MẸ ĐẸP VÔ NGẦN
Con nhớ một lần đứng ngắm trăng
Giữa vườn hoa đẹp, rộng thênh thang
Bỗng đâu con nhớ lời thơ nọ
Diễn tả dung nhan của Mẹ rằng:
“Mẹ đẹp vô ngần Mẹ trắng phau
Gấp nhìn hoa huệ, vạn bồ câu
Và nhan sắc Mẹ không là gấm
Nhưng dệt bằng hương rất nhiệm mầu…”
Không biết lời thơ đó của ai
Trích ở bài thơ viết ngắn dài
Học từ tấm bé nay không nhớ
Phải phục nhà thơ có biệt tài.
Chắc Mẹ đang còn giữ bài thơ
Mẹ ráng tìm xem giọt lệ mờ
Của nhà thi sĩ rơi trong đó
Mẹ nói con hay khỏi đợi chờ.
Thi sĩ khóc vì Mẹ tuyệt xinh
Hương hoa sắc gấm đẹp huyền linh
Nhưng lòng thi sĩ đâu được vậy
Thầm ước mơ trong tủi phận mình.
Con cũng khóc thầm số phận con
Dại dột con làm Mẹ héo hon
Bao nhiêu năm tháng đời tục lụy
Mẹ gắng giúp dùm giải phóng con.
Bể khổ trần ai lắm khóc than
Phiêu lưu trăng gió ngập tan hoang
Mong sao sống trọn đời cát bụi
Để được Mẹ ban phúc vẻ vang.
Cầu Mẹ thân thương Mẹ cảm thông
Cuộc đời bảy khổ chín long đong
Mẹ coi thi sĩ là con nhé
Phúc Mẹ lan tràn đổ xuống con.
Được vậy con mừng quá Mẹ ôi
Con thấy xa xa triệu triệu người
Cũng đang cầu Mẹ thương như vậy
Hỏa ngục chơi vơi khỏi bị rơi.
Năm thánh Mẹ này Mẹ thấy không
Con vui chi lạ lạ vô cùng
Bốn trăm băm bốn ngày dâng Mẹ
Triệu triệu lần con hát kinh mừng.
Mẹ đẹp vô ngần Mẹ trắng phau
Đầy dư phúc lộc ngự trời cao
Mẹ đang chiêm ngưỡng dung nhan Chúa
Xin Mẹ nguyện cầu con gắng theo.
Thi sĩ cùng con dâng Mẹ đây
Mấy lời xướng họa cả thơ này
Làm như của lễ mừng năm Mẹ
Chắc Mẹ vui lòng chấp nhận ngay.
HIU QUẠNH
Thuở nhỏ tôi run lúc đổ chiều
Gió về trút lá, trải cô liêu
Đường xa thấp thoáng hàng sương trắng
Gối lẽ, giường đơn lạnh rất nhiều.
Đèn chụp chao xanh, dọi chữ vàng
Tay lùa tóc biếc, mắt theo trang
Tôi mơ khi học bài luân lý
Cửa hé nhà ai sáng dịu dàng.
Chữ nở ra hoa, sách có người
Tay nâng nâng sách ép lên môi
Rùng mình khi thấy hồn thay khác
Ngay cả giang sơn, đắm cả trời.
Đó tuổi thanh xuân ngóng bạn về
Đường đời giục giã bước chân đi
Nghìn đôi mắt đẹp, nghìn mắt lạ
Tôi chép song song đậm nét chì.
Trốn tránh đìu hiu kiếm lứa đôi
Quên thân đau khổ giữa vui đời
Khi đèn đỏ ngọn hồn kinh hoảng:
“Lạy Chúa nhân lành thương xót tôi!”
Núi dựng cô đơn, buồn xếp hàng
Ngõ chiều, mây trắng, phất phơ tang
Ái ân khôn lấp hồn sa mạc
Vĩnh viễn thê lương lạnh bóng tàn.
Chiều buốt linh hồn tôi đứng đây
Nguyện cầu Thánh giá chắp đôi tay
Rưng rưng mắt lệ nhìn xa thẳm
Mơ lửa trời thiêng cháy vạn ngày…
CHUYẾN TÀU ĐỜI
Nhiều lần tôi nghĩ bao la
Đời là quán khách, tôi là giấc mơ
Trao duyên rất đỗi tình cờ
Không mong ước hẹn, không ngờ gặp nhau
Tôi sinh cách mấy nghìn sau
Vẫn bền thiên luật: Lên tàu xuống ga
Đường lùi bóng núi sông qua
Nay đương nắng mới mai là cảnh mưa
Có tôi tàu vẫn đông thừa
Không tôi, chợ, phố phường chưa vãn người
Mất, còn có nghĩa gì tôi
Tôi là chút ít của đời chút không
Nẻo trần: Bụi cuốn mây dong
Mơ xây vĩnh viễn lồng trong má đào!
Đôi phen gió lạnh bay vào
Ngẩn ngơ:
Ta xuống ga nào hở em?
HỒN CHIỀU
Người con nhỏ mà hồn thê thiết
Lửa trần gian không nhóm nổi lòng yêu
Con vào đây! Đời lạnh biết bao nhiêu
Nắng đã rụng dưới chân ngày tang chế.
Cha đợi đón con từ bao thế hệ
Nhớ mong nhiều nên mắt đã hầu khô.
Áo chùng thâm buồn nổi giữa hư vô
Mơ ánh sáng cõi Muôn Trùng lạnh lẽo.
Cha biết lắm, lòng con nay đã héo
Bởi nhân tình không xứng ý con mong
Lấy cô đơn con đổi Mộng vô cùng
Dâng Cao Trọng con gặp toàn vị kỷ.
Chiều lạnh quá! Ngoài kia đời đã xế
Vào đây con, trong lửa ấm lòng Cha
Con nhớ nhung ánh sáng tiệc đời hoa
Đèn trăm nến, Thơ muôn màu đã tắt?
Ảo vọng hết! Lầu xây trên dãy cát
Con thấy không, muôn vật chỉ phù hư!
Và đau thương làm rộn đáy tâm tư
Ngỡ xây mạnh nhưng chỉ là gió thoảng!
Cả nhân thế trên đường về chuếnh choáng
Ngầu men say, nay ứ khí tham lam
Cha đứng đây buồn thấy ánh Vinh Quang
Không chiếu lọt qua bức màn tăm tối.
Tin tưởng lạnh! Lời thề xưa đã lỗi
Hồn kinh phai trên miệng thế từ lâu
Dưới chân Cha, không một kẻ nghiêng đầu
Và không cả một tấm lòng tưởng nhớ.
Máu rất trọng của linh hồn rất khó
Cuộc đày thân vinh hiển giữa trần gian
Đời quên Cha, tìm dõi ánh kiêu sang
Hoa nhân đức đã phai mờ hương sắc.
Cha nhóm lại, khi trời chiều lửa tắt
Tình thiêng liêng cao quý ở lòng con
Xuân muôn năm nơi vĩnh viễn linh hồn
Hương thanh khiết thơm tươi mùa trọng thể…
Đời lạnh quá! Ngoài kia chiều đã xế…
(Trích tuyển tập Có một vườn thơ đạo, tập 2, từ trang 68-72)



































































































































Những ai từng quan tâm tới văn học Công Giáo Việt Nam không thể không biết đến Võ Long Tê, một cây viết đa tài, vừa làm thơ bằng tiếng Pháp, vừa viết biên khảo về ngôn ngữ, văn học bằng tiếng Việt. Ông đã ra đi vĩnh viễn tại Calgary, Canada ngày 21-8-2017, thọ 90 tuổi.

Võ Long Tê sinh ngày 28-6-1927 tại Huế, bị đi tù từ sau ngày 30-4-1975 đến 1980. Sau đó, ông bà được xuất ngoại do sự can thiệp của Hiệp Hội Nhà Văn Pháp Ngữ mà ông là hội viên. Ông đến sinh sống đoàn tụ với các con tại Calgary, Canada năm 1991.

Trước 1975, ông là hội viên của nhiều tổ chức tôn giáo và văn hóa Việt Nam và quốc tế: Phong Trào Trí Thức Công Giáo VN (Pax Romana), Trung Tâm Văn Bút, Hội Nghiên Cứu Đông Dương, Trung Tâm Văn Hóa Arthur Rimbaud ở Charteville-Mézières (Pháp), Hiệp Hội Nhà Văn Pháp Ngữ (Paris)…


Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang – Sinh ngày 8-1-1932 tại xứ Lại Yên, huyện Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội.
Thụ phong linh mục: 18-4-1958.
Thụ phong Giám mục: 22-4-1981 với khẩu hiệu: “Chân Lý Trong Tình Thương”; giám mục phụ tá Tổng giáo phận Hà Nội.
Ngày 3-12-1990: Giám mục chính tòa giáo phận Thái Bình. 
qua đời: 05.10.2017
Thọ 86 tuổi, với 59 năm linh mục, 36 năm Giám mục.

Tác phẩm: Hành Hương Và Thăm Viếng (2003), Đời Dâng Hiến (Thơ, 2006), Đối Thoại Tôn Giáo (2008), Những Câu Chuyện Tôn Giáo Và Khoa Học (2008), Suy Và Gẫm (2009), Hành Trình Nước Ngoài (2009), Giũ Bụi Trần Ai (2010), Giáo huấn mục vụ (nhiều tập), Hồi ký của một giám mục cao tuổi (2012, 10 tập) 




Trong niềm tin vào Chúa Kitô tử nạn và Phục Sinh, chúng con xin thành kính phân ưu cùng đại gia đình giáo phận Vinh và xin anh chị em cùng hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn nhà thơ Linh mục Phanxicô Xaviê Võ Thanh Tâm,
nhà thơ nổi tiếng với thi phẩm Hạnh Phúc Người Công Giáo,
Nguyên tổng đại diện giáo phận Vinh.

- Sinh năm 1932 tại Giáo xứ Thọ Ninh, huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh.
- Thụ phong linh mục năm 1963 - Quản xứ, quản Hạt nhiều nơi - Tiến sĩ giáo luật Đại hoc Urbano Roma. - Giáo sư Đại chủng viện Vinh - Thanh. - Tổng đại diện GP Vinh 2007 - 2010.
- Đột ngột từ trần tại nhà hưu dưỡng Tòa Giám mục GP Vinh và hồi 23h ngày 17/8/2017.
Sau đây, xin mời bạn đọc cùng ôn lại tâm tình của người quá cố qua thi phẩm bất hủ nói trên cùng một vài bài thơ khác của tác giả.


Thành kính phân ưu

BBT

HẠNH PHÚC NGƯỜI CÔNG GIÁO


Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Tiếng chuông lành đã ru ấm hồn tôi,
Như ngày xưa khi mới bước vào đời
Cánh tay mẹ ấp yêu từng giây phút.
Khi thù ghét bốc lên cao ngùn ngụt,
Chung quanh tôi thì ý đẹp yêu thương.
Tỏa mùi thơm như vạn đoá hoa hường
Và mát mẻ như trời sương mùa hạ.
Lòng mến Chúa làm tan đi tất cả,      
Những đau thương, tê tái, những bất công
Những cuồng say, mê đắm những cơn giông
Đang gầm thét trên biển trần điên đảo.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Gặp tử sinh tôi hiểu rõ vì đâu,
Nhìn trời xanh lồng lộng ở trên đầu,
Tôi biết có một bàn tay điều khiển.
Nhìn nắng sớm mây chiều biến hiện,
Đàn cò bay ngoài mặt biển bao la,
Cánh đồng quê tươi tốt điểm ngàn hoa,
Dòng suối lượn như lụa trời mới dệt.
Tôi biết có một tấm lòng tha thiết
Yêu loài người muôn thuở muôn nơi,
Ở đâu xa không có ánh mặt trời
Vẫn có cả Tấm Lòng kia tuyệt hảo.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Đưa cuộc đời ra khỏi chốn bùn nhơ.
Tâm hồn tôi là một chiếc bàn thờ
Nơi Chúa ngự giữa loài người con cái.
Những khi lòng cực khổ xót xa, quằn quại,
Nước mắt sầu tuôn xuống tựa mưa rơi,
Tôi vẫn nhìn thấy một nụ cười tươi
Một khoé mắt nâng đời tôi đứng dậy
Dắt tôi bước tới miền quê xa ấy
Là Thiên đàng ai cũng ước cũng mong.
Dù bàn chân rách nát, máu đỏ ròng
Tôi vẫn thấy êm như người đi dạo.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Sống trong tàu Giáo hội giữa đêm sâu.
Khắp mười phương đâu cũng có bạn bầu,
Đâu cũng có bóng thánh đường quen thuộc.
Có lễ sáng, chầu chiều, tháng hoa, cuộc rước,
Có Đức tin ngời chói ngọc kim cương,
Có bí tích Thánh Thể, suối tình hương.
Có bản nhạc Te Deum hùng dũng.
Có những khuôn mặt thoạt nhìn đã nghe ấm cúng,
Luồn qua da, qua thịt thấu tim gan.
Có những người tu sĩ quý hơn vàng
Hy sinh cả cuộc đời vì nghĩa lớn.
Có những tâm hồn không vương tí bợn,
Thơm nhân đức và sáng đẹp hơn trăng.
Có những khối óc không mấy kẻ sánh bằng
Tìm đến Chúa sau những ngày giông bão.
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Thả hồn bay theo tiếng hát lời kinh.
Nhớ những mùa thu đất nước thanh bình,
Người lớp lớp đi lễ mừng Các Thánh.
Hay sột soạt giữa đêm đông sương lạnh,
Những áo quần hớn hở đón Noel,
Những bà già mang tràng chuỗi nhánh đen
Cười nhoẻn miệng như những cô gái.
Lá cờ vàng trắng, đưa tay yêu vẫy mãi,
Trên cột cờ ngút gió cạnh lầu chuông,
Những chiếc băng duyên dáng vắt qua đường,
Những bái hạ nến hoa lừng trước ngõ.
Mùi hương trầm bay phảng phất theo gió.
Tiếng pháo rền theo nhịp trống chiêng đưa
Điều kinh cầu một bên xướng, bên thưa
Như ràng rịt những hồn người tham dự.
Giọng học bổn bay khắp làng khắp xứ.
Khi Mùa Chay về ấm nắng tình thương,
Trên lưng trâu cúi liếm cỏ bên đường,
Vẫn nghe đọc năm sự mừng kính Mẹ.
Trong xà lim vẫn có người se sẽ
Hát Salve cho vơi bớt đắng cay.
Cô hàng rau khiêng gánh cải chất đầy,
Nơi cổ áo thánh giá vàng lấp lánh.
Trên vầng trán sáng tươi và đạo hạnh
Một dấu gì của Chúa đã in sâu.
Hai bà lương giữa chợ bảo thầm nhau:
"Cô nói thật bởi vì cô có đạo! "
Tôi sung sướng được làm người Công giáo
Thả hồn thơ bay quá cõi trăng sao,
Vì bạn ơi, trong say mến dạt dào,
Tôi hôn Chúa, Chúa hôn tôi nhiều bữa.
Vì ngòi bút mực nước mắt đã ứa,
Viết yêu thương bên cạnh tiếng đau thương.
Vì chân đi trăm nẻo bước trăm đường,
Mà không thấy đường nào bằng đường ta bạn ạ!
Ôi Công giáo, Vaticăng, La mã!
Những danh từ quý đẹp biết bao nhiêu.
Tôi muốn biên lên mặt giấy rất nhiều,
Và nhai nuốt cho hoà vào máu thịt.

VIẾNG BIỂN HỒ GALILÊA                             

Tôi đến thăm hồ một buổi mai
Xao xác heo may gió thở dài
Một làn sương khói là trên nước
Như gợi nhắc mình nhớ tới ai.
Thuyền vượt ra khơi, ngoảnh nhìn sau
Phố phường nhà cửa trắng phau phau
Vài cây dừa nước thân vươn thẳng
Lá biếc ban mai trông đậm màu.
Bốn phía vây quanh những mái đồi
Xóm làng thưa thớt điểm đôi nơi
Nước trong xanh đẹp, êm không sóng
Vài chiếc du thuyền nhẹ lướt trôi.
Này hỡi hồ ơi! có nhớ xưa
Bão to gầm thét giữa cơn mưa
Chúa giơ tay phán, trời im gió
Mặt nước xôn xao bỗng lặng tờ.
Và đã có lần Chúa bước đi
Trên mặt hồ đây chẳng can gì
Đến thuyền môn đệ đêm khuya vắng
Họ tưởng là ma cứ xầm xì.
Cũng quanh hồ này Chúa tới lui
Cuộc đời truyền giáo khổ mà vui
Ngư dân Chúa gọi làm muôn đệ
Cương quyết xông pha, chí chẳng lùi.
Hai ngàn năm cũ dẫu trôi qua
Dấu vết nơi đây chẳng xoá nhoà
Kìa núi Bát phúc, vùng Tạpgá *
Với căn nhà nhỏ của Kêpha...
Hôm nay tôi đến từ xa xứ
Viếng Biển Hồ xưa niệm Chúa Trời:
"Cho con bền vững niềm tin giữ
Yêu Chúa Huyền Siêu cả cuộc đời ".
* Nơi Chúa làm phép lạ cho bánh hoá nhiều .

MẸ VÔ NHIỄM

Đất bùn nở đoá hoa sen
Đẹp như nắng sớm mới lên ven đồi,
Mẹ sinh ra giữa loài người
Tội nguyên vô nhiễm muôn đời hát ca,
Chúng con nặng nợ Evà
Mở mắt nhìn thế lệ nhoà mi thơ
Đau thương sóng dập muôn bờ
Thuyền manh bạt gió trông chờ Mẹ yêu
Nhìn về luyến tiếc bao nhiêu
Xưa kia tội tổ làm tiêu "địa đàng"
Nhưng nay Bắc Đẩu dịu dàng
Giữa trùng dương tối soi ngàn ủi yên.
Quê con cũng có một miền
Nhiều phen từng được mẹ hiền viếng thăm,
Mẹ gieo ánh ngọc trăng rằm
Phá tan giai đoạn tối tăm hãi hùng[1]
LA VANG thánh địa miền rừng
Đến nay còn cả một vùng linh thiêng
Mẹ ơi! Mẹ quá dịu hiền
Con nhìn mắt Mẹ triền miên thương đời
Trái tim vô nhiễm rạng ngời
Suối trong diễm lệ muôn đời hát khen.
                                   ·
Đất bùn nở đoá hoa sen
Đẹp như nắng sớm mới lên ven đồi.

NGHĨ VỀ NĂM THÁNG             

Mùa xuân đến tôi nghĩ về năm tháng
Của đời tôi như nước chảy dưới cầu
Chảy sáng chiều ra lòng biển rộng sâu
Chảy ngày đêm, không bao giờ dừng lại.
Mới xuân nào tôi hãy còn mê mải
Chơi quên ăn với chiếc pháo đì đùng
Mẹ vỗ về cho một lát bánh chưng
Tôi nhai vội rồi chạy đi tìm bạn.
Thời gian trôi, tôi lớn cùng năm tháng
Chiếc thuyền đời chở đến những bờ xa
Tôi vui mừng, say đón tiếng chim ca
Đón ánh sáng và muôn hoa tuyệt diệu.
Nhưng đường đời gian truân đâu có thiếu
Những ngày đông ảm đạm rét và mưa
Ngọn cuồng phong ào ạt đến giữa trưa
Trời quang đãng bỗng dưng tối sầm lại.
Nay xuân đến, tôi nhìn lùi xa ngái
Bao năm qua, bao nhiêu quãng đời tôi
Rộn tiếng cười và nước mắt đầy vơi
Tôi đã sống nhờ hồng ân của Chúa...
Hôm nay ngài ban thêm năm mới nữa
Ôi, thời gian như máu Chúa[2], quý thay!
Tôi vội quỳ và chấp cả đôi tay
Xin cảm tạ tình thương Ngài vô lượng.


(trích trong Bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, tập II, do Lm trăng Thập Tự chủ biên, tr. 251-257)


[1] Giai đoạn Cảnh Thịnh cấm đạo.
[2] . Một nhà thần học Âu châu đã nói: "thời gian quý như Máu Chúa" vì thời gian cần phải có để việc cứu rỗi của Chúa được thực hiện. Thánh Bernadin de Sienne lại nói "một khoảnh khắc cũng giá trị bằng Chúa" (un seul moment vaut autant que Dieu) vì nhờ một khoảnh khắc ăn năn tội cách trọn người ta có thể chiếm hữu được Chúa, được Nước Trời.



LỜI NGỎ CHO ĐÊM THƠ
•      Tên thật: Gioan Baotixita Lê Xuân Hoa,
•      sinh ngày 23-4-1926, tại làng Phú Trung, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
•      Rửa tội năm 1926 tại họ Hiệu Lân, xứ Xuân Phong, giáo phận Vinh
•      theo học Tiểu Chủng Viện Xã Đoài (1938-1949), Đại Chủng Viện Xuân Bích, Hà Nội (1953) Sàigòn (1954), Đại Chủng Viện Lê Bảo Tịnh (1955-1959).
•      Thụ phong linh mục ngày 19-7-1959.
•      Dạy Việt văn tại các Tiểu Chủng Viện Chân Phước Tự (Thủ Đức) và Sao Biển (Nha Trang) từ 1959-1965.
•      Chính xứ Vinh Hưng, Vinh Thuỷ, Phan Thiết (1965).
•      Quản Hạt  Bình Tuy (1972).
•      Đại Diện Giám Mục (1975)
•      Tổng Đại Diện Giáo Phận Phan Thiết 1987.
•      Giám chức danh dự do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban tặng ngày 25-01-1998.
•      Được Chúa gọi về lúc 22g10, Thứ Tư ngày 19 tháng 7 năm 2017 tại nhà Hưu dưỡng Giáo phận Phan Thiết, hưởng thọ 92 tuổi, 58 năm linh mục.




PHAOLÔ GIUSE PHẠM ĐÌNH TỤNG

Sinh ngày 20-05-1919 tại Cầu Mễ, Yên Mô, Ninh Bình (giáo phận Phát Diệm) – Thụ phong linh mục: 06-06 -1949 – Giám mục Bắc Ninh: 15-8-1963 – Tổng Giám mục Hà Nội: 23-4-1993 – Hồng y: 26-11-1994 – Giám quản Lạng Sơn: 1998 – Qua đời: 22-2-2009
Tác phẩm: Cuộc đời Chúa Cứu Thế Diễn Ca – Kinh Nguyện Diễn Ca – Giáo Lý Ca – Huấn Ca.

MAI LÂM
Tên thật của ông là Giuse ĐOÀN VĂN THĂNG, sinh ngày 28-04-1915 tại Hoàng Mai, tỉnh Bắc Giang. Mai Lâm đăng thơ trên một số tạp chí đạo đời có tiếng tăm như: Đường sống, Bách Khoa, Phổ Thông, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Sống Đạo, Lửa Mến, Liên Lạc vv…
13 giờ ngày 08-11-1992, nhà thơ lão thành Mai Lâm vĩnh biệt trần gian để đặt chân vào đất Hứa trên trời.




VŨ NGỌC BÍCH
Sinh ngày 17-8-1914 tại Kim Sơn, Ninh Bình (giáo phận Phát Diệm).
Thụ phong linh mục năm 1942 tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội.
Qua đời ngày 08-6-2004.

Cha Vũ Ngọc Bích là một vị chân tu đạo đức, một nhà báo – một nhà nghiên cứu và là một nhà thơ.
Những tác phẩm của ngài (hơn 40 tác phẩm chủ yếu về tu đức) xuất bản từ nhưng năm 1940-1950 của thế kỷ trước, thực sự đã nuôi dưỡng nhiều tâm hồn thánh thiện và dẫn đưa nhiều người dấn thân đời tu trì phục vụ tha nhân.


Tên thật: GÉRARD GAGNON NHÂN
– sinh ngày: 08-05-1914 – tại Sacré-Coeur, Québec, Canada
Tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế. Khấn lần đầu ngày 15-08-1935
- Tham gia nhóm Tập Sinh Dòng Chú Cứu Thế đầu tiên tình nguyện sang truyền giáo tại Việt Nam (08-11-1935)
- Khấn trọn đời tại Hà Nội (16-12-1938)
- thụ phong chức linh mục tại Hà Nội (06-06-1940).

Tên thật: Phêrô Phạm Đình Tân, bút hiệu Bảo Long. 
Sinh năm 1913 tại Bảo Long, huyện Mỹ Lộc, Nam Định. 
Cộng tác với các báo: Phụ Nữ Thời Đàm, Thanh Nghị, Phụng Sự, Tinh Thần (Hà Nội). 

Ông cùng với ông Phạm Đình Khiêm chủ trương hai tờ báo Thanh Niên và Văn Đàn, rồi lập tủ sách Thanh Niên Chuyên San (1946) và Tinh Việt Văn Đoàn (1950). Năm 1984, ông sang Bỉ và Pháp đoàn tụ với gia đình rồi qua đời tại Paris, 1992.

Thi phẩm: Tiếng Thầm (Hà Nội, 1952); Lời Thiêng (Văn Đàn, Sài Gòn 1960); Nghiên cứu: Ozanam với Hội Thánh (1953), Tòa Thánh La Mã (1960), Trên đường về (1963), Tình Quê Hương qua thi ca (1964), Chúa Cứu Thế với gia đình; Chúa Cứu Thế với Thời Nay; Đức Mẹ giữa chúng ta; Chìa khóa mở cửa thành công; Kiến thiết Tinh thần; Thân phận lao động; Tiểu thuyết giáo dục: Duy Đức, học sinh trinh thám. Nhiều dịch phẩm.


Bùi Tuân sinh năm 1913 tại Ngọc Lâm, Quỳnh Lưu, Nghệ An, nhưng lớn lên và thành danh tại Bình Định, Huế và Sài Gòn… Ông cộng tác thường xuyên với các tờ báo: Lời Thăm, Vì Chúa, Vinh Sơn, Tổ Quốc, Văn Đàn, Duyên Nghèo, Hạt Cải….
Ông qua đời năm 1966.
Ngoài hàng trăm bài viết trong đó có một số bài thơ đăng trên các báo, ông còn để lại một số tác phẩm:
- Thế Lực Đối Ngoại của Tòa Thánh (1950)
- Xây dựng trên nhân vị [1] (1945).
- Con heo vàng (truyện 1962)
- Hàn Mạc Tử theo tôi biết.
- Tôn Giáo trong thơ Hàn Mạc Tử
- Hàn Mạc Tử và sứ điệp của nhà thơ (Di cảo)
- Chúa Cứu Thế (dịch của A.Boyer. NXB An Phong. Huế, 1949)

TUYỂN THƠ

Nhập Thể

Gởi Võ Long Tê
Đâu phượng nở, hè đi về rộn rịp
Hè là đây, tình phượng nở nơi nao
Vàng sông Hương, bến cũ lắng chiêm bao
Sầu Bạch Hổ, đò xuôi không về kịp
Đường tơ thắm trong tiếng đàn lỗi nhịp
Buồn nắng chiều nỗi nhớ của muôn sao
Thuở tiễn đưa nước thẳm vọng trời cao
Hương quyện sắc, sắc hương nào ý hiệp.
Yêu là lớn trong tình thơm bất diệt
Tiếng trần gian xóa nhạt cánh hồng tươi
Hỡi thiên thần, ta chỉ muốn là ngươi
Người quên bẵng? Ngôi Lời đã nhập thể
Yêu thương về mầu nhiệm hóa trần gian
Suốt mùa yêu là cả một thiên đàng.



Men Tình




Em có nhớ, một chiều xanh mùa hạ
Trăng quên lên mà gió cũng quên lên…
Đêm thanh bình, thông đỉnh Ngự vầy duyên
Tình mặc khách, lênh đênh xuôi Vỹ Dạ.
Trên cầu vắng, tiếng ai đi vội vã
Anh lặng nhìn nhịp bước của em qua
Sắc và hương và uyển chuyển thướt tha
Cười chớm nở trên hồn anh rộn rã…
Từ thuở ấy, anh đi vào xa lạ
Mà em là xứ sở mới bao la
Tìm sắc hương mỗi phút một lùi xa.
Sắc hương quyến rũ người vào tàn tạ
Muôn ân tình thắm mãi giữa đôi ta
Trong men nồng suối rượu tiệc Cana.


Bùi Tuân
(trích trong Bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, tập II, Lm Trăng Thập Tự chủ biên, tr. 21-23)

[1] Giải thưởng bộ môn khảo luận năm 1957 do Văn hóa Vụ khởi xướng và trao giải ngày 25-9-1957 tại dinh Độc Lập. Các bộ môn:

Khảo luận: Văn chương Bình dân của Lm. Thanh Lãng (hạng I)
Xây Dựng Trên Nhân Vị của Bùi Tuân ( hạng II)
Người Xưa của Trần Đình Khải ( Đồng hạng II)
Ngoài ra, còn có các giải thưởng về Tiểu thuyết, Thơ và Kịch.

                  


Tên thật: Giuse BÀNG BÁ LÂN

Sinh ngày 01-12-1912, nguyên quán làng Đôn Thư, tổng Ngô Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Thi phẩm: Tiếng thông reo (1934), Xưa (1941), Tiếng võng đưa (1957), Vào Thu (1969). 

Nghiên cứu: Việt Văn Bình Giảng (1962), Vài kỷ niệm về các thi sĩ hiện đại (2 tập, 1962-1963).
Ông lãnh nhận phép Thánh Tẩy với tên thánh Giuse, vào ngày 11-2-1988 và qua đời ngày 20-8-1988.
Được tạo bởi Blogger.