https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg

 

LỄ AN TÁNG THẦY GIUSE TRẦN QUANG ĐẠO

Lc 12,35-40 (sách Bài đọc Ngoại Lịch tr.122)

 


Từ khi thông tin về thầy Giuse Trần Quang Đạo được Chúa gọi về một cách đột ngột, một số người gọi điện thoại hỏi tôi như để biết rõ hơn về cái chết của thầy. Biết thầy bị đột quỵ trong lúc đang ngồi học bài cùng anh em trong lớp, có người thốt lên: sợ thật! Tôi trích lại lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng Luca 13,5: “Nếu các người không sám hối, các ngươi cũng chết như vậy”. Có thầy gọi điện cho tôi với giọng trầm buồn nói nghe tin này thấy bất ngờ quá! Tôi nói với thầy: “Chúa đến vào lúc chúng ta không ngờ, vào giờ ta không biết”. Có thầy thì buồn bã nói: “Chúng con không biết làm gì bây giờ”. Tôi trả lời: Hãy thêm lời cầu nguyện cho thầy, người anh em hạnh phúc được Chúa gọi về với Ngài. Người khác thì gặng hỏi tôi về tiền sử sức khỏe của thầy trước đây khi còn học ở Tiền Chủng viện thế nào. Tôi trả lời: tôi chỉ biết thầy đi khám sức khỏe, bác sĩ kết luận: có đủ sức khỏe để tu học. Người đó lại hỏi thêm: tại sao Chúa lại gọi thầy lúc này? Tôi trả lời: vì đó là điều Chúa muốn. Người anh em quá cố của chúng ta đây được Chúa gọi ra đi gây bất ngờ cho mọi người. Nhưng đó lại là thánh ý Chúa. Chúa muốn điều mà con người không thể chống lại được. Điều quan trọng là người được Chúa gọi ra đi đã chuẩn bị như thế nào trước khi được Chúa gọi mãi mãi về với Ngài.


Cha cố Pio Ngô Phúc Hậu khi đang trong bàn ăn với chúng tôi, nghe kể lại sự việc thầy Giuse Trần Quang Đạo bị đột quỵ đang lúc ngồi học bài ở Đại Chủng viện Hà Nội và qua đời ở tuổi 28. Ngài liền nói ngay: “sao mà sướng vậy!”. Mọi người xung quanh đều cười vẻ ngạc nhiên. Thoáng nghe như thế, ta dễ lầm tưởng rằng một sự ra đi nhanh chóng mà không phải trải qua thời gian đau bệnh, không phiền hà đến bất cứ người nào chăm sóc, không tốn kém tiền của chạy thầy chạy thuốc…và cho rằng, chết nhanh chóng như thế là một cái chết sướng. Cái chết sướng mà cha Piô muốn nói, đó là thầy Giuse đã chết ngay trong khi đang làm công việc bổn phận hằng ngày, được hiểu là chết trong ân nghĩa của Thiên Chúa. Một cái chết tốt lành. Một cái chết thật đẹp. Rồi ngài nói tiếp: cuộc đời một linh mục ai cũng mong được chết đẹp như thế. Cái chết đẹp nhất là chết dưới chân bàn thờ, nhất là chết ngay sau câu kết lễ: Lễ xong chúc anh chị em đi bình an.

Đúng vậy, cuộc đời một thầy chủng sinh không bao giờ đẹp bằng thời gian học trong Đại chủng viện. Thực tế rất hiếm khi có thầy Chủng sinh nào lại được Chúa gọi về với Ngài ngay khi đang còn ngồi học trong Đại Chủng viện, cũng như hiếm có linh mục nào được chết ngay dưới chân bàn thờ. Thầy Giuse Trần Quang Đạo đã được hạnh phúc sống và chết trong ân nghĩa của Thiên Chúa. Bởi vì trong suốt những năm tháng học ở Đại Chủng viện, thầy Chủng sinh được nuôi dưỡng đầy đủ bởi Lời Chúa và bí tích Thánh Thể mỗi ngày. Cũng trong thời gian này, mỗi Chủng sinh được dạy dỗ nghiêm túc và ân cần bảo ban của các cha giáo, được sự chỉ dạy cẩn thận của các cha linh hướng, được chăm sóc chu đáo về cả đời sống vật chất và thiêng liêng. Có thể nói được Chúa gọi về với Chúa vào đúng thời gian Chủng sinh là một ân phúc lớn lao mà kinh nghiệm của một linh mục hơn 85 tuổi, có hơn 70 năm sống đời tu trì đã thốt lên: sao mà sướng vậy!

Thật vậy, dưới ánh sáng Lời Chúa hôm nay, chúng ta thấy thầy Giuse là một người đầy tớ luôn biết sống thức tỉnh và sẵn sàng chờ đợi ông chủ đi ăn cưới trở về, cho dù vào giữa đêm khuya hay tảng sáng, Chủ về gõ cửa thì mở ngay cho Chủ. Đó là người biết tỉnh thức.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người trung thành với niềm tin của mình. Một khi đã xác tín về điều mình tin, họ luôn trung thành giữ vững đức tin cho đến cùng.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người luôn biết thi hành nhiệm vụ dưới con mắt của Thiên Chúa. Họ luôn ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi công việc mình làm. Họ là người công chính trước mặt Thiên Chúa và con người.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người luôn biết trung thành với công việc được trao phó, biết vâng lời Bề Trên, chu toàn mọi việc một cách có trách nhiệm.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người khôn ngoan biết được thánh ý Thiên Chúa để cộng tác tích cực với ơn Chúa để làm tốt nhiệm vụ được trao.

Đối với thầy Giuse Trần Quang Đạo, kể từ ngày thầy tĩnh tâm nhập tu năm 2014, tôi có trách nhiệm đồng hành với thầy. Tôi biết thầy là một người đơn sơ đạo đức và chăm chỉ. Nét đơn sơ chân thật ấy lại là niềm vui cho anh em bạn bè hay trêu trọc đùa giỡn. Vốn hiền lành thánh thiện, thầy chỉ biết mỉm cười và im lặng. Bên cạnh đó là sự chăm chỉ cần cù trong công việc, siêng năng tìm tòi trong học tập… Điều đáng ngại nhất đối với ơn gọi của thầy thể hiện ngay nơi vóc dáng gầy guộc khắc khổ mà nhưng người làm công tác đào tạo chỉ biết hy vọng Chúa sẽ có cách giải quyết tốt nhất. Thế thì hôm nay Chúa đã chọn thầy theo cách của Chúa, không phải theo cách mà chúng ta vẫn mong đợi và hy vọng thầy sẽ là một linh mục tốt lành trong tương lai. Đời sống tốt lành thánh thiện của thầy đã sớm trở nên của lễ xứng đáng trước mặt Chúa trong tư cách là một chủng sinh hơn là một linh mục. Hình ảnh thầy Giuse và cái chết của thầy gợi nhắc cho mỗi chúng ta về lời mời gọi của Chúa Giêsu: “hãy tỉnh thức và sẵn sàng”. Đó cũng là sống tinh thần sống mùa Chay thánh.

Cộng đoàn chúng ta thương tiếc thầy, thì hãy thêm lời cầu nguyện cho thầy. Chúng ta hãy phó dâng linh hồn của thầy trong tay Thiên Chúa quyền năng, Đấng muốn cho mọi người được ơn cứu độ, sẽ ban ơn cứu độ cho thầy, một người con ngoan của Thiên Chúa, một người môn đệ trung tín, luôn sống tỉnh thức và sẵn sàng đón chờ Chúa đến. Amen.

Lm. Đaminh Hoàng Minh Tiến

Đặc trách Chủng sinh Gp. Hưng Hóa

(Chúng con chân thành cảm ơn cha Đaminh đã cho phép chúng con chia sẻ bài giảng này) 


 BÍ MẬT ƯỚC MƠ CỦA THẦY CHỦNG SINH GIUSE TRẦN QUANG ĐẠO


Đôi lời giới thiệu:

Được tin Thầy Giuse Trần Quang Đạo, chủng sinh giáo phận Hưng Hóa, đột ngột qua đời, khi tuổi đời còn rất trẻ (1993-2021), ai nấy không khỏi giật mình và bùi ngùi xúc động. Chúng tôi chợt nhớ hai năm trước có chụp lại một bài viết rất cảm động và sâu sắc về châm ngôn sống đời tu của Thầy. (Bài viết trích từ môn Việt Văn, năm Tu Đức cơ sở Phát Diệm, năm 2018-2019).

Trong tâm tình hiệp thông cầu nguyện, chúng tôi xin mạn phép được chia sẻ công khai bài viết để hi vọng có thêm nhiều tâm hồn đồng cảm, viết tiếp ước mơ còn dang dở ấy.

Hi vọng những tâm tình thao thức của Thầy Giuse sẽ đem lại niềm an ủi cho quí đấng bậc, cho gia đình và mọi người thân yêu rằng giờ này linh hồn Giuse cũng được Thiên Chúa xót thương cách đặc biệt như chính Thầy đã xác tín, đã chọn và đã sống câu châm ngôn cho đời tu của mình.  

Đình Chẩn



 


Đề bài: Thầy hãy chọn cho mình một câu châm ngôn hay một câu Kinh Thánh bất kỳ làm phương châm sống cho đời tu của mình. Thầy hãy nêu suy nghĩ của thầy về câu thầy đã chọn.



BÀI VIẾT

Trên lộ trình của mỗi con người, chắc chắn bất cứ ai cũng đưa ra cho mình một phương châm sống, một hướng đi hay một lý tưởng để theo đuổi. Nào là hãy làm chủ cuộc đời; hãy là chính mình…Một cách minh nhiên, người chọn đời sống tu trì cũng không ngoại trừ. Bản thân nó cũng vậy! Khi chọn lựa đời sống dâng mình cho Chúa, nó đã khao khát và luôn muốn trở nên giống Chúa. Nó muốn giống Chúa tối thiểu ở một khía cạnh nổi bật nào đấy để suốt cả đời, nó sẽ thực hiện khẩu hiệu mà nó đã chọn. Khẩu hiệu đó mang tên: “Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).

“Xót thương người” là một hành vi và là một việc làm cao cả. Nó chính là mối giây thông hiệp giữa người với nhau. Nó giúp mọi người thêm bình đẳng và gần nhau hơn. Hơn thế nữa, việc “xót thương người” là việc làm của con cái Chúa và Chúa sẽ chúc phúc cho những ai luôn biết xót thương kẻ khác.

Chẳng phải tự nhiên mà nó chọn câu khẩu hiệu trên, nhưng là bởi nó đã bị ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của gia đình nó trước kia. Nó sinh ra trong một gia đình nghèo nàn lại đông anh em thành thử ra đã nghèo lại càng nghèo hơn. Ngay từ nhỏ nó đã sống với cộng đoàn và làm quen với đồng áng, nên với nó, việc sống cộng đoàn và lam lũ đã trở nên quen thuộc. Nó được cha mẹ dạy những lời chân lý; các con phải yêu thương nhau; đừng cãi nhau…

Nhớ lại quá khứ, trong bữa cơm chỉ toàn là cơm trộn; nào là sắn, nào là ngô, nào là khoai…và thức ăn chỉ có vài ba quả trứng rang rõ nhiều muối ăn mặn chát. Nghĩ lại cũng thấy tội nghiệp cả cây sấu, quanh năm bị ngắt lá để nấu canh, lắm khi chỉ còn trơ trọi những cành không lá.

Ôi! Nghĩ về ngày đó thật tội nghiệp. Bản thân nó giờ đây, tuy đã là một chủng sinh, nhưng thỉnh thoảng lại mơ về quá khứ. Qua giấc ngủ, nó lại thấy mình đang vất vả quần quật ngoài đồng. Nước mắt nó lại lã chã rơi. Vì thế mà, khi xem những bộ phim, hay bài hát buồn hoặc thấy những đứa trẻ tội nghiệp giống nó trước kia, là lòng nó lại se thắt. Những lúc như vậy, nó khóc và xin Chúa đừng để những người giống nó phải khổ thêm nữa. Vì thế, lòng thương người hay giúp người khác cũng bắt nguồn trong nó lúc nào không hay.

Chẳng ai cho cái mà mình không có bao giờ. Khi giáng trần, Chúa Giêsu cũng đã quá nghèo. Ngài sinh ra trong một cái hang, cái hang đó chỉ dành cho con vật. Không biết sau này Bà Cố có kể lại cho Chúa biết về việc Chúa phải sinh ra khổ cực như thế không ? Nếu có, chắc Chúa cũng thấy tủi lắm. Có lẽ Chúa cũng ngấm cái nghèo, Chúa cũng biết người ta khổ vì đói là như thế nào. Bởi thế, Chúa mới xót thương người một cách mãnh liệt như vậy. Bản thân nó khi được sinh ra cũng nghèo lắm, nên nó đã biết đồng cảm và xót thương người khác. Nó mong rằng cả thế giới luôn được hạnh phúc để không ai phải nghèo khổ, tật nguyền đói rách…

Thật vậy, xót thương người là một điều quan trọng. Nó là sợi dây tình yêu, nối con người lại với nhau. Thế nhưng, tiếc thương thay, xã hội ngày nay đang mắc một căn bệnh thật nghiêm trọng, đó chính là căn bệnh vô cảm. Căn bệnh này còn nghiêm trọng hơn bất cứ căn bệnh thể lý nào khác. Căn bệnh ung thư chỉ cướp đi mạng sống của một cá nhân nào đó, nhưng với chứng bệnh vô cảm, nó sẽ cướp đi tình người và đẩy con người vào hố diệt vong. Chúng ta thử nghĩ xem, nếu một ngày con người mất đi sự quan tâm tới nhau, xã hội này sẽ ra sao ? Ôi! Không, xã hội này phải được quan tâm.

Nhìn lại bản thân, khi trước nó đã khốn khổ, vất vả thế nào, nhưng Chúa đã thương xót và gọi nó gia nhập hàng chủng sinh. Nhờ đó, chính nó sẽ học đòi bắt chước Chúa và xót thương người giống Chúa để cả đời này nó sẽ là Con Đường Sáng đem niềm vui cho tất cả mọi người.

“Phúc thay ai xót thương người; vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”. Đây là thông điệp mà Chúa đã trao cho nó. Nó sẽ dùng thông điệp này để thực thi theo Ý Chúa. Nó hằng mong ước, tất cả mọi người sẽ yêu thương nhau và biết xót thương kẻ khác như Chúa luôn hằng xót thương chính nó cũng như mọi người. Cuối cùng nó mong muốn tất cả mọi người hãy cầu nguyện cho nó, để câu Kinh Thánh mà nó đã chọn sẽ đi theo và đồng hành trong suốt hành trình trong đời của nó.

Giuse Trần Quang Đạo

 







“Tết”- có lẽ không có từ nào ngắn gọn để diễn tả niềm vui trọn vẹn cho bằng chữ “Tết”. Tết là một truyền thống tốt đẹp của người dân Việt. Đây là dịp thuận lợi để người người gặp gỡ, nhà nhà sum vầy. Tết còn là dịp, là khoảng thời gian quí giá để mọi người dừng lại, sống giây phút báo hiếu cho ông bà, tổ tiên, giữa cuộc sống nhộn nhịp, đầy những lo toan. Nhưng năm nay, khi nói đến Tết, thiết nghĩ ai cũng có cảm xúc riêng về gia đình, bạn bè và quê hương, nhất là trước tình hình đại dịch Covid-19 tái bùng phát, lòng người con xa quê không khỏi bồn chồn xao xuyến.

Thuở còn bé, mỗi khi xuân về, tôi được sum vầy bên gia đình: có những bộ quần áo mới; được đi chơi chợ Tết; cùng bạn bè với thú vui nổ pháo diêm, đốt đèn lồng… Niềm vui chơi Tết của những năm tháng đầu đời đã thổi vào tâm hồn tôi biết bao kỷ niệm đẹp. Có những lúc tôi thẩn thơ một mình nghĩ lại và cảm thấy vui biết bao.

Thời gian trôi qua, tôi đã lớn lên và chắp cánh bay rời xa vòng tay ấm êm của gia đình. Tôi còn nhớ cái ngày đầu tiên rời xa gia đình yêu dấu của tôi: tôi cảm nhận một nỗi buồn man mác ùa vào trái tim tôi. Nỗi buồn và cảm giác nhớ nhà càng gia tăng khi những ngày Tết sắp về. Tôi nhớ ông bà, nhớ gia đình tôi, nhớ quê hương; nhớ bạn học cũ, nhớ bà con lối xóm; nhớ cô bé năm xưa cùng sinh hoạt Thiếu Nhi Thánh Thể…Nỗi nhớ đó vẫn mãi tiếp diễn trong cuộc đời của tôi nhất là khi Mùa Xuân mới lại đến trong khi đại dịch Covid-19 tái bùng phát trên quê hương.

Thấm thoắt, vậy mà hơn mười năm tôi rời xa quê, xa mái ấm gia đình. Mười năm, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu nhớ thương dễ sao kể hết! Trước khung cửa vòm của Chủng viện, những cơn gió cuối cùng của mùa đông đang thổi nhẹ như muốn an ủi tâm hồn tôi. Giữa một khung cảnh bình yên nơi Phát Diệm địa linh lòng tôi lại bâng khuâng nhớ về quê nhà.

Hình ảnh cánh đồng no nước đổ ải phía bên kia đường gợi lên trong lòng tôi nhớ cha mẹ đang vất vả ngoài ruộng vườn, để nhanh chóng đón Tết mà không còn lắng lo. Xa hơn một chút, tôi nhận ra biết bao người đang hối hả cho kịp đón Tết. Bầu không khí Tết đã ập đến cánh cửa Chủng viện. Lòng tôi lại thêm biết bao gợi nhớ, bật lên khúc ca quê hương, nhẹ nhàng mà êm ấm: “Đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh, nhớ núi Hồng Lĩnh, nhớ dòng sông Lam, nhớ biển rộng và quê ta…”

Lời bài hát nhắn nhủ ai xa quê thì hãy nhớ đến quê mình. Lời nhắn nhủ đó càng da diết trong lòng tôi.Bây giờ là một đại chủng sinh, tôi không chỉ nhớ đến quê hương, nơi đã sinh thành và dưỡng dục tôi mà tôi còn nhớ đến biết bao lời nhắn nhủ của mọi người. Bao nhiêu lời động viên của cha xứ, ông bà, bố mẹ, anh chị em trong gia đình. Tôi vẫn còn nhớ câu hỏi thăm của ông hàng xóm: “Khi mô mi được mặc áo dòng? Cố gắng tu rồi bữa mô cho cả làng ta được ăn mừng”. Những đứa bạn thân nay đã yên bề gia thất cũng không quên hỏi dò: “Tết ni mi có về không? Nếu được về thì nhớ vô nhà choa chơi Tết nha”.

Những lời yêu thương bình dân mà đượm tình yêu, làm tôi càng nhớ về quê hương hơn bao giờ hết. Tết quê hương tôi, không có linh đình trang trí cây cảnh, đèn nến lấp lánh như ở thành phố. Tết quê hương chỉ có bánh chưng xanh, thịt đông, hành muối, mùi trầm hương nồng tỏa khói cùng cây đào treo thêm ít bóng bay. Chỉ có thế thôi, nhưng Tết quê hương đẫm niềm vui và tình yêu sum vầy. Bầu không khí ấy lại lôi tôi về với quê hương, để cảm nghiệm, để kín múc, để đón nhận thêm động lực cho hành trình đời tu của tôi. Suy niệm đoạn Tin Mừng (Mc 4, 26-34), tôi lại nhớ và biết ơn bao nhiêu người âm thầm, ngày đêm gieo vãi hạt giống đức tin vào tâm hồn tôi.

Nhận lãnh thì phải biết cho đi. Tôi đã đón nhận rất nhiều từ quê hương và gia đình. Nay với vai trò là một chủng sinh năm tu đức, tôi sẽ đem gì về cho quê hương và gia đình trong Tết năm nay?! Đó là suy nghĩ mà tôi đã tự hỏi và trả lời: Tôi đã ở với Chúa “trên núi” trong thời gian qua, giờ đây tôi “xuống núi” thì phải mang theo niềm vui có Chúa về với gia đình, quê hương. Tôi sẽ sống tinh thần của Chúa; viếng thăm hàng xóm, nhất là những người già cả, nghèo khổ, cô đơn, bệnh tật. Hơn nữa, tôi muốn nội tâm hóa niềm vui của “Tết đất trời” để cùng chia sẻ, cảm thông với những người đón Tết xa quê, vì không có điều kiện trở về quê hay bị dịch bệnh ngăn chặn. Đặc biệt, là một chủng sinh, tôi luôn hướng về cái “Tết vĩnh cửu”. Tôi muốn hòa chung niềm vui Tết đất trời để đi tới niềm vui của Chúa Xuân. Đó là niềm vui mà tôi hằng kiếm tìm, đồng thời muốn chia sẻ cho mọi người. Ước mong sao, niềm vui của Tết Nguyên Đán, sẽ không làm phai nhạt đi niềm vui của “Tết vĩnh cửu” trong lòng tôi, nhưng hòa vào làm cho niềm vui của Chúa Xuân thêm sống động, để tôi dễ dàng sống và chia sẻ niềm vui đó cho mọi người.

Bầu không khí của những ngày Tết Nguyên Đán gợi lên trong tôi biết bao nỗi nhớ như thế. Nỗi nhớ nhung ấy khiến tôi mong muốn sớm được về quê đón Tết. Hơn nữa, Tết cũng làm cho tôi mong muốn có cơ hội hàn gắn, thắt chặt các mối tương quan: với gia đình, hàng xóm, bạn bè…Nhất là mang Tết đến cho mọi người trong lối xóm, trước hết là những người nghèo khổ, già cả cô đơn. Nhưng tôi chỉ sợ tình hình đại dịch có thể sẽ không cho phép tôi thực hiện được ước mơ nhỏ bé ấy. Dù sao đi nữa, bầu không khí Tết cũng giúp tôi cầu nguyện, quy hướng và suy nghĩ về niềm vui trọn vẹn trong Chúa Xuân nơi “Tết vĩnh cửu”. Đó là niềm vui và hạnh phúc mà mỗi Kitô hữu đang ngày đêm tìm kiếm. Ước mong niềm vui của Tết Nguyên Đán năm nay, sẽ đưa tôi đến mối tương quan của yêu thương với Thiên Chúa và tha nhân hầu tôi và mọi người được chung hưởng niềm vui của “Tết vĩnh cửu” ngay trong giây phút hiện tại này.


Một chủng sinh lớp Tu Đức








ẢO TƯỞNG MÌNH BẤT KHẢ XÂM PHẠM


Tác giả: Lm. Ronald Rolheiser, OMI

Cái gì không giết được ta sẽ làm ta mạnh hơn. Đây là câu châm ngôn thiện chí vốn không phải lúc nào cũng đúng. Đôi khi chúng ta gặp chuyện xấu, mà đâu có học được gì. Mong là thời gian tồi tệ hiện thời, dịch Covid-19, sẽ dạy cho chúng ta gì đó và khiến chúng ta mạnh mẽ hơn. Tôi mong rằng Covid-19 sẽ dạy chúng ta điều gì đó mà các thế hệ trước không cần ai dạy nhưng đã tự học được qua kinh nghiệm sống, cụ thể là, chúng ta không bất khả xâm phạm, chúng ta không được miễn trừ những nguy cơ bệnh tật, suy nhược và cái chết. Nói tóm lại, mọi điều thế giới đương đại có thể cho chúng ta về công nghệ, y học, dinh dưỡng và sự bảo đảm về mọi mặt, đâu có miễn trừ được cho chúng ta khỏi sự mỏng manh và dễ bị tổn thương. Covid-19 đã dạy cho chúng ta như thế. Như mọi con người khác sống trên địa cầu này, chúng ta đều dễ bị tổn thương.

Tôi đủ lớn tuổi để biết thế hệ trước, thời hầu hết mọi người sống cùng nhiều nỗi sợ, không phải mọi nỗi sợ đó đều lành mạnh, nhưng tất cả chúng đều rất thật. Cuộc sống quá mong manh. Sinh con có thể khiến người mẹ mất mạng. Một trận cúm, một con virus có thể đoạt mạng người, và chúng ta chẳng có mấy cách đương đầu với nó. Chúng ta có thể chết trẻ vì bệnh tim, ung thư, tiểu đường, vệ sinh kém, và hàng chục thứ khác. Thiên nhiên cũng là mối đe dọa. Những cơn bão, gió lốc, hạn hán, dịch hạch, sấm sét, tất cả chúng đều đáng sợ vì trước mặt chúng con người gần như bất lực. Người ta sống với ý thức rằng sinh mạng và sức khỏe rất mỏng manh, không phải là cái mặc nhiên.

Nhưng rồi, nhờ vắc-xin, kháng sinh, chất lượng bệnh viện và thuốc men cải thiện, sinh nở an toàn hơn, chế độ dinh dưỡng tốt hơn, nhà ở, đường xá, xe cộ, đủ thứ tốt hơn, bảo đảm hơn cho chúng ta trước tình cảnh mất việc, trước hạn hán, lụt bão, dịch bệnh hay bất kỳ thiên tai gì. Và cùng với đó là một ý thức ngày càng lớn rằng chúng ta an toàn, chúng ta được bảo vệ, khác hẳn với các thế hệ trước, chúng ta có thể tự lo cho mình, không còn yếu ớt dễ bị tổn thương như các thế hệ trước.

Và xét phần lớn, điều đó đúng, ít nhất là về phương diện sức khỏe và an toàn thể lý. Về nhiều mặt, chúng ta bớt yếu ớt hơn các thế hệ trước nhiều. Nhưng, như Covid-19 đã phơi bày rõ, đây không phải là chốn nương ẩn tuyệt đối an toàn. Dù cho có chối bỏ và phản kháng nhiều đến mấy, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng giờ chúng ta đang sống như những thế hệ trước mà thôi, nghĩa là không thể nào bảo đảm về sức khỏe và sự an toàn của mình. Giữa muôn vàn điều quái ác mà Covid-19 gây ra, nó cũng giúp chúng ta bỏ đi ảo tưởng về sự bất khả xâm phạm của mình. Chúng ta mỏng manh, dễ bị tổn thương, và khả tử.

Mới nghe qua, có vẻ chuyện này thật tệ, nhưng không đâu. Vỡ mộng chính là gạt bỏ đi một ảo tưởng sai lầm, và bấy lâu nay, chúng ta đã sống quá lâu, quá hăng hái trong một ảo tưởng, một vui thích giả tạo khiến chúng ta tin rằng các mối đe dọa thời trước sẽ không thể làm gì mình. Chúng ta đã quá sai rồi! Lúc tôi viết bài này, đã có hơn 70 triệu ca nhiễm Covid-19 trên toàn cầu, và hơn một triệu sáu người đã chết vì virus này. Hơn nữa, tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong cao nhất lại nằm ở các quốc gia mà chúng ta tưởng là vững vàng nhất, những quốc gia có bệnh viện tốt nhất và tiêu chuẩn y tế cao nhất. Đấy chính là hồi chuông cảnh tỉnh. Thế giới hiện đại và hậu hiện đại có thể đem lại cho chúng ta quá nhiều điều tốt đẹp, và dù nó có khiến chúng ta cảm thấy như nó có thể bảo vệ chúng ta khỏi tất cả, nhưng đến tận cùng, sự thật không phải vậy.

Covid-19 là thứ thay đổi tất cả, nó đã phá tan ảo tưởng về sự bất khả xâm phạm của chúng ta. Vậy trong chuyện này, có bài học gì để chúng ta rút ra? Nói tóm lại, thế hệ chúng ta phải chấp nhận vị trí của mình bên cạnh các thế hệ khác, công nhận rằng mình không thể xem sinh mạng, sức khỏe, gia đình, công việc, cộng đồng, đi lại, giải trí, tự do tụ tập, tự do đi nhà thờ, tất cả, là những thứ mặc nhiên. Covid-19 đã dạy cho chúng ta rằng chúng ta không phải là Chúa của sự sống và con người vẫn rất mỏng manh, kể cả trong thế giới hiện đại và hậu hiện đại đi nữa.

Thần học và triết học Kitô giáo kinh điển luôn dạy chúng ta rằng, là con người chúng ta không tự đủ. Chỉ có Thiên Chúa mới như thế. Chỉ có Thiên Chúa mới là “Hữu thể tự đủ” (Ipsum Esse Subsistens, trong thần học kinh điển). Còn chúng ta đều phụ thuộc vào may rủi, lệ thuộc, đồng lệ thuộc… và khả tử, đủ để phải sợ mỗi lần trở bệnh phải đi gặp bác sĩ. Các thế hệ trước, vì không có kiến thức y khoa, không có những bác sĩ và bệnh viện như chúng ta, không có tiêu chuẩn vệ sinh và thuốc men như chúng ta, không có vắc-xin và kháng sinh, nên họ cảm nhận được sự lệ thuộc may rủi của mình. Họ biết mình không tự đủ, và sinh mạng cũng như sức khỏe của họ không phải là điều mặc nhiên. Tôi chẳng ghen tỵ với họ về những nỗi sợ sai lầm đi kèm tâm thức này, nhưng tôi ghen tỵ với họ vì họ không sống với sự an toàn giả tạo. Thế giới đương thời đem lại cho chúng ta đủ điều tốt đẹp, nhưng cũng dẫn dụ chúng ta ngủ quên, vô ý thức, về sự mỏng manh, yếu đuối dễ tổn thương và khả tử của chúng ta. Covid-19 là tiếng chuông cảnh tỉnh, không chỉ cho sự thật rằng chúng ta yếu đuối dễ bị tổn thương, nhưng đặc biệt là cho sự thật rằng chúng ta không được xem những món quà quý giá là sức khỏe, gia đình, công việc, cộng đồng, đi lại, giải trí, tự do tụ tập và cả tự do đến nhà thờ, là những điều mặc nhiên.

Nguồn: ronrolheiser.com(14.12.2020)

WHD



Cầu Nguyện Cá Nhân


1. Tại sao tôi nên cầu nguyện? Tôi có thể cầu nguyện như thế nào?


Cầu nguyện là trò chuyện với Chúa (không phải độc thoại một mình). Khi cầu nguyện, bạn dành thời gian nhận biết Thiên Chúa và xây dựng mối tương quan với Ngài. Đây là điều quan trọng đối với các Kitô hữu. Chúa Giêsu bảo các tông đồ hãy cầu nguyện luôn (Lc 22,26). Tuy nhiên, cầu nguyện thật không dễ dàng: làm thế nào để bạn bắt đầu và bạn nên nói gì?

Việc quan trọng nhất là nhận ra Thiên Chúa luôn ở bên bạn, thậm chí lúc bạn đang lướt mạng Internet… Không có gì ngăn cản bạn nhắm mắt lại ngay lúc này và trò chuyện với Chúa về những điều trong tâm hồn bạn. Hãy xin Ngài giúp đỡ, nói với Ngài về những gì bạn gặp khó khăn và tạ ơn Ngài về những gì bạn nhận được. Đó là cầu nguyện.

Một cuộc gặp gỡ bất ngờ đã dạy tôi cách nhìn và cách cầu nguyện

hình minh họa
hình minh họa


Một ngày nọ, tôi đi Manhattan để tham dự một cuộc họp trên đường số 31. Sau đó tôi quyết định đi tản bộ quanh khu phố. Hôm đó là một ngày mùa hè đẹp trời. Nhiệt độ vừa phải, và không có một lọn mây trên bầu trời.

Tôi đi lên đại lộ số 6 qua Quảng trường Herald, dọc theo đường số 34 và qua chợ Macy, xuống đại lộ số 7 và đi vào ga Penn, rồi dọc theo khu vườn của quảng trường Madison, qua đại lộ số 8 và trên những bậc thềm to lớn  của Tổng cục Bưu điện.

 Kinh Mân Côi đổi mới cuộc đời



WGPSG (1.10.2020) – 10 lý do tại sao cần lần hạt Mân Côi – đây là tựa đề của một bài viết trên trang Dynamic Catholic, cho thấy sức mạnh hiện đại của những lời kinh cổ đại. Đó là Kinh Mân Côi, có sức mạnh biến đổi đời bạn, làm cho cuộc sống của bạn trở nên bình an, hân hoan, tươi sáng và mãn nguyện…


 Xin Em Hãy Lần Chuỗi!



“Ѕao em không lần chuỗi những lúc trời gió mưa, khi đêm về tăm tối, khi lá rung vừa trưa? Ѕao em không lần chuỗi khi trời mới rạng đông, khi sương mai ngọt bùi tỏa ngát trên ruộng đồng? Ѕao em không lần chuỗi mái tóc thề trắng vai, bâng khâng ngàу dong duỗi nhung nhớ bóng hình ai? Ѕao em không lần chuỗi khi lặng ngắm chiều buông, trong cô đơn ngậm ngùi lệ đắm cháу vào hồn?”

Tác giả Xuân Ly Băng đã trách các bạn trẻ, nhưng qua đó ông đã nhắn nhủ họ hãy lần chuỗi trong mọi biến cố của cuộc đời. Tại sao vậy?




WGPSG / Aleteia -- Diễn viên Jim Caviezel đã có một bài phát biểu đặc biệt: Đây có thể được coi là một trong những diễn văn công giáo tuyệt vời nhất của thế kỷ 21. Nam diễn viên nổi tiếng, đóng vai Chúa Giêsu trong bộ phim "The Passion of the Christ - Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô” đã kêu gọi thế hệ tiếp theo "hãy đưa tướng quỷ Luxiphe thẳng đường về lại địa ngục!"

Jim Caviezel đã chuẩn bị phát hành bộ phim mới nhất của mình về chủ đề đức tin - 'Thánh Phaolô, vị Tông đồ Chúa Kitô' - đã được phát hành vào mùa Xuân năm 2018 - trong phim, anh ấy đóng vai thánh sử Luca.



Ở Đất Thánh, nhiều người tự nhận là có khả năng trừ quỷ và cũng đã có rất nhiều người đến với họ để xin được giúp đỡ. Tuy nhiên, vị linh mục trừ quỷ chính thức của Toà Thượng Phụ ở Giêrusalem cảnh báo rằng những người này đã gây ra rất nhiều điều tệ hại. Các tộc trưởng, thầy mo hay thầy phù thuỷ trưng bày cho người ta và cho chính mình một thế giới hắc ám, nghịch lại với vương quốc của Đức Kitô.


Trong những năm đầu triều đại Giáo hoàng của mình, Thánh Gioan Phaolô II cho biết kinh Mân côi là lời cầu nguyện yêu thích của ngài : “Đó là lời kinh tuyệt vời trong chiều sâu và cả sự đơn giản của nó”. Tuy nhiên không nhiều người trong chúng ta cảm thấy như vậy qua việc đọc kinh Mân côi.

Một số người thường thích chiêm niệm riêng tư hay thích sự trang nghiêm của Thánh lễ hơn tràng kinh “Kính mừng” Đối với những người thường quan tâm đến kinh Mân côi, điều quan trọng cần phải biết đó là, có nhiều cách để đọc lời kinh đầy uy quyền này.




Có Bao Nhiêu Cách Đọc Kinh Chuỗi Mân Côi?




Kính thưa quý vị thính giả,

Hôm nay là chúa nhật đầu tháng 10, tháng Mân côi. Theo lời nhắn nhủ của Đức Mẹ khi hiện ra ở Fatima, Giáo hội khuyến khích các tín hữu siêng năng đọc kinh Mân côi. Ngoài hình thức cổ truyền, còn có cách thức nào để đọc kinh Mân côi không? 

Linh mục Giuse Phan Tấn Thành trả lời.

Theo các sử gia, kinh Mân côi bắt đầu từ thế kỷ thứ XII bên Âu châu, và đã tiến triển qua nhiều hình thức. Nhờ những nghiên cứu lịch sử trong thế kỷ vừa qua, nhiều đề nghị được đưa ra để canh tân hình thức mà chúng ta quen đọc, và một vài đề nghị đó đã được chính Đức giáo hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II chấp nhận. Chúng ta hãy thử đi lại con đường lịch sử ấy để khám phá những đặc trưng phong phú của kinh nguyện này.

Sự tiến triển quan trọng nhất trong suốt 8 thế kỷ nằm ở chỗ chuyển từ một lời kinh chúc tụng Đức Mẹ Maria đến chỗ suy niệm về cuộc đời Chúa Cứu thế với con tim và cặp mắt của Mẹ Maria. Vì thời giờ ngắn ngủi, tôi chỉ dừng lại ở các nét chính. 

Kinh Mân côi bắt đầu từ thói tục đọc 150 kinh Kính mừng kính Đức Mẹ. Tại sao 150 kinh? Thưa bởi vì ở nhiều đan viện, có những tu sĩ không đọc được tiếng Latinh, cho nên không thể theo dõi các giờ kinh phụng vụ được; vì thế họ được phép thay thế bằng 150 kinh Lạy Cha, nghĩa là tương ứng với con số 150 thánh vịnh. Do lòng sốt sắng, một số đan sĩ thêm 150 kinh Kính mừng nữa. Nên biết là vào thời đó, kinh Kính mừng chỉ gồm bởi hai lời chúc tụng trích từ Tin mừng Luca (lời chúc tụng của thiên sứ Gabriel và lời chúc tụng của bà Elisabeth), nghĩa là tương ứng với phần đầu của kinh Kính mừng hiện nay. Tục lệ này được đặt tên là “Bộ thánh vịnh kính Đức Mẹ”. Cũng như các đan sĩ không đọc 150 kinh Lạy cha một mạch, nhưng chia làm 3 phần, đọc vào 3 buổi (sáng, trưa, chiều), cho nên vào thế kỷ XIII, các tu sĩ cũng chia bộ thánh vịnh Đức Mẹ thành 3 phần, gọi là ba “vòng hoa” kính Đức Mẹ.

Thế kỷ XV đánh dấu một bước tiến quan trọng, tựu trung ở hai điểm:
(1) cắt bộ thánh vịnh Đức Mẹ thành 15 chục, và ở đầu mỗi chục thì thêm kinh Lạy Cha;
(2), thêm một câu vắn tắt để tưởng nhớ một mầu nhiệm Chúa Giêsu ở cuối kinh Kính mừng. Thí dụ: Kính mừng Maria, đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu “mà Mẹ đã cưu mang do lời Thiên sứ”, gồm phúc lạ (hoặc: mà Mẹ mang đi viếng bà Elizabeth, mà mẹ sinh ra mà vẫn giữ mình trinh khiết; hoặc: mà Mẹ đã cung kính thờ lạy) vv. Điển hình cho lối đọc này là đan sĩ Đôminicô Prussia (dòng Chartreux, ở Cologne), với bộ 50 câu Phúc âm ngắn tưởng nhớ các mầu nhiệm của Đức Kitô: 14 câu nhắc tới cuộc đời ẩn dật; 6 câu nhắc tới đời công khai; 24 câu tưởng nhớ cuộc tử nạn; và 6 câu kính nhớ cuộc khải hoàn của Chúa và Mẹ Maria. Sáng kiến của đan sĩ Đôminicô Prussia được nhiều người tán thưởng, và người ta đếm tới 300 câu được gắn vào kinh Kính mừng. Cũng vào thế kỷ này, cha Alain de la Roche dòng Đa-minh (1428-1475) thiết lập Hội Mân côi. Nhiệm vụ của các hội viên là mỗi tuần đọc 150 kinh Kính mừng, chia làm ba phần, kính nhớ cuộc Nhập thể – Tử nạn – Vinh quang của Đức Kitô, như vậy là mỗi phần có 50 kinh Kính mừng.

Sang thế kỷ XVI, nói được là kinh Mân côi đã mang một hình thức cố định như hiện nay, với sắc chỉ Consueverunt romani pontifices của đức thánh cha Pio V (năm 1569), tóm lại ở ba điểm căn bản:
(1) chia kinh Mân côi thành 15 chục, mỗi chục suy gẫm một mầu nhiệm của công trình cứu chuộc của Đức Kitô: nhập thể, Thập giá, Phục sinh; 
(2) Kinh kính mừng gồm hai phần cố định: phần thứ nhất là chúc tụng, trích từ Phúc âm thánh Luca; phần thứ hai là cầu xin. 
(3) Mỗi chục kinh được mở đầu bằng kinh Lạy Cha và kết thúc với kinh Sáng danh. Qua đầu thế kỷ XXI, ĐTC Gioan Phaolô II thêm 5 chục kinh mùa Sáng, suy niệm sứ vụ của Đức Kitô.

Nếu việc đọc kinh Mân côi đã thành cố định, thì đâu có thể thay đổi được nữa?

Kinh Mân côi là một hình thức đạo đức bình dân, chứ không phải là một bí tích, cho nên có thể thay đổi cả nội dung lẫn hình thức. Về nội dung, như đã nói trên đây, lúc đầu kinh Mân côi là một chuỗi những lời chúc tụng Đức Maria qua 150 kinh Kính mừng; dần dần, bên cạnh việc chúc tụng Đức Maria, còn thêm việc suy gẫm các mầu nhiệm của Chúa Giêsu: cùng với Mẹ Maria, chúng ta suy niệm và sống các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Kitô. Vì lý do đó mà Đức thánh cha Phaolô VI gọi đó là “toát yếu Tin mừng”. 
Từ giữa thế kỷ XX, nhiều sáng kiến đã được đề ra nhằm đạt được mục tiêu này: làm thế nào để kinh Mân côi trở thành trường dạy Phúc âm, nghĩa là giúp chúng ta học hỏi thêm để hiểu biết Chúa Giêsu và uốn nắn cuộc đời chúng ta theo Chúa? Đó là sự thay đổi về hình thức. Các sáng kiến này cũng được đức thánh cha Phaolo VI gợi lên trong tông huấn Marialis cultus (năm 1974) và đức thánh cha Gioan Phaolo II trong tông huấn Rosarium virginis Mariae (năm 2002). Chúng ta có thể đan cử bốn thí dụ về hình thức canh tân.

1/ Thí dụ thứ nhất. Việc xướng mầu nhiệm có thể kéo dài với việc đọc một đoạn Kinh thánh liên hệ. Thí dụ mầu nhiệm Truyền tin (thứ nhất mùa Vui), có thể mở đầu bằng việc đọc trình thuật của thánh Luca về việc thiên sứ truyền tin cho Đức Mẹ, hoặc những đoạn văn Tân ước nói đến cuộc Nhập thể của Ngôi Lời (theo Tin mừng Gioan, hoặc thư thánh Phaolô).

2/ Thí dụ thứ hai. Sau khi đọc lời Chúa, có thể dừng lại để thêm phần suy niệm. Như vậy, buổi đọc kinh Mân côi trở thành buổi Cử hành Lời Chúa, (hoặc lectio divina). Sau khi đọc lời Chúa (lectio), thêm phần suy niệm (meditatio), hoặc huấn giáo (catechesis); kế đó là đọc một chục kinh Kính mừng (oratio), bằng việc đọc kinh Lạy Cha và 10 Kinh Kính mừng. Kinh nguyện kết thúc bằng lời chúc tụng (contemplatio), bằng kinh Sáng danh, hoặc kể cả qua việc dâng các ý chỉ Lời nguyện tín hữu. Nếu tổ chức theo hình thức này, thì mỗi lần chỉ cần suy niệm một mầu nhiệm là đủ, chứ không cần phải suy niệm 5 mầu nhiệm.

3/ Thí dụ thứ ba. Kéo dài Kinh Kính mừng, với một ý tưởng hướng về Chúa Giêsu. Như đã nói trên đây, đan sĩ Đôminicô de Prussia, dòng Chartreux, đã chen 50 đoạn suy niệm cuộc đời Chúa Cứu thế, để tạo nên tràng thánh vịnh kính Đức Maria. Trong thế kỷ XX, cha Joseph Eyquem, dòng Đa Minh cũng đề nghị trở lại với hình thức đó. Trên thực tế, người ta phân biệt hai dạng khác nhau, cách riêng là khi đọc kinh chung. (a) Một dạng đơn giản là chỉ thêm một đoạn trong suốt một chục kinh. Thí dụ mầu nhiệm thứ nhất mùa vui: Kính mừng Maria, đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng bà, bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu “Đấng mà bà mang thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”, Con lòng bà, gồm phúc lạ. Nên biết là nếu muốn theo sát nguyên bản Tân ước, thì phải dịch thế này: “Kính mừng Maria, đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, bà được chúc phúc hơn mọi người nữ, và chúc tụng Đức Giêsu hoa trái của lòng Bà”. (b) Dạng thứ hai chi tiết hơn, chêm đoạn Kinh thánh vào mỗi lần đọc kinh Kính mừng. Lấy lại thí dụ của mầu nhiệm thứ nhất. Cộng đoàn đọc: Kính mừng Maria, đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng bà, bà có phúc lạ hơn mọi người nữa, và Giêsu con lòng Bà, gồm phúc lạ. Một người thưa lần lượt đáp lại: 1) Bà đã được thiên sứ sai đến nhà Nadaret và chào kính là kẻ đầy ơn phúc. 2) Bà đã sửng sốt, hỏi lại thiên sứ về ý nghĩa của lời chào. 3) Bà đã ngạc nhiên khi thiên sứ báo tin rằng bà được chọn làm thân mẫu của Thiên Chúa. 4) Bà được thiên sứ cho biết rằng Con của Bà sẽ ngự trị trên ngai của vua Đavít. 5) Bà đã hỏi lại sứ thần: điều đó xảy đến thế nào được vì tôi khấn giữ trinh khiết?. 6) Bà được thiên sứ trả lời: Thần khí Chúa sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối cao sẽ phủ rợp bà. 7) Bà được thiên sứ mạc khải cho biết hài nhi mà Bà sinh ra sẽ là Con Thiên Chúa. 8) Bà được thiên sứ củng cố lời nói bằng việc bà chị họ đã mang thai được sáu tháng. 9) Bà đã hoàn toàn tuân theo chương trình của Thiên Chúa, qua lời thưa: “Này đây tôi là nữ tì của Thiên Chúa, xin lời của Người thực hiện nơi tôi”. 10) Bà đã thụ thai Đức Giêsu, Đấng đã đến thế gian để làm theo ý Chúa Cha.

Sau kinh kính mừng thứ mười, tất cả cùng kết thúc: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, luôn biết vâng lời Thiên Chúa cách mau mắn và vui tươi, bây giờ và trong giờ lâm tử. Amen”.

4/ Thí dụ thứ bốn. Thêm những mầu nhiệm mới. Như đã nói trên đây, từ nhiều thế kỷ, các tín hữu đã đọc và suy gẫm 15 mầu nhiệm kính nhớ cuộc Nhập Thể, Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giê-su. Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã thêm 5 mầu nhiệm về sứ vụ của Chúa Giê-su. Theo đà này, có thể nói được rằng bất cứ đoạn văn nào của Phúc âm (chẳng hạn như 8 mối phúc thật) cũng có thể trở thành mầu nhiệm kinh Mân côi. Sau mỗi đoạn Kinh thánh, chúng ta suy gẫm, rồi cùng với mẹ Maria, chúng ta xin cho được thấm nhuần tinh thần đó, và mang ra thực hành. Như đã nói trên, mỗi lần họp nhau đọc kinh như vậy, chỉ cần suy gẫm một mầu nhiệm là đủ.
NGUỒN:  https://catechesis.net/co-bao-nhieu-cach-doc-kinh-chuoi-man-coi/

Kinh Mân Côi


“Nếu Phanxicô muốn lên thiên đàng, thì phải siêng năng lần hạt”. Ðọc và suy ngắm Kinh Mân Côi cách sốt sắng là cầu nguyện.

Ngày 13 tháng 7 năm 1917, tại Fatima, Ðức Mẹ đã hiện ra lần thứ ba với Lucia, Giaxinta, và Phanxicô, cho ba em nhìn thấy hỏa ngục và những hình phạt mà các linh hồn phải chịu trong đó. Lucia đã hỏi Ðức Mẹ về số phận của mình, của hai em Phanxicô và Giaxinta. Ðức Mẹ đã cho biết đối với Phanxicô, nếu muốn lên thiên đàng thì em phải siêng năng lần hạt.

Khi thấy cô đơn, hãy tựa đầu vào ngực Chúa như Thánh Gioan Tông Đồ


Thiên Chúa muốn an ủi bạn khi bạn chán nản thất vọng, và khung cảnh Thánh Kinh dưới đây sẽ giúp chữa lành tâm hồn bạn.


Sống trong một thế giới sa ngã, chúng ta thường có cảm nghiệm về sự từ chối và phản bội của những người chúng ta yêu thương nhất. Thật khó chấp nhận được điều đó và kết quả là chúng ta cảm thấy bị bỏ rơi và hoàn toàn đơn độc.

Chính trong những khoảnh khắc ấy, Chúa Giêsu muốn gởi tới chúng ta một thông điệp đầy yêu thương. Có một khung cảnh đặc biệt trong Kinh Thánh minh họa cho điều đó và sẽ đem lại nguồn an ủi và bình an cho chúng ta.

Đức Giáo hoàng Phanxicô nói về sức mạnh của lời cầu nguyện: “Bình an trong  tôi tăng lên... Bình an là một món quà Chúa ban cho tôi”.


Đức Giáo hoàng Phanxicô dạy phương pháp cầu nguyện năm ngón tay rất đơn sơ, hiệu quả.


Đức Giáo hoàng Phanxicô rất đề cao việc cầu nguyện. Hơn thế nữa, qua những bài giảng thuyết, gặp gỡ đối thoại với các chức sắc tôn giáo cũng như các thành phần dân Chúa, Ngài luôn đưa ra những quan niệm hiện đại mà gần gũi, những phương cách đơn sơ mà sâu sắc để hướng dẫn việc cầu nguyện.
“Khi gặp căng thẳng, tôi ghi chú lại và gửi đến thánh Giuse”


Để giải quyết căng thẳng, Đức Giáo hoàng Phanxicô thường viết những khó khăn của mình ra giấy rồi đặt dưới bức tượng thánh Giuse trong phòng như gửi thư đến thánh Cả.






Theo ĐGH Gioan Phaolô II, mỗi một người chúng ta luôn cần tăng trưởng trong nhân đức trong sạch. Nó là cái đích mà chúng ta cố gắng vươn tới luôn mãi không ngừng để có thể yêu mến thực sự, để có thể tôn trọng mỗi người cách hoàn hảo. Ngài viết:

“Đức hạnh/nhân đức là sự có hiệu lực và thật vậy một hiệu lực “liên tục”. Nếu nó chỉ thỉnh thoảng có hiệu lực nó không hữu hiệu vì chúng ta chỉ có thể nói rằng một người đã thành công để làm chủ một hối thúc, trái lại nhân đức phải bảo đảm rằng người ấy chắc chắn làm chủ được nó. Khả năng chỉ có thể chế ngự sự tham muốn đến từ nhục dục không là nhân đức theo đủ nghĩa của nó, ngay cả khi người ấy có thể tự chủ lấy mình gần như trong mọi trường hợp. Một nhân đức khi đã được hình thành cách đầy đủ là một sự điều khiển các hoạt động cách hữu hiệu; nó giữ các khao khát trong sự cân bằng nhờ thái độ thường có của nó về sự tốt thật được xác định bởi lý trí”1

Nói cách khác, đời sống nhân đức không dễ dàng. Sự gì cao đẹp thì khó khăn cho chúng ta nhưng đó chính là điều dẫn con người tìm đến giá trị của đời sống.


Đang nghe chuơng trình Livestream ca nguyện của chị KIM THUÝ ở Cali, chị có nhắc tới Kinh bảy sự vui bảy sự buồn của Thánh Giuse. Tôi thấy bất ngờ vì bản thân mình hình như chưa nghe Kinh này bao giờ, chỉ nhớ có Bảy sự thuơng khó của Đức Mẹ (The seven sorrows of Mary) thôi.
Dò tìm trên mạng thì thấy bản kinh sau, xin share với mọi nguời:

Ngắm Bảy sự đau đớn và Vui Mừng Thánh Cả Giuse


(Bản Kinh Nguyện Địa phận Hà Nội)


1. Thánh Giuse thấy Đức Bà có thai


Ngắm Thứ 1: khi ông Thánh Giuse thấy Đức Bà có thai, mà chẳng hiểu sự ấy làm sao, thì lấy làm đau đớn khốn cực lắm. Nhưng mà khi thánh Thiên thần hiện đến bảo cho Người biết Đức Bà có thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, và Con Đức Bà sinh ra là Chúa Cứu thế ra đời chuộc tội thiên hạ, thì Ông Thánh Giuse lấy làm yên ủi vui mừng biết là dường nào.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, một kinh Kính mừng, một kinh Sáng Danh, xin Ông Thánh Giuse vì đau đớn cùng sự vui mừng ấy, yên ủi chúng con trong mọi sự khốn khó đời này. Amen.



Tương lai được nhìn thấy là tươi sáng đối với các môn đệ của Chúa Giêsu. Phêrô vừa mới tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và đã nhận chìa khóa nước trời. Chúa Giêsu đã hứa rằng ngay cả các cửa địa ngục cũng không thắng được các ông (Mt 16: 13- 20). Mọi việc dường như đang diễn tiến tốt đẹp. Tuy nhiên không lâu sau đó, Chúa Giêsu bắt đầu nói về cuộc khổ nạn và cái chết sắp đến của Ngài. Điều đó chắc chắn không phải là cái tương lai các ông mong đợi.


Chúng ta có thể tưởng tượng các môn đệ cảm thấy như thế nào khi lần đầu tiên Chúa Giêsu tiên đoán số phận đang chời đợi Ngài? Hoang mang, sốc, thậm chí tức giận. Làm sao Đấng Mêsia lại có thể bị từ bỏ và bị đóng đinh? Chính cái ý tưởng này đã làm Phêrô kinh hãi “Lạy trời đừng có chuyện đó, thưa Thầy” ông nói “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Nhưng Đức Giê-su đã trách mắng ông: “tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16: 22- 23).

Chúa Giêsu biết những gì đang dành cho Ngài. Ngài biết rằng để hoàn thành sứ mạng của Cha Ngài, Ngài sẽ phải chịu đau khổ như các tiên tri đã viết, và chết trên thập giá. Nhưng Ngài cũng tin tưởng rằng Cha Ngài sẽ nâng Ngài lên từ cõi chết. Chúa Giêsu đã cho các môn đệ một cái nhìn thoáng qua về tương lai của Ngài, một tương lai có lẽ sẽ đè nặng trên họ.

Làm sao Chúa Giêsu có thể, ngay lập tức, biến nỗi buồn thành niềm vui?

Khi chúng ta buồn sầu hay bị thất vọng, điều đó dễ lôi kéo chúng ta đến việc từ bỏ và thậm chí còn rơi vào sự tuyệt vọng lớn hơn. Tuy nhiên, các trình thuật Tin mừng về sự phục sinh của Chúa Giêsu khích lệ chúng ta kiên trì và tin tưởng vì Ngài có thể mang lại điều tốt đẹp hơn từ chính nỗi buồn của chúng ta.

Bà Maria Mađalêna đã khóc một lúc và sau đó trở nên mừng vui khôn xiết.
Alonso de Andrade, trong cuốn sách Suy niệm hằng ngày, thế kỷ 19, về các mầu nhiệm nơi đức tin thánh thiện của chúng ta, đã làm nổi bật sự kiên trì của thánh nữ Maria Mađalêna và cách mà bà đã được khen ngợi vì điều đó.
“Hãy để ý đến cách mà thánh Phêrô, thánh Gioan và thánh nữ Maria Mađalêna khi đến mộ để tìm Chúa Kitô, và cách mà các môn đệ đã bỏ đi vì không tìm thấy xác của Chúa. Nhưng thánh nữ Maria Mađalêna vẫn đứng ở cửa tiếp tục khóc than vì sự vắng bóng của Ngài, và bà xứng đáng được nhìn thấy người đang sống và vinh quang của Đấng mà bà tìm kiếm như đã chết.
Cần hiểu rằng, nếu chỉ tìm kiếm thôi sẽ không đủ để thấy Ngài, để nhận biết Ngài, trừ khi, như Maria Mađalêna, chúng ta cố gắng tìm kiếm với lòng kiên trì; và điều đó hoàn toàn xứng đáng để chúng ta nếm hưởng vinh quang phục sinh của Ngài, với niềm tin sống động cùng với lòng thành kính, tìm kiếm, dõi theo và suy gẫm về Cuộc Khổ Nạn và cái chết của Chúa, giống như hối nhân thánh thiện này đã ngồi cạnh ngôi mộ.”
Hơn nữa, câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa thánh nữ Maria Mađalêna và Chúa Giêsu tại ngôi mộ đoan chắc với chúng ta rằng Thiên Chúa có thể ngay lập tức biến nỗi buồn thành niềm vui.
“Điều này thật dễ dàng đối với Thiên Chúa, vì trong chốc lát Ngài an ủi những người nghèo túng, biến đổi khóc than thành vui cười và buồn sầu thành niềm vui. Phúc thay người tin tưởng vào Thiên Chúa. Hãy chiêm ngắm niềm vui sướng của vị thánh này ngay khi nhìn thấy Người yêu dấu của lòng mình, người mà bà thương khóc như đã chết, nay vinh quang hơn và rực rỡ hơn mặt trời. Với nhiệt tâm, bà đã phủ phục dưới chân Chúa, nơi bà đã tìm ra được phương thuốc cứu chữa cho tội lỗi của mình… Từ đó hãy rút ​​ra mi lích tuyt vi cho tâm hn bn, bng cách nói chuyn vi Chúa ri Ngài s an i bn lúc bđau kh, ging như đã an i bà thánh Maria Mađalêna. Cũng thế, Ngài s nhâđôi niềm vui của bạn, đáp ứng những mong muốn của bạn một cách hoàn hảo hơn bạn có thể nghĩ đến.”
Nếu bạn đang gặp phải khó khăn trong cuộc sống, hãy tin tưởng vào Thiên Chúa và tình yêu của Ngài dành cho bạn. Ngài có thể không cho bạn niềm vui ngay bây giờ, nhưng nếu bạn kiên trì trong đức tin, Ngài hoàn toàn có thể biến nỗi buồn đó thành niềm vui, đến nỗi bạn không thể tưởng tượng được.
Sự sống có vẻ ảm đạm nhưng Chúa đang kiểm soát mọi sự: “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống" (Lc 20,38).
Philip KosloskiNguyễn Sao Băng chuyển ngữ từ Aleteia
Nguồn: gpquinhon.org
Được tạo bởi Blogger.