào vơi
Đời bất hạnh đắm chìm trong đau khổ
Phận làm người cứ phải sống trên đời.

Từ miền Bắc đến miền Nam Việt Nam, các ơn gọi là rất nhiều và có chất lượng, nữ tu vừa đông vừa trẻ tuổi. Các thế hệ trẻ này đã không biết đến các cuộc bách hại. Hàng linh mục là vừa đông vừa dám nghĩ dám làm, được cộng đồng của họ thương mến và tôn trọng, Bản thân các cộng đoàn này có các tín hữu sống đạo tốt, hào phóng và có tổ chức. Giáo hội gia đình này sống trong một xã hội hiếu thảo, được thành lập trên sự thờ kính ông bà tổ tiên, kính trọng người xưa.

source: www.asianews.it

Ở Việt Nam, Giáo hội sống không giấu giếm, cả ở Hà Nội và các nơi khác. Ở vùng ngoại ô của thủ đô gồm tám triệu dân này, trong sự phát triển liên tục, đại chủng viện Cổ Nhué, một tòa nhà lớn hiện đại được xây dựng vào năm 2006, có thánh lễ khai giàng năm học mới vào đầu tháng Chín. Hơn 300 thanh niên trẻ tuổi trong áo chùng đen sống trong bầu khi hân hoan vui vẻ. Ở miền Bắc Việt Nam, hai đại chủng viên khác, là đại chủng viên Bùi Chu đón 174 chủng sinh và đại chủng viên Thái Bình đón 70 chủng sinh. Chính Giám mục Dòng Tên của giáo phận Bắc Ninh lân cận, Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, đã nói chuyện trong lễ khai giảng này. Là cựu sinh viên của Trung tâm Sèvres, ở Paris, ngài trình bày một bài suy niệm về cửa hẹp. Nhưng đúng hơn, đó là một cửa lớn mà các người trẻ ấy đã vượt qua. Đến từ các gia đình Công Giáo đông con, họ đã chọn con đường tu trì này, được gia đình, giáo xứ và linh mục của họ đưa ra cho họ. Đằng sau các bài thánh ca mạnh mẽ, được hát thật du dương, như trong tất cả các buổi lễ của Việt Nam, có sự yên tĩnh thanh thản của một đời sống được chọn lựa thoải mái.

TIẾNG ĐÀN MANG NGỌN LỬA TRÁI TIM

hình minh họa

- Thủy ơi, nhà anh bị cúp điện, trống vắng quá, anh đến nhà Thủy chơi đàn được không?
Đó là cú phone của anh Nghĩa, người bạn khiếm thị cụt một bàn tay mà tôi đã kể trong CHUYỆN NGƯỜI MÙ DẮT NGƯỜI MÙ, tôi trả lời phone:
- Được chứ , em sẵn sàng nghe anh đàn, có người chơi đàn miễn phí cho mình càng vui chứ sao!

Một lát sau, anh đã đến nhà tôi với một cây đàn guitar trên vai. Tôi ngồi nghe anh đàn trong lòng rất cảm động, tiếng đàn của anh còn thô sơ lắm. Tôi chẳng biết gì về nghệ thuật chơi đàn mà vẫn nhận ra được những lỗi nhạc trong tiếng đàn của anh, nhưng tôi thấy trong đó là cả một sự cố gắng vượt bậc. Anh nói:


Trung tâm Pew, cơ quan chuyên nghiên cứu về các vấn đề xã hội, tôn giáo và ý kiến công cộng có trụ sở tại Washington, DC vừa công bố kết quả cuộc nghiên cứu mới nhất của họ, cho thấy người dân Mỹ trong thực tế là những người sốt sắng tham gia vào các buổi lễ và sinh hoạt tôn giáo hơn hẳn người dân các nước dân chủ Tây phương giàu có khác như Canada, Úc, và các nước Âu Châu.

Members of a New York Pentecostal church. (Robert Nickelsberg/Getty Images)

Theo nghiên cứu này, hơn một nửa số người Mỹ trưởng thành (55%) cho biết họ vẫn cầu nguyện hàng ngày, so với 25% ở Canada, 18% ở Úc và 6% ở Anh. Căn cứ trên các con số thống kê đưa ra, thói quen cầu nguyện hàng ngày của người Mỹ, trong thực tế cũng giống như dân chúng ở nhiều quốc gia nghèo, chậm phát triển như Nam Phi (52%), Bangladesh (57%) và Bolivia (Nam Mỹ- 56 %) - so với các quốc gia giàu có hơn.

TRAO GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2018 -GIÁO PHẬN XUÂN LỘC



Sáng ngày Chúa nhật 11.11.2018 Giáo phận Xuân Lộc tổ chức lễ trao giải VHNT Đất Mới 2018

Tham dự giải có 4 truyện dài, 6 truyện vừa, 55 truyện ngắn, 17 kịch bản, 412 bài thơ và 6 trường ca (riêng trường ca Lịch sử cứu độ có 1000 khúc thơ), 52 ca khúc và 160 ảnh nghệ thuật



TÁC PHẨM ĐẠT GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2018

Khánh thành bia tri ân ngài Alexandre De Rhodes, Isfhan, Ba Tư, ngày 5/11/2018

Chú thích của VTCG: Giáo dân Công giáo thường gọi 'cha' (đối với các linh mục) và 'Đức cha' (với các vị thuộc hàng giám mục). Do đó, ngài Alexandre de Rhodes, một linh mục, nên được gọi là 'cha'.
Tuy vậy, trong bài tường thuật bên dưới cũng như bài phát biểu của nhà văn Hoàng Minh Tường có sự nhầm lẫn. Nguyên nhân có thể là do người Việt có thói quen thêm 'đức' vào danh xưng với những người mình kính trọng.

Bia tri ân đã chính thức được trân trọng đặt để và một buổi lễ khánh thành long trọng, ấm cúng và trang nghiêm đã được tổ chức tại mộ phần cha Alexandre de Rhodes sáng ngày 5/11/2018, nhân ngày giỗ thứ 358 của Đức cha.

Buổi lễ đã có sự tham dự của chinh quyền thành phố: Ông Mazaheri (cộng đồng Hồi giáo tại Isfahan – cộng đồng chủ quản), Ông Gestabian (cộng đồng cơ đốc giáo Armenian tại Isfahan), Bà Gukasian (trưởng phòng quan hệ dân chúng nhà thờ VANK) và 20 công dân Việt Nam đến từ ba miền đất nước, có cả người Việt định cư ở nước ngoài.

ĐỨC TIN KITÔ GIÁO HÔM QUA VÀ HÔM NAY


Nguyên bản tiếng Đức: Einfuhrung in das Christentum
Bản dịch tiếng Anh: Introduction to Christianity
Tác giả: Joseph Ratzinger
Dịch giả: LM Nguyễn Quốc Lâm & Phạm Hồng Lam

Với giấy phép dịch và ấn hành ngày 16.7.2009
của tổ hợp nhà xuất bản Random House
Đàlạt tháng 9.2009

Cùng QUÝ ĐỘC GIẢ,

Tôi đã đọc từ đầu cho đến cuối quyển sách rất hay : Đức tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay, bản dịch việt ngữ tác phẩm Einfuhrung in das Christentum của Đức Bênêđictô XVI, khi còn là giáo sư Đại Học Tubingen. Thú thật là tôi say mê về nội dung quyển sách cũng như về cách dịch thuật, rất xuôi chảy mà vẫn trung thành và diễn tả đầy đủ ý nghĩa của bản văn.

Quyển sách này, tôi đã đọc hai lần lúc còn là sinh viên thần học ở Roma, bấy giờ là bản dịch tiếng Pháp La foi chrétienne hier et aujourd’hui. Gần đây tôi có cơ hội đọc bản dịch tiếng Anh Introduction to Christianity. Theo nhận xét của tôi, bản dịch tiếng Việt mà quí độc giả có trong tay không hề thua kém.

Nội dung quyển sách là một nỗ lực quảng diễn Đức tin tông truyền trong Kinh Tin Kính Các Tông đồ sao cho phù hợp với thế giới hôm nay. Tác giả đã làm công việc này chính là nhà thần học Joseph Ratzinger, bấy giờ còn rất trẻ, khoảng hơn 40 tuổi, nhưng đã là một giáo sư nổi tiếng và rất vững vàng về nhiều mặt, đặc biệt trên bình diện tư duy triết học. Con người này đã không ngừng để cho đức tin công giáo của chính mình đối thoại với các trào lưu tư tưởng đương đại.

Trong cuộc đối thoại rất hữu ích đó, tác giả cho thấy hướng đi của tư tưởng kitô giáo là một hướng đi rất rõ ràng và chắc chắn : lựa chọn phạm trù lógos (lời, lẽ, lý), lý tính của tư duy triết học thay vì chọn phạm trù mýthos (huyền thoại) của các tôn giáo thời bấy giờ. Sự lựa chọn phạm trù “logos” là ý tưởng cốt lõi trải dài từ đầu đến cuối những phân tích tư duy của thần học gia và triết gia Ratzinger.

Ý tưởng cốt lõi trên giống như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt hầu hết các tác phẩm thần học của Ratzinger, thậm chí kéo dài tới ngày hôm nay. Sự đối thoại giữa đức tin và lý trí luôn là điều nòng cốt trong tư duy thần học của J. Ratzinger, thậm chí trong cả đường lối mục vụ của Đức Bênêđictô XVI, rất rõ ràng trong cả ba thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, Được Cứu rỗi nhờ Hy Vọng, Bác Ái trong Chân Lý.


Mấy hôm trước, Chúa cho bà được nhìn thấy các linh hồn!

Bà là em gái của bà ngoại tôi. Vì bối cảnh thời cuộc, bà không lập gia đình, nhưng ở vậy chăm sóc các cháu. Phần tôi, tôi nghĩ mình thật may mắn vì luôn được bà quan tâm, thương mến. Có thứ gì quí giá, bà cứ hay dành dụm cho tôi. Và niềm vui của bà là thủ thỉ kể tôi nghe những chuyện người xưa, chuyện thời cuộc, chuyện giáo xứ, chuyện ông chánh tổng này, cụ trùm trưởng nọ, v.v...
Bà kể chuyện sống động vì chính bà đã kinh qua những thời khắc lịch sử ấy. Tuy thế, điều còn đọng lại trong tôi không phải là những câu chuyện, nhưng là chính hình ảnh một bà cụ sốt sắng, thánh thiện luôn cầm Tràng Chuỗi Mân Côi trên tay, cầu nguyện cho Giáo Hội, cầu nguyện cho các linh hồn.


TM CN B Thường niên 32

HAI BÀI GIẢNG HUẤN

(Suy niệm từ Mc 12, 38-44)

Trong giờ giảng huấn hôm nay,
Chúa lên tiếng dậy: Điều này cảm thông,
Các ngươi luôn phải coi chừng
Những nhà Luật Sỹ, áo chùng phô trương
Những nơi công cộng, công trường
Được người chào bái, khinh thường bình dân.

Tiệc tùng, đình đám, nhanh chân
Chiếm ngồi ghế nhất, nhận phần cao sang.
Họ nêu gương xấu mọi đàng…
Chức năng cao quí lạc đường tu thân.
***

NGÀY LỄ BẠC

hình minh họa

Tôi chết được 25 năm rồi. Hôm nay tôi trở lại tảo mộ lần thứ hai. Tôi gọi là Ngày Lễ Bạc.

Sau khi chết được ba năm. Tôi tảo mộ lần thứ nhất. Lần đó tôi kể trong tập sách Cô Ðơn và Sự Tự Do, đoản khúc số 59. Ngày đó mộ tôi không có hoa. Không có ai đến mộ tôi cả. Tôi đứng đó hồi hộp suốt buổi chiều. Mây xuống thấp, xám một hoàng hôn. Rồi trời tắt nắng phía sau hàng cây. Tôi còn nhớ rõ hôm ấy trời không gió. Nghĩa trang im lìm. Sau ba năm tôi chết, vẫn còn ít người nhớ và cầu nguyện cho tôi. Nhưng không ai ra nhìn mộ tôi.

Tôi biết nếu trở lại vào năm sau thì cũng thế. Thản nhiên như một cánh chuồn chuồn đậu hờ hững trên một bờ giậu thưa nào đó. Không có gì hồi hộp nữa nên tôi không trở lại. Ðợi 25 năm sau. Một kỷ niệm đặc biệt hơn. Ngày Lễ Bạc.


Phát biểu ngày khánh thành bia tri ân ngài 

Alexandre De Rhodes, Isfhan, Ba Tư, 5/11/2018



Kính thưa các vị khách quý,

Basalame khanoomha va agkayan

Thưa các bạn,

Vẫn biết lúc ban đầu các giáo sỹ cơ đốc chỉ muốn tạo dựng một phương tiện hữu hiệu để truyền đạo, nhưng tính cách nghiêm túc và khoa học của công trình của họ đã cho ra đời một sản phẩm văn hóa tuyệt vời giúp cho người Việt có cơ hội nhanh chóng hòa nhập với thế giới văn minh, giúp các trẻ em Việt Nam có thể nhanh chóng biết đọc và biết viết, thoát ra những rối rắm của cách viết tượng hình vay mượn từ Trung Hoa.

NẮM TAY CON NHÉ NHẸ TÊNH THEO NGÀI


Khi con kiên vững đức tin
Nước thành đá tảng vững bền con đi
Dấn thân chẳng ngại gian nguy
Chòng chành giữa biển quyết đi cùng Ngài.

Bước chân vui hát bên tai
Bỗng đâu sóng đến mệt nhoài Ngài ơi
Con chìm tận đáy biển khơi
Gió gào gào thét từng hồi sấm vang.

Chẳng nhìn Chúa, con hoang mang
Sức riêng con chỉ bẽ bàng hụt hơi
Con chìm trong tội mất rồi
Con chìm trong những tệ tồi đam mê.



CON ĐƯỜNG ĐỨC TIN VÀO NƯỚC CHÚA QUA CÂY CẦU HỒNG Y FX NGUYỄN VĂN THUẬN - Phần 1

"CẢI TẠO NGƯỢC" - CÂU CHUYỆN VỀ ĐỨC CỐ HỒNG Y FX NGUYỄN VĂN THUẬN, SẮP ĐƯỢC PHONG THÁNH



Câu chuyện rất hay, nhưng cho thấy tư thế ngược là việc Chúa làm, miễn là mình hết lòng tin kính và yêu mến Chúa, thì Chúa sẽ hỗ trợ.

Mời các bạn vào xem bài này, và hiệp thông cầu nguyện để Đức Hồng Y của chúng ta nhanh chóng được Hội Thánh phong thánh, vì quá xứng đáng.

* CẢI TẠO NGƯỢC *

Tôi đã từng làm trong Phòng Tôn giáo của Bộ Công an. Trong Phòng ấy người ta có “đối sách” về Đức Cha mà sau này là Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Ông bị chuyển đổi từ miền Nam ra với cái tội rất to là vì ông là cháu của Ngô Đình Diệm và trở về Sài Gòn làm Phó Tổng Giám mục theo ý là lót ổ để lên Tổng Giám mục. Và ông cứ thế bị chuyển ra ngoài Bắc. Trong thời gian ông ấy bị cầm cố ở Hà Nội (có nghĩa là không ở tù) tức là được giữ trong mật viện. Có một đội trông ông ta nhưng tôi là một cán bộ cũng khá lâu năm, một sĩ quan khá lâu năm nên tôi đề nghị để tôi ra học tiếng Pháp với Cha, để luyện nói trên tinh thần là luyện tiếng Pháp chứ không phải để trông Cha. Cụ thể là như thế.

ĐỜI HẠT NẮNG HẠT MƯA

(Nhớ AM.Trần Bình An và những anh em đã ra đi)


Buồn già, buồn bạn bỏ đi xa quá
Tôi với tay cao, mênh mông trời sao
Mới ngày nào bên nhau,còn gửi trao
Bỗng một ngày tàn vong theo mây khói

Hạt nắng nào rồi cũng phủ bóng tối
Hạt mưa nào mà chẳng vội tan bay
Nhưng Lời nguyện đêm ngày làm Chúa lung lay
Để hạt muối cho ai người bờ môi nhạt

Xin thương con, thương hoài, thương mãi
Thương kiếp người mạt vận mong manh
Thương tâm thành ý hướng thơ ngay lành
Kẻ trước người sau theo nhau về thanh thản
Được tạo bởi Blogger.