https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg

Lời Tòa Soạn: Bài viết của anh Nguyễn Xuân Văn, thuộc cộng đoàn Đồng Hành Gia Đình Thánh Tâm tại Worcester, MA viết cho một tờ đặc san trong giáo xứ. Qua bài viết này, anh giới thiệu và trình bày với mọi người trong giáo xứ, “Thế nào là một cộng đoàn Đồng Hành” theo cái nhìn của anh. Xin đăng lại để cùng chia sẻ với anh chị em Đồng Hành khắp nơi. Và xin cám ơn anh Văn thật nhiều.



Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên và sẽ không đồng ý với tôi khi đọc cái tựa đề ở trên. Trong đầu bạn sẽ có những câu: “Cái gì? Chúa mà rất nhỏ à. Bố láo. Chúa thật vĩ đại và bao la chứ, .v.v.” Vâng tôi đồng ý với bạn là Chúa thì rất vĩ đại và bao la. Nhưng ở đây tôi muốn nói “Chúa của bạn hay nói rõ hơn là Chúa ở trong con người bạn, trong tâm hồn của bạn và của tôi thì rất nhỏ.” Điều này đã làm cho tôi băn khoăn, suy tư rất nhiều. Tôi đã đi tìm lý do tại sao “Chúa của tôi, Chúa ở trong tôi lại rất nhỏ” và làm sao để cho Chúa lớn lên trong tôi. Lần lượt tôi xin chia sẻ những gì tôi đã khám phá ra trong cuộc hành trình đời sống đức tin của tôi.






(Độc giả có thể xem bản gốc tại đây. Cha Giuse Cao Viết Tuấn từng có thời gian là admin VTCG)

Tháng này, Ban Biên tập mời bạn cùng trò chuyện với Cha Giuse Cao Viết Tuấn, một linh mục trẻ, đã can đảm dấn thân đến Papua New Guinea (PNG) xa xôi. Những câu chuyện về hành trình và kinh nghiệm truyền giáo của Cha, hy vọng sẽ giúp bạn cảm nhận được nhiệt huyết của một vị mục từ, một người trẻ, một tâm hồn “dành cả thanh xuân để phục vụ”.


 Cha có thể chia sẻ đôi chút về về quốc đảo PNG được không?

Chào các độc giả của Ymagazine, mình là Giuse Cao Viết Tuấn, thuộc Tu hội Truyền giáo. Tháng 5/2018, mình đến Papua New Guinea làm việc truyền giáo theo lời mời gọi của cha Bề trên Tổng quyền. Trong khoảng gần 2 năm ở Papua New Guinea, mình làm việc mục vụ ở hai giáo xứ: giáo xứ Thánh Danh Chúa Giêsu thuộc Tổng Giáo phận Port Moresby ở Bomana, thủ đô Port Moresby và sau đó là giáo xứ Thánh Antôn Padua thuộc giáo phận Alotau – Sidea ở đảo Trobriand thuộc tỉnh Milne Bay. Tháng 2 vừa qua, mình về Việt Nam để lo một số công việc và bị kẹt lại ở Việt Nam do Covid-19. Hiện tại, mình ở học viện Durando, Đà Lạt và chờ đợi tình hình dịch bệnh được kiểm soát để trở lại Papua New Guinea.


 


TTO - TP.HCM có một ca đoàn rất thú vị: bỏ tiền túi, cùng nhau tổ chức hàng trăm chuyến đi tới những nơi hẻo lánh, khó khăn nhất, không chỉ mang quà tặng mà còn mang tiếng hát xoa dịu nỗi vất vả, nhọc nhằn của những mảnh đời bất hạnh.



Ca đoàn Thông Vi Vu đi bằng xe công nông trong chuyến thiện nguyện ở Kon Tum - Ảnh: ĐĂNG PHÚ
Ca đoàn Thông Vi Vu đi bằng xe công nông trong chuyến thiện nguyện ở Kon Tum - Ảnh: ĐĂNG PHÚ

Xuất khẩu… ơn gọi



Các tu sĩ Xi-tô, Tu viện Đức Mẹ Fatima ở Orsonnens, Thụy Sĩ. Tu viện do các tu sĩ người Việt lập vào năm 1979.

Khởi đi từ những gia đình Công giáo người Việt hiện diện khắp nơi trên thế giới, cách riêng tại Hoa Kỳ và các nước như Pháp, Đức, Úc, Canada... đã trổ sinh rất nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ.

Nhìn vào những tấm gương các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta không thể không tạ ơn Chúa vì Người đã gởi những nhà truyền giáo từ các nước phương Tây xa xôi đến với quê hương đất nước nhỏ bé của chúng ta.

Nhờ những hy sinh dấn thân của các ngài, trong đó có nhiều vị đã chịu trăm bề thử thách và đã đổ máu đào thấm vào mảnh đất hình chữ S này mà ngày nay, chỉ sau khoảng 500 năm, hạt giống đức tin, đã mọc lên hầu như trên khắp mọi miền đất nước. Từ đây, ơn gọi dâng hiến cũng đâm chồi nảy lộc và bước chân của các nhà truyền giáo Việt Nam lại toả đi muôn phương.



CHÚNG TA HỌC ĐƯỢC GÌ TỪ PHONG CÁCH GIÊSU ?



1. Chuyện ở Làng Phong Quả Cảm, Bắc Ninh


Năm 2003, chúng tôi được dâng Thánh Lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh cho bà con người Công Giáo ở Làng Phong Quả Cảm. Cách trung tâm thành phố Bắc Ninh có đúng 5 cây số mà khung cảnh hoàn toàn là thiên nhiên thanh tịnh với từng vạt đất đồi cứ cao lên dần, những dãy nhà mái ngói rêu xanh chen giữa những hàng cây ăn quả.

Làng Phong có một ngôi Thánh Đường lớn nhưng đã bị bỏ hoang từ thời Tiêu Thổ Khánh Chiến 1946, nay chỉ còn tháp chuông và mấy bức tường gạch lỗ chỗ vết bom đạn, bên trong lòng Nhà Thờ cỏ tranh mọc cao gần ngang vai.

Công việc truyền giáo của các nữ tu dòng Chúa Chiên Lành
ở Papua New Guinea


“Thật là khó mà tin rằng trong năm 2019 vẫn còn những người sống trong nghèo đói, hàng ngày phải ăn những hạt óc chó để cho vơi đi cơn đói cồn cào, vẫn còn những người chết vì lao phổi, những người sống trong những túp lều không có điện nước, đi chân không đến trường và đi học mà không có sách vở”. Đây là lời chứng của sơ Anna Pigozzo, người Ý, nhà truyền giáo dòng Chúa Giêsu Mục tử tốt lành ở giáo phận Bereina, nước Papua New Guinea.

Sơ Anna giới thiệu: “Chúng tôi là một cộng đoàn nhỏ các người nữ sống đời thánh hiến đi truyền giáo. Chúng tôi theo Chúa Giêsu trong sứ vụ gần gũi với người trẻ và trẻ em, ở miền nam Philippines và Papua New Guinea. Từ năm 2013, được Giám mục địa phương mời đến, chúng tôi đã hiện diện tại giáo phận Bereina. Ban đầu chúng tôi đến đây chỉ để có kinh nghiệm truyền giáo ngắn ngủi. Chúng tôi đã nhận ra tình trạng nghèo đói và khốn khổ ở một đất nước non trẻ của châu Đại Dương. Tình trạng mù chữ ở đây rất cao, có rất nhiều trẻ em chưa học qua lớp một. Trẻ sơ sinh chết non cũng cao nhất ở châu lục này. Các bệnh viện chỉ có ở thủ đô, trong khi tại các trạm xá của các làng ở những vùng xa xôi, như của chúng tôi, thỉnh thoảng mới có một y tá. Phương tiện truyền thông thì cũng hiếm hoi.”

CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN NIỀM TIN


Giữa đất trời im lặng như tờ, bóng đêm đang choàng cánh bao phủ khắp cả địa cầu, Meik mân mê những hạt tròn trong tay vừa bước đi chậm rãi vừa lẩm nhẩm “Kính Mừng Maria...” Anh lẩm nhẩm với lời kinh chưa sõi trên môi và đi đến hang đá nơi có tượng của Bà Lớn mà Jeisly thường dẫn anh tới đó.

Nhìn Bà Lớn đang hiện diện trước mặt, Meik thấy lòng mình dấy lên một nỗi nhớ. Anh nhớ người con gái anh yêu, anh nhớ những buổi tối Jeisly đưa anh đến với Bà Lớn và kể cho anh nghe về câu chuyện của Giêsu, con trai của Bà. Một câu chuyện đưa anh vào niềm tin, niềm tin mà chỉ ít ngày nữa anh sẽ được lãnh nhận. Và rồi những nỗi nhớ cùng hình ảnh của Jeisly cứ dần dần ùa về trong tâm trí của Meik.

Phỏng Vấn Lm Trần Sĩ Tín
40 năm lăn lóc với người sắc tộc


_____________________________________________

1.Gần 40 năm, sống chung và phục vụ đồng bào dân tộc Jrai, tại Plei-Kly, Huyện Chư-Sê, Tỉnh Gialai, thuộc Giáo Phận Kontum. Xin cha cho biết trong hoàn cảnh nào, tiếng gọi Tây Nguyên đến với cha?


*Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt-Nam do các Cha Canada thành lập từ năm 1925. Vào những năm 1960, tôi thấy các Cha Canada chuyển quyền lãnh đạo Tỉnh Dòng cho các Cha Việt Nam, còn các ngài lại kéo nhau đi sống với những người Thượng trong giáo điểm Phi-Yàng gần Đà Lạt, trong đó có những Cha Giáo đã từng dạy tôi như Cha Thomas Côté, Cha Louis Roy, Cha Jean-Marie Labonté, Cha Sylvère Drouin. . .
Các ngài luôn luôn chọn những người nghèo hơn cả, bị bỏ rơi hơn cả và đến ở cùng họ. Điều này làm tôi chú ý và hấp dẫn tôi. Chúa Yêsu cũng luôn chọn lựa như thế. Thánh Anphonsô, Đấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, cũng đã chọn lựa như thế. Trong Học Viện, các Cha cho chúng tôi thử nghiệm nhiều môi trường. Tôi đã từng với Mã Kim Tòng học tiếng Hoa để sống với người Hoa (một môi trường cả tỉ người), rồi lại muốn đi theo các gánh hát hay làm phu bến tàu. . .

Nhưng điều làm tôi quyết định sống với người Thượng, đó là một hôm, tại Đà Lạt, tôi nghe Thầy Bôna nói chuyện với mấy người Koho. Tôi chẳng hiểu gì, nhưng nghe sao hay quá. . . thế là tôi quyết định vào học tiếng Koho trong Dà-Mpao (Suối Mơ) nơi các Cha Canada đang hoạt động.



Cảm Nghiệm của một Linh muc phục vụ tại Giaó phận Lạng Sơn


Lạng Sơn, ngày ….

Bạn thân mến,

Ngày 3.08.03, mình theo ĐC Lạng Sơn lên Nà Toòng, thuộc giáo xứ Bó Tờ, cách TGM Lạng Sơn 140km để cử hành lễ an táng cho bà Maria Ký, người dân tộc Tày. Một đám tang đơn sơ, nhưng đã để lại cho mình những ấn tượng thật khó quên.

Ấn tượng thứ nhất là cái chết của người quá cố. Bà Ký chết vì quá thương con. Con gái bà chết vì bệnh ung thư. Quàn xác con tại nhà chờ ngày chôn cất, bà Ký không cầm nổi nước mắt khóc thương. Và khi xác con chưa kịp đưa ra đồng thì mẹ cũng theo con cho thỏa nỗi nhớ thương. Bà chết sau con gái 4 ngày!

Ấn tượng thứ hai là gia đình của bà Ký. Đây là gia đình Công giáo duy nhất trong làng Nà Toòng. Chuyện ông Ký trở lại đạo cách đây hơn 70 năm cũng thật là hi hữu. Theo lời Đức cha Lạng Sơn thì hồi đó gia đình ông Ký tội nghiệp lắm. Mẹ ông sinh ba bốn lần nhưng đứa con nào cũng chết sớm. Khi sinh ra ông Ký, thấy con èo uột, hết bệnh này đến bệnh kia, bà lo lắm, chỉ sợ thằng bé rồi cũng bị ‘ma’ bắt như các anh, các chị nó thôi. Thế rồi một hôm, nghe người ta mách, cách làng Nà Toòng khoảng 15km, có ông cha theo đạo thờ ‘Cái Chúa’ giỏi lắm. Cứ mang con ra đó rửa tội, ‘Cái Chúa’ sẽ phù hộ, không để ‘ma’ bắt mất đâu. Nghe lời, người mẹ mang bé Ký ra xin ‘ông cha’ rửa tội. Ong cha dậy bé Ký làm dấu thánh giá, đọc kinh lạy cha, cho bé Ký quyển sách kinh nhỏ rồi rửa tội cho bé.

ÔNG JEAN VANIER (1928-2019)
Sáng lập tổ chức Cầu Vồng (L’Arche) qua đời



Ông Jean Vanier, sáng lập ra 2 tổ chức “Cầu Vồng” (L'Arche, 1964) và ‘‘Niềm Tin và Ánh Sáng’’ (Foi et Lumière, 1971) nâng đỡ những người khuyết tật, qua đời tại bệnh viện Jeanne Garnier, Paris, đêm 6.5.2019, ung thư, hưởng thọ 90 tuổi. Người công giáo hãnh diện, ông như Mẹ Teresa Calcutta, Abbé Pierre và Sr Emmanuelle. Và giới truyền thông công giáo gọi ông Jean Vanier là ‘‘Vị Thánh Sống’’ phục vụ người khuyết tật, đã qua đời.

CON NGƯỜI CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Ông Jean Vanier sinh tại Genève, Thụy Sỹ, ngày10. 9. 1928. Thuộc gia đình ngoại giao, Canada. Là con trong gia đình 5 người, Cha mẹ là Georges Pauline Vanier. Lớn lên tại Pháp cho tới 1940, gia đình chạy qua Canada, vì Đức quốc xã. Mới 20 tuổi theo Hải quân Hoàng Gia Anh và học tại học viện Hải Quân Anh. Tốt nghiệp, phục vụ cho nghành Hải quân Anh lẫn Canada. Từ 1945, nghỉ phép cùng mẹ, Jean làm việc tại gare xe lửa Paris, giúp thương gia đình phế binh, ở tù ra. Ông mổ tả họ từ xe ra, như bộ xương cách trí, rách tả tơi, run run, còn sợ hãi và đầy lo lắng. Từ đây, ông có ý nghĩ bỏ Hải Quân, dành cho hòa bình (thư viết cho Maggie Fergusson báo The Economist). Năm 1950, ông từ nhiệm, tiếp tục học, lấy cử nhân, tại Paris. Tĩnh tâm, nhờ cha bạn, dòng Đa Minh, Thomas Philippe, linh hướng, ông bị gián đoạn học làm linh mục. Lỡ cơ hội làm linh mục, ông học thêm có tiến sỹ Triết của Instituit Catholique de Paris, 1962, với luận án : ‘‘Le gout du bonheur : au fondement de la route avec Socrate’’ (Ý niệm hạnh phúc của Aristote). Năm 1963, có thời gian ngụ trong ẩn tu Fatima, dạy học cho đại học St Michel ở Toronto, Canada. Cũng năm này, Noel, Jean Vanier đến thăm viện tâm thần do cha Thomas Philippe làm tuyên úy. Các em ở đây sống ngặt nghèo, coi như người khùng, bị khóa kín, chỉ ngủ trưa 2 tiếng. Từ đó, Jean Vanier có ý nghĩ lập ra các trung tâm nuôi trẻ khuyết tật.

Trái Tim Chết và Trái Tim Phục Sinh


Xin gởi tặng Père Phạm Minh Tâm đã đặt cho con một câu hỏi về sự chết để suy gẫm. Ðây là lần đầu tiên con mới được thật sự suy gẫm về sự chết.


Các em lớp 10 giáo lý phản ứng inh ỏi sau khi tôi tuyên bố chương trình mà mỗi em phải làm là “Make a Difference in One Person's Life” để làm ích lợi cho người, cho đời. Tôi chỉ là một cô giáo trẻ, ước mong muốn dạy các em yêu thương với con tim không những bằng lý thuyết nhưng bằng hành động. Trong năm học tôi sẽ dẫn các em đi thăm những người già yếu trong viện dưỡng lão, các em nhỏ bệnh tật trong nhà thương, phát cơm cho những người vô gia cư, v.v. Tuy các em phản ứng rất nhiều, tôi vẫn xếp đặt chương trình để tiến tới để cả lớp có thể thực hiện một tháng một lần.

Tôi dẫn các em đi thăm viện dưỡng lão một thứ Bảy kia. Cho tới khi lên xe bắt đầu đi, tôi vẫn phải nghe những tiếng phàn nàn của các em như “I don't want to go” (Cô, em không muốn đi) và “Do I have to go?” (Cô ơi, em có phải đi không?) Ðương nhiên câu trả lời của tôi là “phải” đi, nếu không sẽ được điểm “0”. Tôi biết rằng sự “bắt buộc” học sinh tôi yêu thương, cảm thông những người già yếu, tàn tật, là chuyện không hay, nhưng tôi phải đành chịu để các em có dịp chứng kiến những sự cô đơn và khốn khó của người khác. Và tôi hy vọng sau khi các em có dịp chứng kiến những cảnh các em chưa từng thấy sẽ làm các em mở rộng con tim.

Thú thật, tôi cũng chưa từng đến viện dưỡng lão bao giờ. Cùng với các em, đây là lần đầu tiên tôi đến để chứng kiến môi trường ra sao, cuộc sống những người già như thế nào. Tôi đã từng nghe người ta diễn tả sự đơn độc của những người già, nhưng lần này chính mắt tôi thấy được cuộc sống thực tế của họ.

Trước khi bước vô cánh cửa viện, tôi nhắc các em không được cười chế nhạo hay tỏ thái độ ghê tởm với người già. Có người hướng dẫn viên dẫn tôi và các em đi chung quanh để làm quen với các cụ già và với khung cảnh của nhà viện. Vừa bước đi theo người hướng dẫn, vừa quan sát những ông bà già ngồi trên xe lăn rải rác trong hành lang, tôi vừa ân hận mang đôi guốc thật cao làm cho hành lang trong khung mặt yên tịnh vang tiếng lạch cạch của tôi. Và tôi cảm thấy ngại ngùng và sai lầm khi nhận ra mình mặc quần áo quá sang trọng đối với môi trường này như không phải mình đến để giúp mà đến biểu diễn thời trang.

Có những cụ còn sức thì ngồi trên xe lăn ngồi ở ngoài hành lang, còn những cụ khác thì nằm ở trên giường. Có cụ thì không còn chân vì chắc bị tiểu đường nên bị bác sĩ cắt cụt. Khi tôi tới hỏi thăm một cụ bà, nụ cười tươi của bà làm cho tim tôi mềm ra. Tôi hỏi bà tên gì, nhưng lặp đi lặp lại bà cũng không hiểu tôi. Bà cứ ghé tai vào tôi như tỏ ra bà không nghe rõ, nhưng nói sao bà cũng không hiểu. Dù vậy, trên miệng bà có nụ cười thật vui, như bà rất vui mừng có người đến thăm. Tôi phải đi chỗ khác để làm quen với khu vực của nhà viện, nên bắt tay bà để chào ra đi. Bà gật đầu, cười, nhưng có vẻ không muốn cho tôi đi.

Tôi đi chung quanh. Tâm hồn thấy nặng trĩu vì chứng kiến những người già yếu gần sắp về trời. Tôi tự hỏi, “Một ngày kia tôi cũng sẽ giống như họ hay sao? Chẳng lẽ thân xác tôi đang còn đầy sức sống nhưng một ngày sẽ bị tàn héo?” Tôi cảm thấy cuộc sống sao phũ phàng. Về nhà tôi bắt đầu suy gẫm về sự chết.

Ai sẽ phải chết? Câu này quá dễ trả lời, vì dĩ nhiên ai cũng phải chết. Nhưng không ai tự nhiên thích đau khổ và muốn chết, nên luôn luôn trốn tránh khổ đau và cái chết của mình.

Trong cuốn sách Tuổi Trẻ & Ơn Gọi của Lm. JBM. Trần Anh Thư, có một bài nhạc viết lên câu truyện sau đây:

Một hôm kia tôi chạy trốn loài người.

Một hôm kia tôi chạy trốn nhọc lao.

Một hôm kia tôi chạy trốn khổ đau,

và một hôm kia, tôi chạy trốn Tình Yêu.

Và khi tôi đang chạy trốn

thì tôi gặp Ðức Kitô vác thánh giá đi ngược chiều.

Nên tôi dừng lại, tôi hỏi Ngài: “Lạy Thầy, Thầy đi đâu?”

Rồi Ngài nhìn tôi bằng tia nhìn trách móc, nhưng mến thương chan hòa:

“Ta đi tìm loài người, Ta đi vào cuộc đời,

vì mọi người để chịu chết một lần nữa, một lần nữa, con ơi!”

Tôi đang tìm cách để chạy trốn loài người, còn Chúa lại đi tìm. Tôi chạy trốn khổ đau, thánh giá và cái chết của tôi, nhưng Chúa lại đi vào cuộc đời để vác thánh giá và để chịu chết.

Con người sợ đau khổ vì đau khổ dằn vặt con người. Chết không sợ, nhưng sợ những đau khổ phải chịu dẫn đến cái chết. Chịu đau khổ là phải chịu chết; nghĩ đến chết là nghĩ đến đau khổ phải chịu. Chính vì vậy, nghĩ đến chết là sợ vì không ai muốn chịu đau khổ.

Khi Chúa Giêsu nghĩ đến cái chết của mình thì Ngài đổ mồ hôi máu vì sợ những thương khó Ngài phải chịu dẫn đến cái chết đau đớn của Ngài. Ngài cảm thấy “hãi hùng xao xuyến” và nói, “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mc 14:33-34). Ngài còn khẩn cầu Chúa Cha, “Xin cho con khỏi uống chén này” (Mc 14:36).

Nhưng nếu Chúa Giêsu chỉ nghĩ đến cái chết và những đau khổ Ngài phải chịu, thì chắc chắn Ngài sẽ không chịu chết.

Chúa Giêsu chịu chết vì Ngài biết Ngài sẽ phục sinh trong vinh quang. Chúa thấy cái chết của Chúa có giá trị. Chúa thấy máu của Chúa đổ ra cho loài người để họ được tha tội và để đem tất cả linh hồn sống lại với Ngài về với Chúa Cha. Chúa có con mắt bằng tim nhìn thấy được phục sinh sau những hy sinh, sau cây thánh giá, sau cái chết!

Vì vậy Ngài mới dám chịu chết.

Phục sinh là hy vọng của sự chết. Nếu con người thấy phục sinh thì sẽ dám chết, dám chịu đau khổ.

Chúa đã chết nhưng đã Phục Sinh! Thân Thể Chúa hoàn toàn sống lại. Ðây là tin mừng cho loài người và nhất là Tôi thấy rằng con người phải chịu khổ đau, phải chịu mục nát, chết đi, rồi mới có sống lại.

Thánh Phaolô nói rằng thân thể chúng ta như hạt giống, phải chết mới được sống, vì khi “gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ” và “gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí” (1 Cor 15:36, 42-44).

Ðầy hy vọng cho những khổ đau! Vì khi tập luyện con mắt của trái tim để nhìn thấy phục sinh và để thấy một thân thể sáng láng của chúng ta đời sau như Chúa đã thấy thì mọi đau khổ, mọi mục nát trong thân thể hiện tại cũng sẽ chịu được.

Chúa Giêsu cho chúng ta hy vọng của phục sinh và niềm tin có sự chết và sống lại vì chính Ngài chết đi và sống lại. Phải chịu chết mới có phục sinh. Nếu Chúa không chịu chết, thì Ngài cũng không sống lại, và loài người không có sức sống mới.

Nếu tôi biết tôi sẽ sống lại với Chúa đời sau, thì tôi còn sợ gì vác thánh giá đời này? Tôi còn sợ gì thân xác này mục nát trên thế gian này?

Thánh Phaolô nói rằng quê hương của chúng ta ở trên trời (Phil 3:20), có nghĩa là quốc tịch thật sự của chúng ta là Quốc Tịch Trời.

Tôi còn sợ chi những đau khổ trên thế gian? Tôi còn trốn tránh gì nếu biết rằng khi tôi chết đi tôi sẽ sống lại trong Thần Khí mới?

Khi thấy Phục Sinh, cuối cùng tôi trở thành nhân vật trong bài hát cũng can đảm chịu vác thánh giá, vác cái chết của tôi, và rồi hát lên:

Sau phút giây ngỡ ngàng, thấy tấm thân phũ phàng, tôi vội ôm mặt khóc, vì biết tôi lầm đàng. Sau khi nghe tiếng Ngài, tôi lắng nghe tiếng lòng, ôm chầm cây thập giá, xin chết thay cho Ngài! Ôi Giêsu, xin Ngài đừng chết hơn một lần!

Sông Thanh
http://vietcatholic.net/News/Html/17507.htm


[đang tiếp tục viết]

Tôi vẫn còn nhớ mãi cảm xúc về ngày lãnh chức linh mục 7 năm về trước tại quảng trường tòa giám mục Xã Đoài, cùng với 18 anh em chủng sinh khóa VI đại chủng viện Vinh Thanh.

Lúc đó vào khoảng 8:18 ngày 8/8/2006, qua lời nguyện phong chức của đức giám mục Phaolo Cao Đình Thuyên, chúng tôi trở thành thừa tác viên linh mục của Giáo hội.

Đây cũng là dịp tôi nhớ lại những điểm nổi bật trong hành trình ơn gọi của mình. Và tôi sẽ từ từ ghi lại như một hồi ký ơn gọi. Đây là một dự án dài và mất nhiều ngày tháng.

Tôi không có mọi thứ tôi mong ước trong đời, nhưng tôi được ban tặng đầy đủ những thứ tôi cần. Vì điều này, tôi sống trong tâm tình biết ơn Thiên Chúa.

Nhận dịp này, và cám ơn tất cả những ai, kể cả các facebooker, đã giúp đỡ và đồng hành với tôi trong ơn gọi linh mục cũng như cuộc lữ hành đức tin.

PHỤ NỮ Công Giáo VIỆT NAM Ở HỒNG KÔNG - CHUYỆN GIỜ MỚI KỂ


(Bài viết như một lời cảm ơn chân thành của chúng tôi gửi đến cộng đoàn các anh chị em Việt Nam tại Hồng Kông - Cộng đoàn Hy Vọng - cách riêng tất cả các chị em trong cộng đoàn) Tu sĩ John Baptist, SVD.




Thấm thoát cũng đã mười mấy năm sinh sống ở Hồng Kông. Kỷ niệm buồn vui đều có cả. Nhiều khi “tức cảnh” mà “sinh tình” cũng muốn viết mấy dòng cho ra vẻ trí thức, nhưng viết gì mới được chứ? Suy đi nghĩ lại, thôi thì viết về người phụ nữ Công Giáo Việt Nam ở Hồng Kông vậy. Ấy bậy, đi tu mà viết về người phụ nữ à! Không sợ lỗi “đức trong veo” à! Thì cứ viết đại, dẫu sao các chị em cũng là người nhà mình cả, nếu có lỡ lời còn mong được đại xá, viết về người Hồng Kông lỡ lời thì biết phải ăn nói sao với người ta. Nói viết về phụ nữ Công Giáo Việt Nam ở Hồng Kông, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi cũng có đá qua quý “phụ nam” đôi chút.

NGƯỜI TUYÊN ÚY THẦM LẶNG


Người đàn ông Mỹ với mái tóc trắng xoá và đôi mắt sáng quắc sau cặp kính trắng cứ chăm chú nhìn tôi như muốn dò hỏi một điều gì thầm kín. Tóc ông bạc nhưng không hói như bao nhiêu người Mỹ tôi thường gặp. Dáng vóc trông vừa mảnh khảnh lại vừa khác thường bởi bờ vai trái của ông xệ hẳn xuống như một kẻ tật nguyền. Ông ngồi đó, đối diện với tôi nơi bàn cơm tối trong một nhà ăn tu viện ở Washington. Qua ánh mắt, tôi dự đoán có lẽ trong thâm tâm ông đang thắc mắc: “Anh có phải là người Việt Nam không?" Hoặc là : "Anh đến đất Mỹ này lâu chưa? Tại sao anh lại ở nơi đây, nơi một cộng đoàn của người Mỹ?”

Thầm đoán vu vơ những câu hỏi đại khái như thế, rồi tôi cũng mạnh dạn nhìn thẳng vào ông như muốn phản ứng:

Không biết cái ông này đang thắc mắc gì vậy? Ông muốn hỏi thăm về quê hương tôi, hay ông đang muốn tâm sự một nỗi niềm trong chiến tranh Việt Nam mà ông đang ấp ủ trong lòng như bao cựu chiến binh khác.

Chú thích: (*) Tiêu đề do VTCG đặt

hình minh họa

Lão Thiện, cái tên mà em hay gọi anh, mỗi lần chúng ta gặp nhau.

Anh,

Bây giờ em biết anh rất đau đớn bởi căn bệnh quái ác đang gặp cạp thân thể anh...

Anh,

Ngày 5.3.2013, em nhận xứ, anh hiện diện với em. Em thì lo lắng.....trăm bề.....vì em mới là linh mục, nhận một xứ mà 70 năm không có linh mục sao không lo được. Nỗi lo hiện rõ trên khuôn mặt to đen của em......

Còn Anh thì khác - khuôn mặt chữ điền, thân hình anh cao to vạm vỡ; ai cũng nói anh như đang phát khởi của một người vừa có tâm, vừa có tầm. ...đúng như anh.


NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 11
HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC


21. GIÁP MẶT VỚI CÁI CHẾT...

Nói đến căn bệnh cuối 2004 mà ai cũng coi là “thập tử nhất sinh” của tôi, tôi thấy mình gần gũi với cái chết, với những người đã chết, đang chết và sẽ... cùng chết. Lần đầu tiên tôi xin được chịu Phép Bí Tích Bệnh Nhân, Phép Xức Dầu Thánh.

Tôi nhớ lại vì đã được nghe kể lại về những dịp tôi có thể chết và coi như đã chết, nếu không có sự Quan Phòng của Chúa muốn tôi còn phải sống. Những “dịp chết” của tôi kể cũng khá nhiều.

Tôi được nghe kể về lúc tôi sinh ra. Tôi đã không mấy bình thường, vì tôi không biết... khóc.


NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 9
HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC


16. NHỮNG NỖ LỰC TRUYỀN THÔNG

Tôi tự tha cho mình nhiệm vụ phải lập cho được nhóm Tông Đồ Truyền Thông, nhưng tôi vẫn tìm cách sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để hoạt động đem Niềm Vui Vĩ Đại đến những chỗ nào còn đến được.

Tôi luôn khuyến khích anh Đa Minh Đinh Thiện Bản, ca trưởng ca đoàn Tinh Thần, người vẫn tiếp tục làm nhiều việc cho Thánh Nhạc, cách riêng trong việc thu thanh, phát hành các cuốn băng Thánh Ca được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc và ngay cả nước ngoài. Linh Mục Nguyễn Văn Tự, tức nhạc sĩ Vương Diệu, cha xứ Nam Hà thuộc Giáo Phận Xuân Lộc, nhạc sĩ Thiên Ân, Vũ Huyến... luôn được tôi ca tụng và khuyến khích trong nỗ lực sáng tác và thu băng Thánh Ca.


NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 7
HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC


NHỚ NGÀY “INTROIBO”


Ghi lại dư âm buổi Thánh Lễ Mở Tay tại Dòng Mến Thánh Giá Tân Thanh, Bảo Lộc ngày 9.9.1956.

Vừa bước ra khỏi Nhà Nguyện, tay còn thấm ướt Dầu Thánh, tôi còn ngơ ngác nhìn bà con quen biết, trí óc hướng về cha mẹ già, thầm gởi đến hai đấng phép lành đầu tiên với lòng biết ơn yêu mến sâu xa vì đã dạy tôi yêu Chúa thương người, đã thúc đẩy tôi trên đường Linh Mục, thì cha Eugène Larouche, vị giám đốc và linh hướng thương yêu của tôi từ lúc tập tễnh bước vào Đệ Tử Viện, đến ghé tai tôi: “Con lên phòng cha đã”.

Tôi theo cha. Tôi không biết ngài muốn gì, nhưng vì đã kính trọng và yêu mến ngài sẵn, nên tôi không cần thắc mắc. Về đến phòng của ngài, ngài nói: “Roch nhỏ bé nay đã làm Linh Mục. Bây giờ con ban phép lành đầu tiên cho cha”. Nói xong ngài quỳ xuống, cúi đầu.


NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 5
HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC


13. NHỮNG NGƯỜI PHONG CÙI

Suốt hơn 20 năm qua, tôi dành nhiều thời giờ để thăm viếng các anh chị em bệnh nhân phong cùi. Tôi cảm thấy gần gũi họ kể từ những ngày còn ở Học Viện, khi các Bề Trên hằng năm cho chúng tôi được đến làng phong Di Linh. Thời gian đó, chúng tôi đến với những bệnh nhân với hai bàn tay trắng, vì không ai nghĩ rằng họ cần đến những món quà để đỡ đói. Chúng tôi đến để cùng dâng lễ với họ, thăm hỏi và gần gũi.

Chúng tôi chứng kiến được sự hiện diện của vị Thừa Sai mà chúng tôi coi như một “thần tượng”: Jean Cassaigne. Chúng tôi được chứng kiến vị Giám Mục về hưu, với bệnh phong cùi trên thân xác, kiệt sức trên chiếc giường sắt đơn sơ. Chúng tôi cảm phục các Nữ Tu Dòng Vinh Sơn Phao-lô lúc nào cũng tươi cười, mau mắn và nhân hậu bên cạnh những người phong cùi lúc ấy còn chịu cảnh lở lói hôi tanh. Hình ảnh của một Nữ Tu người Pháp có tên Gilberte vừa trẻ vừa đẹp lúc nào cũng hết lòng và tháo vát giúp đỡ các người bệnh ( Ảnh trại phong Di Linh và Nữ Tu Mai Thị Mậu ).

Ngày nay sự hiện diện của các Nữ Tu Thánh Vinh Sơn vẫn còn và chị Joséphine Mai Thị Mậu lúc nào cũng hết lòng với người bệnh, kéo sự chú ý của nhiều người và của chính quyền đã hai lần tặng huy chương cho chị và chị thường được nêu danh và hình ảnh trên các báo. Các chị cũng chỉ biết làm chứng tá cho Tình Thương bắt nguồn từ Thiên Chúa.

Câu chuyện truyền giáo


“Khi lớn lên con muốn làm gì?” Đó là câu hỏi quan trọng mà trong đời sống của bất cứ người trẻ nào sớm muộn gì thì cũng phải đối diện với nó. Người đặt ra câu hỏi có thể là thầy giáo, chú bác, hoặc một người bạn nào đó của bố mẹ. Câu trả lời của người trẻ như thế nào thì có lẽ tùy thuộc vào sở thích của người trẻ trong lúc ấy.


Khi còn học cấp II, tôi đã trả lời rằng tôi muốn trở thành một phi hành gia vì lúc ấy tôi rất mê tìm hiểu về các hành tinh trong vũ trụ. Vài năm sau, tôi nói là muốn trở thành một nhà văn vì lúc ấy tôi bắt đầu thích đọc những tác phẩm văn chương nổi tiếng và ước gì mình cũng sáng tác được một tiểu thuyết tuyệt vời như vậy. Sau này, khi còn học cấp III, tôi lại có ý định muốn trở thành một nhà tâm lý học để giúp người ta giải quyết những vấn đề khúc mắc trong cuộc sống. Rồi khi vào đại học thì tôi lại quyết định theo đuổi con đường y khoa. Nhưng cuối cùng, tôi đã không trở thành bất cứ cái gì mà tôi từng dự định.
Được tạo bởi Blogger.