INÊ TỬ ĐẠO VÃN



Thánh I-nê, Trinh nữ tử đạo


Năm 1838, trong Tự Điển Việt-La (Dictionarium Anamitico Latinum) của Giám mục Jean Louis Taberd, phần phụ lục trang 110 đến 135 có in một bài thơ (vãn) tên Inê Tử đạo vãn về một vị tử đạo có tên thánh là Inê. Bài vãn gồm 562 câu, in song song với bản dịch tiếng Anh, Pháp và Latinh.



***

VĂN BẢN

INÊ TỬ ĐẠO VÃN

(Bản chữ Quốc ngữ trong tự điển Việt-La (Dictionarium Anamitico Latinum) của Taberd in năm 1838)



1.Tượng điềm lành từ Canh thân Hán,


Chúa ra đời giáng đãn chưng dân.


Cõi nam Chúa thành hiền thần,


Đức nhơn giáo hóa oai ân mựa làm.


5.Có người đức hạnh danh Lam,


Dòng truyền giữ đạo nước nam nên tài.


Carôlô hiệu là người.


Diên Ninh ấy phủ, nhà nơi Lâm Tuyền. [Khánh Hòa]


Vợ hiệu Save là tên


10.Giai lão kết nguyền, đạo đức kính tin.


Sinh đặng mười hai con hiền,


Bảy trai, năm gái đã nên phước nhà!


Trọn bề trung hiếu thảo hòa.


Lo ren thứ nhứt thật là trưởng nam,


15.Phú dâng cho Chúa mặc làm.


Học hành thông suốt, chức đang nên thầy;


Vào ra xem sóc nước vầy,


Lòng cha mừng phỉ lo tây chẳng hề.


Gái thì đặng một Inê,


20.Là con thứ tám trọn bề thảo ngay.


Vốn hiền từ bé nhẫn nay.


Nết na khiệm nhượng tính hay nhơn từ.


Tuổi vừa mười sáu thu dư,


Sa ve Chúa rước mẫu từ lìa con.


25. Inê nước mắt bằng non:


Mẹ thác chẳng còn, em dại mồ côi,


Ba em để lại chị nuôi.


Cha già phượng dưỡng em tôi giữ gìn.


Inê tuổi mười chín niên,


30.Cha mới toan nguyền định chốn sàng dòng.


Bèn lo áy náy tấc lòng,


Than rằng: phận gái, uổng công chăng là.


Sự nầy thì mặc lòng cha.


Đội ơn Chúa định lẽ nào dám toan.


35.Kể từ định chốn nhơn doan,


Mat cô là hiệu phụng loan kết nghì


Sắt cầm hội hiệp phu thê.


Mới sinh nam tử đặng thì hai trai.


Ước nên tuấn tú hiền tài.


40.Nabê là hiệu, thứ hai Phao-lồ.


Inê hai mươi tám thu,


Cha tới cõi cù viếng cảnh xa quê.




Những trông báo bổ ơn nghì,
Hay đâu cha đã kíp về thượng thiên.






45.Inê lòng những lo phiền,


Kính cha thương mẹ, cầu nguyền chẳng khuây.


Anh thì chịu chức làm thầy,


Tôi thì xuất nghiệp, em rầy cậy ai?


Mới toan thơ gửi cho thầy.


50.“Loren cha hỡi về đây toan cùng.”


Loren từ hiểu tin thông,


Hai hàng châu lụy ròng ròng nhỏ sa,


Tôi đã lỗi đạo cùng cha!


Đặt bàn làm lễ misa nguyện cầu;


55.Lễ thôi từ giã đền chầu,


Trở về bổn quán, dạ âu lo lường.


Lòng thương cha mẹ võ vàng,


Phải về lo liệu toan đương em cùng.


Inê xem thấy lòng mừng;


60.Cha đã về cùng toan liệu làm sao?


Mười năm cha ở phương nao?


Lòng em trông nhớ rày sao mới về?


Loren an ủi mọi bề:


Các em chớ dại lỗi nghì chẳng nên.


65.Mới phân gia nghiệp điền viên.


Phần anh phú để cầu nguyền cho cha,


Các phần anh đã chia ra,


Em thì gìn giữ cửa nhà làm ăn,


Thìn lòng giữ đạo cho cần.


70.Inê em hỡi giữ phần phước em.


Sáu người huinh đệ mới toan,


Đồng Nai tới rước tài quan đam về.


Dần dà cõi nọ xứ kia,


Rước đặng đam về nơi phủ Diên Ninh.


75.Táng cha thôi mới khởi trình.


Mọi nỗi tâm tình dặn bảo Inê:


Trong dòng nam nữ hai phe,


Lòng anh thương một Inê hơn nhiều,


Em thì giữ vẹn mười điều,


80.Chớ hề sai chậy, chước nghèo phải sa.


Inê than hỏi chường cha:


Phép trong lẽ đạo người ta ở đời,


Đến khi mình có đổi dời,


Phép nào xác khỏi hồn bay thẳng về?


85.Loren an ủi mọi bề:


Dầu đồng trinh thánh cũng đi chẳng tuyền,


Dầu mà khổ hạnh tu truyền,


Hãy còn đôi chối chưa yên một bề,


Hơn chăng hơn thánh đồng nhi,


90.Hồn ngay thẳng ruổi tiên kì tợ sao.


Cùng hồn tử đạo tù lao,


Hoặc là chết thác cũng cao một bề.


Inê thưa thốt ngồi kề,


Trình cha than hỏi, chẳng khi nào rời,


95.Thấy cha dặn bảo mọi lời,


Công lòng bát ngát ước nơi cõi lành,


Xin cho gặp hội cầu danh,


Ta sẽ liệu mình họa đặng cùng chăng?


Inê bịn rịn dùng dằng,


100.Loren từ giã phăng phăng lại dời.


Bình Khương vừa đến nghỉ ngơi.


Giữ gìn xem sóc mọi nơi linh hồn,


Chẳng ngờ tượng bởi càn khôn,


Thiên đàng mở hội võ môn khoe tài.


105.Canh thìn vừa thuở thiên khai,


Nguyễn chúa trị đời hiệu lịnh cả ra:


Truyền cho thiên hạ gần xa,


Ai thờ đạo Phật thì ta dong tình,


Bằng ai giữ đạo thiên sinh,


110.Chẳng chừa thì bắt tội tình chớ tha.


Chẳng ngờ có đứa gian tà,


Lòng hềm độc dữ cáo bà Inê.


Lịnh nghiêm phếp kín nhiều bề,


Chị em sao có lòng mê chẳng chừa?


115.Lên Dinh trấn thủ chường thưa,


Trạng bày sau trước, trình thưa cáo rằng:


“Có trạng rằng:


Trạng tố thân tường


Khi quân mạn pháp sự kim tam tử,


120.Danh hiệu Inê Mắt ta tinh kỳ Duminh đẳng chúng. (1)


Phi kỳ Phật môn lăng túng chánh lịnh,


Ngu đẳng nan y tam giả,


Vị kỳ đồng tâm hiệp lực,


Bất luận quốc pháp, bất kính điều chương,


125.Tùng đồng thiên Chúa đạo.


Phất cố như lai Phật tổ,


Thả thử đạo lễ bất tuân kim cổ pháp,


Bất luận thỉ chung.


Như thử hà y đẳng phân loạn hoành tùng giả?


130.Phả bất nặc văn thư chỉ tự,


Tâm vô hải hà kỳ minh đại sự.


Khẩn khất mặc quan đồng luận.


Tiểu sinh ngưỡng vọng cao minh.


Trạng điều”.


135.Trạng bày sau trước căn do.


Lịnh quan cắt khiến đình pho giục đòi,


Bắt Inê lại với hai người,


Chị em hai đứa vào nơi công đàng.


Mắt ta lòng chịu không đang


140.Liều mình trốn trước lên đàng ra đi.


Ông nghè mới hỏi vân vi:


Nàng cùng nam tử toan nghi một lời,


Bay mà bỏ đạo Chúa trời,


Trở về đạo Phật, giày nơi ảnh nầy,


145.Thì tao thứ tội cho bay;


Chẳng thì tao giết bỏ thây oan mình.


Nước nầy Chúa thánh thần minh.


Nào ai giữ đạo thiên sinh bao giờ,


Chúa trời bay thật đạo vơ,


150.Bỏ đi tao đặng thứ tha dong tình,


Chẳng thì tao giết bỏ mình,


Phước đâu chẳng thấy, tội tình nhuốc nha


Inê đặt gối trình qua:


Chúng tôi giữ đạo Chúa cha nhơn từ,


155.Thật đàng công chính chẳng tư.


Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người?


Mặc ông tha giết hai lời;


Tôi thà chịu chết, cõi trời nên công.


Giết tha thì mặc lượng ông,


160.Kim thạch là lòng chẳng chậy mỗ phân.


Ông nghè chẳng muốn giết dân,


Vật chi phụ nữ nhọc nhằn quân ta?


Hãy giam tạm nó một nhà,


Ngày sau sẽ nộp lượng hòa một khi.


165.Cầm Du minh với Inê.


Ngày sau chưa nộp ủ ê lo buồn,


Cầu xin cùng Chúa giúp con,


Giúp tôi cho đặng kẻo còn để lâu.


Lại dặn Du minh chớ âu:


170.Chị em cốt nhục đồng bào mẹ cha,


Đồng sinh đồng tử hai ta,


Trả công ơn Chúa một nhà hiệp nhau.


Nầy đoạn Loren về sau


Nghe tin em đã chịu âu tử hình,


175.Viếng em an ủi tâm tình,


Mới toan liều mình chịu với cùng em.


Đồng sinh đồng tử cho êm!


Tôi xin trọn ngãi Chúa thêm sức cùng.


Anh em dốc chí một lòng.


180.Sinh tử đạo đồng em hỡi Inê!


Từ rày ta một đặng về,


Anh sao em vậy chớ hề tới lui.


Inê lòng lại ngùi ngùi,


Khuyên cha, cha hãy nghe tôi kẻo lầm,


Nước nầy đạo Chúa ngăn cầm


Ngày sau giáo hữu mê tâm nguôi lòng,


Cha mà toan chịu tử đồng,


Ắt là bổn đạo lạt lòng ngãi nhơn,


Chẳng bằng ở lại thì hơn,


190.Giữ gìn xem sóc mọi nơi linh hồn;


Trước là dạy dỗ cháu con,


Anh em thơ dại thì còn có cha:


Cho nên ý Chúa nhiệm xa,


Dong thầy chẳng bắt, sao cha chẳng bàn?


195.Vậy nên Chúa mở lòng quan,


Tha cha chẳng bắt mà toan đặng nào.


Tôi mà dựa nguyệt ngồi sao,


Thì tôi cũng nguyện cha vào cõi vui.


Thầy bèn lã chã châu rơi:


200.Inê em hỡi, anh ngồi sao an?


Một mai mặc lịnh nhà quan,


Em chớ phản nàn, anh lại buồn thêm,


Em về anh ở sao an?


Khoa này chẳng liệu, mà toan khoa nào.


205.Nầy lời cha cả khuyên sao.


“Các thầy ngoại quốc tiêu hao nói rằng:


Từ rầy con cái mằng tăng,


Cha khôn gìn giữ ủi an mọi lời,


Đòi phương man mác mồ côi.


210.Cha là ngoại quốc khôn noi thế tình.


Loren dốc chí liều mình?


Lịnh quan chẳng bắt tư tình ý tham.


Thầy là người nước An nam,


Để khi nghèo hiểm giúp làm cho dân.


215.Nhơn sao thầy lại dành phần?


Lấy ai gìn giữ con dân nước nầy?


Ai hầu xem sóc đỡ thầy


Làm thơ một bức gửi rày thông tin”.


Nầy lời thầy cả gởi khuyên,


220.Mọi lời sau trước căn nguyên đọc rằng:


“Chúa cả công bình cầm quờn thưởng phạt,


Pha pha chính tước, thầy cả Vít vồ, (2)


Ơn Chúa giúp cho Loren đặng tỏ


Chúa chuộc tội dạy dỗ muôn dân.


225.Ba năm ân cần mới toan chịu chết.


Thầy rầy dốc quyết muốn chịu tử nghì,


Bỏ bổn đạo đi, ai hầu an ủi?


Các thầy khác thói ẩn yếng đòi phương.


Nấy cho thầy gìn giữ dân lương,


230.Nỡ nào thầy lại toan về cùng Chúa?


Ai hầu dạy dỗ bổn đạo linh hồn?


Phú cho thầy Nam việt các con.


Bằng chẳng chịu đài vàng mặc phán,


Lời lành diệu toán đến vận thần cơ.


235.Khuyên thầy ở lại sớm khuya,


Cùng bổn đạo khỏi thì nguy hiểm,


Giúp hạn mưa dào trợ hiểm,


Khỏi chưng thì hoạn nạn bốn dân.


Ơn Chúa đượm nhuần sáng soi phù hộ.


240.Nay thơ”.


Loren bèn đọc thơ rồi,


Đượm ngừng nước mắt nhuốm sôi hai hàng.


Khoa nầy chẳng gập bảng vàng,


Ngày nào cho đặng hiển vang nước trời?


245.Inê thưa thốt chường lời:


Xin cha nghe lịnh Đức thầy bề trên.


Nầy lời bổn đạo lại khuyên.


“Cha chớ xa miền bỏ chúng mồ côi,


Xin cha ở lại cùng tôi,


250.Cầu xin Chúa để cha tôi lại cùng”.


Inê can gián hết lòng.


Thương em cha thác uổng công chăng là,


Ấy lời thế luận gần xa;


Em quỳ trăm lạy xin cha nhậm lời.


255.Loren lòng động ngùi ngùi,


Thảm thương mọi nỗi em ôi anh về.


Anh giã Duminh Inê,


Rày em ở lại anh về cho an,


Đêm ngày cầu nguyện dưới bàn,


260.Xin hai em đặng làm quan cõi trời.


Nầy đoạn mát cô càng thương


Tìm lên viếng vợ tư lương thảm sầu,


Inê em hỡi cầm đâu?


Rày anh đến viếng bạn hầu kẻo thương.




265.Vợ chồng đạo ngãi tào khương,


Con thơ nỡ bỏ lo lường làm sao?


Lìa nhau anh dám cãi nào.


Làm chi lên nỗi tù lao rạc hình.


Inê lẵng lặng làm thinh.


270.Chồng càng than khóc vợ mình kể khuyên:


Sắt cầm từ thuở ấu niên,


Nỡ nào ly biệt cho an tấc lòng.


Dẫu chẳng nên đạo vợ chồng,


Con thơ ai kể quan phòng dưỡng nuôi,


275.Má hồng mặt bạc mày môi,


Mình vàng vóc ngọc bỏ tôi chẳng nhìn?


Em hỡi nghe lời anh khuyên,


Sắt cầm giai lão nên duyên hiệp hòa.


Inê rằng: chước quỷ ma,


280.Nó toan làm hại hồn ta phen nầy.


Mát cô anh đã tới đây,


Công linh nghĩa Chúa tôi rày trả ơn.


Anh thì ở lại chớ sờn,


Thìn lòng giữ đạo chẳng hơn cũng tày,


285.Ngày sau ta lại hiệp vầy.


Thương thì cầu nguyện hồn ngay thẳng về,


Ấy là ngãi đạo phu thê,


Chớ ra lòng mọn lỗi nghì chẳng nên.


Nghe lời em cứng khôn khuyên,


290.Giã em còn ở anh về cùng con.


Ròng ròng nước mắt bằng non.


Thương em anh phải ruột don héo sầu,


Từ rày chếch bạn phải âu,


Lìa tâm lìa đức lìa nhau khôn tìm,


295.Gần ngày đam nộp chị em,


Inê mới gửi thơ đem cho chồng,


Cùng thăm huinh đệ đạo đồng,


Họ hàng trên dưới tổ tông hai đàng.


“Thơ rằng.


300.Chúa cả cao quang phù trì tiểu tử;


Thiếp nay nhi nữ cám đức phu quân.


Ngãi sắt cầm những ước thiên xuân,


Doan kim cải trọn bề tứ đức.


Đạo chính giúp tôi bền sức,


305.Ơn trên Chúa cả mở lòng.


Xảy gặp hội mây rồng,


Phải lìa doan cá nước.


Thiếp dầu lỗi tam tùng tứ đức,


Dốc trọn nguyền vạn thọ cõi xa.


310.Xin lang quân chớ chấp ngãi hòa,


Thương ấu tử mồ côi mất mẹ.


Chàng thì chớ nại, giữ đạo cho bền,


Đến cõi trường miên hai ta lại hiệp


Sau dầu cải nghiệp làm bạn nơi nào,


315.Phải chọn bề nhân đức đạo cao,


Gởi ấu tử cho con nương cậy.


Chàng thì giữ lấy lời thiếp chớ quên:


Mặt dầu đã cách nhơn duyên,


Hồn nọ phút giây chẳng khỏi.


320.Xin lang quân thế tình chớ đoái,


Áng nguyệt hoa, tửu sắc thìn mình.


Sau con dầu khôn lớn thành hình,


Xin dạy dỗ ủi an chớ bỏ.


Kính thăm nhạc phụ từ mẫu song thân,


325.Nữ tử vọng ân trăm đàng miễn chấp.


Xin thương tiểu điệt thơ dại mồ côi,


Chớ nỡ nặng lời, con thơ tất tưởi.


Sau thăm trên dưới huinh đệ họ hàng,


Gửi cô tôn ấu tử gia đàng,


330.Giã hết cựu bang từ rày ly biệt.


Nay thơ”


Thơ thôi lại nói cùng em:


Đồng sinh đồng tử cho êm chớ nài,


Chị em cốt nhục hình hài,


335.Chị sao em vậy làm trai cho bền.


Lịnh quan đam nộp lại nguyền:


Xin em chịu đặng Chúa thêm sức cùng,


Chị em dốc chí một lòng,


Ông nghè mới hỏi lẽ công một lời,


340.Bay mà bỏ đạo Chúa trời,


Trở về đạo Phật đạp nơi ảnh nầy,


Thì tao thứ tội dong bay,


Chẳng thì tao giết bỏ thây oan mình.


Inê thưa thốt phân minh:


345.Đạo nầy thờ Chúa thiên sinh tạo đời,


Có công sinh đất dựng trời,


Tạo thành nhơn vật, mọi nơi thế nầy.


Chúng ta phải giữ đạo ngay.


Phật người thiên trước cõi tây chẳng thờ. (3)


350.Ảnh nầy hình Chúa tôi xưa,


Khi nào thờ phượng bây giờ đạp đi;


Tôi xin chịu chết chẳng nề,


Trả công ơn Chúa công kia ngãi nầy,


Ơn ông lượng rộng xét suy,


355.Đỗi nào tôi chịu, làm chi nữa là.


Quan trên trấn thủ truyền ra.


Ông nghè mới dạy chớ tha loài nầy.


Bắt vào cầm ngục chớ chậy


Cấm cho ăn uống, truyền vây giự gìn,


360.Đứa nào nhịn đói chẳng đang.


Đam ra phạm ảnh xử xong cho về.


Đứa nào lòng cứng chẳng nghe,


Thì cầm cho chết bỏ thây ra ngoài.


Bắt đam vào ngục hòa hai.


365.Chị em ren rén vào nơi ngục hình.


Rạc nầy chỉn thật u minh.


Mới toan ngồi xuống phân minh nói rằng:


Lòng mừng chơn bước thung thăng.


Mặt vui hớn hở nói năng vui cười.


370.Làm thơ một bức ba lời,


Dặn con sau trước ở đời cho an.


“Vậy có thơ rằng:


Chúa cả xây vần càn khôn phúc ái,


Sở sinh là ngãi, dưỡng dục bào thai.


375.Trước kính tin một Chúa chớ nài,


Sau thảo kính hai bên cha mẹ.


Mẫu thân Huình Thị mẹ là Inê:


Sinh hai con châu báu sánh kề.


Mẹ những ước đá vàng trượng mạo.


380.Mát cô danh ấy hiệu thật Nghiêm Hiền.


Cậu là Loren cha linh hồn thật.


Một nhà hiệp mặt kế hiệu thiên thu,


Trên chín tầng mở hội thiên cù,


Mẹ liều thác trả công ơn Chúa.


385.Con thì thơ bé mẹ thác chẳng còn.


Bức thơ này để lại cho con,


Sau khôn lớn mọi lời cho biết.


Con thì giữ nết đức hạnh khiêm nhường.


Bé thờ cha vâng giữ gia nương,


390.Lớn theo cậu ủi an dạy dỗ.


Cù lao báo bổ ơn ấy chớ nài,


Miễn là con giữ đạo thành tài.


Cho mẹ đặng ngày sau thấy mặt.


Dầu cha cải nghiệp kế mẫu quy đàng.


395.Hai con thìn khiêm nhượng kính đang.


Chớ khá ở bạc tình kiêu ngạo.


Lời lành dặn bảo thương mẹ thì nghe:


Áng vui chơi tửu sắc rượi chè,


Lời độc dữ gian tà lánh rẹn.


400.Mẹ rày đà đến cõi thọ diệu quang,


Mọi lời sau trước rõ ràng.


Mẹ giã con còn ở thế.


Nay thơ”.


Thơ đam về đến gia đàng,


405.Mát cô xem thấy xót xa đoạn trường


Thơ chồng mọi nỗi đà tường,


Thơ con lại gởi làm thương trăm đàng


Inê Em chịu sao đang!


Ruột loan vấn vít dạ gan đeo sầu.


410.Khóc than thôi lại lo âu,


Con ôi mẹ cứng làm rầu càng thêm.


Mặt hoa mày liễu mất êm,


Bỏ con kêu khóc sao nên chẳng về?


Than rằng: bậu hỡi Inê,


415.Nào khi loan phụng sánh kề hỏi han?


Bây giờ quạnh quẽ phòng loan.


Hai hàng nước mắt lụy chan chẳng đừng.


Em thì danh tiết lẫy lừng,


Anh thì hứng chịu vì chưng doan hài.


420.Con ôi! con hỡi! kêu ai?


Mẹ bay đi chợ một mai sẽ về.


Một giây con lại quên đi.


Kêu rằng ớ mẹ, mẹ đi phương nào!


Động lòng cha lại thương sao.


425.Ẵm con tìm tới tù lao lại rằng:


Con đi với mẹ con chăng?


Gặp rày kẻo nhớ xa chừng biết đâu,


Nầy con em đã thương sao?


Ra cho con thấy nỡ nào từ con.


430.Thốt thôi buốc xuống thềm môn.


Con rằng cha hỡi thì nào mẹ tôi?


Inê lòng động thương ôi!


Thấy con kêu khóc nhuốm sôi hai hàng.


Muốn làm thinh vậy cho an,


435.Lại e thất ý phu lang chăng là,


Cầu xin cùng Chúa nói ra,


Giúp tôi bề vững khỏi qua nạn nầy.


Mát cô anh đã tới đây,


Thiếp giã ơn rày đã có lòng thương.


440.Bồng con trở lại gia đường


Làm chi bịn rịn áp lòng dạ tôi?


Con nghe tiếng mẹ thốt thôi,


Kêu rằng: ớ mẹ, mẹ ôi chẳng về.


Mẹ càng chuyển động ngã kề,


445.Cầu xin cùng Chúa khỏi bề gian nan,


Nín hơi chẳng dám thở than.


Khác nào như kẻ làm quan xa miền.


Chẳng ngờ tượng bỡi đông thiên,


Trời làm bão lụt trường an dẫy đầy, [Trường An]


450.Nước tràn khắp hết đông tây.


Ngục cầm ở đó ướt nay phải dời.


Lập làm chốn khác cao khơi.


Inê rén rén lại dời chân ra,


Hai con thấy mẹ kêu la:


455.Kêu rằng: Ớ mẹ về nhà cùng con.


Mát cô ruột thắt héo don.


Xin em nhịn đã phen này kẻo âu


Inê lòng chẳng chuyển đâu:


Nói rằng sự ấy mặc dầu thiên cơ.


460.Chờ cho ngục đoạn đến giờ,


Trao tiền kíp dỗ con thơ mua hàng.


Hai con vừa bước ra đàng,


Inê kíp lại toan đang vào tù.


Ngục nầy là chốn âm u,


465.Quân canh gìn giữ hai đàng vào ra.


Hai con trở lại khóc la,


Kêu rằng: ớ mẹ về nhà cùng con.


Inê nín lặng làm thinh,


Cầu xin cùng Chúa xui con ra về.


470.Mát cô thảm thiết nhiều bề,


Bồng con chở dậy ra đi nói rằng:


Từ rày anh chịu mằng tăng,


Phải về cho kẻo chẳng bằng lòng em.


Tay bồng tay dắc lui thềm


475.Hai hàng nước mắt lụy tuôn lại ngồi.


Con rằng: thì nào mẹ tôi?


Bồng tôi trở lại, mẹ ôi chẳng về.


Mát cô than thở nhiều bề,


Dối rằng con hỡi, mẹ đi mua hàng.


480.Trở về vừa đến gia đàng,


Tới nhà nghỉ mát, thở than đêm ngày.


Nầy đoạn trong ngục đã chầy,


Mình gầy mặt võ, xương bầy, da nhăn.


Dặn dò sau trước ủi an,


485.Duminh em hỡi làm quan phen nầy,


Trả công ơn Chúa phải vầy,


Em chớ phiền rày chị lại buồn thêm.


Đói lòng khát nước càng êm.


Mình khô càng nhẹ Chúa thêm sức cùng.


490.Thấy đà mỏi mệt nhọc công.


Tôi xin cho kíp chớ dong lâu ngày.


Hay tôi tội lỗi còn dày,


Cho nên Chúa để lâu ngày cùng chăng?


Kể đà một tháng răng răng,


495.Bốn tuần có lẻ mình chẳng thấy gì?


Quân canh thấy sự dị kỳ,


Lòng thương chẳng nỡ vân vi lời gì.


Loren vừa bước chơn đi,


Thấy hai em đã gầy mòn thảm thương,


500.Thưa quân thăm thử thác còn,


Một giây tôi sẽ dời chơn ra về.


Cho thầy vào viếng Inê,


Mừng nhau bơ bải vỗ về hỏi han.


Hết lòng an ủi ủi an,


505.Lại ngồi giải tội khuyên can dặn dò.


Cầu xin cùng Chúa giúp cho,


Kẻo mà đói khát nhỏ to thay là,


Giã hai em ở anh ra.


Quân canh gìn giữ chẳng tha chẳng lìa.


510.Tứ tuần lục nhựt đến kỳ,


Duminh còn khỏe Inê gầy mòn,


Gượng mà kêu Chúa hơi don,


Mượn em kêu giúp kẻo non hơi rày,


Làm thinh thôi mới chấp tay,


515.Để qua trên ngực Chúa rày rước đi.


Giữa ngày bảo lụt đang thì,


Bỗng liền tạnh nắng tư vi như tờ.


Tin cho dòng họ thân sơ,


Ai ai đều đến táng đưa xác người,


520. Hay tin bổn đạo tới nơi.


Loren đi trước các người đi sau,


Xin quân mở cửa cho mau,


Quân quan xem thấy mọi nơi chói lòa,


Tức thì đam xác người ra. [đam=đem]


525.Duminh yếu đạo Chúa cha chẳng nhìn,


Trốn ra khi ấy ban đêm.


Ra khỏi cửa thềm lộn lạo đều đi,


Đam về đất thánh một khi.


Thầy bèn cầu nguyện vân vi nói rằng:


530.Hơi thơm hơn nữa hương lang,


Ra mùi phức phức dường bằng hoa dâu. [Phức- thơm phức]


Anh em lòng chẳng dám sầu,


Song le ngãi trọng dạ âu khôn cầm.


Thầy bèn an ủi âm thầm.


535.Lịnh quan phép nhặt nhẫn tâm cho bền.


Thốt thôi thầy lại cầu nguyền:


Xin cho em khỏi tiền khiên ở đời,


Hạnh nầy công đã nên người.


Nguyệt in dường nguyệt tốt tươi khôn bì,


540.Linh hồn tới chốn lưu li,


Thanh nhàn tự tại oai nghi rỡ ràng.


Công danh ghi tạc bia vàng,


Trong đời có một nên gương trong trời.


Chép làm một bổn để đời,


545.Truyền cho thiên hạ người người học theo.


Thấy thì hầu đã cheo leo,


Đội ơn Chúa cả giúp nghèo cho an.


Chẳng qua thiên vận tuần hoàn,


Bỉ thôi lại thới, vui hơn khắp nhà.


550.Cầu xin cùng Chúa giúp ta,


Giữ gìn mười giái kẻo sa địa hình..[giái: giới]


Hạnh nầy thì đã phân minh,


Xem cho tường tận dâng kinh nguyện cầu.


Phép trong lẽ đạo nhiệm mầu,


555.Ai mà học đặng mới hầu thơm danh.


Bia vàng tạc chữ chí linh,


Để truyền sách ấy nối dòng đời sau,


Inê là hiệu làm đầu.


Hiền kia thánh nọ xem làu bổn căn,


560. Giáo nhơn học lấy làm lòng, [Giáo nhơn: người có đạo]


Giữ trong mười giái thì thông lẽ mầu. [mười giái: 10 giới răn]


Cùng văn.


***


(Bản chụp Từ điển Việt-La của Lê Phụng. Bùi Công Thuấn đánh máy lại và đánh số câu, ghi chú thích)


Tháng 8/ 2021


________________________


[1] Inê Mắt ta tinh kỳ Duminh là Agnes, Mattha, Dominique


[2] Pha pha,Vít vồ : pha pha: papa- Vít vồ: Giám mục. Tiếng Bồ Đào Nha là Bispo


[3] Phật người thiên trước cõi tây: Phật người Thiên Trúc cõi tây





(Tác phẩm Đất Mới)

(Đọc truyện dài Đất Mới của Song Nguyễn )

Giá trị của một tác phẩm văn chương trước hết là ở nội dung câu chuyện được kể, ở thái độ diễn ngôn của tác giả, và ở nghệ thuật kiến tạo tác phẩm (sử dụng ngôn ngữ, tổ chức cấu trúc truyện, lựa chọn bút pháp, cách khắc hoạ nhân vật; ở việc đặt ra và giải quyết những vấn đề của thời đại). Nhưng cốt lõi giá trị của tác phẩm là tư tưởng, tác phẩm thể hiện tư tưởng tiến bộ hay suy đồi.. Ngòai Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Cao Bá Quát, ở Việt Nam có rất ít “nhà văn tư tưởng”. Không có tư tưởng thì tác phẩm chỉ là một lớp vỏ chữ.

Những tác phẩm lớn, sống lâu bền trong lòng người đọc là nhờ nó chưá đựng những tư tưởng tiến bộ. Những người khốn khổ của V. Hugo, Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du… là những thí dụ.

Tư tưởng Nhân văn là nền tảng làm nên giá trị nghệ thuật của mọi thời đại.

I. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN TRUYỀN THỐNG

Tư tưởng Nhân văn đã có trong ý thức của dân tộc từ xa xưa, nó thấm nhuần trong mọi ứng xử giữa người với người. Người Việt coi trọng con người: “Người ta là hoa đất”, con người là Cái Đẹp của cuộc đời này. Sự sống là vô giá: ”Người sống hơn đống vàng”. Quan hệ người với người là quan hệ yêu thương: “Thương người như thể thương thân”.

Tư tưởng Nhân văn đặc biệt phát triển thành trào lưu nghệ thuật từ thời Phục Hưng [thế kỷ XV-XVII] ở phương Tây. Ðặc trưng của Chủ nghĩa Nhân văn là sự suy tôn con người, là sự khôi phục lại con người (hay tính người), và con người bao giờ cũng được coi là tốt đẹp (con người chí thiện). Con người được đặt vào trung tâm thế giới, được đặt lên ngôi cao nhất (con người chí tôn)(1).

Văn học và nghệ thuật thời đó đưa “chất người” vào “chất thần thánh”, biến đời sống thần thánh thành đời sống bình thường của con người. “Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài” (Shakespear). Các nhà Nhân văn Chủ nghĩa lấy câu của Terence, một nhà hài kịch La Mã làm phương châm: ”Tôi là một con người, không có cái gì có tính chất người lại xa lạ với tôi” (1b). Con người là một bộ phận của tự nhiên, sống và chết theo quy luật tự nhiên, vì thế phải trả con người về tự nhiên để nó phát triển theo tư nhiên (2). Chiến tranh phong kiến, chủ nghiã khổ hạnh, đàn áp tư tưởng là trái với tự nhiên, là nguồn gốc gây ra bất hạnh, xấu xa, tội lỗi trên thế giới. Chủ nghĩa Nhân Văn sau thời Phục Hưng được làm phong phú hơn bởi tư tưởng dân chủ thời Khai Sáng [Thế kỷ XVII-XVIII], ý thức đấu tranh giải phóng con người cuả chủ nghiã Marx và ý thức về tồn tại của Chủ nghiã Hiện sinh.

Nhưng vượt lên trên tất cả là tư tưởng Nhân văn Công giáo mà cội nguồn là Kinh Thánh. Kinh Thánh đem đến cho nhân loại cái nhìn về bản thể con người, về cõi người, về ý nghiã sự sống của con người. Con người là gì? Con người không chỉ là vật chất thụ tạo, mà con người được nâng lên khỏi mọi loài thụ tạo, mang bản thể cuả Thiên Chuá, được thánh hiến và ở trong Thiên Chuá. Không có cái nhìn nào về con người siêu việt như thế. Đức Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chuá Cha cho con người: “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta(Ga.17.19-21).

Kinh Thánh nói Con người nhưng không phải là “con người” trừu tượng mà là con người cụ thể, đó là những người nghèo khổ.

Mở đầu bài giảng Tám mối phúc, Đức Giêsu dạy rằng: ”Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chuá là của anh em”(Lc 6.20). Trong cuộc phán xét chung, Đức Vua đã thưởng cho những người được chúc phúc, vì “xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”.”Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt.25.35-40). Kinh Thánh đã trân trọng con người ở thân phận bé nhỏ và khốn khổ nhất, lấy hành động vì con người làm thang bậc giá trị để phán xét ở ngày cánh chung.

Từ cái nhìn con người như thế, Kinh Thánh lấy lòng yêu thương con người làm điều răn quan trọng. Khi được hỏi điều răn nào quan trọng nhất, Đức Giêsu trả lời:”Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.(Mt.22.37-39). Đức Giêsu còn dạy: “Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”(Mt. 5:44).

Nhưng yêu thương như thế nào? Dụ ngôn về người Samari tốt lành là một lời giải đáp cụ thể (Lc.10.29-37): Thấy người bị nạn bên đường, thầy Tư Tế bỏ đi, thầy Lêvi cũng tránh xa, còn người Samari lại gần “lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, ông ta lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói:” Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”.

Người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, theo luật Môise thì phải bị ném đá. Thế nhưng Đức Giêsu đã cứu chị và nói với chị: ”tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"(Ga.8.11). Một lần khác, cảm thương tình cảnh cuả chị em Mácta và Maria, Đức Giêsu đã khóc thương Lazarô (Ga.11.33). Người truyền cho Lazarô từ cõi chết sống lại. Lại một lần nữa, Đức Giêsu nói với các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31).

Qua những trường hợp cụ thể ấy, Kinh Thánh đã chỉ ra, tư tưởng nhân văn Công giáo thể hiện ở cái nhìn trân trọng, yêu thương những con người “bé nhỏ nhất” trong cuộc sống, giải thoát họ khỏi đau khổ, tội lỗi và sự chết.

Vấn đề Con Người, giải phóng Con Người, và hạnh phúc của Con Người là vấn đề của muôn thuở. Bi kịch của con người vẫn còn nguyên đó. Đau khổ, thù hận, tội lỗi, cái chết vẫn bao trùm lấy con người. Chỉ tư tưởng Nhân văn Công giáo mới soi rọi ánh sáng hy vọng cho cuộc đời này.
(Hình ảnh do tác giả cung cấp)

II. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN TRONG ĐẤT MỚI

Đất Mới là truyện dài gồm 3 tập, in lần thứ 2, Nxb Hội Nhà văn 2018.

Đất Mới kể chuyện Lm Phương Toàn. Ngài xuất thân là giáo sự Đại Chủng viện. Sau 30/4/1975, Đại Chủng viện đóng cửa, Lm Phương Toàn cùng giáo dân đi xây dựng “kinh tế mới”. Trước đó, nhiều lần được mời gọi đi định cư ở nước ngoài nhưng ngài từ chối. Ở vùng đất kinh tế mới, ngài đã cùng giáo dân chịu đựng bao nhiêu gian khổ, khó khăn, thử thách; bao nhiêu hiểm nguy, nhiều lần kề cận cái chết, tưởng không qua khỏi. Kiên định lý tưởng theo Chúa, sống chết cùng đoàn chiên, và tín thác hết lòng vào thánh ý Chúa, ngài đã vượt qua những bi kịch cá nhân và đưa được đoàn chiên tới đồng cỏ xanh tươi, có suối mát trong ngọt lành. Ngài đã biến đổi thế giới hiện thực (khu kinh tế mới) và thế giới tâm hồn của đoàn chiên thành vùng “đất mới của đức tin và lòng yêu thương”.

Trong Đất Mới, tư tưởng Nhân văn Công Giáo được thể hiện đậm nét ở nhân vật Lm Phương Toàn.

Cái nhìn của Lm Phương Toàn về con người là cái nhìn trân trọng, hiểu biết và cảm thông sâu sắc. Ngài nhìn thấy vẻ đẹp thánh trên khuôn mặt bà Tương Ấn khi bà qua đời, “khuôn mặt gầy gò xanh mét dần dần trở nên đầy đặn hồng hào, với một vẻ bình an lạ lùng” (tập 2, tr.45) Trong bịnh viện, Ngài sống chung với anh thanh niên bịnh nặng nằm bên cạnh mình, và với những bệnh nhân cùi xung quanh như bạn hữu, cùng sẻ chia phận người trong cảnh ngộ ngặt nghèo. Ngài cũng ẩn nhẫn và trân trọng với những người đã gây ra cho mình sự khốn khó trong lúc nằm viện (Chương 4, tập 1) hay lúc bị tạm giam 75 giờ (Chương 11, tập 3) và cả lúc ngài phải hạ mình trước bọn xã hội đen khi đi tìm đòan con bị giữ ở đồi vàng. Trong hoàn cảnh khó khăn và đầy lo âu của những năm tháng sau 1975 (đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng), tương lai chưa biết thế nào, lòng người không nguôi xao xuyến, cái nhìn về con người của Lm Phương Toàn là cái nhìn tỏa sáng tư tưởng Nhân văn. Cái nhìn ấy làm thăng hoa những khó khăn, đau khổ, hoạn nạn, và hóa giải những nghịch cảnh tưởng không thể vượt qua.

Thái độ chọn lựa đứng về phía người nghèo khổ cuả Lm Phương Toàn mới thực sự thể hiện tư tưởng Nhân văn Công giáo. Ngài đi kinh tế mới với giáo dân, cùng lao động, cùng sẻ chia những khó khăn vất vả (bão lụt, cháy nhà, sốt rét, voi rừng về phá rẫy, kẻ xấu phá hoại…). Ngài sống giữa mọi người, như mọi người, nhưng quan tâm đến mọi người, chăm lo cả đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người. Lm Phương Toàn từ chối mọi mời gọi xuất cảnh (để sống một cuộc sống sung sướng), ngài hòa nhập với người nghèo, người đau khổ. Dù là lúc nằm viện hay là lúc được đưa đi chữa bịnh trên đất Mỹ, tiếng gọi của quê hương luôn vang lên trong tâm hồn ngài, lôi kéo ngài trở về với đòan chiên và dấn thân cho họ. Ngài vượt qua mọi điều tiếng dị nghị và làm hết sức mình cho cuộc sống no cơm ấm áo và đời sống tinh thần cuả họ được tốt tươi. Tinh thần nhập thể ấy của Lm Phương Toàn chính là lòng yêu thương nhân loại của Đức Giêsu trong đời thường.

Lý tưởng của Chủ nghĩa Nhân văn là hướng đến sự giải phóng con người khỏi trạng thái nô lệ, khẳng định giá trị làm người, đem đến hạnh phúc cho con người ngay trong cõi đời trần gian này, nhận ra cái đẹp của chính cuộc sống thế tục. Muốn vậy phải hành động để thay đổi những hoàn cảnh làm tha hoá con người. Đất Mới có đạt đến lý tưởng như vậy không?

Lòng yêu thương con người của Lm Phương Toàn đã biến đổi một vùng đất khô cằn sự sống thành một vùng “đất mới” (như Đất hứa trong Cựu Ước). Nơi ấy con người được giải phóng khỏi những hẹp hòi, ích kỷ, thù nghịch. Nơi ấy con người mở lòng ra với nhau để cùng góp sức xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, sẻ chia cơm áo và tình thương. Nơi ấy hóa giải mọi mâu thuẫn để cùng phát huy những nguồn lực vật chất và tinh thần. Nơi ấy cải thiện hoàn cảnh sống để nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp của con người.

Có thể thấy rõ tư tưởng Nhân văn Công giáo trong Đất Mới đã trổ sinh hoa trái trong hiện thực. Những định kiến ban đầu của nhân viên Nhà nước với Lm. Phương Toàn dần dần được thay thế bằng sự hiểu biết và trân trọng lẫn nhau. Những yêu thương vị kỷ của Mỹ Linh, Minh Nguyệt hay ông Trưởng Tuất được thay thế bằng tình yêu thương có tầm vóc xã hội rộng hơn để rồi sau đó chính gia đình Mỹ Linh, Minh Nguyệt đã có những đóng góp quan trọng và có ý nghiã giúp Lm. Phương Toàn hoàn thành ý nguyện của mình ở vùng kinh tế mới. Việc dời ấp Tân Hữu là một nỗ lực làm thay đổi môi trường, làm thăng tiến đời sống giáo dân, ngăn chặn được những yếu tố làm tha hoá con người, mà trực tiếp là nạn nghèo đói. Sự sẻ chia cơm áo cuả giáo dân Tân Hữu cho bà con di dân Tân Thành là hành động cụ thể của yêu thương Công giáo.

Đất Mới là bài ca yêu thương, bài ca ca ngợi Con Người. Ánh sáng tư tưởng Nhân văn Công giáo đem đến một niềm tin thực sự cho người đọc, niềm tin vào Con Người chí thiện, vào sức mạnh của Con Người có thể làm nên Nước Trời ngay trong cõi tại thế này, và hơn hết niềm tin vào người Mục tử “hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29) hết lòng vì đoàn chiên.

Hãy so sánh một chút với một truyện miêu tả con người qua cái nhìn của Chủ nghĩa Hiện sinh. Nhà văn Dương Nghiễm Mậu trong truyện Cũng đành (1958) kể lại cuộc chạy trốn cuả một con người từ Sơn Tây về Hà Nội. Không có giấy tờ tùy thân, anh ta phải trốn trên xe chở củ nâu. Về đến bến xe Kim Mã, trời tối, anh không biết đi đâu, đành chui vào một túp lều sống với lũ chuột… Cuộc sống trôi đi. Anh ta như như con chó ốm ghẻ, lang thang lẩn lút, không chốn nương thân. Không có tiền mua thuốc, anh ta phải nuốt giun để chữa sốt rét. Không có gì để ăn, anh ta phải nhét vào mồm từng chút cặn thịt hộp đã thiu moi trong ống lon ở bãi rác để khỏi chết đói. Rồi cũng tìm được việc làm phụ ở chỗ thổi thuỷ tinh. Lại bỏ việc, đi nhặt mảnh chai. Rồi dun rủi, lại sống chung với gái điếm, và sau cùng bị bắt. Khi bị tra hỏi, anh ta không biết mình là ai, kể cả tên mình. Bị đánh đập tra khảo mãi, anh ta đành chịu vì chẳng biết khai gì. Viên cố đạo đến giúp tù binh, bị anh ta chửi vào mặt. Rồi một hôm bọn lính dồn anh ta lên xe chở ra cánh đồng, bắt đào hố. Anh ta biết sắp được tự chôn mình. Có tiếng lên đạn lách cách, chúng bắt anh quay mặt vào hố. Anh ta nhớ câu hỏi: ”Cha mẹ mày tên gì”. Câu truyện kết thúc ở đó.

Nhà văn Hiện Sinh miêu tả con người như con vật trần trụi, bị săn đuổi, không chốn nương thân. Sống là đi về cái chết như một tất yếu bi đát. Cô đơn trong thân phận con người. Tuyệt vọng đến chối bỏ cả đức tin, và vô nghiã đến độ không còn biết mình là ai. Nhìn con người như thế, nhà văn tỏ ra hoàn toàn bất lực trong nhận thức về con người về sức mạnh vất chất và tâm linh cuả con người. Con người đành bó tay trong cõi chết từng ngày. Nếu nhà văn có yêu thương con người thì tình yêu thương ấy chẳng đem đến cho con người điều gì an ủi ngoài nỗi sợ hãi và tâm trạng bi đát.

Trái lại, tư tưởng Nhân văn trong Đất Mới soi rọi vào bên trong sức mạnh cuả con người, sáng lên những phẩm chất tốt đẹp của con người và đem đến Niềm tin Cứu rỗi cho con người khỏi tăm tối tuyệt vọng.

Tư tưởng Nhân văn Công Giáo cũng kết tinh trong việc xây dựng nhân vật Lm Phương Toàn, một người bình thường nhưng lại đạt đến những phẩm chất lý tưởng. Nhân vật Lm Phương Toàn là tiêu biểu cho vẻ đẹp cuả người sống đời dâng hiến (khác hẳn với sự miêu tả về Linh mục trong các tác phẩm thế tục). Đất Mới khẳng định chính người Mục tử Công Giáo, cùng với giáo dân “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, đang đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng Đất Nước.

Kiểu nhân vật như vậy là kiểu nhân vật mới, đóng góp cho văn chương Việt Nam đương đại. Đó là một công dân của Nước trời, như mọi công dân của đất nước này, nhưng tỏa sáng tư tưởng nhân văn Công giáo giữa đời thường,

III. VỚI VĂN CHƯƠNG VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI

Ngọai trừ một số ít tác phẩm văn chương đích thực (tác phẩm đề tài lịch sử, tác phẩm trong dòng văn chương Nhân văn và Dân chủ), thật khó tìm ra một nhân vật có lý tưởng sống tích cực trong văn chương Việt đương đại. Trái lại, không thiếu những tác phẩm miêu tả những mặt tiêu cực của đời sống, văn chương sex, những truyện ngôn tình…tác giả khắc hoạ những nhân vật tha hóa, thực dụng, vị kỷ, ngụp lặn trong bóng tối, vô vọng…(3). Khó tìm thấy những nhân vật tích cực, tỏa sáng vẻ đẹp Nhân văn, biết sống vì tha nhân, đem tin yêu đến mọi nơi, như nhân vật Lm Phương Toàn trong Đất Mới.

Thực trạng ấy của văn chương đương đại đang được báo động. Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị đã phê phán: ”Một số văn nghệ sĩ còn… chạy theo các đề tài nhỏ nhặt, tầm thường, chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí…Một số sản phẩm văn học, nghệ thuật tầm thường, chất lượng kém được phát hành, truyền bá gây tác hại, ảnh hưởng xấu tới công chúng, nhất là thế hệ trẻ .”

Đất Mới là đời sống thật được chưng cất bởi ánh sáng của tư tưởng Nhân văn Công giáo nên có thể chạm vào được tâm thức sâu xa cuả người đọc, nhất là những ai đã sống qua thời đất nước khủng hoảng (1975-1990), phải di dân đi Kinh tế mới. Đó là khát vọng về một “Đất Mới” trong đời thực, Đất Mới trong tâm hồn và niềm tin vào con người. Hoặc ít ra cũng đem đến cho người đọc cái nhìn nhân ái về cuộc sống, nhận ra sự tốt đẹp của cuộc sống ở cõi tại thế này và khẳng định sức mạnh cuả tình yêu thương có sức giải thoát con người khỏi những thảm cảnh, tội lỗi và sự chết.

Đọc Đất Mới dưới ánh sáng của tư tưởng Nhân văn Công giáo, người đọc sẽ nhận ra giá trị nhiều mặt của tác phẩm này. Cùng với những tác phẩm khác của Song Nguyễn, Đất Mới tạo nên bộ sử thi về đời sống người Công giao đương đại. Đó là những bài học suy nghiệm quý giá mà Song Nguyễn chia sẻ với chúng ta.
_______________________________________________

(1b) Terence [195-159 BC] in his play Heauton Timorumenos, reads: "Homo sum, humani nihil a me alienum puto", or "I am human, and I think nothing human is alien to me." https://en.wikipedia.org/wiki/Terence

(2) Tự điển Văn Học. tr.291

(3) Xin đọc: Bóng Đè, I’m Đàn Bà, Dị Bản, Nháp. Sợi Xích, Dại Tình…
Được tạo bởi Blogger.