TRỌN ĐỜI DÂNG HIẾN

hình minh họa

Sau cơm tối, cha Giám đốc đại chủng viện đi dạo với thầy nghĩa tử Lê Đình Huy. Thầy mới nhận cha được mấy tháng nay, sau khi nghĩa phụ cũ qua đời. Thầy đang theo học lớp Thần 4, đại chủng viện Thánh Giuse Saigon, còn vài năm nữa sẽ chịu chức linh mục. Vì vậy, nghĩa phụ hay gặp nghĩa tử để thắt chặt tình cha con và chuẩn bị cho biến cố trọng đại ấy.

_ Cha con mình cùng quê Đà Lạt. Nhà cha ở đường Hà Huy Giáp. Còn con ở khu nào?
_ Dạ, nhà con gần Thung Lũng Tình Yêu.

_ Gia đình con có mấy anh chị em?
_ Thưa cha, con là con một ạ.

_ Trời đất, con một mà dám đi tu. Không sợ mất giống à? Sao ông bà cố lười đẻ thế?
_ Con được 7 tháng tuổi thì ba mất do tai nạn giao thông. Mẹ ở vậy nuôi con.

_ Cha xin lỗi.Tội nghiệp quá! Ba con cũng là người Đà Lạt chứ?
_ Dạ không. Quê nội con ở Bảo Lộc. Sau khi ba mất, mẹ bế con về Đà Lạt, ở gần nhà ông bà ngoại.

_ Mẹ làm nghề gì?
_ Mẹ con chuyên trồng hoa.

_ Con xin đi tu, mẹ có buồn không? Nội ngoại phản ứng thế nào?
_ Thưa cha, con còn nhớ sáng hôm ấy đi lễ về, con thưa với mẹ:
“Mẹ ơi, mẹ cho con đi tu nhé. Con ước ao làm linh mục từ lâu rồi. Nhưng nếu mẹ gật đầu thì con mới đi”. Mẹ con chết lặng hồi lâu. Đôi mắt buồn nhìn vào cõi xa xăm. Hai hàng nước mắt ứa ra. Ngày hôm sau, mẹ bảo: “Con cho mẹ một tháng suy nghĩ và cầu nguyện”. Từ hôm đó, mẹ ít nói và gầy hẳn đi. Một tháng sau, mẹ trả lời:
_ “Đúng ra, mẹ có quyền trả lời “không”, vì con là lẽ sống duy nhất của mẹ. Nhưng con cái là hồng ân Chúa ban. Chúa ban con cho mẹ, nay Chúa gọi con theo Ngài, mẹ không được từ chối. Mẹ phải học gương Tổ Phụ Abraham, hiến tế đứa con một của mình cho Thiên Chúa. Mẹ phải học gương Mẹ Maria , sẵn sàng thưa “xin vâng” trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Thời con gái, mẹ đã một lần xin vâng. Hồi ba mất đi, mẹ cũng xin vâng. Nếu Chúa muốn con theo Ngài, mẹ cũng cúi đầu xin vâng”. Năm sau, con vào chủng viện, cả nội lẫn ngoại đều phản đối kịch liệt, nhất là bên nội, vì con là cháu đích tôn.

ĐIỆN


Trong giờ Siêu Hình Học tại trường Chu Văn An Sài-gòn, giáo sư là một Linh Mục đang chứng minh về sự hiện hữu của Thượng Đế. Ông đưa ra những hài hòa trong vũ trụ để đưa đến kết luận là phải có một bàn tay điều khiển sự hài hòa đó. Bàn tay đó là Thượng Đế. Một anh học sinh phát biểu là anh chỉ tin vào những gì anh nhìn thấy, không thấy thì không hiện diện. Vị linh mục chỉ vào chiếc bóng đèn đang sáng trên trần nhà, hỏi lại: “Anh biết là điện làm sáng bóng đèn này nhưng anh có trông thấy điện không?”


Chẳng ai thấy điện cả nhưng điện vẫn giật. Một bà bị điện giật chết, cảnh sát tới làm biên bản. Họ hỏi ông chồng:

“Ông nói là nghe tiếng bà nhà hét lên, tại sao ông không chạy vào bếp để cứu?”

Cố thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh: diễn viên tài hoa trên bục giảng…

Cô Lucia Nguyễn Thị Oanh, cánh chim đầu đàn của ngành Công tác xã hội và phát triển cộng đồng tại VN

Chào các bạn,


Bài này do anh Trần Bá Thiện viết. Anh Thiện là một trong những người đã ủng hộ và quảng bá Đọt Chuối Non rất mạnh, ngay từ ngày đầu. Anh Thiện và mình biết nhau đã lâu qua diễn đàn VNBIZ. Báo Tuổi Trẻ nói về anh Thiện: “Hiệp sĩ công nghệ thông tin 2004, một người khiếm thị có nhiều hoạt động trong phong trào khuyết tật 15 năm qua.” Anh Thiện là một trong những người chúng ta nên noi gương tích cực.

Bài này cũng có trên Tuổi Trẻ. Tuy nhiên, bạn đọc Tuổi Trẻ không được đọc nguyên bài như chúng ta ở đây. Cám ơn anh Thiện rất nhiều nhé. (TDH)

.


FB Nguyễn Hưng - Giáo dân ở giáo xứ Hoà Khánh (trước 1975 là giáo xứ Phước Thành)-TP Đà Nẵng-bây giờ, nhiều khi chỉ biết, cố linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn, là người đã xây dựng ngôi nhà thờ hiện tại năm 1974, và không chỉ lúc đó, mà cho đến tận bây giờ, vẫn được xem là ngôi nhà thờ Công giáo có kiến trúc hiện đại vào hàng bậc nhất khu vực miền trung. Còn giáo dân đã từng ở giáo xứ này trước 1975, giờ tứ tán khắp nơi, nhiều khi, chỉ nhớ đến ông là linh mục quản xứ từ 1964 đến 1975, có diện mạo khôi ngô với đôi mắt sáng trưng và nghiêm khắc...

Triển khai dự án làm sách nhà thờ Công giáo, tôi không chỉ chụp hình nhà thờ, mà còn phải đào sâu tìm hiểu lịch sử của từng giáo xứ. Khi đào sâu tìm hiểu lịch sử của từng giáo xứ, tôi đã phải tìm đọc nhiều loại tài liệu và ghi chép đủ thứ chuyện kể khác nhau. Trong đó, có tài liệu và chuyện kể về công đức-đóng góp cho cả đạo lẫn đời-của rất nhiều Mục Tử ở từng giáo xứ. Có rất nhiều Mục Tử, khi tìm hiểu sâu vào, tôi đã phải thực sự khâm phục.

- Tên thật: Giacôbê Đỗ Minh Lý.
- Bút danh: Bách Huyền, Hồng Nhiệm, Lệ Hồng
- Sinh ngày: 23-12-1923 – Tại giáo xứ Bách Tính, giáo phận Bùi Chu (Nam Định).
- Qua đời: 03-5-2003.

- Thụ phong linh mục: 27-12-1947 – Tổng Thư Ký Ủy Ban Giám mục Truyền Bá Phúc âm và Ủy Ban Giám mục Tông đồ Giáo Dân

- Tác phẩm thi ca: Hương Ca Mùa Hoa (1965) – Dâng Hoa Trong Vườn Thánh Kinh (1965) – Diệu Huyền Ca (dịch thơ, 1967) – Giáo Lý Thơ (cảm hứng Thánh Kinh, 1974) – Thơ Têrêsa (1967, Bản thảo) – Hiến Chương Nước Trời (1983- Bản thảo) – Tuồng Thương Khó Đức Mẹ (Kịch thơ): Công diễn tại rạp Norodom ngày 22-8-1954.



NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT

HOÀNG XUÂN VIỆT

     Chính bút hiệu Bách Huyền của Cha nói lên chí hướng trước tác và sự nghiệp của Cha. Bách Huyền, Cha quan niệm là trăm nghìn thứ mầu nhiệm mà Cha lấy làm chủ đề để nghiên cứu, phiên dịch và sáng tác. Cha lại được Chúa thương riêng là ban cho trong đời linh mục, trên đường thực thi thánh nghiệp Mục tử, được quá nhiều may mắn. Với hai chức vụ quan trọng: Giám Đốc Hiệp Hội Thánh Mẫu Việt Nam và Tổng Thư Kí Ủy Ban Truyền Bá Phúc Âm thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam, Cha có biết bao nhiêu là cơ hội, là tư liệu để cầm bút qua sách báo.

     Rồi sau 1975, cùng với các tư liệu ấy, trong cầu nguyện, trong suy tư trầm lắng, Cha tiếp tục viết cho đến tác phẩm sau cùng (?) là cuốn “Khoa Mục vụ”.Cái gọi là “Nhập thế cục bất khả vô văn tự” của Cha, nếu căn cứ vào danh sách tác phẩm liệt kê ở mấy trang sau trong sách này, thì quả thực Cha đã xây cho mình một Kim Tự Tháp sự nghiệp Thần học đâu có nhỏ phải không Cha? Con thiển nghĩ là Cha – ngoài ra cả một đời hoạt động mục vụ với tư cách Mục tử thừa tác viên, Cha còn theo lối mòn của những bậc tiền bối trong Giáo hội Việt Nam là thông đạt Lời Chúa bằng ngòi bút.

      Cha tự định vị cho mình vào những chỗ đứng của những Đờ Rốt, Văn Tín, Ben Tô Thiện, Philipphê Bỉnh, Trần Lục, Phaolô Qui, Hồ Ngọc Cẩn, Cadière, Thanh Lãng, và vân vân. Thực ra thì sự nghiệp thần học của Cha, sau này ai thừa kế phần nào di sản vật chất của Cha, nên có ý thức tập hợp hết các tác phẩm của Cha để làm thành một “Bách Huyền Toàn Tập”. Ở đây, con chỉ căn cứ vào một số tác phẩm chính yếu của Cha, một số tư liệu, hình ảnh căn bản về Cha để dựng nên cuốn “Tổng hợp sự nghiệp thần học” này thôi. Đối với chư vị độc giả kính mến, thì dĩ nhiên đây quả thực là “Thuật nhi bất tác” nói theo ngôn ngữ của Khổng Tử.

     Nội dung gốc của sách này là máu óc, máu tim của Cha chìm đắm trong Tin Cậy Mến Thầy Chí Thánh, cùng lửa thiêng nhiệt thành truyền giáo – mục vụ được diễn đạt ra bằng văn chương – văn nghệ đủ loại: Thi ca, văn xuôi, thánh nhạc. Phần con chỉ là sưu khảo, hệ thống hóa theo quan điểm thần học, rồi trình bày thôi. Thiếu sót, sai lầm thì chắc có nhiều, mà còn lắm chỗ vụng về nữa. Thực là không quen cầm bút (lẫn cầm kéo – cầm dao với hũ hồ) theo lối để đạt chỉ tiêu cho kịp thời gian kỷ lục thế này chút nào cả. Lắm lúc khi ngồi làm việc đơn độc một mình một bóng như một con chim cú về đêm ở bàn viết, con nghĩ đến Cha đang yếu liệt mà cũng tự nghĩ không biết mình làm việc hì hục quên ăn quên ngủ kiểu này, có thể mình “qui tiên” trước Cha nữa không chừng.

     Nhưng mà cứ cầu nguyện, cứ phó thác cho Chúa, cứ nỗ lực và cậy trông trong tin mừng, phải không Cha. Bởi vì nói theo Bernanos thì “Tout est Grâce”. Phần Cha với con thì hiệp thông và cộng lực trong Chúa Giêsu và Đức Trinh Nữ Maria như vậy. Còn mọi thiếu sót, sai lầm thì xin chư vị độc giả rộng tình bổ sung, tha thứ cho. Bởi vì trước sau, Cha với con cũng tự nói như Montaigne rằng: “Đây là thành quả do Thiện chí”.

TUYỂN THƠ

HẠT GIỐNG TIN MỪNG RƠI VÀO ĐÂU?

Có người mang giống đi gieo:
Hạt thì rơi xuống dọc theo vệ đường
Chim trời đáp xuống ăn luôn.
Hạt rơi đất sỏi sinh tồn không lâu
Mọc lên nắng đốt chết mau,
Hạt thì văng vãi rơi vào bụi gai
Gai chen không thể sống dai.
Hạt gieo vào đất bừa cày hẳn hoi
Sẽ sinh bông mẩy tốt tươi,
Một trăm, sáu chục, ba mươi đẩy đà.


MAGNIFICAT

Linh hồn tôi chúc tụng ca ngợi Chúa,
Và trí tôi mừng rỡ trong Chúa Cứu Tinh,
Bởi vì Ngài đã rộng lượng thương tình
Nhìn thân phận thấp hèn tỳ nữ Chúa:
Nên từ nay khắp cả và thiên hạ
Mừng khen tôi có phúc đến muôn đời,
Vì Đấng làm những cao cả nơi tôi
Ngài quyền năng và danh Ngài là thánh.
Ngàn thế hệ và muôn năm vạn tháng
Ngài vẫn thương những kẻ kính sợ ngài.
Ngài ra oai vung thần lực cánh tay
Đập tan tành lũ kiêu căng lòng trí.
Hạ ngai vàng kẻ bạo quyền thống trị
Và tôn vinh người bé mọn khiêm nhu.
Người nghèo khó Ngài ban của đầy dư
Người giầu sang Ngài đuổi về tay trắng.
Ngài nhớ lại lòng khoan dung độ lượng
Hằng độ trì Ích-Dân tớ trung kiên,
Như ngày xưa Ngài hứa với tổ tiên
Áp-Ham và dòng dõi, ông muôn kiếp”.

(còn tiếp)

Trích tuyển tập Có Một Vườn Thơ Đạo, lm Trăng Thập Tự chủ biên, tr 1450 - 153, tập II


- Tên thật: Philíphê Võ Dư
- Bút danh khác: Hoa Sơn, Tùng Sơn, U Mộng
- Sinh ngày 30-01-1930  tại Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam – thuộc giáo xứ Trà Kiệu, giáo phận Đà Nẵng – Cựu chủng sinh chủng viện Làng Sông, Qui Nhơn (1942-1952).
-  Qua đời ngày 28-12-2009.

    Đã cộng tác với các báo Phổ Thông, Trách Nhiệm, Văn Hoá nguyệt san, Văn Đàn, Đức Mẹ La Vang, Lành Mạnh…

    Tác phẩm: Trầm ca (1992), Tiếng chuông chiều (1994); Đặng thị Thanh Đài (1998), Hoa vườn thiêng.


HÁT LÊN

Hát lên cho hiểu tấm lòng nhau,
Hát giọng du dương khúc nhiệm mầu .
Hát với cá chim trời bốn biển,
Hát cùng rừng núi đất năm châu .
Hát say mây gió ru hồn mộng,
Hát dậy hương trầm ngút bóng câu .
Hát trọn tâm hồn cung ấm áp,
Hát hoà vũ trụ ý thâm sâu.

Huế, 1962

                      U MỘNG VŨ HUYỀN DƯ


TUYỂN THƠ

HOA ÁNH SÁNG

Hoa lạ nở hồn con bừng chỗi dậy
Mắt long lanh chấp chới ánh hào quang
Dang đôi tay thu ánh sáng huy hoàng
Dâng lên Mẹ muôn cành hoa chói sáng.

Con ngây ngất giữa muôn màu xán lạn
Ngát hương say lên thấu tỏa cung trăng
Nhạc vui ca phả lướt cánh chim bằng
Đơm nhựa sống hồn con lên chới với.

Nhạc trầm bổng muôn giàn hoa đưa lối
Mắt huyền mơ còn thẹn sắc ban mai
Dâng cao dâng ngút ngút chốn Cung đài
Cành hoa trắng bay ngàn hoa thế kỷ.

Con vui sướng giữa muôn lòng hoan hỉ
Rượu hoàng hoa còn nức bóng trăng thu
Ánh hoa đăng phong tỏa áng sương mù
In lấp lánh vòm trời xanh biêng biếc.

Maria! Muôn trùng khơi cách biệt
Đóa hoa lòng con gởi đến dâng hương
Như giai nhân thẹn nép bức rèm tường
Để phảng phất hồn say mê lộng lẫy.

Tình đắm đuối hương lòng thơm chỗi dậy
Chắp tơ trăng bằng tiếng hát cung đàn
Gió Tháng Mười tung vãi lộc vinh quang
Hoa Ánh Sáng mãi lòng muôn thuở.

(còn tiếp)

Trích trong tuyển tập thơ Có Một Vườn Thơ Đạo, lm Trăng Thập Tự chủ biên, tập II, tr 238


- Tên thật: Gioakim Lương Văn Chiu, sau đổi tên là Lương Hoàng Kim 
- Bút hiệu: Hoàng Kim
- Sinh ngày: 12-09-1927
- Quê quán: Họ lẻ Thịnh Cuông, giáo xứ Đồng Quan, xã Vũ An, Kiến Xương, Thái Bình.
- Thụ phong linh mục tại nhà thờ chính tòa Thái Bình năm 1953 – 1953-1962: Du học tại Ý và Pháp về Thánh nhạc và Phụng vụ.


HOÀNG KIM VỚI CÁC BÀI DỊCH THÁNH THI TRONG SÁCH CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ 

Linh mục Anrê ĐỖ XUÂN QUẾ

     Linh mục Hoàng Kim là nhạc sĩ hơn là thi sĩ. Người ta biết và nhắc đến HK qua các bài ca nổi tiếng trong tập Thánh Vịnh Huyền Ca và đĩa nhạc CD Họp Mừng Vượt Qua, hơn là những gì khác. Mãi sau này, nhạc sĩ HK mới được biết đến như một thi sĩ, khi dịch Thánh vịnh và Thánh thi trong sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ, từ năm 1971-1985 (năm tác giả qua đời vì bệnh ung thư ở tuổi 55).

      Nói là được biết đến, nhưng chỉ trong Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ thôi, vì trước đó HK không làm thơ mà chỉ viết và phổ biến nhạc.HK không để lại bài thơ nào ngoài các bài thơ dịch Thánh thi trong sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Mà như thế là vì nhu cầu cấp bách.

     Hồi ấy Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ đã dịch xong các Thánh Vịnh, nhưng Thánh thi thì chưa, trừ một số ít của Xuân Ly Băng trong tập một sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ xuất bản vào mùa hè 1972. Phần còn lại, Nhóm giao cho HK. Trong mấy tháng trời liền, HK giam mình trong một căn phòng nhỏ ở tu viện Mai Khôi số 44 Tú Xương. Không gian cư ngụ của nhạc sĩ kiêm thêm thi sĩ bấy giờ là căn phòng mới nói, với khu vực hành lang kế cận, bên cạnh một đống các tập thơ tiền chiến của thi sĩ lừng danh như Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Nguyễn Bính, Tản Đà, Nguyễn Nhược Pháp, Ngân Giang, Tương Phố,v.v… Có lẽ đến lúc này HK mới bắt đầu làm thơ, qua dịch Thánh thi từ tiếng Latinh sang, sau khi đọc rất nhiều thơ của các tác giả nói trên.

      Điều gây ngạc nhiên là trước kia HK không làm thơ mà bây giờ lại làm thơ được như thế. Nhiều người khi nghe nói hầu hết các bài Thánh thi trong sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ là do HK dịch, đều lấy làm lạ, vì trước kia họ không nghe nói về bài thơ và chưa được đọc bài thơ nào của HK.

     Vậy, bởi đâu mà có hiện tượng này? Thiết tưởng đây là một điều lạ do Chúa ban cho HK, vào một thời điểm cần thiết để đáp ứng cho một nhu cầu rõ rệt. có thể nói HK được Chúa linh ứng (ở mức độ thấp hơn), như xưa Người đã linh hứng cho thánh Giê-rô-ni-mô dịch sách Kinh thánh từ tiếng Hi Lạp sang tiếng Latinh. Dưới đây tôi sẽ giới thiệu 10 bài thơ dịch tiêu biểu của HK. Những bài thơ này được coi là đẹp về văn từ hay về âm điệu (xem phần Trích tuyển).

     Ngày nay, mỗi lần đọc sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ, tôi lại nhớ đến HK và thầm cảm ơn Chúa đã ban cho HK tài ba để dịch được các Thánh thi như thế.

TUYỂN THƠ

THÁNH THI KINH SÁNG MÙA VỌNG

Đã vang rền một thanh âm trong trẻo
Trách ta làm điều ám muội tối đen:
Hãy tan đi, ngàn mơ mộng hão huyền,
Từ trời thẳm, Đức Kitô ngự tới.

Đừng mê ngủ, đứng lên hồn ta hỡi,
Dẫu thấy mình còn hôi hám bùn nhơ,
Vì hào quang chói lọi của Kim Ô
Làm tiêu tán hết những gì nguy hại.

Chiên Thiên Chúa đã từ nơi thượng giới
Xuống cõi trần đền tội vạ chúng ta.
Nào cùng nhau chạy đến lượng hải hà,
Xin thứ tha bằng lời kinh thấm lệ.

Để mai ngày Chúa tái lâm cõi thế,
Cả địa cầu run rẩy trước Thiên Nhan,
Ta chẳng lo án phạt tội muôn vàn,
Vì Thẩm Phán đã dủ tình bênh đỡ.

Lời hoan chúc, xin quì dâng Thánh Phụ,
Khúc khải hoàn, mừng Thánh Tử hiển vinh,
Tiếng ngợi khen, xin thượng tiến Thánh Linh,
Từ muôn thuở, đến muôn đời muôn kiếp.

(còn tiếp)

Trích trong tuyển tập Có Một Vườn Thơ Đạo, lm Trăng Thập Tự chủ biên, tập II, tr 196 -199


- Tên thật: Giuse Hoàng Sĩ Quy 
- Bút danh: JMH 
- Sinh năm 1926, tại Phú Nhai, Hà Nam Ninh, thuộc giáo phận Bùi Chu
- Tốt nghiệp đại học Gregoriana (1962-1966) và Sorbonne (1966-1968) – Trước năm 1975 giảng dạy triết học tại Đại-học Đà Lạt và Sài Gòn, chủ biên tạp chí Phương Đông; 
- Đã xuất bản: Con đường đức ái, Khói sương muôn dặm (thơ), Tính dục nhìn theo Phương Đông (1975), Thần học thiêng liêng (1995), Tín lý tinh yếu (1996), Le moi qui me dépasse….



TUYỂN THƠ

PHÚT TÔN CHIÊM

Trước ảnh Mẹ, bởi men kinh soi lối
Hồn bay lên từng sợi khói êm êm
Để cung chiêm trong cõi thọ triều duyên
Ngàn thu ấy một vầng trăng sáng sủa.

Nhìn lên Mẹ là người trơ ra đó
Gối từ từ.. tay kính cẩn giao lên
Vì đây kia một ánh sáng thôi miên
Tỏa hơi ấm từ đôi con mắt Mẹ!

Dưới vầng trán rạng ngời siêu nhiên ý
Làn nhãn quang dào tới mịn như nhung
Mà trong kia một làn nước thung dung
Chảy êm ái vào sao trong hốc núi.

Tia mắt ấy từ ngàn sâu dội tới
Từ thẳm cung là lửa của con tim
Mà vòng gai ghép chặp mức điêu linh
Và lưỡi kiếm nín dần bao sức sống.

Con yêu Mẹ, mối tình con diêu khốc
Khát vô cùng trong giới hạn quan năng
Để nén yêu… nên một tiếng… đau thương
Thành hơi khói… mất tăm trong mắt Mẹ!

Con yêu Mẹ, lấy tình yêu Thượng Đế
Đắp vần lên một đỉnh núi Toàn- thiêu
Để hương bay trên gió thổi đìu hiu
Thành huyết lệ sa êm mười phương khổ!!!!

(còn tiếp)

Trích tuyển tập thơ Có Một Vườn Thơ Đạo, lm Trăng Thập Tự chủ biên, tập II, tr 182-183

- Tên thật: Maria Công Tằng Tôn Nữ Tiếu Xuân
- Bút danh: Đông Khê
- Sinh ngày: 19/12/1928 - tại Huế
- Lãnh bí tích Thánh Tẩy ngày: 15/08/1964 tại Sài Gòn



GẶP THẦY QUA KHỔ ĐAU


      Tôi biết nói gì đây? Rõ ràng như một với một là hai, không có Chúa, làm sao tôi sống nổi đời mình? Làm sao tôi đi được con đường dài mấy chục năm trời đằng đẵng một mình nuôi ba con dại? Ai? Bàn tay nào đưa dẫn, ủi an, vỗ về, che chở, săn sóc, lo toan?

     Thiên nan, vạn nan, cuộc sống đường trường hiu quạnh. Tôi đã vượt qua, không phải một mình. Chúa bước cùng tôi, từng bước, trên mỗi dặm đường.

    Những ngày tôi yếu mệt, thì, thầm lặng đỡ nâng, Chúa là cái gối bông cho tôi dựa đầu.

    Làm sao tôi mô tả? Có khi Chúa, không hơn không kém, chỉ là một khoảng không cho tôi nhìn ngắm, đôi mắt tôi nghỉ ngơi. Có những ngày khói lửa chiến tranh, tôi đem con theo tôi vào Bệnh Viện, nơi tôi làm việc. Lấy một phòng trực cho con ở, tôi tiếp tục công việc của mình. Lên lầu xuống lầu, tôi miệt mài với bổn phận. Tôi biết Chúa đang săn sóc các cháu thay tôi nơi phòng trực lầu trên.
Ngày con gái chết, tan tành nhuệ khí, tôi rên rỉ: “Cha ơi, Cha ơi!”. Tay chân rã rời, tự sức mình tôi không thể nào đứng dậy. Chúa vực tôi trên tay Ngài, như người thầy thuốc cứu bệnh nhân.

     Nhẹ như tơ trời, mênh mông như sương khói, Chúa bao phủ đời tôi. Có những người thân ở tỉnh khác, nước khác, bạn không thấy mặt, mà bạn biết chắc họ thương bạn, phải không? Cũng đơn giản vậy thôi, tôi biết chắc Chúa thương yêu tôi. Không phải bàng bạc, không phải mơ hồ. Rõ ràng, và nồng ấm. Chính điều này là cái thang đưa tôi lên, đến gần Ngài.

    Sức mạnh từ Ngài lan toả tâm hồn tôi, giúp tôi sống.

    Cứu tôi rồi, Chúa còn muốn tôi mang Tình Yêu của Ngài đến những người khác. Ngài gởi tôi đi làm Thiện Nguyện. Từ ngày hưu trí, tôi say sưa bước vào đời sống mới. Lớp học Trợ Tá Mục Vụ rất xa, tôi không có cách nào đến được. Tôi đi Taxi, suốt năm học. Bà Giáo Sư người Mỹ trợn mắt ngạc nhiên.

     Quả thật, Chúa đền bù nhiều cách: một lần, trong khi làm thiện nguyện ở Bệnh Viện, tôi thấy nơi cửa phòng một bệnh nhân Công Giáo có dấu hiệu đặc biệt: đây là dấu hiệu riêng của Bệnh Viện cho biết người bệnh nầy mắc bệnh truyền nhiễm nặng. Tôi ghé mắt nhìn trộm qua khe cửa thấy người bệnh đang cơn hấp hối: thở dưỡng khí, mồm há hốc, da mặt tím xanh …

     Tôi đến gặp Y Tá Trưởng Phòng. Thấy tôi tha thiết muốn vào thăm bệnh nhân, cô can ngăn: “Không nên vào, ông ta ho lao nặng và sắp chết. Cha Dave đã cho ông lãnh Bí Tích sau cùng từ tối hôm qua”. Trong tôi, có một sức hối thúc phải vào. Cô Y Tá đưa cho tôi những thứ cần thiết phải dùng khi tiếp xúc bệnh nhân lây. Tôi vừa mặc áo choàng, vừa xin Chúa “Chúa ơi, con cũng sợ lây lắm. Xin Chúa giữ gìn con”.

     Tôi cúi sát mặt người bệnh hỏi ông muốn Rước Mình Thánh Chúa không? Ông thu hết tàn lực la to: “Muốn”.

     Ra cửa, tôi gặp bà mẹ bước vào. Nhìn bình Mình Thánh trên tay tôi, bà ôm tôi hôn lấy hôn để. Bà nói: “Con tôi nói nó ao ước Rước Của Ăn Đàng, nhưng nó sợ không ai mang đến cho, vì bệnh nó lây".

     Hôm ấy, khi về đến nhà, công việc đầu tiên của tôi, là điện thoại vào Bệnh Viện. Đầu dây, cô y tá nói: “Ông ta vừa qua đời”. Rưng rưng nước mắt, tôi thì thầm lời cám ơn Cha tôi trên trời.

    Những công việc Thiện Nguyện giúp tôi nhiều hơn tôi giúp họ. Ở Bệnh Viện, tôi học bài học: con người bất lực, đời sống ngắn ngủi, phù du. Không bon chen, tranh cãi làm gì. Ai cũng sẽ một ngày nằm xuống, trở thành cát bụi. Hành trang mang theo về với Chúa chỉ là Tình Yêu … Đi thăm tù nhân ở khám đường, tôi thấy họ đáng thương hơn đáng giận. Họ nói về Chúa chân thành và tha thiết. Khi không còn nơi nương tựa, họ bám vào Chúa rất chặt. Tôi hiểu vì sao Chúa khuyên từ bỏ mọi sự. Sinh hoạt với các nữ tu Dòng Nữ Tử Bác Ái giúp người nghèo, kẻ cô thế lỡ đường, tôi học những bài học vô giá: Lòng Từ Tâm, Khiêm Nhu và Phó Thác …

     Tôi chưa đạt được như tôi ao ước, nhưng lòng tôi vui, với Tình Yêu Thiên Chúa trong Tim, với những bước chân vịn vào Ngài.

ĐÔNG KHÊ

TUYỂN THƠ

ĐẠO VÀ THƠ

(Isaia 54:4)
Chúa vốn là Người Tình
Sách vốn là người Bạn
Thơ: chốn tâm giao.

Đạo là nhà, xin cho con ở trọ
để đời đời con có chỗ dung thân
Đạo là lò, xin đúc con hèn mọn
lọc gang, đồng, sắt, thép, với thủy ngân
Xin dâng hết, tất cả là của Chúa,
chỉ cho con vỏn vẹn một tình thân
để trao gởi bốn phương trời nhân loại ...

Sách là Suối
xin cho con uống mãi
khát khao hoài mặc khải Phúc Âm.

Thơ là tiếng lòng con xúc cảm
là tơ vàng lãng đãng buồng tim,
là người bạn thiết im lìm
chung hưởng ngọt bùi
chia xẻ buồn vui,
Con mang Thơ vào Đạo

Con mang Đạo vào Thơ
Sống Đạo và làm Thơ
Đậm đà ấm áp ..
Con cảm tạ Cha
Con mang ơn Thầy

Mênh mông sông rộng
Thênh thang gió ngàn
Mây trời bàng bạc không gian
Bình an toả xuống hồn con tháng ngày ...

(còn tiếp)

Trích tuyển tập thơ Có Một Vườn Thơ Đạo, lm Trăng Thập Tự chủ biên, tập II, tr  206-210

- Tên thật: Võ Long Tê
- Bút danh: Võ Phương Tùng
- Sinh ngày 28-6-1927 tại Phú Vang (Thừa Thiên). Qua đời ngày: 21-08-2017 – Nghiên cứu văn chương và lịch sử .



- Về các tác phẩm, Võ Long Tê đã viết nhiều sách biên khảo. Hai tác phẩm quan trọng viết bằng tiếng Việt: Lịch Sử Văn Học Công Giáo VN (1965), Dẫn Nhập Nghiên Cứu Tiếng Việt Và Chữ Quốc Ngữ (xuất bản tại Pháp 1997). Ngoài ra còn nhiều tác phẩm nghiên cứu khác viết bằng tiếng Pháp về Hàn Mạc Tử, về bài vãn kể truyện Thánh I-nê (Agnès), về nhà văn Công Giáo Pháp Paul Claudel, về núi Vọng Phu, về Hoàng Sa Trường Sa…Tác giả còn cho biết ông đã hoàn thành một công trình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử dài trên ngàn trang, đang chờ phương tiện để xuất bản.

-Về thơ, sáng tác của Võ Long Tê cũng rất phong phú: Ánh Sáng Trong Đêm (1966), Tiệc Cưới (1966), Khối Tình (1968), Symphonie orientale (1971), Version à l’Unité (1973), L’Univers sans barreaux (1992-1997).

TUYỂN THƠ

ÁNH SÁNG TRONG ĐÊM

MỞ HỘI TAO ĐÀN


Đi trên linh đạo
Nắng đẹp, trời trong, gió dịu hiền.
Hành trình thần bí hẹn bình yên.
Đi theo tiếng gọi tình muôn thưở,
Nẻo đạo hồn say mộng diệu huyền.

Lìa hẳn thế tình! Lìa bóng tối!
Đường về rực rỡ ánh siêu nhiên.
Giã từ trần luỵ! Dâng kinh nguyện,
Mến Chúa chung tình nghĩa kết liên.
Thiên triệu linh ân hòa điệu sống,
Hướng đời vinh hiển, Chúa dìu lên.
Chớ vui đời tạm! Lên đường nhé!
Sánh bước về trong cõi ước nguyền.

I
ĐÊM ÂM U


Quá khứ hãi hùng đen bóng tối,
Tương lai thăm thẳm lạnh sương mờ.
Vọng ánh trời xa
Tìm đẹp, tìm em ở chốn nào?
Nước trôi, gió thoảng, nói gì đâu!
Chiều mong, chiều đợi, em hờ hững,
Vọng ánh trời xa nét nhiệm mầu.
Quên lãng
Lá vàng tàn rụng,
Sầu đọng chiều tà.
Lá rơi vàng võ,
Tàn giấc mơ hoa.

Chiều buồn buông xuống,
Cảnh vật im hơi.
Ngày đi sầu lắng,
Cay đắng ly đời.

Ngày vui qua mất,
Nhớ chuyện đau lòng,
Nghĩ đời ảo mộng,
Lo đời hư không.

Lá rơi tan tác,
Hiu hắt hoàng hôn,
Buồn lan muôn nẻo,
Buồn ngập trong hồn.

Lá vàng tàn rụng,
Sầu đọng chiều tà.
Lá rơi quên lãng,
Mộng vàng phôi pha.
Thời gian
Kỷ niệm năm xưa đã lạt phai,
Thời gian dồn dập nỗi bi ai.
Tương lai mù mịt đời dâu bể,
Khổ hận, sầu tư nặng kiếp người.
Bóng chập chờn
Gió lộng, mây trôi đến cõi nào?
Chập chờn mặt nước bóng mây xao.
Phai tàn theo nhịp đời di chuyển,
Bờ bến thời gian biết ở đâu.
Giọt sương mai
Hồng tươi cười nụ đón trời mai,
Một giọt sương trong chiếu sáng ngời.
Nồng đượm không gian hương ngát tỏa,
Gió lên! Tan vỡ giọt sương mai.

Thơ tặng người xa vắng
Chàng đi cứu nước, thiếp mong chàng.
Nỗi nhớ niềm mong nghĩa đá vàng.
Biết đẹp cùng ai khi lẻ bóng?
Hững hờ xuân sắc, phấn hương tàn.

Mộng Đào Nguyên
Hồ trong, chiều vắng, sóng bình yên.
Trời, nước, muôn sao, một lá thuyền.
Gió thoảng phiêu phiêu chèo nhẹ mái,
Tình mơ êm ái mộng Đào nguyên.

(còn tiếp)

trích trong tuyển tập thơ CÓ MỘT VƯỜN THƠ ĐẠO, tập II, tr 186-190

- Tên thật: Phêrô Nguyễn Hoàng Diệp
- Sinh ngày 30-11-1924 tại làng Vinh Hoà, xã Vinh Hiền, Thừa Thiên.
- Từ năm 1949 đến năm 1955: học tại Học Viện DCCT Hà Nội và DCCT Đà Lạt. Cũng từ đây ngài bắt đầu sáng tác những bài thánh ca đầu tiên, như bài “Kìa Bà Nào” mà mọi người tín hữu ai cũng biết.
- Thụ phong linh mục ngày 19-09-1954.
- Qua đời ngày 23 tháng 12 năm 2008, thọ 84 tuổi.


SỐNG HẠNH PHÚC

 Suốt 59 năm sống trong DCCT, Cha luôn cố gắng sống đời tu sĩ theo chí hướng thánh Anphong, nỗ lực thi hành sứ vụ linh mục trong lòng yêu mến và phục vụ Hội Thánh. Cha đã có rất nhiều đóng góp vào trong công việc tông đồ của Tỉnh Dòng, đặc biệt bằng con đường sáng tác nghệ thuật phục vụ cho mọi lớp người mà DCCT đang và sẽ phục vụ. Cha đã chia sẻ những cảm nghĩ của mình như sau: “Đời tu sĩ của tôi không có gì đặc sắc, song tôi rất hạnh phúc trong Dòng: hạnh phúc nhất là được dâng cuộc đời để giảng rao và làm vinh danh Chúa Cứu Thế và Mẹ Lành, theo gương Thánh Anphong”. Cha đã sống những ngày hạnh phúc trong tình yêu của Chúa.

TUYỂN THƠ

MẸ TRÔNG CHỜ

Biết bao giờ thuyền tôi cập bến!
Biết bao giờ mới đến Thiên Cung!
Cùng con luôn mãi ở cùng,
Cùng con Mẹ hết nhớ nhung thế này.
Giêsu hỡi! Có hay đường vắng?
Bởi trông chờ mà nặng cánh bay.
Phần Con muôn thuở một ngày,
Nhưng riêng phần Mẹ, một ngày thiên thu.
Cõi trần lụy sương mù còn đó,
Với đoàn con dạy dỗ, ủi an.
Chu toàn nhiệm vụ phú ban,
Mẹ chờ giây phút hỷ hoan về Trời.
Các thuyền đã ra khơi đánh cá,
Báo tin về phép lạ nơi nơi.
Mẹ trông phép lạ cuối đời:
Thình lình được thấy cửa Trời mở toang.
Càng cầu nguyện hồn càng nóng nảy,
Càng rước Con càng thấy khát khao.
Càng xem trời rộng núi cao,
Càng như lửa cháy nôn nao bồi hồi.
Nhà Thiên Quốc xa xôi vời vợi,
Con không về Mẹ tới làm sao?
Nhớ con, nhớ quá hồi nào,
Ba ngày tìm kiếm như dao cắt lòng.
Con sống lại lưỡi đòng tuy gãy,
Nhưng tình yêu lại xóay tâm hồn.
Kho tàng của Mẹ là con,
Nên xa mẹ quá bồn chồn nhớ nhung.
Mong giây phút hiệp cùng Con mãi.
Tiếng Thiên đàng êm ái làm sao!
Chúa ôi! Trời bể ngọt ngào,
Giêsu mau kéo Mẹ vào với Con!

CHÚA HIỂN DUNG

         (Trường ca)
Từ nơi thung lũng âm u,
Ba người đi lên theo Chúa,
Bước chân còn bỡ ngỡ
Trong đêm tối mịt mù.
Càng theo Chúa lên cao,
Tâm lý nhẹ dường bao.
Trăng vàng lên cung kính,
Hơi gió thổi xôn xao.
Kìa chóp núi cao, đoàn người đã tới.
Anh trăng hiền hòa giọi đá nhấp nhô,
Từ Thiên cung, ánh sáng mơ hồ,
Như cánh Thần Linh bay phấp phới.
Chúa Giêsu nhìn quanh thế giới,
Toàn đêm đen bóng tối lạnh lùng.
Một mình, một khối lửa nung,
Người mong lửa ấy cháy cùng nơi nơi,
Dang tay quỳ xuống dâng lời
Nguyện cầu thắm thiết, nhìn trời cao xa.
Một mình dâng hiến Chúa Cha,
Tình yêu cứu thế chan hòa núi non.
Lòng Cha hiểu thấu lòng Con,
Ôi tình Con đó sắt son ngát ngào.
Ôi kìa, từ cõi trăng sao,
Một luồng ánh sáng chiếu vào Chúa tôi.
Tỏa lan chiếm trọn núi đồi.
Môn đồ tỉnh giấc, bồi hồi sửng ngây.
Làm sao Chúa đẹp thế này?
Ao Người như tuyết, mặt đầy Thần uy.
Môsê cùng với Êli,
Hiện ra bên Chúa tiên tri ngỏ lời.
Đẹp thay là Con Chúa Trời,
Hào quang từ nguồn Anh Sáng.
Nay trên trần gian tỏ rạng,
Ô, trong duyên Thánh tuyệt vời.
Kìa xem, có sáng mây ngời,
Dần dần đến phủ chóp đồi nguy nga,
Và nghe có tiếng truyền ra:
“Đây là chính thật con Ta yêu vì.
Miệng Người có phán điều chi,
Phô người hãy nhớ khắc ghi cõi lòng”.
Nghe lời như sấm oai phong,
Môn đồ rạp xuống, hãi hùng lặng thinh.
Hồi lâu nghe tiếng thân tình,
Ba người ngồi dậy, thấy mình Chúa thôi.
Và khi im lặng xống đồi.
Ba người diễm phúc, bồi hồi như mơ.
Mùa xuân lạ chứa đầy thơ.
Ngập tràn sông núi như chưa bao giờ…

TIẾN LÊN TRONG NƯỚC TRỜI

                 (Ba nét chính)
Chúa đến trần gian tặng Nước Trời,
Trong Ngài nước ấy thuộc về tôi.
Nhờ bởi Tin yêu mà đón nhận,
Tình cha lớn mãi giữa lòng người.
Nước Trời dành cho những trẻ thơ,
Lòng càng khiêm tốn, dạ đơn sơ
Càng đáng Cha thương cùng mạc khải
Về Con yêu dấu, đáng tôn thờ.
Người ta hạnh phúc bởi tình yêu.
Mến Chúa yêu nhau: hạnh phúc nhiều.
Càng mến bao nhiêu càng nên thánh,
Bởi càng nên giống Chúa Tình Yêu.

(Trích trong tuyển tập Có Một Vườn Thơ Đạo, lm Trăng Thập Tự chủ biên, tập II trang 156-160)

TIỂU SỬ


Lê Hữu Mục sinh ngày 24 tháng 11 năm 1925 tại làng Lưu Phương, thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Thân sinh là nhà nho, ông là người thứ bẩy trong tất cả 11 anh em với tám trai và ba gái.

Học Vấn

Tiến Sĩ, Văn Chương Việt Nam, Đại Học Sài Gòn, 1970.
Cao Học, Văn Chương Việt Nam, Đại Học Đà Lạt, 1960.
Cử Nhân, Văn Chương Pháp, Đại Học Hà Nội, 1950.

Âm Nhạc

Chèo Đi, Bơi Đi (nhạc và lời, 1938)
Hẹn Một Ngày Về (nhạc và lời, 1953)


NGUYỄN XUÂN VĂN
Tên thật: Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn, sinh năm 1922, tại Mỹ Đức, Ân Tín, Hoài Ân, Bình Định, giáo phận Qui Nhơn. Được rửa tội từ nhỏ. Tu học tại Tiểu chủng viện Làng Sông (1936-1943) và Đại chủng viện Qui Nhơn (từ 1943). Thụ phong linh mục ngày 25-1-1956. Phục vụ tại các giáo xứ Trúc Hà (1956), Đà Nẵng (1957), chủng viện Làng Sông Qui Nhơn (1958-1962), chánh xứ Phú Hương (1962-1964), Hòa Khánh (1965-1975), Mằng Lăng (1975-1986) và Tuy Hòa (từ 1986).
Qua đời ngày 10-01-2002.
Trường thi “Sứ điệp tình thương” là tập diễn ca toàn bộ Tin mừng, dài 9764 câu lục bát, được viết trong thời gian 10 năm ở Mằng Lăng.


PHÊRÔ LONG GIANG TỬ
Tên thật: Phêrô Nguyễn Văn Hai, bút hiệu Long Giang Tử – sinh năm: 1920 – Dạy học và dạy đàn violon.
Tác phẩm:
Phúc âm diễn ca: Đời sống ẩn dật và công khai của Chúa Cứu Thế (8.088 câu) – Tâm niệm (490 câu) – Trần tình (110 câu) – Những trang sử đẫm mồ hôi của họ đạo Chợ Lớn Việt Nam (1972)
CẦU NGUYỆN
Cầu nguyện là nói chuyện với Chúa đã cần, đọc Phúc Âm là nghe Chúa nói lại cần hơn chừng nào! Vì lý do đó, ta phải đọc Phúc Âm. Nhưng đọc thì hay quên và không thấm thía bằng ngâm nga. Muốn ngâm nga phải thơ là một nghệ thuật vô bờ bến làm cho đến độ tuyệt vời!
Lời Chúa là những hoàn ngọc thiên thu trọn hảo mà muốn xếp lại cho thành thơ là vạn nan vậy.
Thôi thì cố gắng mà làm để cho mình và những ai cùng chung lý tưởng.
Lời Chúa nguồn thương tực suối mơ,
Quanh co uốn lượn tự bao giờ…
Hồn con, nai khát bên khe thác,
Tươi mát mong chờ giọt ý thơ.

Tặng Phương Hương
Phút linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen.
Khói trầm bén giấc mơ tiên
Bâng khuâng trăng rải qua miền quạnh hiu.
Tô Châu lớp lớp phù kiều
Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam.
Rạc rời vó ngựa qua quan
Cờ treo ý cũ, mây dàn mộng xưa.
Biển chiều vang tiếng nhân ngư
Non xanh thao thiết, trời thu rượi sầu.

Tình vạn dặm, tên người yêu chắc đẹp
Người và tôi xa quá đỗi – muôn trùng
Tôi với người chưa một giấc mơ chung
Đời viễn xứ nên tình không thấu hết.
Hoài mộng cho tin, nghi ngờ để biết
Hỡi người duyên, người xa cách muôn trùng
Đến bao giờ nằm ngủ giấc mơ chung
Cho thơ sáng tỏa quanh hồn thắm thiết.
Hỡi người đẹp chưa bao giờ quen biết

Nhà em ở cách hai sông
Muốn qua bên ấy phải vòng phía non.
Lúc xanh sóng lúa reo cồn
Cây xanh dẫn lối, lối mòn cỏ tươi.
Chân đi, mắt ngoảnh trông trời
Khẩn thầm: Thượng Đế phù tôi kịp đò.
Cho tôi mang tấm tình thơ
Gửi người xa mấy lần đò ngóng trông.
Sông xuân hẹn chở hết lòng
Đò xuân đem hết chờ mong tới bờ.

MẸ ĐẸP VÔ NGẦN
Con nhớ một lần đứng ngắm trăng
Giữa vườn hoa đẹp, rộng thênh thang
Bỗng đâu con nhớ lời thơ nọ
Diễn tả dung nhan của Mẹ rằng:
“Mẹ đẹp vô ngần Mẹ trắng phau
Gấp nhìn hoa huệ, vạn bồ câu
Và nhan sắc Mẹ không là gấm
Nhưng dệt bằng hương rất nhiệm mầu…”
Không biết lời thơ đó của ai
Trích ở bài thơ viết ngắn dài
Học từ tấm bé nay không nhớ
Phải phục nhà thơ có biệt tài.
Chắc Mẹ đang còn giữ bài thơ
Mẹ ráng tìm xem giọt lệ mờ
Của nhà thi sĩ rơi trong đó
Mẹ nói con hay khỏi đợi chờ.
Thi sĩ khóc vì Mẹ tuyệt xinh
Hương hoa sắc gấm đẹp huyền linh
Nhưng lòng thi sĩ đâu được vậy
Thầm ước mơ trong tủi phận mình.
Con cũng khóc thầm số phận con
Dại dột con làm Mẹ héo hon
Bao nhiêu năm tháng đời tục lụy
Mẹ gắng giúp dùm giải phóng con.
Bể khổ trần ai lắm khóc than
Phiêu lưu trăng gió ngập tan hoang
Mong sao sống trọn đời cát bụi
Để được Mẹ ban phúc vẻ vang.
Cầu Mẹ thân thương Mẹ cảm thông
Cuộc đời bảy khổ chín long đong
Mẹ coi thi sĩ là con nhé
Phúc Mẹ lan tràn đổ xuống con.
Được vậy con mừng quá Mẹ ôi
Con thấy xa xa triệu triệu người
Cũng đang cầu Mẹ thương như vậy
Hỏa ngục chơi vơi khỏi bị rơi.
Năm thánh Mẹ này Mẹ thấy không
Con vui chi lạ lạ vô cùng
Bốn trăm băm bốn ngày dâng Mẹ
Triệu triệu lần con hát kinh mừng.
Mẹ đẹp vô ngần Mẹ trắng phau
Đầy dư phúc lộc ngự trời cao
Mẹ đang chiêm ngưỡng dung nhan Chúa
Xin Mẹ nguyện cầu con gắng theo.
Thi sĩ cùng con dâng Mẹ đây
Mấy lời xướng họa cả thơ này
Làm như của lễ mừng năm Mẹ
Chắc Mẹ vui lòng chấp nhận ngay.
HIU QUẠNH
Thuở nhỏ tôi run lúc đổ chiều
Gió về trút lá, trải cô liêu
Đường xa thấp thoáng hàng sương trắng
Gối lẽ, giường đơn lạnh rất nhiều.
Đèn chụp chao xanh, dọi chữ vàng
Tay lùa tóc biếc, mắt theo trang
Tôi mơ khi học bài luân lý
Cửa hé nhà ai sáng dịu dàng.
Chữ nở ra hoa, sách có người
Tay nâng nâng sách ép lên môi
Rùng mình khi thấy hồn thay khác
Ngay cả giang sơn, đắm cả trời.
Đó tuổi thanh xuân ngóng bạn về
Đường đời giục giã bước chân đi
Nghìn đôi mắt đẹp, nghìn mắt lạ
Tôi chép song song đậm nét chì.
Trốn tránh đìu hiu kiếm lứa đôi
Quên thân đau khổ giữa vui đời
Khi đèn đỏ ngọn hồn kinh hoảng:
“Lạy Chúa nhân lành thương xót tôi!”
Núi dựng cô đơn, buồn xếp hàng
Ngõ chiều, mây trắng, phất phơ tang
Ái ân khôn lấp hồn sa mạc
Vĩnh viễn thê lương lạnh bóng tàn.
Chiều buốt linh hồn tôi đứng đây
Nguyện cầu Thánh giá chắp đôi tay
Rưng rưng mắt lệ nhìn xa thẳm
Mơ lửa trời thiêng cháy vạn ngày…
CHUYẾN TÀU ĐỜI
Nhiều lần tôi nghĩ bao la
Đời là quán khách, tôi là giấc mơ
Trao duyên rất đỗi tình cờ
Không mong ước hẹn, không ngờ gặp nhau
Tôi sinh cách mấy nghìn sau
Vẫn bền thiên luật: Lên tàu xuống ga
Đường lùi bóng núi sông qua
Nay đương nắng mới mai là cảnh mưa
Có tôi tàu vẫn đông thừa
Không tôi, chợ, phố phường chưa vãn người
Mất, còn có nghĩa gì tôi
Tôi là chút ít của đời chút không
Nẻo trần: Bụi cuốn mây dong
Mơ xây vĩnh viễn lồng trong má đào!
Đôi phen gió lạnh bay vào
Ngẩn ngơ:
Ta xuống ga nào hở em?
HỒN CHIỀU
Người con nhỏ mà hồn thê thiết
Lửa trần gian không nhóm nổi lòng yêu
Con vào đây! Đời lạnh biết bao nhiêu
Nắng đã rụng dưới chân ngày tang chế.
Cha đợi đón con từ bao thế hệ
Nhớ mong nhiều nên mắt đã hầu khô.
Áo chùng thâm buồn nổi giữa hư vô
Mơ ánh sáng cõi Muôn Trùng lạnh lẽo.
Cha biết lắm, lòng con nay đã héo
Bởi nhân tình không xứng ý con mong
Lấy cô đơn con đổi Mộng vô cùng
Dâng Cao Trọng con gặp toàn vị kỷ.
Chiều lạnh quá! Ngoài kia đời đã xế
Vào đây con, trong lửa ấm lòng Cha
Con nhớ nhung ánh sáng tiệc đời hoa
Đèn trăm nến, Thơ muôn màu đã tắt?
Ảo vọng hết! Lầu xây trên dãy cát
Con thấy không, muôn vật chỉ phù hư!
Và đau thương làm rộn đáy tâm tư
Ngỡ xây mạnh nhưng chỉ là gió thoảng!
Cả nhân thế trên đường về chuếnh choáng
Ngầu men say, nay ứ khí tham lam
Cha đứng đây buồn thấy ánh Vinh Quang
Không chiếu lọt qua bức màn tăm tối.
Tin tưởng lạnh! Lời thề xưa đã lỗi
Hồn kinh phai trên miệng thế từ lâu
Dưới chân Cha, không một kẻ nghiêng đầu
Và không cả một tấm lòng tưởng nhớ.
Máu rất trọng của linh hồn rất khó
Cuộc đày thân vinh hiển giữa trần gian
Đời quên Cha, tìm dõi ánh kiêu sang
Hoa nhân đức đã phai mờ hương sắc.
Cha nhóm lại, khi trời chiều lửa tắt
Tình thiêng liêng cao quý ở lòng con
Xuân muôn năm nơi vĩnh viễn linh hồn
Hương thanh khiết thơm tươi mùa trọng thể…
Đời lạnh quá! Ngoài kia chiều đã xế…
(Trích tuyển tập Có một vườn thơ đạo, tập 2, từ trang 68-72)

































































































































Được tạo bởi Blogger.