Bước dò dẫm của các cây bút nữ Công giáo Việt Nam




Văn học Công giáo Việt Nam ra đời trong quá trình hội nhập văn hóa sống đạo, giữ đạo và loan báo Tin mừng. Trong bài chia sẻ này, người viết muốn đặc biệt nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng và đóng góp của các tác giả nữ trong những bước đầu tiên của nền Văn học Công giáo non trẻ. Văn học Công giáo là một sự vun trồng dài lâu, nếu mỗi tác phẩm văn chương đều nảy sinh từ một hạt mầm thì hơn ai hết, những nữ tác giả chính là người đã chăm sóc những hạt mầm ấy lớn lên và sinh hoa kết trái cho đến ngày hôm nay. Đây không phải là một bài nghiên cứu rầm rộ, người viết chỉ muốn ghi nhận những gì các nữ tác giả văn học Công giáo đã đạt được trong tiến trình hình thành và phát triển. Để xác định được những bước tiệm tiến ấy, người viết đi vào tìm hiểu quá trình gieo hạt, lớn lên và sinh hoa kết trái của của các nữ tác giả văn học Công giáo.

1. HẠT GIỐNG ĐẦU MÙA: CÔNG NƯƠNG CATARINA

Qua các công trình nghiên cứu văn học sử của các nhà nghiên cứu Văn học Công giáo Việt Nam, chúng ta chỉ thấy lác đác vài gương mặt nữ tác giả Công giáo. Tên tuổi của họ rất nhạt nhòa trong các di cảo hiếm hoi còn sót lại. Dường như thời này, văn chương chữ nghĩa chỉ dành cho một bộ phận nhất định, còn nữ giới sáng tác cũng chỉ như “kẻ chầu rìa” để lấp đầy chỗ trống tinh thần mà thôi! Tuy nhiên, ở trong bối cảnh ấy, vẫn nổi lên một nữ nhân chốn kinh kỳ - Công nương Cataria, một bông hoa đầu mùa của thi ca Công giáo Việt Nam.

Hồi ấy, các thừa sai đến Việt Nam truyền đạo dường như đã có sẵn một kế sách tiếp cận dân bản xứ. Các ngài thường giao dịch rộng với chính quyền như vua chúa và bộ phận quan lại. Bên cạnh đó, họ hòa nhập rất nhanh và vận dụng một cách linh hoạt truyền thống giao tiếp của người Việt: “miếng trầu làm đầu câu chuyện”, nghĩa là quà cáp trước, nghi thức sau. Bởi thế, nhiều người thuộc hoàng tộc, các gia đình quý phái, những nho gia trí thức, đặc biệt cả các sư sãi cũng tìm đến nghe giảng và nhập đạo. Trong số nho gia trí thức ấy có bà Catarina, chị của Chúa Trịnh Tráng. Ngay khi vừa được rửa tội và nhập vào “Đạo Mới”, bà vội về kể ngay với mẹ và năn nỉ “xin mẹ cũng theo Đạo Mới này với con”. Mẹ bà là người rất thâm nho và sùng Phật. Chính các sư sãi đã tôn bà là ân sư vì bà cũng dạy đạo Phật cho các vị sư sãi. Thế nhưng, khi được giảng về “Đạo Mới”, bà mẹ đã tin theo và rất tâm đầu ý hợp với các “cố đạo”. Cả hai mẹ con Catarina cùng nhau học đạo và quyết tâm truyền giáo lý tình thương cho nhiều người, trước tiên cho hoàng tộc rồi dần dần lan xa.

Catarina không chỉ là nhà thơ văn Công giáo đầu tiên mà còn là nhà truyền giáo ưu tú có công trong việc hội nhập giáo lý, Thánh Kinh Công giáo vào nền văn thơ Việt Nam. Theo cha Đắc Lộ:

“Catarina rất giỏi về thi ca bản xứ nên đã soạn bằng thơ rất hay tất cả lịch sử giáo lý, từ tạo thiên lập địa cho tới khi Đức Giêsu giáng thế, cuộc đời, sự thương khó, phục sinh, lên trời của Người. Lại thêm ở cuối tập thơ một đoạn tường thuật việc chúng tôi tới Đàng Ngoài và công cuộc khởi sự rao giảng Phúc Âm. Tác phẩm này rất có ích vì không những giáo huấn tân tòng ngâm nga trong nhà, nơi thành thị cũng như chốn thôn quê, mà cả nhiều lương dân, khi ca hát và thích thú với lời ca dịu dàng, thì cũng học biết được những mầu nhiệm và chân lí đức tin” [1].

Khi đức tin vừa gieo vào chốn kinh kỳ (năm 1627), sự kiện thi phẩm của công nương Catarina ra đời đã làm nảy sinh thiên trường ca vang dội khắp xứ Đàng Ngoài, không lâu sau đã vượt biên giới sông Gianh đến với những anh em đồng đạo Đàng Trong.

Ngoài mốc điểm này, thế hệ hậu sinh ít biết đến những tác phẩm văn học Công giáo truyền khẩu, nhưng chính các hạt giống nhỏ bé này đã nuôi dưỡng nên những bông hạt hữu hình nơi thế hệ cháu con của họ.

2. ĐỢT NẨY MẦM THỨ NHẤT: NỮ SĨ THỤY AN

Đến thế kỷ XX, xuất hiện một gương mặt điển hình đại diện cho cho các nữ tác giả Văn học Công giáo, đó là nữ sĩ Thụy An. Bà tên thật là Lưu Thị Yến (1916 -1989), người làng Hòa Xá, Ứng Hòa, Hà Đông.

Năm 13 tuổi, bà đã có thơ đăng trên báo Nam Phong (1929). Năm 1934, 18 tuổi, Thụy An bắt đầu nghề báo, cùng chồng lập tuần báo Đàn bà mới ở Sài Gòn. Năm 1937, bà ra Hà Nội, chủ biên tờ Đàn bà. Thụy An là một nhà văn, nhà báo rất năng động, là một cây bút nữ có tài viết được nhiều thể loại: tiểu thuyết, thơ, nghị luận, đoản văn, khảo cứu... Bà làm nhiều thơ nhưng không in thành tập. Về tiểu thuyết, ngoài truyện dài Một linh hồn, bà xuất bản hai tập truyện ngắn là Vợ chồng (gồm 25 câu chuyện về hạnh phúc gia đình) và Bốn mớ tóc [2].

Thụy An là tiểu thuyết gia nữ duy nhất được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan lựa chọn trong bộ Nhà văn hiện đại với tác phẩm Một linh hồn (xuất bản năm 1943). Tiểu thuyết được xây dựng dựa trên bối cảnh của đạo lý Công giáo. Đánh giá về tác phẩm này, Vũ Ngọc Phan viết:

“Hàn Mạc Tử đã đem vào thơ ca Việt Nam lòng tin tưởng ở đạo Giatô với một giọng say sưa đầm ấm. Thụy An cũng xây dựng cho tiểu thuyết của mình những nhân vật tin cậy vào Đấng Cứu Thế, vào Đức Mẹ Đồng Trinh và sẵn sàng nhịn nhục hy sinh… ‘Một linh hồn’ là một tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay. Tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại được xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn [3]. Nhà văn Yên Thao cũng đã nói: “Sự hiện diện của hai tác phẩm ‘Một linh hồn’ và ‘Bốn mớ tóc’ của Thụy An chứng tỏ rằng ở khoảng thời gian trên, nữ giới Công giáo Việt Nam đã có một cây bút khá sắc bén và thông minh…”[4].

Có thể nói, Thụy An là nhà văn nữ tiên phong về lối diễn tả tâm lý nhân vật cách chân thật, khéo áp dụng hướng cứu vớt của Chúa vào đời sống nhân sinh một cách uyển chuyển nhất.

Cuộc đời của nữ văn sĩ Thụy An gặp nhiều biến cố. Theo ghi chép của dòng họ Lưu, bà Lưu Thị Yến lấy chồng là người đồng đạo, có 7 người con, đến năm 1949 thì ly thân nhưng không ly dị vì luật đạo không cho phép. Cuối đời, bà vào Sài Gòn và quy y ở Chùa Quảng Hương Già Lam (năm 1987), pháp danh là Nguyên Quy, và bà mất năm 1989, tại nhà riêng ở đường Lê Văn Sỹ [5].

Nhìn nhận về biến cố cuộc đời nữ sĩ Thụy An, nhất là biến cố cải đạo, linh mục Trăng Thập Tự có cái nhìn đầy bênh vực và đồng cảm đối với bà:

“Một nhà văn nữ mà lại là một giáo dân ở Việt Nam những năm 1940, bà biết tìm đâu một người đồng cảm? Rồi khi cuộc sống gia đình trắc trở, bà sống ly thân đúng theo luật đạo nhưng dưới cái nhìn ít trân trọng của người đồng đạo, bà thật hết sức cô đơn… Sau những năm dài bị tù, Thụy An chuyển chỗ ở vào Sài Gòn nhưng giữa Sài Gòn xa lạ biết tìm ai cảm thông ngoài sách vở. Những trang sách và những thực hành đầy thuyết phục đã giúp bà tìm được bình an tâm lý, cùng với những người bạn mới trên hành trình kinh nghiệm mới, bà tìm đến chùa nhận một pháp danh, theo tôi, là điều bình thường dễ hiểu như những môn đệ bỏ đi Emmau… Nếu có một ai cùng sánh bước với bà trên đường chiều thuở ấy, cùng trao đổi câu chuyện, chắc hẳn ta đã được nghe người trong cuộc kể lại một kết cục khác” [6].

3. ĐỢT NẨY MẦM THỨ HAI

3.1. NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU

Thông qua công trình nghiên cứu đồ sộ mang tên “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” của nhà thơ Lê Đình Bảng, một ấn phẩm với độ dày trên 4000 trang in [7], cho thấy thi ca trong đời sống của cộng đồng cư dân Công giáo Việt Nam thật phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức và bao quát nhiều lĩnh vực. Trong bộ sách ấy, nhà thơ Lê Đình Bảng đã giới thiệu 12 tác giả trong tập “Miền thơ kinh cầu nguyện”, trong đó có ba gương mặt nữ tiêu biểu sống ở thế kỷ XX: Nữ sĩ Ngọc Minh (1916-1996), Nữ tu (Nt) Trần Thị Hoa (1936-2003) và Nt. Huỳnh Thị Kim Hải (1944-2008).

3.1.1. Ngọc Minh

Nữ sĩ Ngọc Minh tên thật là Lã Thị Quỳnh (1916-1996). Bà gia nhập đạo Công giáo vì tình yêu với chồng. Hôn lễ của bà cùng chồng là Mai Lâm được cử hành tại nhà thờ Phủ Lạng Thương năm 1939. Từ đó, “một mùa xuân mới” yêu chồng, yêu đạo đã nảy nở trong hồn thơ bà [8]:

“Tôi lãng quên đi một buổi chiều

Thế rồi từ đó bận vì yêu

Tôi không năng ngắm xuân trời nữa

Xuân của lòng tôi đã quá nhiều.”

(Xuân lòng, 1939)


Ngọc Minh đã để lại tập thơ di cảo Tiếng hát ban đầu, gồm hơn 100 bài thơ về nhiều đề tài, trong đó có nhiều bài lấy cảm hứng từ đức tin, lòng mến Chúa yêu người. Giọng điệu thơ của Ngọc Minh là tiếng nói thì thầm của trái tim – một trái tim nồng nàn thắm thiết với chồng và nhạy cảm với cảnh vật thiên nhiên, đất trời. Đặc biệt trái tim bà luôn sẻ chia đến tận cùng những vui buồn của từng số phận con người. Thể thơ chủ đạo trong thơ bà là thất ngôn bát cú hoặc lục bát [9], với thể thơ này, từng âm hưởng thơ dễ dàng đi vào lòng người và khiến độc giả rung nhịp đồng cảm.

3.1.2. Trần Thị Hoa

Nữ tu Têrêsa Trần Thị Hoa, sinh ngày 25/12/1936 tại làng Thượng Vỹ, tỉnh Hà Nam, thuộc Hội dòng Đa minh Lạng Sơn. Những bài thơ của bà ra đời cách rải rác, lẻ tẻ, về sau được gom lại thành tập. Nt. Têrêsa Trần Thị Hoa đã gọi những bài thơ ngẫu hứng, vô đề ấy là “Hoa trái mùa”. Ai đã từng đọc thơ bà thì thấy đó là tất cả những cảm nhận nhạy bén, những trải nghiệm sâu sắc và cả những nỗi buồn, niềm vui riêng tư về một bậc sống với Chúa, với người và với chính mình. Những bài thơ của bà như được gợi hứng từ một mạch ngầm trong veo, thánh thiện nhưng rất đỗi bình dị. Bà luôn dùng những câu chữ nhẹ nhàng, giản đơn như để trò chuyện, nguyện cầu với Chúa. Sở trường của bà là thể loại lục bát, chỉ gần 100 bài thơ nhưng đã nói lên được tất cả tâm hồn của một con người thuộc trọn về Chúa và tha nhân [10]:

“Nghiêng mình nhặt cánh hoa rơi

Cài lên chiếc áo cuộc đời, đẹp chưa,

Cuộc đời vẫn những nắng mưa

Gian truân, vất vả vẫn chưa hết đời.

(Cánh hoa rơi, 2001)

Một ước nguyện trước khi lìa cõi thế (ngày 12/11/2003), người thi sĩ - nữ tu ấy xin được nhìn thấy Hoa trái mùa gom góp lại thành tập và gởi đến những người thân quen để xin một lời cầu: “Đừng quên chị”. Và có lẽ bởi mối duyên tơ trời cho vô cùng độc đáo và thánh thiện ấy, hồn thơ của Hoa trái mùa đã chạm đến hồn thơ Lê Đình Bảng và đã góp phần làm nên diện mạo Miền thơ kinh cầu nguyện trong làng thơ Công giáo Việt Nam.

3.1.3. Kim Hải

Nữ tu - thi sĩ Maria Fautina Anê Huỳnh Thị Kim Hải, sinh ngày 16/10/1944, là người con xứ Huế thơ mộng. Bà lấy bút danh Trừu Non, là một nữ tu Hội dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân – Huế. Đối với bà, thơ là công cụ để thổ lộ tâm tình với Chúa. Từ những bài thơ hồn nhiên đến những lời kinh trải nghiệm đầy suy tư của Nt. Kim Hải, ta như bắt gặp một hồn thơ “không có tuổi”, không triết học hay thần học cao siêu. Sau những tháng ngày tận hiến, tập thơ “Tiếng lòng” ra đời như một định mệnh, gồm trên 100 bài thơ viết từ năm 1965 đến năm 2008. Nhà thơ Lê Đình Bảng nhận định: “Trừu Non viết âm thầm như một lời kinh cầu nguyện”. Thơ của bà như những trang nhật ký ghi chép những cái thường hằng bình dị, rất đỗi thân quen nhưng cũng vô cùng an nhiên tĩnh tại [11]:

“Lẽo đẽo đi theo Chúa

Bóng Chúa phủ tình con

Lẽo đẽo theo chân Chúa

Con không thấy mình còn.”

(Theo Chúa)


Nếu là người yêu thơ Công giáo, có lẽ đọc thơ Nt. Huỳnh Thị Kim Hải, chúng ta sẽ gặp kinh trong thơ và thơ trong kinh. Một sự hòa điệu thật tuyệt vời!

3.2. NHỮNG TÀI NĂNG ĐÁNG GHI NHẬN

Bàn về văn học Công giáo, lẽ ra chúng ta phải tự giới hạn vào những vị theo đuổi những nội dung tích cực về đức tin và cuộc sống của dân Chúa. Chỉ nguyên sự kiện tác giả là người Công giáo thôi chưa đủ để được nhắc đến trong một bài nghiên cứu theo chủ đề này. Thế nhưng, với tựa đề “Bước dò dẫm của các cây bút nữ Công giáo Việt Nam”, bài viết không thể bỏ sót hai cây bút đã dấn thân vào cuộc “dò dẫm” này, đó là: Lý Thụy Ý và Nguyễn Thị Thanh Huệ.

3.2.1. Lý Thụy Ý

Lý Thụy Ý tên thật là Nguyễn Thị Phước Lý, sinh ngày 02/04/1947, quê nội ở Quảng Nam, quê ngoại ở Thừa Thiên - Huế. Bà là một nữ văn sĩ, thi sĩ nổi danh từ trước năm 1975, khởi sự bà viết cho tuần báo Văn nghệ tiền phong, sau làm thư ký toà soạn cho tờ báo này, nhiệm vụ trông coi mục Văn nghệ kaki (văn nghệ lính). Sau 1975, Lý Thuỵ Ý phải đi cải tạo cùng các nhà văn, nhà báo như: Thanh Thương Hoàng, Lý Đại Nguyên, Doãn Quốc Sỹ. Sau đó bà về Sài Gòn lấy chồng, tiếp tục viết văn và sáng tác. Những tập thơ của bà mang tên: Khói lửa 20 (1972), Thơ tình Lý Thuỵ Ý (1995), Kinh tình yêu (2003). Về văn, bà đã xuất bản các truyện ngắn như: Theo triền nắng đổ (1970), Người sau tuyến lửa (1972), Bông hồng không toả hương (1992), Ngọc lai (1993), Khuya hoang (1994), Những mùa xuân chín (1999) [12].

Lý Thụy Ý là một bông hồng văn học nổi danh từ những tập niên 60. Bà là nhà thơ của những bài thơ viết cho người lính đang ngày đêm xông pha ngoài chiến trường. Vừa là nhà thơ, nhà văn, nhà báo - Lý Thụy Ý đã đi vào lòng bạn đọc từ những ngày quê hương còn loạn ly với những câu truyện ngắn giàu hương vị tình yêu và giọng thơ bà đầy cung bậc cảm xúc:

“Đừng rời bỏ em-dù chỉ trong ý nghĩ

Hãy giữ nhau từng phút,

Như ngày mai không còn nữa bao giờ…”

(Kinh tình yêu)

3.2.3. Thanh Huệ

Nguyễn Thị Thanh Huệ, sinh năm 1937, bút danh Hoàng Lan, bà có nhiều sáng tác như truyện ngắn: “Phù sa trên tóc bạch kim”, “Tuổi trẻ mong manh”, “Thức tỉnh lòng mẹ”, ... Từ một người phụ nữ nghèo khổ bán xăng lẻ bên vệ đường Cách Mạng Tháng 8, Thành phố Cần Thơ để kiếm tiền, bà cùng chồng nuôi 5 người con. Cuộc sống mưu sinh ở khu Chòm Mả, “người sống ăn ngủ cùng với người chết...” một thời gian rất dài đã biến Thanh Huệ thành người đàn bà nghị lực, có sức sống kỳ diệu. Những thăng trầm của kiếp người đã hóa thân bà trở thành một nhà văn tên tuổi, đạt nhiều giải thưởng. Đến giờ, bước qua tuổi 83, bà vẫn viết vì với bà viết để sống, viết vì sứ mệnh, vì niềm tin của bạn đọc đã yêu thương. Năm 2020, dù ở tuổi 83, bà vẫn miệt mài cho ra đời tập truyện ngắn dành cho thiếu nhi được độc giả tâm đắc “Con cò mồ côi” (Nxb Kim Đồng ấn hành, 2020). Bà đáng được mệnh danh là nhà văn “không có tuổi” [13].

4. ĐỢT NẨY MẦM THỨ BA

Trong thời kỳ này có khá nhiều tác giả nữ tham gia viết những tác phẩm có liên quan đến Công giáo, nổi bật nhất là Hoàng Thị Đáo Tiệp và Trần Mộng Tú.

4.1. Hoàng Thị Đáo Tiệp

Hoàng Thị Đáo Tiệp là nữ tác giả Việt Kiều quen thuộc xuất hiện nhiều trên các trang mạng Công giáo như: dunglac.info; cttd.org; memaria.org… Bà cũng là tác giả gắn bó rất lâu dài với Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ, một nguyệt san do tỉnh dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc tại Hoa Kỳ đảm nhiệm. Hoàng Thị Đáo Tiệp đã tập hợp nhiều truyện ngắn và những bài viết ghi lại những kinh nghiệm đời sống và trải nghiệm tâm linh sâu sắc và in thành những tập sách có giá trị như: Đa tạ (1993), Đường lên thiên quốc (2001), Dâng tiến Chúa (2003), Tro bụi kiếp người (2003), Thánh cả chữa lành (2008), Vườn Gethsemani (2009).

4.2. Trần Mộng Tú

Trần Mộng Tú, sinh năm 1943, tại Hà Đông, di cư vào Nam năm 1954. Bà là thư ký cho hãng thông tấn Associated Press ở Sài Gòn giai đoạn 1968-1975. Bà thường xuyên cộng tác với các tạp chí văn học ở Mỹ và các nước khác. Sau năm 1975, bà sang Mỹ định cư. Bà viết truyện nhi đồng cho báo Los Angeles Times từ năm 2000 và làm thơ Anh ngữ trong sách giáo khoa Mỹ cho chương trình trung học. Hiện bà sống tại bang Washington [14]. Trần Mộng Tú có rất nhiều tác phẩm đã được xuất bản hoặc đăng trên báo mạng: Để em làm gió - Tập thơ (Nxb Thế kỷ, 1996); Câu chuyện của lá phong - tập truyện ngắn (Nxb Người Việt, 1994); Cô Rơm và những truyện ngắn khác - tập truyện ngắn, (Nxb Văn nghệ, 1999), Mưa Sài Gòn, mưa Seattle - tạp văn, (Nxb Văn Mới, 2006).

Điểm qua như vậy để thấy những đóng góp của các nữ tác giả Công giáo trong giai đoạn này đã bắt đầu có hứa hẹn.

5. ĐỢT NẨY MẦM THỨ TƯ- HỨA HẸN MÙA BỘI THU

5.1. LĨNH VỰC VĂN CHƯƠNG

Thông qua những công trình tổng hợp nghiên cứu quy mô của các nhà nghiên cứu văn học Công giáo như: Nhà nghiên cứu Võ Long Tê, với cuốn “Lịch Sử Văn Học Công giáo Việt Nam” (1965); Nhà thơ Lê Đình Bảng với tác phẩm “Văn học Công giáo Việt Nam - Những chặng đường” (2010), và bộ sách gồm 6 cuốn: “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009); Nhà văn Bùi Công Thuấn với tác phẩm “Văn chương Việt Nam - những gì còn với mai sau” (2016); Lm.Trăng Thập Tự với Bộ Sưu Tập “Có Một Vườn Thơ Đạo” gồm 4 cuốn: quyển 1 nói riêng về Hàn Mạc Tử, tập trung vào mảng thơ đạo; quyển 2 gồm 45 tác giả thơ Công giáo, có năm sinh từ 1912 đến 1940 và quyển 3 gồm 51 tác giả thơ Công giáo, có năm sinh từ 1941 đến 1955; quyển 4 có 44 tác giả thơ Công giáo, có năm sinh từ 1956 đến 1990.

Qua những công trình nghiên cứu trên, cho thấy số lượng tác giả nữ tăng dần qua từng thời kỳ, cùng với đó là sự mở rộng về thể loại mà các cây viết nữ góp mặt, có thể thấy bước tiến đáng kể của nữ giới trong văn đàn. Sau đây là các bảng thống kê về số lượng tác giả nữ trong văn học Công giáo:

Thống kê số lượng tác giả nữ trong tập “Có một vườn thơ đạo"

105: tác giả nam

36: tác giả nữ

26%: tỉ lệ tác giả nữ

Năm sinh từ 1912 -1990

Các tác giả tiêu biểu sinh từ năm 1912 đến trước 1975: Đông Khê (1928-1964), Hoài Mộng (1939), Hàn Lệ Thu (1940-2007), Trần Mộng Tú (1943), Phạm Thị Thái Quý (1948), An Trinh (1949), Đỗ Thảo Anh (1949-2011), Liễu Giang (1951), Bụi Hồng Ân (1953), Vĩnh An (1955), Nguyễn Thị Xuyến (1960), Trịnh Tây Ninh (1960), Đặng Thị Vân Khanh (1961), Lý Thị Minh Khiêm (1963), Thanh Hương (1964), Vũ Thủy (1965), Song Lam (1968),

Những tác giả sinh ra sau năm 1975: Trần Nguyễn Trang Đài (1975), Phan Thị Liên Giang (1975), Nguyễn Đỗ Thái An (Hạt Bụi – 1975), Khánh Vân (1976), Trần Thị Hồng Nhung (1979). Cũng thật đáng quý những gương mặt nữ tác giả thuộc thế hệ 8X như: Trần Thị Phương Nhã (1984), Vũ Thương (1987), Kim Dạ (1988)…


 Thống kê số lượng tác giả nữ trong giải “Viết văn đường trường”


Tuyển tập truyện ngắn Viết Văn Đường Trường, Lm Trăng Thập Tự chủ biên:

Chuông chiều (2013);

Nắng mùa đông (2014); Người gieo hạt (2015);

Điểm hẹn Giêsu (2016);

Những đứa con của Mẹ (2017);

Người vẽ hy vọng (2018)

105: tác giả nam

64: tác giả nữ

38%: tỉ lệ tác giả nữ

Trần Thị Sứ (1974), Nguyễn Ngọc Nữ (1976), Huỳnh Ngọc Đỗ Quyên (1978), Nguyễn Ngọc Nữ 

(1978) Trần Thị Kiều Thu (1979), Đinh Thị Thu Hằng (1979), Nguyễn Thị Khánh Liên (1982), Đặng 

Thị Kim Thoa (1983), Nguyễn Thị Chung (1984), Bùi Thị Hải Giang (1989), Đặng Hoàng Hương 

Giang (1990), Nguyễn Thị Thu Thảo (1993), Võ Thị Phương (1994), Nguyễn Thị Trúc Lư (1994), 

Dương Thị Thái Chân (1995), Võ Thị Phương (1994), Nguyễn Thị Bá Ninh (1998), Huỳnh Thị Ngọc 

Trân (1998)…


 Thống kê số lượng tác giả nữ trong giải văn học nghệ thuật “Đất mới” 2020

Giải Đất Mới 2020: Tổng số tác giả: 25; 16: tác giả nam; 9: tác giả nữ; 36%: tỉ lệ tác giả nữ 

Thơ:                         Tổng: 10; 7: tác giả nam; 3: tác giả nữ; 30%: tỉ lệ tác giả nữ

Truyện ngắn:            Tổng: 8 ; 6: tác giả nam; 2 tác giả nữ; 25%: tỉ lệ tác giả nữ

Truyện dài:                Tổng: 7 ; 3: tác giả nam; 4: tác giả nữ; 57%: tỉ lệ tác giả nữ

Maria Goretti Nguyễn Thị Xuân, Đặng Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Duyên, O.Cist. Hồ Thị Phương, 

Nguyễn Thị Chung, Phạm Thị Khiết Tâm, Phạm Thị Lành, Lý Thị Vy, Nguyễn Thị Cẩm Nhung, 

Nguyễn Đỗ Thái An, Nguyễn Thị Lam…

 Tỉ lệ biến chuyển số lượng tác giả nữ trong văn học Công giáo

Ở thượng nguồn thơ ca Công giáo VN : Tổng: 44 tác giả; 41 tác giả nam; 3 tác giả nữ; 7% tỉ lệ tác giả 
nữ

Có một vườn thơ đạo, tập 1- 4(sinh 1912 về sau) : Tổng: 133 tác giả; 99 (+6) tác giả nam; 34 (+2) tác 
giả nữ; 26% tỉ lệ tác giả nữ.
                                                                                                                                                     
Giải Viết Văn Đường Trường (sinh năm 1972 về sau): Tổng 169 tác giả; 105 tác giả nam; 64 tác giả 

nữ, 38%: tỉ lệ tác giả nữ

Giải Đất Mới 2020 (không phân biệt năm sinh): Tổng 25 tác giả; 16 tác giả nam; 9 tác giả nữ; 36%: 

tỉ lệ tác giả nữ.

Thơ:                         Tổng: 10; 7: tác giả nam; 3: tác giả nữ; 30%: tỉ lệ tác giả nữ

Truyện ngắn:            Tổng: 8 ; 6: tác giả nam; 2 tác giả nữ; 25%: tỉ lệ tác giả nữ

Truyện dài:                Tổng: 7 ; 3: tác giả nam; 4: tác giả nữ; 57%: tỉ lệ tác giả nữ


5.2. CÁC LĨNH VỰC KHÁC

Tại dẫn nhập, bài viết này nhắm tới lãnh vực nghiên cứu về văn học Công giáo, thế nhưng sẽ thiếu sót nếu không nhắc tới những chị em tham gia thực hiện các tác phẩm văn hóa trong các lãnh vực liên quan. Dịch thuật và nghiên cứu không thuộc lĩnh vực nghệ thuật nhưng không thể không nhắc tới, vì ở đây cho thấy sự xuất hiện và tham gia của nữ giới Công giáo ngày càng rõ và đi sóng đôi với nỗ lực sáng tác.

5.2.1. Dịch thuật

Bản dịch Kinh thánh trọn bộ Cựu ước – Tân ước của Nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ năm 1998 là một ghi nhận đáng khích lệ của Giáo hội Việt Nam. Nhiều gương mặt nữ tác giả đã cộng tác đắc lực trong nhóm nghiên cứu và biên dịch này. Những tên tuổi nổi bật như: Nữ tu (Nt) Nguyễn Thị Sang (tham gia nhóm vào năm 1974), Nt. Lê Thị Thanh Nga, dòng Đức Bà (1996), Nt. Lê Thị Vân Nga, dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức (2003), Nt. Nguyễn Thị Cảnh Tuyết, dòng Đaminh (2008), Nt. Đỗ Thị Yến, dòng Đaminh (2009). Ngoài ra, còn nhiều nữ dịch giả đã đóng góp không nhỏ cho sự ra đời của những cuốn sách đủ tiêu chuẩn lưu hành trong giới Công giáo, hiện được bán ở các nhà sách Công giáo hiện nay. Có thể điểm sơ qua các gương mặt nữ dịch giả như: Nguyễn Thị Chung (Chúa trong đời thường - Lm. Maurice Zundel, Thiên Chúa của Đức Giêsu - Jacques Duquesne, Xây dựng con người nhân bản - Michel Quoist, Bản tình ca Thiên Chúa làm người - Maria Valtorta, Sự hiện diện khiêm hạ - Marc Donzé…); Nt. Trần Thị Quỳnh Giao (Đứng dậy đi các bạn trẻ - ĐGH. Phanxicô, Giáo hội mà tôi mong đợi - Antonio Spadaro, SJ, Đêm tối của Giuđa – Jean, Sứ vụ truyền giáo - ĐGH. Phanxicô …); Nt. Vũ Thị Thu Thủy (Bạn có thể chữa lành cuộc sống của bạn – Louisel, Biến đổi cảm xúc đau buồn của chúng ta – Evelyn Eaton anhd James D. Whitehead, Yêu thương là một lối sống - Gary Chapman, Cuộc sống luôn truyền cảm hứng - John Pichappilly); Nt. Lê Kim Yến, Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội (Cuộc thương khó và thập giá - Ronald Rolheiser…). Ngoài ra còn các Nữ tu như: Nguyễn Thị Kim Phúc, Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Nguyễn Thị Quỳnh Tâm… Nhờ tài năng ngôn ngữ và dịch thuật, tất cả những nữ dịch giả ấy đã góp phần làm phong phú những đầu sách Công giáo có giá trị của các tác giả nước ngoài.

5.2.2. Nghiên cứu văn học

Trong hành trình tìm về những giá trị toàn vẹn của văn học Công giáo tại Việt Nam, đã xuất hiện những nữ học giả luôn khao khát tìm hiểu đối với nền văn hóa - văn chương mang màu sắc Công giáo ở Việt Nam. Họ đã làm cho văn học Công giáo nảy sinh, được nhìn nhận và khích lệ trưởng thành theo một đường hướng riêng biệt. Trong đó chúng ta phải kể đến thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Hồng với Tìm hiểu thơ Hàn Mặc Tử từ nguồn cảm hứng khác biệt (Nxb Khoa học Xã hội, 2020); tiến sĩ Maria Lê Thị Hoa với Học giả Văn hóa và Thầy dạy Đức tin, Giám mục Hồ Ngọc Cẩn (1876-1948), (Nxb Tri thức, Hà Nội, 2019); Nữ tu Agata Nguyễn Thị Kim Tuyến, Hội dòng Mến Thánh Giá Huế với Thơ văn Sảng Đình Nguyễn Văn Thích, tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 7 581, Tháng 7-2020); tiến sĩ Trương Thị Liễu với Văn học đối chiếu, Đại học Paris III, Sorbonne Nouvelle.

5.2.3. Báo chí và truyền thông

Trước năm 1975, Giáo hội Việt Nam khắp nơi có hơn 200 tờ báo các loại. Đến năm 1978, các tòa soạn báo bị đóng cửa, chỉ còn lại tuần báo: Công giáo và Dân tộc (ở Miền Nam) và Người Công Giáo Việt Nam (ở Miền Bắc). Tờ báo chính thức thứ hai là tờ Chia sẻ của liên tu sĩ thành phố và tờ Hiệp thông của Hội đồng Giám mục Việt Nam, sau đó xuất hiện Bài giảng Chúa nhật, Đồng hành, Nhịp sống Tin Mừng, Epphata, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Nhịp cầu Caritas, Thời sự thần học, Tạp trí Logos, Chuyên đề Donbosco… Khi nền văn minh mạng bắt đầu tràn vào Việt Nam, thì mỗi giáo phận, mỗi dòng tu, mỗi giáo xứ, mỗi giáo họ, mỗi đoàn thể riêng đều có trang mạng riêng. Trang nào cũng được thiết lập như một tờ báo với đầy đủ các hạng mục. Các nữ tác giả lúc đầu cũng là nghiệp dư, dần trở thành chuyên nghiệp, đội ngũ này càng ngày càng nhiều và trình độ cũng được nâng cao. Các nữ tác giả đóng góp được nhiều bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện, thơ, nghiên cứu, suy niệm, phóng sự… Có thể điểm qua danh sách những nữ tác giả thường xuyên cộng tác với các báo và các trang truyền thông như: Nt. Hoàng Ngọc Yến, - Chuyên đề Donbosco; Phan Thị Liên Giang và Thiên Lý viết cho báo Công Giáo và Dân tộc; Nt. Hồng Hà, cộng tác với Nhịp sống Tin Mừng trong chuyên mục truyện ngắn; Nt. Mai Thành, Nt. Trần Như Ý Lan, đã thường xuyên có những bài viết cộng tác với báo Hiệp thông, Chia sẻ.

5.2.4. Một số nội dung khác

Những ấn phẩm có nội dung phụng vụ, giáo lý, kinh nguyện, tu đức, cảm nghiệm thiêng liêng, đời sống Kitô hữu, đời sống thánh hiến được khai thác nhiều qua thơ, truyện, tản văn và suy niệm. Nổi bật trong mảng sáng tác về nội dung suy niệm hiện nay là các tác giả: Nt. Nguyễn Thị Anh Thư với tác phẩm Chút gì với Chúa, (Nxb Tôn giáo) Nt. Đỗ Thị Yến - Các tông đồ theo Kinh Thánh và Nhân Sinh Quan (Nxb Đồng Nai, 2020), Tiến sĩ Trần Mỹ Duyệt với tác phẩm Sống đạo giữa đời (Nxb Đồng Nai, 2020), Nt. Trần Thị Thanh Hương – với cuốn Tình yêu phi thường (Nxb Phương Đông, 2009) và Tứ đức Công Dung Ngôn Hạnh theo linh đạo Đức Cha Lambert (Nxb Phương Đông, 2009)… Nt. Trần Thị Giồng: Hạnh phúc trong tầm tay (Nxb Phương Đông, 2008); Thắp sáng một gia đình (Nxb Hồng Đức, 2014); Để gió cuốn đi (Nxb Phương Đông, 2017)… Nt. Cảnh Tuyết: Những điều được viết trong Kinh Thánh có thật hay không? (Nxb Tôn giáo, 2021), … Có được một đội ngũ những nhà nghiên cứu như thế là nhờ các Hội dòng đã dần nhìn ra sự đóng góp quan trọng của văn chương trong sứ vụ loan báo Tin mừng và đã có hướng đầu tư đào tạo để các nữ tu phát huy khả năng suy tư, nghiên cứu và viết sách nhiều hơn. Mong sao trong tương lai sẽ có nhiều Hội dòng lưu tâm và tiếp tục đầu tư về chuyên môn cho các nữ tu trong lãnh vực văn chương này.

Như vậy, suốt dòng lịch sử, ta có thể thấy nữ tác giả Công giáo không ngừng nỗ lực chu toàn sứ mạng bằng đời sống, nỗ lực sáng tác văn chương và suy tư, nghiên cứu về nhiều mảng đề tài để giới thiệu Chúa cho anh chị em của mình.

6. ĐỀ XUẤT CHO TƯƠNG LAI

Theo thống kê biến chuyển về số lượng như trên, ở thế kỷ XXI, văn học Công giáo đã có sự phát triển nhảy vọt. Đó là nhờ sự quan tâm có tổ chức của một số giáo phận và dòng tu. Nếu có sự quan tâm ở cấp Giáo hội cả nước, có thể còn nhiều kết quả khả quan hơn. Từ những điểm sáng và điểm tối ấy, người viết xin được gợi ý đôi điều cho tương lai:

6.1. CẦN ĐƯỢC QUAN TÂM

Giải Văn thơ Catarina: Các giải thưởng địa phương những năm qua đã thu hút và gián tiếp đào tạo nên một số nữ tác giả. Tuy nhiên đó chỉ là những giải địa phương nhỏ lẻ, bên cạnh đó số dòng nữ mạnh dạn khuyến khích chị em tham gia chưa nhiều. Nếu có một giải thưởng chính thức dành riêng cho nữ giới Công giáo cả nước, hy vọng mùa hoa sẽ nở rộ.

6.2. LINH HƯỚNG

Tổ chức diễn đàn hoặc nhóm sáng tác để giao lưu, gắn kết các nữ tác giả Công giáo: Liên hiệp các Bề Trên Thượng Cấp có thể mời một số thành viên có thiện chí với việc Loan báo Tin mừng bằng văn chương. Để họ đảm nhận hay tham gia một diễn đàn chung cho nữ tác giả Công giáo Việt Nam nhằm cùng nhau tìm tòi, chia sẻ, bổ túc, nghiên cứu và phát triển vốn văn học mang đậm màu sắc riêng của giới Công giáo.

Tổ chức các khóa sinh hoạt hoặc tĩnh tâm, linh thao ngắn hạn (3-7 ngày) cho các nữ tác giả có cùng đam mê, để thêm động lực và cảm hứng thiêng liêng trong việc sáng tạo văn chương. Đây là một việc rất cần thiết để có được những đóng góp mang chất lượng từ những sáng tác tâm linh có tính nhân văn cao.

Kết hợp văn chương với truyền thông: Với thời đại 4.0 ngày hôm nay, để thu hút và tạo hứng thú hay truyền cảm hứng văn chương đến người trẻ, có thể lập ra các “Group văn chương” trên các trang mạng xã hội hoặc chia sẻ trên blog cá nhân với những hoạt động như: Đưa bản tin về Giáo hội, Hội dòng hoặc Giáo xứ; các bài viết cảm nghiệm từ cuộc sống; điểm sách; những radio truyện, tản văn hay; hoặc thiết kế dựng những video có nội dung hướng thượng, tích cực… Đây là những hình thức đã rất phổ biến và được giới trẻ hưởng ứng rộng rãi trên các trang mạng Công giáo. Tuy nhiên để duy trì bền bỉ cũng cần thiện chí cộng tác, sự sáng tạo và nhiều yếu tố khác của những người có cùng tâm huyết. Hơn nữa, họ cũng cần hiểu rõ những quy tắc về truyền thông hoặc vấn đề kĩ thuật để hiệu quả truyền tải được uy tín và lâu bền.

6.3. ĐÀO TẠO

Ươm trồng tài năng: Văn chương ngoài năng khiếu và đam mê còn cần một nền tảng vững chắc. Vì thế việc kiến tạo môi trường giáo dục tốt tại các giáo xứ thông qua việc gây dựng thư viện hay tủ sách chung, tập cho các em thói quen đọc sách hay tổ chức các cuộc thi báo tường trong các xứ đoàn… Các em cần được những người có trách nhiệm động viên khích lệ, nhất là việc đọc, học hỏi Kinh Thánh, giáo lý, nhân bản… Tất cả những nền tảng ấy sẽ góp phần tạo nên những “thiên tài” văn chương cho Văn học Công giáo Việt Nam trong tương lai không xa.

Trường đào tạo trực tuyến hoặc những khóa ngắn hạn về văn chương: Những việc đào tạo tổng quát về nhân bản, tâm lý, kiến thức, tâm linh và linh đạo dòng hiện đã được tổ chức tốt ở phạm vi từng dòng cũng như liên dòng. Riêng việc đào tạo văn chương- văn học rất khó tìm người, do thiếu nhân lực chuyên môn hoặc do chưa quan tâm và đầu tư đúng mức. Tuy nhiên, nếu các Bề Trên Thượng Cấp có hướng xây dựng một trường cao đẳng trực tuyến; tổ chức các khóa Việt văn ngắn hạn; khuyến khích xuất bản những cuốn tạp san, nội san; xây dựng và tổ chức các chương trình trải nghiệm thực tế… sẽ tạo hứng thú và thu hút nhiều người tham gia. Với việc đào tạo trực tuyến, học viên ở bất cứ đâu cũng có thể theo học và việc mời nhân sự điều hành và đào tạo cũng thuận tiện hơn.

7. KẾT LUẬN:

Chỉ riêng trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, ta có thể thấy sự xuất hiện và đóng góp của các cây bút nữ Công giáo Việt Nam đã lan nhanh như dầu loang trên mặt nước. Đúng hơn, phải nói đây là ơn Chúa. Chính Chúa đã làm cho nhúm men đức tin và đức mến Ngài trộn vào rá bột dân Việt khiến cả rá bột dậy men nhanh biết chừng nào. Ước gì các tầng lớp Dân Chúa cùng quan tâm suy nghĩ, đặc biệt là các vị hữu trách trong Giáo hội sớm tìm phương hướng để ngọn lửa đang được ơn Thánh Thần nhen nhúm sớm theo ngọn gió của Ngài lan tỏa khắp nơi.


*Lời người viết: Con xin hết lòng tri ân cha Trăng Thập Tự đã tận tình hướng dẫn con trong bài viết này; xin chân thành cám ơn thầy Bùi Công Thuấn, sơ Đỗ Quyên - Dòng Mến Thánh Giá Quy Nhơn cùng chị Nguyễn Thị Thắm - giảng viên ĐH Quy Nhơn đã cho con những góp ý hữu ích để bài viết được hoàn tất trong Thánh Ý Chúa.

Sài Gòn, tháng 09/2021

Anna Nguyễn Bích Hạt


[1] x. A. DE RHODES, Lịch sử vương quốc đàng Ngoài, Hồng Nhuệ dịch, 1994, tr.103-106.


[2] x. NGUỒN: http://luutoc.vn/vi/?go=detail/1/9/2014/LBiDD/News/nu-van-si-thuy-an-_-luu-thi-yen-(1916-_-1989).dhtml.


[3] x. VŨ NGỌC PHAN, Nhà văn hiện đại, tập hai, Nxb Khoa học Xã hội, 1989, tr. 1118-1119.


[4] x. BÙI THỤY BĂNG, “Thụy An 1945 – 1954 – 1975”, Nguồn: http://motgoctroi.com/Tho/ThoThuyAn.htm.


[5] x. QUANG BINH, Nữ Văn Sĩ Thụy An - Lưu Thị Yến (1916 - 1989), Nguồn: http://luutoc.vn/vi/.


[6] x. TRĂNG THẬP TỰ, (Chủ biên), Tạp san Mục đồng, số 19.


[7] x. LÊ ĐÌNH BẢNG, Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam – tập 1 đến tập 6, Nxb Phương đông và Nxb Tôn giáo, 2009.


[8] x. LÊ ĐÌNH BẢNG, Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam – Miền thơ kinh cầu nguyện, Nxb Phương đông, tr 403, 2009.


[9] x. LÊ ĐÌNH BẢNG, Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam – Miền thơ kinh cầu nguyện, Nxb Phương đông, tr 404, 2009.


[10] Ibid, 486-498.


[11] LÊ ĐÌNH BẢNG, Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam – Miền thơ kinh cầu nguyện, tr 517-524, Nxb Phương Đông, 2009.


[12] x. NGUỒN: https://www.thivien.net.


[13] x. NGUỒN: https://tongphuochiep-vinhlong.com/.


[14] x. NGUỒN: https://www.thivien.net.

Lời Tòa Soạn: Bài viết của anh Nguyễn Xuân Văn, thuộc cộng đoàn Đồng Hành Gia Đình Thánh Tâm tại Worcester, MA viết cho một tờ đặc san trong giáo xứ. Qua bài viết này, anh giới thiệu và trình bày với mọi người trong giáo xứ, “Thế nào là một cộng đoàn Đồng Hành” theo cái nhìn của anh. Xin đăng lại để cùng chia sẻ với anh chị em Đồng Hành khắp nơi. Và xin cám ơn anh Văn thật nhiều.



Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên và sẽ không đồng ý với tôi khi đọc cái tựa đề ở trên. Trong đầu bạn sẽ có những câu: “Cái gì? Chúa mà rất nhỏ à. Bố láo. Chúa thật vĩ đại và bao la chứ, .v.v.” Vâng tôi đồng ý với bạn là Chúa thì rất vĩ đại và bao la. Nhưng ở đây tôi muốn nói “Chúa của bạn hay nói rõ hơn là Chúa ở trong con người bạn, trong tâm hồn của bạn và của tôi thì rất nhỏ.” Điều này đã làm cho tôi băn khoăn, suy tư rất nhiều. Tôi đã đi tìm lý do tại sao “Chúa của tôi, Chúa ở trong tôi lại rất nhỏ” và làm sao để cho Chúa lớn lên trong tôi. Lần lượt tôi xin chia sẻ những gì tôi đã khám phá ra trong cuộc hành trình đời sống đức tin của tôi.






(Độc giả có thể xem bản gốc tại đây. Cha Giuse Cao Viết Tuấn từng có thời gian là admin VTCG)

Tháng này, Ban Biên tập mời bạn cùng trò chuyện với Cha Giuse Cao Viết Tuấn, một linh mục trẻ, đã can đảm dấn thân đến Papua New Guinea (PNG) xa xôi. Những câu chuyện về hành trình và kinh nghiệm truyền giáo của Cha, hy vọng sẽ giúp bạn cảm nhận được nhiệt huyết của một vị mục từ, một người trẻ, một tâm hồn “dành cả thanh xuân để phục vụ”.


 Cha có thể chia sẻ đôi chút về về quốc đảo PNG được không?

Chào các độc giả của Ymagazine, mình là Giuse Cao Viết Tuấn, thuộc Tu hội Truyền giáo. Tháng 5/2018, mình đến Papua New Guinea làm việc truyền giáo theo lời mời gọi của cha Bề trên Tổng quyền. Trong khoảng gần 2 năm ở Papua New Guinea, mình làm việc mục vụ ở hai giáo xứ: giáo xứ Thánh Danh Chúa Giêsu thuộc Tổng Giáo phận Port Moresby ở Bomana, thủ đô Port Moresby và sau đó là giáo xứ Thánh Antôn Padua thuộc giáo phận Alotau – Sidea ở đảo Trobriand thuộc tỉnh Milne Bay. Tháng 2 vừa qua, mình về Việt Nam để lo một số công việc và bị kẹt lại ở Việt Nam do Covid-19. Hiện tại, mình ở học viện Durando, Đà Lạt và chờ đợi tình hình dịch bệnh được kiểm soát để trở lại Papua New Guinea.


 


TTO - TP.HCM có một ca đoàn rất thú vị: bỏ tiền túi, cùng nhau tổ chức hàng trăm chuyến đi tới những nơi hẻo lánh, khó khăn nhất, không chỉ mang quà tặng mà còn mang tiếng hát xoa dịu nỗi vất vả, nhọc nhằn của những mảnh đời bất hạnh.



Ca đoàn Thông Vi Vu đi bằng xe công nông trong chuyến thiện nguyện ở Kon Tum - Ảnh: ĐĂNG PHÚ
Ca đoàn Thông Vi Vu đi bằng xe công nông trong chuyến thiện nguyện ở Kon Tum - Ảnh: ĐĂNG PHÚ

Xuất khẩu… ơn gọi



Các tu sĩ Xi-tô, Tu viện Đức Mẹ Fatima ở Orsonnens, Thụy Sĩ. Tu viện do các tu sĩ người Việt lập vào năm 1979.

Khởi đi từ những gia đình Công giáo người Việt hiện diện khắp nơi trên thế giới, cách riêng tại Hoa Kỳ và các nước như Pháp, Đức, Úc, Canada... đã trổ sinh rất nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ.

Nhìn vào những tấm gương các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta không thể không tạ ơn Chúa vì Người đã gởi những nhà truyền giáo từ các nước phương Tây xa xôi đến với quê hương đất nước nhỏ bé của chúng ta.

Nhờ những hy sinh dấn thân của các ngài, trong đó có nhiều vị đã chịu trăm bề thử thách và đã đổ máu đào thấm vào mảnh đất hình chữ S này mà ngày nay, chỉ sau khoảng 500 năm, hạt giống đức tin, đã mọc lên hầu như trên khắp mọi miền đất nước. Từ đây, ơn gọi dâng hiến cũng đâm chồi nảy lộc và bước chân của các nhà truyền giáo Việt Nam lại toả đi muôn phương.



CHÚNG TA HỌC ĐƯỢC GÌ TỪ PHONG CÁCH GIÊSU ?



1. Chuyện ở Làng Phong Quả Cảm, Bắc Ninh


Năm 2003, chúng tôi được dâng Thánh Lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh cho bà con người Công Giáo ở Làng Phong Quả Cảm. Cách trung tâm thành phố Bắc Ninh có đúng 5 cây số mà khung cảnh hoàn toàn là thiên nhiên thanh tịnh với từng vạt đất đồi cứ cao lên dần, những dãy nhà mái ngói rêu xanh chen giữa những hàng cây ăn quả.

Làng Phong có một ngôi Thánh Đường lớn nhưng đã bị bỏ hoang từ thời Tiêu Thổ Khánh Chiến 1946, nay chỉ còn tháp chuông và mấy bức tường gạch lỗ chỗ vết bom đạn, bên trong lòng Nhà Thờ cỏ tranh mọc cao gần ngang vai.

Công việc truyền giáo của các nữ tu dòng Chúa Chiên Lành
ở Papua New Guinea


“Thật là khó mà tin rằng trong năm 2019 vẫn còn những người sống trong nghèo đói, hàng ngày phải ăn những hạt óc chó để cho vơi đi cơn đói cồn cào, vẫn còn những người chết vì lao phổi, những người sống trong những túp lều không có điện nước, đi chân không đến trường và đi học mà không có sách vở”. Đây là lời chứng của sơ Anna Pigozzo, người Ý, nhà truyền giáo dòng Chúa Giêsu Mục tử tốt lành ở giáo phận Bereina, nước Papua New Guinea.

Sơ Anna giới thiệu: “Chúng tôi là một cộng đoàn nhỏ các người nữ sống đời thánh hiến đi truyền giáo. Chúng tôi theo Chúa Giêsu trong sứ vụ gần gũi với người trẻ và trẻ em, ở miền nam Philippines và Papua New Guinea. Từ năm 2013, được Giám mục địa phương mời đến, chúng tôi đã hiện diện tại giáo phận Bereina. Ban đầu chúng tôi đến đây chỉ để có kinh nghiệm truyền giáo ngắn ngủi. Chúng tôi đã nhận ra tình trạng nghèo đói và khốn khổ ở một đất nước non trẻ của châu Đại Dương. Tình trạng mù chữ ở đây rất cao, có rất nhiều trẻ em chưa học qua lớp một. Trẻ sơ sinh chết non cũng cao nhất ở châu lục này. Các bệnh viện chỉ có ở thủ đô, trong khi tại các trạm xá của các làng ở những vùng xa xôi, như của chúng tôi, thỉnh thoảng mới có một y tá. Phương tiện truyền thông thì cũng hiếm hoi.”

CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN NIỀM TIN


Giữa đất trời im lặng như tờ, bóng đêm đang choàng cánh bao phủ khắp cả địa cầu, Meik mân mê những hạt tròn trong tay vừa bước đi chậm rãi vừa lẩm nhẩm “Kính Mừng Maria...” Anh lẩm nhẩm với lời kinh chưa sõi trên môi và đi đến hang đá nơi có tượng của Bà Lớn mà Jeisly thường dẫn anh tới đó.

Nhìn Bà Lớn đang hiện diện trước mặt, Meik thấy lòng mình dấy lên một nỗi nhớ. Anh nhớ người con gái anh yêu, anh nhớ những buổi tối Jeisly đưa anh đến với Bà Lớn và kể cho anh nghe về câu chuyện của Giêsu, con trai của Bà. Một câu chuyện đưa anh vào niềm tin, niềm tin mà chỉ ít ngày nữa anh sẽ được lãnh nhận. Và rồi những nỗi nhớ cùng hình ảnh của Jeisly cứ dần dần ùa về trong tâm trí của Meik.

Phỏng Vấn Lm Trần Sĩ Tín
40 năm lăn lóc với người sắc tộc


_____________________________________________

1.Gần 40 năm, sống chung và phục vụ đồng bào dân tộc Jrai, tại Plei-Kly, Huyện Chư-Sê, Tỉnh Gialai, thuộc Giáo Phận Kontum. Xin cha cho biết trong hoàn cảnh nào, tiếng gọi Tây Nguyên đến với cha?


*Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt-Nam do các Cha Canada thành lập từ năm 1925. Vào những năm 1960, tôi thấy các Cha Canada chuyển quyền lãnh đạo Tỉnh Dòng cho các Cha Việt Nam, còn các ngài lại kéo nhau đi sống với những người Thượng trong giáo điểm Phi-Yàng gần Đà Lạt, trong đó có những Cha Giáo đã từng dạy tôi như Cha Thomas Côté, Cha Louis Roy, Cha Jean-Marie Labonté, Cha Sylvère Drouin. . .
Các ngài luôn luôn chọn những người nghèo hơn cả, bị bỏ rơi hơn cả và đến ở cùng họ. Điều này làm tôi chú ý và hấp dẫn tôi. Chúa Yêsu cũng luôn chọn lựa như thế. Thánh Anphonsô, Đấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, cũng đã chọn lựa như thế. Trong Học Viện, các Cha cho chúng tôi thử nghiệm nhiều môi trường. Tôi đã từng với Mã Kim Tòng học tiếng Hoa để sống với người Hoa (một môi trường cả tỉ người), rồi lại muốn đi theo các gánh hát hay làm phu bến tàu. . .

Nhưng điều làm tôi quyết định sống với người Thượng, đó là một hôm, tại Đà Lạt, tôi nghe Thầy Bôna nói chuyện với mấy người Koho. Tôi chẳng hiểu gì, nhưng nghe sao hay quá. . . thế là tôi quyết định vào học tiếng Koho trong Dà-Mpao (Suối Mơ) nơi các Cha Canada đang hoạt động.



Cảm Nghiệm của một Linh muc phục vụ tại Giaó phận Lạng Sơn


Lạng Sơn, ngày ….

Bạn thân mến,

Ngày 3.08.03, mình theo ĐC Lạng Sơn lên Nà Toòng, thuộc giáo xứ Bó Tờ, cách TGM Lạng Sơn 140km để cử hành lễ an táng cho bà Maria Ký, người dân tộc Tày. Một đám tang đơn sơ, nhưng đã để lại cho mình những ấn tượng thật khó quên.

Ấn tượng thứ nhất là cái chết của người quá cố. Bà Ký chết vì quá thương con. Con gái bà chết vì bệnh ung thư. Quàn xác con tại nhà chờ ngày chôn cất, bà Ký không cầm nổi nước mắt khóc thương. Và khi xác con chưa kịp đưa ra đồng thì mẹ cũng theo con cho thỏa nỗi nhớ thương. Bà chết sau con gái 4 ngày!

Ấn tượng thứ hai là gia đình của bà Ký. Đây là gia đình Công giáo duy nhất trong làng Nà Toòng. Chuyện ông Ký trở lại đạo cách đây hơn 70 năm cũng thật là hi hữu. Theo lời Đức cha Lạng Sơn thì hồi đó gia đình ông Ký tội nghiệp lắm. Mẹ ông sinh ba bốn lần nhưng đứa con nào cũng chết sớm. Khi sinh ra ông Ký, thấy con èo uột, hết bệnh này đến bệnh kia, bà lo lắm, chỉ sợ thằng bé rồi cũng bị ‘ma’ bắt như các anh, các chị nó thôi. Thế rồi một hôm, nghe người ta mách, cách làng Nà Toòng khoảng 15km, có ông cha theo đạo thờ ‘Cái Chúa’ giỏi lắm. Cứ mang con ra đó rửa tội, ‘Cái Chúa’ sẽ phù hộ, không để ‘ma’ bắt mất đâu. Nghe lời, người mẹ mang bé Ký ra xin ‘ông cha’ rửa tội. Ong cha dậy bé Ký làm dấu thánh giá, đọc kinh lạy cha, cho bé Ký quyển sách kinh nhỏ rồi rửa tội cho bé.

ÔNG JEAN VANIER (1928-2019)
Sáng lập tổ chức Cầu Vồng (L’Arche) qua đời



Ông Jean Vanier, sáng lập ra 2 tổ chức “Cầu Vồng” (L'Arche, 1964) và ‘‘Niềm Tin và Ánh Sáng’’ (Foi et Lumière, 1971) nâng đỡ những người khuyết tật, qua đời tại bệnh viện Jeanne Garnier, Paris, đêm 6.5.2019, ung thư, hưởng thọ 90 tuổi. Người công giáo hãnh diện, ông như Mẹ Teresa Calcutta, Abbé Pierre và Sr Emmanuelle. Và giới truyền thông công giáo gọi ông Jean Vanier là ‘‘Vị Thánh Sống’’ phục vụ người khuyết tật, đã qua đời.

CON NGƯỜI CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Ông Jean Vanier sinh tại Genève, Thụy Sỹ, ngày10. 9. 1928. Thuộc gia đình ngoại giao, Canada. Là con trong gia đình 5 người, Cha mẹ là Georges Pauline Vanier. Lớn lên tại Pháp cho tới 1940, gia đình chạy qua Canada, vì Đức quốc xã. Mới 20 tuổi theo Hải quân Hoàng Gia Anh và học tại học viện Hải Quân Anh. Tốt nghiệp, phục vụ cho nghành Hải quân Anh lẫn Canada. Từ 1945, nghỉ phép cùng mẹ, Jean làm việc tại gare xe lửa Paris, giúp thương gia đình phế binh, ở tù ra. Ông mổ tả họ từ xe ra, như bộ xương cách trí, rách tả tơi, run run, còn sợ hãi và đầy lo lắng. Từ đây, ông có ý nghĩ bỏ Hải Quân, dành cho hòa bình (thư viết cho Maggie Fergusson báo The Economist). Năm 1950, ông từ nhiệm, tiếp tục học, lấy cử nhân, tại Paris. Tĩnh tâm, nhờ cha bạn, dòng Đa Minh, Thomas Philippe, linh hướng, ông bị gián đoạn học làm linh mục. Lỡ cơ hội làm linh mục, ông học thêm có tiến sỹ Triết của Instituit Catholique de Paris, 1962, với luận án : ‘‘Le gout du bonheur : au fondement de la route avec Socrate’’ (Ý niệm hạnh phúc của Aristote). Năm 1963, có thời gian ngụ trong ẩn tu Fatima, dạy học cho đại học St Michel ở Toronto, Canada. Cũng năm này, Noel, Jean Vanier đến thăm viện tâm thần do cha Thomas Philippe làm tuyên úy. Các em ở đây sống ngặt nghèo, coi như người khùng, bị khóa kín, chỉ ngủ trưa 2 tiếng. Từ đó, Jean Vanier có ý nghĩ lập ra các trung tâm nuôi trẻ khuyết tật.

Trái Tim Chết và Trái Tim Phục Sinh


Xin gởi tặng Père Phạm Minh Tâm đã đặt cho con một câu hỏi về sự chết để suy gẫm. Ðây là lần đầu tiên con mới được thật sự suy gẫm về sự chết.


Các em lớp 10 giáo lý phản ứng inh ỏi sau khi tôi tuyên bố chương trình mà mỗi em phải làm là “Make a Difference in One Person's Life” để làm ích lợi cho người, cho đời. Tôi chỉ là một cô giáo trẻ, ước mong muốn dạy các em yêu thương với con tim không những bằng lý thuyết nhưng bằng hành động. Trong năm học tôi sẽ dẫn các em đi thăm những người già yếu trong viện dưỡng lão, các em nhỏ bệnh tật trong nhà thương, phát cơm cho những người vô gia cư, v.v. Tuy các em phản ứng rất nhiều, tôi vẫn xếp đặt chương trình để tiến tới để cả lớp có thể thực hiện một tháng một lần.

Tôi dẫn các em đi thăm viện dưỡng lão một thứ Bảy kia. Cho tới khi lên xe bắt đầu đi, tôi vẫn phải nghe những tiếng phàn nàn của các em như “I don't want to go” (Cô, em không muốn đi) và “Do I have to go?” (Cô ơi, em có phải đi không?) Ðương nhiên câu trả lời của tôi là “phải” đi, nếu không sẽ được điểm “0”. Tôi biết rằng sự “bắt buộc” học sinh tôi yêu thương, cảm thông những người già yếu, tàn tật, là chuyện không hay, nhưng tôi phải đành chịu để các em có dịp chứng kiến những sự cô đơn và khốn khó của người khác. Và tôi hy vọng sau khi các em có dịp chứng kiến những cảnh các em chưa từng thấy sẽ làm các em mở rộng con tim.

Thú thật, tôi cũng chưa từng đến viện dưỡng lão bao giờ. Cùng với các em, đây là lần đầu tiên tôi đến để chứng kiến môi trường ra sao, cuộc sống những người già như thế nào. Tôi đã từng nghe người ta diễn tả sự đơn độc của những người già, nhưng lần này chính mắt tôi thấy được cuộc sống thực tế của họ.

Trước khi bước vô cánh cửa viện, tôi nhắc các em không được cười chế nhạo hay tỏ thái độ ghê tởm với người già. Có người hướng dẫn viên dẫn tôi và các em đi chung quanh để làm quen với các cụ già và với khung cảnh của nhà viện. Vừa bước đi theo người hướng dẫn, vừa quan sát những ông bà già ngồi trên xe lăn rải rác trong hành lang, tôi vừa ân hận mang đôi guốc thật cao làm cho hành lang trong khung mặt yên tịnh vang tiếng lạch cạch của tôi. Và tôi cảm thấy ngại ngùng và sai lầm khi nhận ra mình mặc quần áo quá sang trọng đối với môi trường này như không phải mình đến để giúp mà đến biểu diễn thời trang.

Có những cụ còn sức thì ngồi trên xe lăn ngồi ở ngoài hành lang, còn những cụ khác thì nằm ở trên giường. Có cụ thì không còn chân vì chắc bị tiểu đường nên bị bác sĩ cắt cụt. Khi tôi tới hỏi thăm một cụ bà, nụ cười tươi của bà làm cho tim tôi mềm ra. Tôi hỏi bà tên gì, nhưng lặp đi lặp lại bà cũng không hiểu tôi. Bà cứ ghé tai vào tôi như tỏ ra bà không nghe rõ, nhưng nói sao bà cũng không hiểu. Dù vậy, trên miệng bà có nụ cười thật vui, như bà rất vui mừng có người đến thăm. Tôi phải đi chỗ khác để làm quen với khu vực của nhà viện, nên bắt tay bà để chào ra đi. Bà gật đầu, cười, nhưng có vẻ không muốn cho tôi đi.

Tôi đi chung quanh. Tâm hồn thấy nặng trĩu vì chứng kiến những người già yếu gần sắp về trời. Tôi tự hỏi, “Một ngày kia tôi cũng sẽ giống như họ hay sao? Chẳng lẽ thân xác tôi đang còn đầy sức sống nhưng một ngày sẽ bị tàn héo?” Tôi cảm thấy cuộc sống sao phũ phàng. Về nhà tôi bắt đầu suy gẫm về sự chết.

Ai sẽ phải chết? Câu này quá dễ trả lời, vì dĩ nhiên ai cũng phải chết. Nhưng không ai tự nhiên thích đau khổ và muốn chết, nên luôn luôn trốn tránh khổ đau và cái chết của mình.

Trong cuốn sách Tuổi Trẻ & Ơn Gọi của Lm. JBM. Trần Anh Thư, có một bài nhạc viết lên câu truyện sau đây:

Một hôm kia tôi chạy trốn loài người.

Một hôm kia tôi chạy trốn nhọc lao.

Một hôm kia tôi chạy trốn khổ đau,

và một hôm kia, tôi chạy trốn Tình Yêu.

Và khi tôi đang chạy trốn

thì tôi gặp Ðức Kitô vác thánh giá đi ngược chiều.

Nên tôi dừng lại, tôi hỏi Ngài: “Lạy Thầy, Thầy đi đâu?”

Rồi Ngài nhìn tôi bằng tia nhìn trách móc, nhưng mến thương chan hòa:

“Ta đi tìm loài người, Ta đi vào cuộc đời,

vì mọi người để chịu chết một lần nữa, một lần nữa, con ơi!”

Tôi đang tìm cách để chạy trốn loài người, còn Chúa lại đi tìm. Tôi chạy trốn khổ đau, thánh giá và cái chết của tôi, nhưng Chúa lại đi vào cuộc đời để vác thánh giá và để chịu chết.

Con người sợ đau khổ vì đau khổ dằn vặt con người. Chết không sợ, nhưng sợ những đau khổ phải chịu dẫn đến cái chết. Chịu đau khổ là phải chịu chết; nghĩ đến chết là nghĩ đến đau khổ phải chịu. Chính vì vậy, nghĩ đến chết là sợ vì không ai muốn chịu đau khổ.

Khi Chúa Giêsu nghĩ đến cái chết của mình thì Ngài đổ mồ hôi máu vì sợ những thương khó Ngài phải chịu dẫn đến cái chết đau đớn của Ngài. Ngài cảm thấy “hãi hùng xao xuyến” và nói, “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mc 14:33-34). Ngài còn khẩn cầu Chúa Cha, “Xin cho con khỏi uống chén này” (Mc 14:36).

Nhưng nếu Chúa Giêsu chỉ nghĩ đến cái chết và những đau khổ Ngài phải chịu, thì chắc chắn Ngài sẽ không chịu chết.

Chúa Giêsu chịu chết vì Ngài biết Ngài sẽ phục sinh trong vinh quang. Chúa thấy cái chết của Chúa có giá trị. Chúa thấy máu của Chúa đổ ra cho loài người để họ được tha tội và để đem tất cả linh hồn sống lại với Ngài về với Chúa Cha. Chúa có con mắt bằng tim nhìn thấy được phục sinh sau những hy sinh, sau cây thánh giá, sau cái chết!

Vì vậy Ngài mới dám chịu chết.

Phục sinh là hy vọng của sự chết. Nếu con người thấy phục sinh thì sẽ dám chết, dám chịu đau khổ.

Chúa đã chết nhưng đã Phục Sinh! Thân Thể Chúa hoàn toàn sống lại. Ðây là tin mừng cho loài người và nhất là Tôi thấy rằng con người phải chịu khổ đau, phải chịu mục nát, chết đi, rồi mới có sống lại.

Thánh Phaolô nói rằng thân thể chúng ta như hạt giống, phải chết mới được sống, vì khi “gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ” và “gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí” (1 Cor 15:36, 42-44).

Ðầy hy vọng cho những khổ đau! Vì khi tập luyện con mắt của trái tim để nhìn thấy phục sinh và để thấy một thân thể sáng láng của chúng ta đời sau như Chúa đã thấy thì mọi đau khổ, mọi mục nát trong thân thể hiện tại cũng sẽ chịu được.

Chúa Giêsu cho chúng ta hy vọng của phục sinh và niềm tin có sự chết và sống lại vì chính Ngài chết đi và sống lại. Phải chịu chết mới có phục sinh. Nếu Chúa không chịu chết, thì Ngài cũng không sống lại, và loài người không có sức sống mới.

Nếu tôi biết tôi sẽ sống lại với Chúa đời sau, thì tôi còn sợ gì vác thánh giá đời này? Tôi còn sợ gì thân xác này mục nát trên thế gian này?

Thánh Phaolô nói rằng quê hương của chúng ta ở trên trời (Phil 3:20), có nghĩa là quốc tịch thật sự của chúng ta là Quốc Tịch Trời.

Tôi còn sợ chi những đau khổ trên thế gian? Tôi còn trốn tránh gì nếu biết rằng khi tôi chết đi tôi sẽ sống lại trong Thần Khí mới?

Khi thấy Phục Sinh, cuối cùng tôi trở thành nhân vật trong bài hát cũng can đảm chịu vác thánh giá, vác cái chết của tôi, và rồi hát lên:

Sau phút giây ngỡ ngàng, thấy tấm thân phũ phàng, tôi vội ôm mặt khóc, vì biết tôi lầm đàng. Sau khi nghe tiếng Ngài, tôi lắng nghe tiếng lòng, ôm chầm cây thập giá, xin chết thay cho Ngài! Ôi Giêsu, xin Ngài đừng chết hơn một lần!

Sông Thanh
http://vietcatholic.net/News/Html/17507.htm


[đang tiếp tục viết]

Tôi vẫn còn nhớ mãi cảm xúc về ngày lãnh chức linh mục 7 năm về trước tại quảng trường tòa giám mục Xã Đoài, cùng với 18 anh em chủng sinh khóa VI đại chủng viện Vinh Thanh.

Lúc đó vào khoảng 8:18 ngày 8/8/2006, qua lời nguyện phong chức của đức giám mục Phaolo Cao Đình Thuyên, chúng tôi trở thành thừa tác viên linh mục của Giáo hội.

Đây cũng là dịp tôi nhớ lại những điểm nổi bật trong hành trình ơn gọi của mình. Và tôi sẽ từ từ ghi lại như một hồi ký ơn gọi. Đây là một dự án dài và mất nhiều ngày tháng.

Tôi không có mọi thứ tôi mong ước trong đời, nhưng tôi được ban tặng đầy đủ những thứ tôi cần. Vì điều này, tôi sống trong tâm tình biết ơn Thiên Chúa.

Nhận dịp này, và cám ơn tất cả những ai, kể cả các facebooker, đã giúp đỡ và đồng hành với tôi trong ơn gọi linh mục cũng như cuộc lữ hành đức tin.

PHỤ NỮ Công Giáo VIỆT NAM Ở HỒNG KÔNG - CHUYỆN GIỜ MỚI KỂ


(Bài viết như một lời cảm ơn chân thành của chúng tôi gửi đến cộng đoàn các anh chị em Việt Nam tại Hồng Kông - Cộng đoàn Hy Vọng - cách riêng tất cả các chị em trong cộng đoàn) Tu sĩ John Baptist, SVD.




Thấm thoát cũng đã mười mấy năm sinh sống ở Hồng Kông. Kỷ niệm buồn vui đều có cả. Nhiều khi “tức cảnh” mà “sinh tình” cũng muốn viết mấy dòng cho ra vẻ trí thức, nhưng viết gì mới được chứ? Suy đi nghĩ lại, thôi thì viết về người phụ nữ Công Giáo Việt Nam ở Hồng Kông vậy. Ấy bậy, đi tu mà viết về người phụ nữ à! Không sợ lỗi “đức trong veo” à! Thì cứ viết đại, dẫu sao các chị em cũng là người nhà mình cả, nếu có lỡ lời còn mong được đại xá, viết về người Hồng Kông lỡ lời thì biết phải ăn nói sao với người ta. Nói viết về phụ nữ Công Giáo Việt Nam ở Hồng Kông, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi cũng có đá qua quý “phụ nam” đôi chút.

NGƯỜI TUYÊN ÚY THẦM LẶNG


Người đàn ông Mỹ với mái tóc trắng xoá và đôi mắt sáng quắc sau cặp kính trắng cứ chăm chú nhìn tôi như muốn dò hỏi một điều gì thầm kín. Tóc ông bạc nhưng không hói như bao nhiêu người Mỹ tôi thường gặp. Dáng vóc trông vừa mảnh khảnh lại vừa khác thường bởi bờ vai trái của ông xệ hẳn xuống như một kẻ tật nguyền. Ông ngồi đó, đối diện với tôi nơi bàn cơm tối trong một nhà ăn tu viện ở Washington. Qua ánh mắt, tôi dự đoán có lẽ trong thâm tâm ông đang thắc mắc: “Anh có phải là người Việt Nam không?" Hoặc là : "Anh đến đất Mỹ này lâu chưa? Tại sao anh lại ở nơi đây, nơi một cộng đoàn của người Mỹ?”

Thầm đoán vu vơ những câu hỏi đại khái như thế, rồi tôi cũng mạnh dạn nhìn thẳng vào ông như muốn phản ứng:

Không biết cái ông này đang thắc mắc gì vậy? Ông muốn hỏi thăm về quê hương tôi, hay ông đang muốn tâm sự một nỗi niềm trong chiến tranh Việt Nam mà ông đang ấp ủ trong lòng như bao cựu chiến binh khác.

Chú thích: (*) Tiêu đề do VTCG đặt

hình minh họa

Lão Thiện, cái tên mà em hay gọi anh, mỗi lần chúng ta gặp nhau.

Anh,

Bây giờ em biết anh rất đau đớn bởi căn bệnh quái ác đang gặp cạp thân thể anh...

Anh,

Ngày 5.3.2013, em nhận xứ, anh hiện diện với em. Em thì lo lắng.....trăm bề.....vì em mới là linh mục, nhận một xứ mà 70 năm không có linh mục sao không lo được. Nỗi lo hiện rõ trên khuôn mặt to đen của em......

Còn Anh thì khác - khuôn mặt chữ điền, thân hình anh cao to vạm vỡ; ai cũng nói anh như đang phát khởi của một người vừa có tâm, vừa có tầm. ...đúng như anh.


NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 11
HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC


21. GIÁP MẶT VỚI CÁI CHẾT...

Nói đến căn bệnh cuối 2004 mà ai cũng coi là “thập tử nhất sinh” của tôi, tôi thấy mình gần gũi với cái chết, với những người đã chết, đang chết và sẽ... cùng chết. Lần đầu tiên tôi xin được chịu Phép Bí Tích Bệnh Nhân, Phép Xức Dầu Thánh.

Tôi nhớ lại vì đã được nghe kể lại về những dịp tôi có thể chết và coi như đã chết, nếu không có sự Quan Phòng của Chúa muốn tôi còn phải sống. Những “dịp chết” của tôi kể cũng khá nhiều.

Tôi được nghe kể về lúc tôi sinh ra. Tôi đã không mấy bình thường, vì tôi không biết... khóc.


NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 9
HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC


16. NHỮNG NỖ LỰC TRUYỀN THÔNG

Tôi tự tha cho mình nhiệm vụ phải lập cho được nhóm Tông Đồ Truyền Thông, nhưng tôi vẫn tìm cách sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để hoạt động đem Niềm Vui Vĩ Đại đến những chỗ nào còn đến được.

Tôi luôn khuyến khích anh Đa Minh Đinh Thiện Bản, ca trưởng ca đoàn Tinh Thần, người vẫn tiếp tục làm nhiều việc cho Thánh Nhạc, cách riêng trong việc thu thanh, phát hành các cuốn băng Thánh Ca được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc và ngay cả nước ngoài. Linh Mục Nguyễn Văn Tự, tức nhạc sĩ Vương Diệu, cha xứ Nam Hà thuộc Giáo Phận Xuân Lộc, nhạc sĩ Thiên Ân, Vũ Huyến... luôn được tôi ca tụng và khuyến khích trong nỗ lực sáng tác và thu băng Thánh Ca.


NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 7
HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC


NHỚ NGÀY “INTROIBO”


Ghi lại dư âm buổi Thánh Lễ Mở Tay tại Dòng Mến Thánh Giá Tân Thanh, Bảo Lộc ngày 9.9.1956.

Vừa bước ra khỏi Nhà Nguyện, tay còn thấm ướt Dầu Thánh, tôi còn ngơ ngác nhìn bà con quen biết, trí óc hướng về cha mẹ già, thầm gởi đến hai đấng phép lành đầu tiên với lòng biết ơn yêu mến sâu xa vì đã dạy tôi yêu Chúa thương người, đã thúc đẩy tôi trên đường Linh Mục, thì cha Eugène Larouche, vị giám đốc và linh hướng thương yêu của tôi từ lúc tập tễnh bước vào Đệ Tử Viện, đến ghé tai tôi: “Con lên phòng cha đã”.

Tôi theo cha. Tôi không biết ngài muốn gì, nhưng vì đã kính trọng và yêu mến ngài sẵn, nên tôi không cần thắc mắc. Về đến phòng của ngài, ngài nói: “Roch nhỏ bé nay đã làm Linh Mục. Bây giờ con ban phép lành đầu tiên cho cha”. Nói xong ngài quỳ xuống, cúi đầu.


NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 5
HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC


13. NHỮNG NGƯỜI PHONG CÙI

Suốt hơn 20 năm qua, tôi dành nhiều thời giờ để thăm viếng các anh chị em bệnh nhân phong cùi. Tôi cảm thấy gần gũi họ kể từ những ngày còn ở Học Viện, khi các Bề Trên hằng năm cho chúng tôi được đến làng phong Di Linh. Thời gian đó, chúng tôi đến với những bệnh nhân với hai bàn tay trắng, vì không ai nghĩ rằng họ cần đến những món quà để đỡ đói. Chúng tôi đến để cùng dâng lễ với họ, thăm hỏi và gần gũi.

Chúng tôi chứng kiến được sự hiện diện của vị Thừa Sai mà chúng tôi coi như một “thần tượng”: Jean Cassaigne. Chúng tôi được chứng kiến vị Giám Mục về hưu, với bệnh phong cùi trên thân xác, kiệt sức trên chiếc giường sắt đơn sơ. Chúng tôi cảm phục các Nữ Tu Dòng Vinh Sơn Phao-lô lúc nào cũng tươi cười, mau mắn và nhân hậu bên cạnh những người phong cùi lúc ấy còn chịu cảnh lở lói hôi tanh. Hình ảnh của một Nữ Tu người Pháp có tên Gilberte vừa trẻ vừa đẹp lúc nào cũng hết lòng và tháo vát giúp đỡ các người bệnh ( Ảnh trại phong Di Linh và Nữ Tu Mai Thị Mậu ).

Ngày nay sự hiện diện của các Nữ Tu Thánh Vinh Sơn vẫn còn và chị Joséphine Mai Thị Mậu lúc nào cũng hết lòng với người bệnh, kéo sự chú ý của nhiều người và của chính quyền đã hai lần tặng huy chương cho chị và chị thường được nêu danh và hình ảnh trên các báo. Các chị cũng chỉ biết làm chứng tá cho Tình Thương bắt nguồn từ Thiên Chúa.
Được tạo bởi Blogger.