https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg

10 Hạnh Tích Cải Đạo Bất Ngờ Nhất

Tác giả: Sara and Justin Kraft
Người dịch: MĐ Trần Nguyễn (VTCG)
Nguồn: Coraevan.com

Thiên Chúa hành động cách mầu nhiệm, đôi khi bằng cách biến đổi các cá nhân để họ đón nhận đạo Công Giáo nhờ những giá trị chân, thiện và mỹ. Ngài đã đến để tìm lại và kêu gọi đích danh từng người trong chúng ta. Dưới đây là 10 hạnh tích cải đạo nổi tiếng nhưng bất ngờ trong Công Giáo. Ước mong rằng mỗi người có thể kín múc nguồn cảm hứng giúp chúng ta hướng tới sự biến đổi sâu sắc hơn về với Chúa.

1. Thánh Augustine


Tranh Agustino chịu phép rửa-Benozzo Gozzoli

Augustinô sinh năm 354 SCN tại Châu Phi. Mẹ của Ngài, bà Monica, là một tín đồ Kitô giáo sùng đạo, bà đã giáo dục con trai mình theo đường lối Kitô hữu; tuy nhiên, ngài đã không được rửa tội. Cha của Augustinô là một người ngoại giáo, không theo Đạo cho đến gần cuối đời và đã dạy con cái mình để tâm đến của cải và thú vui trần gian. Ở độ tuổi 16, Augustinô đã ăn trộm trái cây từ vườn hàng xóm, không phải vì thèm muốn gì nhưng chỉ vì việc ấy bị cấm, như Ngài đã kể lại trong cuốn tự thuật, The Confessions. “Tội ấy thối nát, nhưng con lại thích làm. Con yêu thích phạm tội - không phải vì việc con làm là sai, nhưng chỉ vì nó là tội” (Tự thuật 2: 4).

Bạn bè của Augustinô là những cậu thanh niên hay thích khoe về chiến công tình trường. Chính chàng trai ấy năm 19 tuổi đã có một tình nhân và một người con hoang. Trải qua những sự kiện ấy, bà Monica tiếp tục cầu xin ơn hoán cải cho chồng con mình. Vào năm 32 tuổi, Augustinô nghe như tiếng của một đứa trẻ bảo ngài hãy cầm và đọc Thư Thánh Phao-lô gửi tín hữu Rôma. Augustinô lãnh nhận ơn cải đạo. Ngài được Giám mục Ambrôsiô rửa tội, quay về quê hương, và hiến dâng mọi sự cho người nghèo. Ngài được phong làm Giám mục Hippo năm 395.

Câu chuyện của Augustinô nhắc nhở chúng ta trước hết rằng hy vọng không bao giờ mất đi. Thiên Chúa có thể làm việc và cảm hóa những tấm hồn cứng cỏi nhất. Và có lẽ việc đó sẽ xảy đến vào lúc không ai ngờ. Tất cả tội lỗi, dù nghiêm trọng đến đâu, đều có thể được tha thứ nếu chúng ta thật lòng ăn năn. Đặc biệt cần phải nhớ rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên bố năm của Lòng Thương Xót. Chúng ta đừng bao giờ nản chí khi cầu xin ơn hoán cải cho thân nhân, bạn bè và người quen, cũng như bà Monica đã không ngừng cầu xin ơn hoán cải cho chồng con mình. Lời cầu nguyện của Thánh nhân cuối cùng đã được Thiên Chúa đáp lại.

2. John Wayne



 John Wayne trong phim The Challege of Ideas

Ngôi sao điện ảnh John Wayne sinh ra với cái tên Marion Morrison tại Iowa vào năm 1907. Năm 1914, gia đình ông chuyển đến miền viễn Tây và Marion bắt đầu được gọi là “Công tước”. Tại đỉnh điểm của cuộc Đại Khủng Hoảng (the Great Depression), ông làm phụ tá trong các hãng phim, và dần dần trở thành diễn viên phụ và sau đó đóng vai chàng cao bồi Breck Coleman trong bộ phim “The Big Trail” năm 1930. Hãng phim đã đổi tên anh thành John Wayne để thu hút khán giả hơn.

Trong những năm 1940 và 1950, John Wayne đóng vai chính trong các bộ phim lớn về miền viễn Tây và Chiến tranh. Ông có bốn người con với bà vợ đầu tiên. Năm 1964, bác sĩ chuẩn đoán ông mắc bệnh ung thư phổi, làm cho ông mất một lá phổi và một số xương sườn. Ông có thêm hai cuộc hôn nhân, một cuộc hôn nhân kết thúc bằng ly hôn, cuộc hôn nhân còn lại kéo dài cho đến khi ông qua đời và cho ông ba người con. Mặc dù bản thân ông là tín đồ của giáo phái Trưởng Lão Tin Lành khi lớn lên, nhưng 2 bà vợ thì lại nuôi dạy tất cả bảy người con ông theo đạo Công giáo.

Trong những ngày cuối đời, Wayne vật vã trong cơn đau đớn, chống chọi với bệnh ung thư dạ dày. Một linh mục đã đến, rửa tội cho Wayne và thực hiện các nghi thức cuối cùng. Đêm đó, Wayne hôn mê. Con trai Michael nói: “Tôi không biết thuật ngữ chuyên môn của Giáo hội là gì hoặc sự cải đạo là như thế nào. Nhưng Bố đã chết trong lòng Giáo hội.” Năm 1979, ông qua đời vì bệnh ung thư dạ dày ở tuổi 72.

Cha Muñoz, cháu trai của Wayne, nói rằng Wayne đã thực sự hối tiếc đã không trở thành người Công Giáo sớm hơn: “Đó là một trong những tâm tình của ông trước khi qua đời”, đổ lỗi cho “cuộc sống bận rộn”.

Từ tấm gương của Wayne, chúng ta nên biết rằng không bao giờ là quá muộn để đón nhận sự tha thứ của Chúa. Chúng ta không nên để những bôn ba trong cuộc sống, dù rằng công việc ấy quan trọng đến đâu, ngăn cản mối quan hệ cá nhân của chúng ta với Đức Giêsu. Việc lãnh nhận các bí tích và đặc biệt là việc tham dự Thánh lễ hàng tuần có thể giúp nuôi dưỡng mối quan hệ đó.

3. Alexis Carrel



Alexis Carrel sinh năm 1873. Ông đã đoạt giải Nobel Hòa bình năm 1912 tiên phong trong phẫu thuật mạch máu ở người, cấy ghép nội tạng ở động vật và giữ các mô còn sống trong động vật máu nóng. Ngoài ra, với sự hỗ trợ của Charles Lindbergh, ông đã phát triển phương pháp phẫu thuật bắc cầu bơm tim.

Trong phần lớn cuộc đời mình, Carrel là một người theo thuyết ngộ đạo. Năm 1902, một đồng nghiệp, khi không thể thực hiện chuyến đi vào phút chót, đã thuyết phục Carrel đến Lộ Đức trên một “chuyến tàu trắng”. Chuyến tàu này chở nhiều bệnh nhân từ Lyons đến Lourdes. Marie Bailly, 23 tuổi, đang trong giai đoạn cuối của bệnh viêm phúc mạc do lao và được một y tá lén đưa cô lên tàu vài giây trước khi tàu khởi hành. Trong đêm, Carrel đã tiêm morphin cho Bailly để cứu cô.

Khi Marie Bailly được đưa đến hang nhỏ [ở Lộ Đức] để tắm, cô ấy đang trong tình trạng nguy kịch. Sau khi vùng bụng sưng to được rửa ba lần bằng nước ở đây, cô đã bắt đầu hồi phục một cách ngoạn mục. Đến buổi tối, cô ấy đã ngồi dậy, nói chuyện, ăn uống và không hề nôn mửa, mặc dù suốt mấy tháng qua dường như cô không thể kìm nén được bất cứ thứ gì trong bụng.

Vào sáng hôm sau, cô thay quần áo và lên tàu trở về Lyons mà không cần ai giúp đỡ; từng phút một phục hồi trên chuyến tàu 24-giờ. Khi đến Lyons, vào trưa ngày 31 tháng 5, cô đi qua nhà ga mà không cần nương tựa vào ai, bắt xe điện đến nhà người thân. Không ai ngờ được đó là Marie Bailly - và cô đã ôm choàng lấy họ. Không có lời giải thích y học nào cho sự phục hồi này. Carrel đã chứng kiến ​​phép lạ.

Đến năm 1942, Carrel đã tuyên xưng đức tin để gia nhập Giáo hội Công giáo. Ông đã kinh nghiệm một phép lạ, nhưng phải mất nhiều năm ông mới có thể tuyên xưng niềm tin vào Chúa.

Từ tấm gương của Carrel, chúng ta nên học cách nhận ra những điều kỳ diệu xảy ra trong cuộc sống của chính mình.

4. Buffalo Bill Wild Cody



Buffalo Bill Cody - Sarony

William F. Cody sinh ra ở Scott County, Iowa vào năm 1846. Ở tuổi 14, Cody xin gia nhập hãng bưu điện Pony Express với tờ quảng cáo như sau: "Tìm tay đua lão luyện, chắc khỏe, sẵn sàng mạo hiểm với cái chết mỗi ngày." Sau thời đi lính trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, ông bắt đầu săn trâu để nuôi các đội xây đường sắt, và biệt danh của ông là Buffalo Bill Wild Cody. Ông ước tính đã giết 4.280 con trâu chỉ trong hơn một năm rưỡi. Ông đã trở thành một người hùng dân gian quốc gia nhờ những tiểu thuyết 10-xu kể về “Buffalo Bill”, một nhân vật giả tưởng dựa trên con người và cuộc đời ông.

Năm 1883, Cody thành lập chương trình của riêng mình - "miền Tây Hoang dã" của Buffalo Bill - là một chương trình biểu diễn gánh xiếc lưu diễn trong ba thập kỷ ở Hoa Kỳ và sau đó là ở Châu Âu. Ngoài nhân vật Buffalo Bill, chương trình miền Tây Hoang dã có sự tham gia của tay thiện xạ Annie Oakley và Tù trưởng Bò Ngồi (Sitting Bull).

Khi Tù trưởng Bò Ngồi được mời dự chương trình của Buffalo Bill, hai người đã trở thành bạn thân và mối quan hệ của họ trở nên khá gắn kết nhờ biết tôn trọng lẫn nhau. Buffalo Bill đã bị thu hút bởi câu chuyện cải đảo của người bạn Tù trưởng vài năm trước đó nhờ các nhà truyền giáo can đảm của Dòng Tên đã đến với người da đỏ Sioux. Một vài năm sau khi rời khỏi chương trình miền Tây Hoang dã, vị thủ lĩnh da đỏ nổi tiếng đã bị bắn chết trong một vụ lộn xộn trong khu bảo tồn.

27 năm sau, trong khi đến thăm em gái, Bill Cody nằm hấp hối ở vùng ven Denver, CO. Một ngày trước khi chết, ông xin được rửa tội để được trở nên người Công giáo. Ông nói với vị linh mục rằng ông luôn tin vào Chúa và muốn chết như một người Công giáo. Ông được cảm hóa bởi đức tin của Tù trưởng Bò Ngồi với câu chuyện cải đạo và gia đình của người bạn ấy.

Câu chuyện cải đạo của Buffalo Bill dạy cho chúng ta về sức mạnh của chứng nhân đích thực nhờ tình bạn hữu, như Chúa Giê-su. Thời gian không phải là thước đo những điều tốt đẹp của một nhân chứng thực sự. Hành động và mẫu gương đơn giản nhất ngày hôm nay có thể là phương tiện giúp người khác được cứu rỗi vào ngày mai.

5. Norma McCorvey ("Jane Roe")



Năm 1970, Norma McCorvey, với bút danh "Jane Roe", đã đệ đơn kiện chống lại luật Texas quy tội cho việc phá thai. Cuối cùng, vụ kiện đã được đưa đến Tòa án Tối cao Hoa Kỳ với cái tên Roe v. Wade nổi tiếng hiện nay. Cô ấy được mô tả là một phụ nữ đang mang thai "muốn kết thúc thai kỳ bằng cách nạo phá thai" được thực hiện bởi một bác sĩ có thẩm quyền, được cấp phép, trong điều kiện lâm sàng an toàn; rằng cô ấy không thể phá thai 'hợp pháp' ở Texas. Cô ấy tuyên bố rằng các quy chế ở Texas là mơ hồ và trái hiến pháp vì đã cắt bỏ quyền riêng tư cá nhân của cô ấy..." (Roe v. Wade, 410 U.S. 113 (1973), 120)

Norma McCorvey mô tả bản thân là người tương đối không hiểu biết gì về sự thật của vụ kiện và tuyên bố rằng các luật sư đang dùng cô cho mục đích riêng của họ. Cô ấy đang mang thai đứa con thứ ba và muốn kết thúc thai kỳ của mình, nhưng cô ấy không nhận thức được tất cả những tác động của việc phá thai hay thậm chí là ý nghĩa của thuật ngữ này. Cô không hoàn toàn nhận ra rằng tiến trình này sẽ kết liễu một sinh linh. Cuối cùng, Norma đã không phá thai. Cô đã để người khác nuôi con mình.

Vào những năm 1980, cô đã tham gia vào phong trào phá thai. Khoảng năm 1992, cô bắt đầu làm việc tại các phòng khám phá thai. Năm 1995, một nhóm ủng-hộ-sự-sống chuyển vào cùng tòa nhà nơi cô làm việc, dẫn đến một loạt các cuộc chạm trán giữa Norma và các hoạt động viên ủng-hộ-sự-sống. Theo thời gian, cô trở thành bạn với nhiều người trong số họ và bắt đầu đặt ra những nghi vấn cơ bản về đạo đức của việc phá thai.

Emily Mackey, bé gái 7 tuổi của một trong những người thuộc nhóm phò-sự-sống, đã ảnh hưởng đặc biệt đến cô. Cuối cùng, cô bắt đầu đi nhà thờ, và bắt đầu khước từ quá khứ của mình với phong trào ủng hộ phá thai.

Kể từ khi cải đạo, cô đã chuyên tâm vào công tác phò-sự-sống, bắt đầu chương trình của riêng mình, "Roe No More," vào năm 1997, và tiếp tục lên tiếng chống phá thai và đấu tranh vì sự sống. Năm 1998, cô trở thành một người Công giáo và đã làm việc để lật đổ vụ kiện Roe v. Wade.

Norma McCorvey giúp ta nhận ra rằng đừng để quá khứ quyết định tương lai. Đôi khi những bài học từ quá khứ giúp chuẩn bị chúng ta phục vụ người khác trong tương lai.

6. Thánh Phao-lô



Cải đạo trên đường đi Đa-mát – Caravaggio

Thánh Phao-lô sinh ra trong gia đình người Do Thái vào năm 10 SCN và ban đầu được đặt tên là Sao-lô. Khi Sao-lô còn trẻ, những người sắp ném đá vị tử đạo Tê-pha-nô đã đặt áo khoác của họ dưới chân ông, và ông giữ y phục cho họ, chấp thuận hành động bạo ngược của họ. Ông đã nhiệt tình bắt bớ các môn đồ của Đức Kitô. Trên hành trình đến Thành Đa-mát để truy lùng và bắt giữ các tín đồ Kitô giáo đang ẩn náu ở đó, một tia sáng chiếu xuống từ trời làm ông ngã ngựa và khiến ông bị mù. Ông nghe một giọng cất tiếng hỏi "Sao-lô, Sao-lô, tại sao ngươi bắt bớ Ta?" Sau đó, ông đã thấy Chúa Giêsu hiện ra. Trong ba ngày, ông đã không còn thấy gì nữa. Khi tỉnh dậy khỏi trạng thái hôn mê, ông đã trở thành một người mới. Ông đã đem Tin Mừng đến tận cùng của trái đất. Lúc đầu, các tông đồ của Chúa Giê-su đã nghi ngại ông vì lúc trước Phao-lô đã săn lùng họ. Thánh Ba-na-ba đã thấy được lòng thành của ông và đưa ông đến với các môn đệ của Chúa Giê-su. Ông trở thành vị Tông đồ dân ngoại. Chính những người đồng hương đã tìm kế bách hại ông. Ông vẫn liều mình truyền bá Phúc Âm bằng cả đường bộ và đường biển. Cuối cùng, ông đã làm chứng bằng chính mạng sống của mình và đã để lại cho chúng ta các Thư tín trong Tân Ước.

Thay vì kể về cuộc đời của Đức Kitô lúc còn sống, các tác phẩm của Phao-lô chủ yếu tập trung diễn tả bản chất mối quan hệ của các tín hữu với Đức Kitô và với nhau. Đặc biệt, Ngài tập trung vào công trình cứu độ của Đức Kitô và cách Chúa Giê-su đã hy sinh mạng sống để cứu chúng ta khỏi tội lỗi.

Ngày nay ngài được biết đến như một trong những nhà truyền giáo tiên khởi vì lòng nhiệt thành truyền bá Tin Mừng của Chúa Giê-su Kitô. Sự kiện hoán cải của Thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ quên cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Giê-su. Đúng hơn, nó sẽ luôn hiện hữu trong tâm trí chúng ta. Cuộc gặp gỡ của chúng ta với Chúa Giêsu phải là điểm mấu chốt của cuộc đời mỗi người, nơi định hình mọi hành động trong tương lai của chúng ta. Noi gương Thánh Ba-na-ba, chúng ta phải luôn sẵn lòng tìm kiếm và chấp nhận sự chân thành khi người khác hoán cải và trở về trong Đức Kitô.

7. Thánh Constantine Cả



Thánh Constantine và Helena suy tôn Thánh Giá –Vasily Sazonov

Hành trình Constantine đến với Kitô giáo bắt đầu nơi đất khách và giữa những âm mưu chính trị. Đế chế La Mã đang có nhiều biến động. Sau hàng loạt vụ đảo chính xảy ra trong đó quyền lực được sang tay từ Caesar này đến Caesar khác và kết quả là nhiều người bị giết. Hoàng đế Diocletian đã bày ra phương kế chia-để-trị trong đó quyền lực được phân chia cho bốn đế vương. Tuy nhiên, hòa bình thì có hạn.

Constantine là con trai của hoàng đế Constatius, là một trong bốn vị cai quản Đế chế La Mã phương Tây và là người thừa kế ngai vàng phương Tây (cũng là Anh Quốc ngày nay). Constantine là một thủ lãnh tài ba và lúc ấy đang đóng binh ở tận ranh giới phía Đông của đế chế khi hoàng đế Galerius cố chiếm đoạt quyền lực. Chợt nhận ra mình sắp bị nguy hiểm đến tính mạng, Constantine xin phép về nhà để thăm người cha đang bệnh nặng. Vì một lý do không thể hiểu được, Galerius đã chấp thuận yêu cầu này. Có lẽ ông chưa bao giờ có ý định giữ lời sẽ cho Constantine về quê thăm bố.

Chộp lấy cơ hội, Constantine đợi Galerius đang ngủ say. Sau đó ông ra chuồng ngựa, nhảy lên một con ngựa và phóng như tên bắn. Suốt đêm, ông phi ngựa với tốc độ tối đa từ tiền đồn này đến tiền đồn khác. Tại mỗi trạm dừng, ông chọn con ngựa tốt nhất và đánh què tất cả những con ngựa khác trong chuồng để không bị bám đuôi.

Galerius thức dậy vào buổi trưa và được tin Constantine đã tẩu thoát. Ông không kịp trở tay vì Constantine đã có 15 tiếng để chạy trước và lại chiếm luôn những con ngựa duy nhất không bị thương tại các tiền đồn La Mã. Constantine trốn chay khắp nơi trên Đế quốc La Mã và tìm đường về với cha mình ở Anh Quốc.

Không lâu sau đó, Constantine trở lại Ý cầm đầu một đội quân. Trên đường chinh phục thành Rôma, ông đã nhìn lên bầu trời và thấy một thập giá với dòng chữ "Cứ dấu này, ngươi sẽ chinh phục." Ông đã nhận thập giá làm biểu tượng cho mình.

Constantine thống nhất và cai trị Đế chế La Mã. Ông đã hợp pháp hóa Kitô giáo và chấm dứt thời kỳ đàn áp Kitô giáo ở Đế quốc La Mã.

Trước khi nhận được thị kiến, Constantine chẳng quan tâm gì đến Kitô giáo. Việc ông cải đạo sau này, việc ông lên nắm quyền và đóng vai trò làm người bảo trợ Giáo Hội phần lớn không có lời giải thích nào ngoài lời chứng của ông rằng chính Chúa Kitô đã chọn ông. (Câu chuyện phỏng theo Carrol, W. The Founding of Christendom: A History of Christendom vol.1, Christendom Press, 1985)

Chúng ta có thể học được từ Hoàng đế Constantine rằng Chúa có một kế hoạch cho mỗi người chúng ta. Mỗi người chúng ta đều thực hiện một vai trò cụ thể trong Nước Trời.

8. Takashi Nagai



Phao-lô Takashi Nagai năm 1946

Takashi Nagai là một bác sĩ Nhật Bản còn sống sót sau vụ bom nguyên tử trong Thế chiến thứ hai. Ông sinh năm 1908. Ông được gửi đến trường học ở thành phố năm 12 tuổi, và các bộ môn khoa học đã giúp hình thành các tư tưởng vô thần của ông. Ông cũng được biết đến là người thích tận hưởng những thú vui thời sinh viên. Vào đầu năm thứ ba đại học, ông phải quay về nhà thăm mẹ lần cuối vì bà đang hấp hối. Khi nhìn vào đôi mắt của bà, ông nhận ra rằng linh hồn con người vẫn tiếp tục sống cho dù thân xác có mất đi. Trong 5 năm tiếp theo, ông đấu tranh với những tư tưởng của mình. Nagai quyết định sống theo niềm tin Kitô giáo như một thí nghiệm khoa học bằng cách ở trọ với một gia đình Công giáo Nhật Bản. Gia đình này đã có nhiều người tử đạo. Ông được rửa tội vào tháng 6 năm 1934, dù biết rằng điều này sẽ gây chia cách với người cha của ông theo Thần đạo. Năm 1945, Bác sĩ tìm thấy ông mắc phải bệnh bạch cầu nan y. Vào ngày 9 tháng 8 năm 1945, bác sĩ Nagai đang ở khoa X quang của một bệnh viện tại Nagasaki thì xảy ra vụ bom nguyên tử. Ông tổ chức các y tá và sinh viên thành một đơn vị y tế lưu động. Vào ngày 8 tháng 9 cùng năm, bác sĩ Nagai phát hiện triệu chứng của bệnh nhiễm phóng xạ và chuẩn bị tinh thần cho cái chết. Sau khi cầu nguyện với Cha Maximillian Kolbe, người đã gặp bác sĩ Nagai trước khi ngài qua đời, ông đã được chữa lành một cách kỳ diệu trong vòng một tháng.

Chúng ta có thể học được từ Takashi Nagai rằng có nhiều thứ trong thực tế hơn là thế giới vật chất, là những gì chúng ta có thể nhìn thấy, chạm vào và cảm nhận. Chúng ta đang sống trong một thế giới chứa đựng những thực tại vô hình. Thế giới vật chất có thể bị quét sạch trong giây phút (như Nagasaki bị bom nguyên tử). Chỉ những thực tại thiêng liêng mới thực sự trường tồn. Chúng ta phải khắc ghi trong lòng và sống với những điều này.

9. John Henry Newman



Chân dung John Henry Newman - bởi John Everett Millais

John Henry Newman là trưởng nam trong một gia đình Tin lành thuộc giai cấp trung lưu có 6 người con. Ngài sinh ra ở Anh Quốc vào năm 1801. Ngài gia nhập đại học Oxford năm 15 tuổi và trở thành giáo sĩ Anh giáo năm 23 tuổi. Đối với Newman, môi trường giáo dục từ nhỏ đã dạy ngài những điều xấu xa về Giáo hội Công giáo. Năm 1836, ngài bắt đầu soạn thảo các phiên bản tiếng Anh của các tác phẩm thời Giáo phụ. Từng chút một, những chống đối mà ngài đã từng có trước đây về Công giáo La Mã đã bị dẹp tan dưới sức thuyết phục của bài kiểm tra mở rộng này. Ngài đã dần nhận ra rằng Giáo hội đã trung thành lưu truyền đức tin chân chính của các tông đồ để lại. Năm 1843, ngài rời bỏ Anh giáo để dành nhiều thời gian hơn cho việc cầu nguyện và nghiên cứu. Ở tuổi 44 vào năm 1845, John Henry Newman được tiếp nhận vào Giáo hội Công giáo sau khi đã thực hành nhiều hy sinh cá nhân lớn lao. Ngài đã từ bỏ một chức vụ thoải mái và kết thúc đột ngột nhiều mối quan hệ lâu dài. Trong những năm đầu theo đạo Công giáo, các đồng nghiệp cũ gọi ngài là kẻ phản bội và nhiều người Công giáo coi ngài như tín đồ Tin lành kín. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài là cuốn tự truyện tâm linh mang tên Apologia Pro Vita Sua.

Ngoài ra, đây là một trong những lời nguyện nổi tiếng nhất của ngài:

Sứ mệnh đời tôi

Thiên Chúa đã dựng nên tôi để làm cho Ngài một số công việc nhất định. Ngài đã định sẵn một số công việc cho tôi mà Ngài đã không để cho người khác. Tôi có sứ mệnh của mình. Có thể tôi sẽ không bao giờ biết về nó ở đời này, nhưng chắc chắn ở đời sau. Tôi là một mắt xích trong một dây chuyền, một mối liên kết giữa những con người với nhau. Ngài đã không dựng nên tôi một cách vô ích. Tôi sẽ làm điều lành; Tôi sẽ làm công việc của Ngài. Tôi sẽ là một thiên thần bình an, một người rao giảng chân lý ở cương vị của mình, nếu không làm được thế thì tôi nguyện xin tuân giữ các điều răn của Ngài. Vì vậy, tôi sẽ tin cậy Ngài, bất kể tôi là gì, tôi sẽ không bao giờ bị vứt bỏ. Nếu đau ốm, xin cho bệnh tật của tôi cũng phụng sự Ngài, trong cơn bối rối, xin cho cơn hoảng loạn của tôi cũng phụng sự Ngài. Nếu đau buồn, xin cho nỗi tuyệt vọng của tôi cũng phụng sự Ngài. Ngài không làm gì vô ích. Ngài biết mục đích của Ngài là gì. Ngài có thể lấy đi bạn bè của tôi. Ngài có thể đem ném tôi cho người lạ. Ngài có thể khiến tôi nên điêu linh, nhấn chìm tinh thần tôi, che giấu tương lai tôi. Tuy vậy, Ngài vẫn biết mục đích của Ngài là gì.

Chúng ta noi gương Đức Hồng Y Newman để làm theo lời Chúa và “ Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.” (1 Pr 3,15)

10. Elizabeth Ann Seton



Thánh Elizabeth Anne Seton

Elizabeth Ann Seton là người Mỹ bản xứ đầu tiên được phong thánh trong Giáo Hội Công giáo. Có nhiều thánh điện lộng lẫy tại Hoa Kỳ đã được cung hiến cho vị thánh người Mỹ này. Bà sinh ra chỉ 2 năm trước cuộc cách mạng Mỹ, và sinh trưởng trong một gia đình thượng lưu của xã hội New York. Bà đã kết hôn với ông William Seton vào năm 1794, và họ yêu nhau thắm thiết. Sức khỏe của William dần chuyền biến xấu, và họ đã bán hết tài sản để đi Ý với niềm hi vọng sẽ cứu chữa được bệnh của William. Do bệnh sốt vàng ở New York, họ đã bị cách ly 40 ngày dưới điều kiện sống kinh khủng. Elizabeth đã chăm sóc người bệnh ở đó, và William đã qua đời trong trại cách ly. Trong khi chờ đợi để quay về lại Mỹ, Elizabeth đi lễ với những người bạn ở Ý và cảm thấy đặc biệt ấn tượng với niềm tin Công giáo về sự Hiện diện Thực (the Real Presence). Khi bà trở lại New York, bà đã không còn tài sản gì và phải sống với các bạn. Năm 1805, bà cải đạo vào Công giáo với một hy sinh cá nhân lớn lao: bỏ lại bạn bè và bị cách biệt hoàn toàn khỏi xã hội. Năm 1809, bà trở thành một nữ tu và khởi sự một nhóm mà sau nay trở thánh Hiệp hội Nữ tử Bác ái tại Mỹ vào năm 1811. Bà đã giúp xây dựng một trường học nội trú dành cho các bé gái, một trường học dành cho các trẻ em nghèo và một viện mồ côi. Lúc Elizabeth qua đời, có hơn 20 cộng đoàn Nữ tử Bác ái, thực hiện công tác giáo dục miễn phí, thành lập các viện mồ côi, trường nội trú, và bệnh viện trong các tiểu bang Pennsylvania, New York, Ohio, Delaware, Massachusetts, Virgina, Missouri, Louisiana, và District of Columbia. Mắc bệnh lao, vào năm 1821 sơ Elizabeth đã qua đời trong một cái chết đau đớn và kéo dài.

Thánh Elizabeth không muốn gì hơn là được trở nên một người vợ hạnh phúc và một người mẹ có con đàn cháu đống, nhưng Thiên Chúa đã có những thử thách khác định sẵn cho bà. Thánh nhân đã để cho các thử thánh của cuộc đời giúp ngài tăng trưởng trong đức tin và nhân đức. Trong mỗi thử thách, thánh Elizabeth nhận ra rằng Thiên Chúa cũng tỏ lộ những nguồn lực, sức mạnh và lòng can đảm mà chính thánh nhân không hề biết ngài có.

Cũng như Thánh Elizabeth, chúng ta nên để cho những đau khổ và giẳng co nội tâm mài dũa chúng ta trở nên những môn đệ tốt hơn của Chúa Giê-su.

Bạn có biết câu chuyện cải đạo nào hay không?


Tác giả: Tom Hoopes
Chuyển ngữ: Nguyễn Trần Minh Đức


WGPPD(20.05.2021) Hình ảnh liên tưởng giúp ta dễ dàng ghi nhận ý nghĩa và cách thức hoạt động của các ơn này.

Các bài đọc lễ Hiện Xuống, Chúa nhật tuần này, kể về cách thức Chúa Thánh Thần hiện xuống đầy ấn tượng trên các Tông đồ và Đức Maria.

Nhưng đối với mỗi người chúng ta, Ngài đến bằng cách âm thầm hơn: Đó là bảy ơn Ngài ban thông qua Bí tích Rửa tội, tuyệt đối cần thiết đối với đời sống Kitô hữu.

Các ơn thiêng này có thể khó hiểu và khó phân biệt. Đây là cách giúp tôi ghi nhớ:

1. Ơn khôn ngoan như việc xức dầu

Ơn khôn ngoan giúp phân biệt đúng sai - khôn ngoan là nhận biết Thiên Chúa cả bằng tâm và trí ta.

Nói cách khác, ơn khôn ngoan đến từ việc nhận biết Thiên Chúa không như một người tầm đạo mà như người trong nhà. Chúng ta có thể biết Ngài như vậy vì là thành viên thuộc về gia đình Ngài.

Khi chúng ta được xức dầu lúc Rửa tội và Thêm sức - được đóng ấn bởi Thánh Thần - chúng ta được kết hợp vào một gia đình mới với Thiên Chúa là Cha của chúng ta, Chúa Giê-su Kitô là người anh, và Chúa Thánh Thần kết nối chúng ta với các thánh trong mối dây yêu thương.

Khi chúng ta được nhận vào gia đình này, các linh mục xức dầu trên trái tim (trên ngực của trẻ sơ sinh được rửa tội) và tâm trí (trán của chúng ta lúc Thêm sức) - một dấu son của sự Khôn Ngoan thật.

2. Ơn hiểu biết như lưỡi lửa

Nhiều người kinh nghiệm được khi đọc Kinh thánh và thấy chữ như sống động nhảy bật ra khỏi trang sách. Hay chẳng hạn như bạn chưa bao giờ nhận thấy một điều gì đó trong một câu chuyện Phúc Âm trước đây, rồi bỗng nhiên bạn chợt nhận ra một ý nghĩa mới về toàn bộ sự việc.

Bạn có thể minh họa điều này như một bóng đèn trên đầu ai đó - hoặc bạn có thể làm theo cách của Bài đọc I: “Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một” (Cv 2:3).

Đây là ánh sáng nội tâm mà ơn hiểu biết của Thánh Thần ban cho - không chỉ trong Kinh thánh mà trong suốt cuộc sống của chúng ta.

3. Ơn biết lo liệu như Phê-rô trong buổi sáng Lễ Ngũ Tuần

Biết lo liệu là ơn giúp ta thấy rõ ý muốn của Thiên Chúa.

Trong Bài đọc I của Chúa Nhật này, chúng ta nghe kể rằng những người thuộc các ngôn ngữ khác nhau đều có thể hiểu được các tông đồ người Ga-li-lê.

Vào Chúa Nhật Phục Sinh, chúng ta đã nghe sứ điệp mà họ nghe: Thánh Phêrô can đảm rao giảng, dứt khoát, nhưng cũng rất thu hút, về Chúa Giêsu.

Ngài không lên án, xúc phạm hoặc hạ giá dân chúng vì những yếu đuối của họ;Ngài thách thức họ và kêu gọi họ đến với sự vĩ đại, mỗi người bằng ngôn ngữ riêng của họ.

Ơn lo liệu của Thánh Thần giúp ta nhận ra thánh ý Chúa cách rõ ràng và phá bỏ những rào cản để thực hiện.

4. Ơn sức mạnh như một cơn gió thổi mạnh

Ơn sức mạnh hàm chứa sự can đảm, nhưng Chúa Thánh Thần không chỉ đơn giản làm cho chúng ta dũng cảm hơn; Ngài ban cho chúng ta lòng dũng cảm đến từ việc tin cậy vào sức mạnh Thiên Chúa.

Bài đọc I của ngày lễ này kể về sự kiện Chúa Thánh Thần hiện xuống như sau: “Bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà” (Cv 2:2).

Ơn sức mạnh là một luồng gió mạnh thúc đẩy linh hồn bạn; một luồng gió từ phía sau ban cho bạn sự tự tin để đối mặt với chặng cuối của cuộc đua, biết rằng những nỗ lực của bạn đang được thúc đẩy bởi một sức mạnh vô hình.

5. Ơn thông minh như chim bồ câu

Chúa Thánh Thần thường được mô tả như một con chim bồ câu, và điều đó có một ý nghĩa rất cụ thể trong Kinh thánh. Trên chiếc tàu Nô-ê, chim bồ câu là loài chim đã được thả ra để bay đi tìm đất liền, mang lại niềm hy vọng.

Ơn thông minh của Chúa Thánh Thần hoạt động theo cùng một cách đối với chúng ta - Ngài mang đến cho chúng ta lăng kính của Thiên Chúa để giúp ta nhìn nhận các sự việc bằng con mắt của Ngài.

Chúa Giê-su nói “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến” (Ga 16:13).

6. Ơn đạo đức như nước hằng sống

Chán nản là một mối đe dọa lớn đối với đời sống thánh thiện. Chúng ta có thể dễ dàng đón nhận ơn gọi của Chúa Kitô, rồi nhìn lại cuộc sống của chúng ta và bỏ cuộc.

Bài phúc âm vào đêm canh thức của Chúa Nhật Hiện Xuống kể lại câu chuyện Chúa Giê-su đứng lên và phán với đám đông: "Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” (Ga 7:38).

Gio-an thêm vào: “Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí” (Ga 7:39) – Ơn đạo đức của Thánh Thần, giống như nước, làm tươi mới và hồi sinh đời sống thiêng liêng của chúng ta.

7. Ơn kính sợ Chúa như trụ mây

Tại các biến cố khác nhau của Cựu ước - Biển Đỏ, Núi Sinai và những nơi khác Thiên Chúa xuất hiện giữa dân Ngài dưới hình cột mây

Nhưng không phải là một đám mây đen mà là một trụ mây đầy ánh sáng. Đó là dấu hiệu chỉ sự huyền nhiệm tuyệt hảo của Thiên Chúa toàn năng.

Khi nghĩ về Thiên Chúa, chúng ta phải tỏ lòng tôn trọng và kính sợ như dân Ít-ra-en đã bày tỏ khi nhìn thấy cột mây. Ơn kính sợ Chúa làm cho điều này trở nên khả thi.

Hãy cầu nguyện để được những ơn này. Phao-lô nói: “Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả”

VTCG:Trước khi về trời, Đức Kitô đã ủy thác cho chúng ta Sứ mệnh Vĩ đại vốn làm nên ơn gọi của chúng ta như là các Kitô hữu.


Xuyên suốt cuộc đời dương thế, Đức Kitô đã nhiều lần khuyên răn và hướng dẫn các môn đệ. Nhưng sự kiện Thăng Thiên là một cái gì đó khác lạ và độc đáo: Trong những khoảnh khắc cuối cùng, trước khi rời khỏi trần gian này, Ngài đã để lại cho chúng ta những giáo huấn tối hậu và mang tính quyết định.

Hiểu được sứ mệnh phổ quát này là chìa khóa giúp ta sống đời Kitô hữu.

Các sách Phúc Âm cung cấp cho chúng ta những phiên bản hơi khác nhau về các lệnh truyền cuối cùng của Đức Kitô, nhưng chúng đều chung chia một chủ đề thống nhất và thông điệp thuyết phục.

Đức Kitô kêu gọi các môn đệ làm nhân chứng cho Ngài:

“Nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1, 8)

Ngài muốn chúng ta loan báo Tin Mừng khắp nơi. Ngài nói với họ: “Hãy đi khắp thế gian và rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. (Mc 16,15)

Trên hết, Ngài kêu gọi chúng ta làm cho thế giới bước đi theo Ngài và vâng lời Ngài chỉ dạy.

“Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. ” (Mt 28, 19-20)

Những chỉ thị cuối cùng này của Đức Kitô được gọi là “Sứ Mệnh Vĩ Đại” và cũng là trọng tâm của ơn gọi Kitô hữu. Ngày lễ Thăng Thiên đang được cử hành hôm nay là thời điểm thích hợp để suy ngẫm về cách chúng ta có thể hoàn thành ơn gọi này.

Tất nhiên, có rất nhiều điều liên quan đến việc theo Chúa, đủ để khỏa lấp toàn bộ Kinh Thánh và Sách Giáo Lý. Nhưng một cách thực tiễn, chúng ta có thể tập trung vào ba hành động sau đây như một số điểm quan trọng nhất.

1. YÊU THƯƠNG LẪN NHAU

Gần đây, tôi đã thấy một người trên Instagram hỏi: "Cái gì đáng lẽ bạn phải thích nhưng thực sự làm bạn thấy hơi khó chịu?" Khá nhiều người trả lời những câu đại loại như, “trong tư cách là một Kitô hữu? Dân chúng. Đáng lẽ tôi phải yêu tha nhân nhưng một số người thấy điều đó thực sự khó khăn! ”

Đó là một cách hài hước để thể hiện một sự thật sâu sắc. Yêu thương người khác là điều quan trọng nhất chúng ta phải làm với tư cách là Kitô hữu, nhưng đó cũng là điều khó nhất… gấp bội phần.

Chúng ta có thể nhìn vào gương thánh sử Gioan, người đã minh họa một cách đáng nhớ việc cố gắng sống như một Kitô hữu sẽ thay đổi chúng ta sâu sắc như thế nào.

Khi còn trẻ, thánh Gioan và anh trai Ngài, thánh Gia-cô-bê được gọi là “đứa con của sấm sét” vì tính cách nóng nảy và bộc trực của họ. Một hôm trong sứ vụ công khai của Đức Kitô, họ đã xin lửa từ trời xuống để tiêu diệt những dân làng không chào đón Thầy Giêsu (Lc, 9,54). Rõ ràng là thông điệp Kitô hữu phải không ngừng tha thứ vẫn chưa thấm vào lòng họ!

Nhưng nhiều thập kỷ sau, thánh Gioan đã kết tinh lại tất cả những gì Ngài đã học được từ Đức Kitô trong một câu duy nhất: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, hãy yêu thương nhau”. Thánh Giêrônimô kể câu chuyện này khi chú giải về thư gửi tín hữu Ga-lát:

Thánh sử Gioan khả kính đã sống ở Ê-phê-xô cho đến tuổi già. Các môn đệ của Ngài gần rất khó khăn mới đưa Ngài đến nhà thờ và Ngài không còn sức để nói nữa. Trong các buổi gặp mặt, ngài thường không nói gì ngoài "Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, hãy yêu thương nhau." Các đệ tử và anh em có mặt đều cảm thấy khó chịu vì họ luôn nghe cùng một lời này, cuối cùng đã nói: "Thưa Thầy, sao Thầy luôn nói điều này thế?" Ngài đã trả lời theo đúng kiểu Gioan: "Bởi vì đó là điều răn của Chúa và chỉ cần tuân giữ bấy nhiêu cũng đủ rồi."

Từ một “đứa con của sấm sét” cuồng nộ trở thành một ông già hiền lành ở Ê-phê-xô, thánh Gioan đã trở thành mẫu mực cho quá trình biến đổi trong ơn gọi Kitô hữu của mình. Chúng ta có thể ghi nhớ thông điệp này cách đặc biệt trong ngày lễ Thăng Thiên: "Hãy yêu thương nhau."


2. CẦU NGUYỆN CHO CÁC CÁ NHÂN VÀ CHO THẾ GIỚI

Khi chúng ta nhìn thấy nhiều vấn đề lớn nhỏ xung quanh mình, chúng ta thường nghĩ rằng tự chúng ta có thể tìm ra giải pháp. Nhưng không có gì chúng ta có khả năng làm lại hiệu quả hơn những gì Chúa có thể khiến xảy ra.

Hãy cùng dâng lời cầu nguyện cho bạn bè và các thành viên trong gia đình, những người đang gặp phải nhiều khó khăn khác nhau. Rồi hãy cùng đoàn kết để dâng lên các nhu cầu sâu xa của Giáo Hội và thế giới. Hãy cầu nguyện và thực sự tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa và vững tin rằng Ngài sẽ hành động.


3. HÂN HOAN CHIA SẺ NIỀM HY VỌNG


Thánh Phê-rô khuyến khích các tín hữu: “Hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1 Pr 3,15). Cũng vậy, hãy sẵn sàng giải thích những việc chúng ta làm.

Thực sự sống đời Kitô hữu thường được ví như lội ngược dòng áp lực văn hóa của thời đại. Cuộc đời chúng ta có thể khác biệt trong môi trường làm việc, khu dân cư và thậm chí cả gia đình của chúng ta.

Khi ai đó nhận xét hoặc hỏi tại sao chúng ta làm điều này điều kia, chúng ta có cơ hội trở thành nhân chứng như Đức Kitô muốn, nghĩa là chia sẻ niềm hy vọng của chúng ta trong sự thân thiện và giản dị.

Trong dịp lễ Thăng Thiên, chúng ta hãy hân hoan canh tân sứ mệnh mà Đức Kitô đã giao cho chúng trong ngày đại lễ. Hãy cùng tìm kiếm cách để thực hiện Sứ mệnh Vĩ đại trong cuộc sống của chính mình ngay hôm nay.

NT. Minh Đức chuyển ngữ
Nguồn: Aleteia.org

VIẾT CHO NHÃ*

(Dựa trên câu chuyện có thật về em Phêrô Khoa Nguyễn Văn Nhã)


Nhã thương mến!

Gặp em vô tình trên một trang truyền thông của giáo phận Vinh, khi em đã về với Chúa. Tôi miên man nghĩ về sự chết, sự chết của em ngay chính giữa mùa Phục sinh này. Chết là một hiện tượng rất bình thường với con người. Chúng ta ai cũng phải chết. Nhưng chúng ta có thản nhiên chấp nhận nó không? Nó có phải là một sự cố số phận chúng ta không thể tránh? Tôi hình dung ra trong buổi lễ an táng của em, đã có rất nhiều bài thánh ca tôn vinh Thiên Chúa và cả những khúc ca ly biệt đang da diết xót xa vang lên trong chính tâm hồn những người thân yêu, những bạn bè của em. Và khi quan tài em từ từ đi vào lòng đất, chúng tôi, những người còn sống nghĩ gì về bài học em để lại?


Nhã à! Cảm ơn em, cảm ơn về hành động của em. Chẳng có thứ huân chương nào đong đo được sự hy sinh của em, một sự hy sinh vì người khác, một sự hy sinh xuất phát từ những bài học về Đức Ái Kitô giáo phải không em? Em đã lớn lên trong âm hưởng từ những câu kinh của bà, của mẹ. Cái nôi xứ đạo đã nuôi lớn em. Dù gia cảnh khốn khó, nhưng em vẫn vượt khó để bước tới giảng đường đại học. Em là niềm tự hào, là niềm vui của nội, của bố mẹ và chỗ dựa cho các em. Chiếc hình bà em làm tôi xúc động, đôi mắt ấy đã cạn nước vì thương đứa cháu ngoan. Nơi cổ bà, tôi thấy chiếc Áo Đức Bà đã cũ mèm, như thể bà đã cầu xin sự chết lành từ lâu rồi. Có lẽ mái đầu bạc ấy chưa đành tin vào sự ra đi của em. Phải chăng bà đang nghĩ: giá mà bà được chết thay cho em, để em được sống và thực hiện ước mơ tuổi đôi mươi.



Câu chuyện về cuộc đời em đã được viết lên, không phải em là một vĩ nhân hay thiên tài. Em bình thường, rất bình thường như bao cậu sinh viên khác. Đôi mắt và nụ cười của em nói lên những ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ. Tôi còn được biết, tháng 7 này em sẽ tốt nghiệp Đại học và dự định sẽ đi tu. Đó là một ước mơ đẹp, rất đẹp Nhã ạ! Nhưng chương trình của Chúa chúng ta sao có thể thấu biết hết được. Chúa muốn điều tốt đẹp cho chúng ta, và chúng ta có quyền tự do để vẽ lên bao sáng kiến làm vinh danh Ngài. Em đã bắt chước Chúa trước cả khi em đi tu. Hy sinh vô điều kiện vì lòng yêu người.

Câu chuyện của em được viết lên như một bản tình ca trong thời đại vô cảm ngày hôm nay. Câu chuyện ấy chỉ trong chớp nhoáng và ngắn ngủi nhưng bài học từ tấm gương em thì mãi mãi ngời sáng. Tuổi 23 của em sẽ đi vào vĩnh cửu với hai chữ Hy sinh cao cả. Tôi tự hỏi, trong giây phút giữa lằn ranh tử thần của ngọn sóng ngoài kia đang đe dọa ba mạng người với tiếng cầu cứu vang lên, em đã nghĩ gì? Liệu em có kịp nghĩ để đắn đo lựa chọn? Thứ gì đã thôi thúc bước chân em chạy về phía đó? Để ba con người được cứu sống, em đã chấp nhận tan biến giữa lòng đời. Sự ra đi của em không vô nghĩa! Lòng tốt nơi đáy tâm hồn của con người trong khoảnh khắc nào đó chợt vụt sáng như vì sao chổi. Nhưng lòng tốt ấy không bao giờ rơi chìm vào bóng đêm thất vọng. Lòng tốt của em mãi mãi là vệt sáng không lịm tắt trên nền trời hôm nay. Đẹp biết mấy và trân quý biết mấy. Em đã về Thiên đường, về với Chúa là Cha. Nhà văn Hemingway đã từng nói: “Khi bạn yêu thương, bạn muốn làm vì người khác. Bạn muốn hy sinh. Bạn muốn phục vụ.” Có lẽ em chưa từng đọc câu nói ấy nhưng em đã sống chân lý đó rồi! Và em cũng sẽ sống mãi trong lòng mọi người, sống mãi ở lứa tuổi đẹp nhất của đời người - tuổi trẻ.



Nhiều lúc, tôi nghĩ mình chẳng có gì để cống hiến cho tha nhân, nhất là khi ngồi bên những người nghèo, những người đau khổ hay những người đang hấp hối. Nhưng khi tôi nghĩ về một ngày nào đó, tôi cũng sẽ chết, nhưng chẳng ai có thể biết trước mình sẽ chết cách nào. Nghĩ như thế, bỗng nhiên tôi lại thấy gắn bó hơn với những cảnh đời trước mắt và có thêm nghị lực để can đảm lên đường sống đời chứng nhân cho Chúa. Cám ơn em, vì bài học về lòng can đảm tuyệt vời. Lòng can đảm và sự chết của em đã truyền đi như một thông điệp, một cách để làm chứng cho Đức tin của chúng ta phải không Nhã?

Cuối cùng, tôi xin chép gửi tặng em lời kinh về Thánh Quan Thầy của em - Thánh Phêrô Khoa. Ngài đã được nhiều người quý mến và tôn kính trên quê hương em và trong lòng Giáo hội Việt Nam. Cái tên của em giờ đây cũng sẽ mãi được khắc ghi như thế: Phêrô Khoa Trần Văn Nhã, người con của xứ Nghệ. Nguyện cầu cho em về hưởng Nhan Thánh Chúa.

Lạy ơn Đức Chúa Trời lòng lành vô cùng
Đã đoái thương nước Việt Nam
Ban cho anh em chúng con được phúc Tử vì đạo
Xin Chúa Con vì công nghiệp Cha Thánh Phêrô Khoa
Nghe lời chúng con cầu xin cho được mọi sự lành
Và ban ơn cho chúng con được bắt chước Cha Thánh Phêrô Khoa
Làm sáng danh Chúa con ở đời này
Cho ngày sau được lên Thiên đàng
Hưởng phúc đời đời Amen.

(Lời Kinh Cha Thánh Phêrô Khoa)

Thân mến chào em!

Chị.

Anna Bích Hạt

*Ghi chú: Em Phêrô Khoa Nguyễn Văn Nhã, thuộc giáo họ Đồng Lăng, Giáo xứ Cẩm Trường, Gp. Vinh. Nhã 23 tuổi, sinh viên Khoa Công nghệ thông tin, Trường ĐH Khoa học Huế. Chiều 30.4. 2021, tranh thủ thời gian nghỉ lễ, nhóm bạn của em Nhã đã cùng nhau về biển Thuận An (Huế) vui chơi tắm biển. Tại đây, phát hiện 3 bạn nữ trong nhóm bị sóng cuốn xa bờ, đuối nước, nên Nhã bơi ra ứng cứu. Sau khi đưa được các bạn vào nơi an toàn thì Nhã kiệt sức và bị sóng cuốn trôi.




Ảnh Đêm rằm trên Nhà Nguyện Thánh Tâm- Nhà thờ Phát Diệm

Nét mặt nó u sầu phiền muộn, đôi mắt hốc hác, hình hài chỉ còn ‘da bọc xương’. Nó nhìn về phía cửa sổ ra sân trước bệnh viện. Ngoài trời đổ mưa phùn, gió bấc đuổi bắt vài hạt mưa bụi làm nhiệt độ giảm xuống thấp hơn. Hình như Nó lo cho hai đứa trẻ bị lạnh hay đang chờ đợi điều gì đó?

Thân hình nó tiều tụy lắm! Nó nhìn vào khoảng không vô định, miệng không mấp máy. Đôi tay Nó như người bại liệt, da dẻ nhợt nhạt như người thiếu máu. Tôi không nhận ra nó trước lúc đọc bệnh án và lý lịch! Nó cố tình không nhận ra tôi hay đối với nó giờ này, mọi ký ức đã trôi vào quên lãng?

Phượng ơi! Cậu có phải là Phượng Lan, ở Bản Eo không? Mắt nó lờ đờ nhìn tôi, miệng run lẩy bẩy, ấp úng không thốt nên lời, hàng lệ bắt đầu lăn trên gò má gầy guộc!

Sao cô biết tên Tôi? Cô là ai? Nó hỏi Tôi.

Tớ Thu đây! Thu choắt. Phượng còn nhớ không? Nó gục đầu xuống oà khóc nức nở! Nó khóc như chưa được khóc bao giờ vậy. Thật ra, Nó đã khóc quá nhiều. Tôi cùng khóc với Nó! Cơ thể nó suy nhược vì lao lực. Có lẽ, vì nó quá khổ cực và bần cùng. Nó ôm lấy tay tôi vừa khóc vừa run lên.

Hoàng hôn đã xuống núi, nhưng tôi không muốn về phòng trọ. Đêm nay tôi ở lại với nó. Nó thật đáng thương, chẳng ai đến chăm và thăm nom. Cha mẹ đẻ của nó đã già lại đau bệnh. Anh chị em thì lập gia đình ở xa. Gia đình nhà chồng không đoái hoài đến nó. Chồng nó thì trôi dạt ở phương trời nào không ai hay! Nó được láng giềng đưa đi cấp cứu.

***

Nó và tôi sống cùng một bản và học chung một lớp. Nhưng từ khi nó sang sông! Tôi lao vào học tập, nên chúng tôi chẳng biết thêm gì về cuộc sống của nhau. Tình cờ gặp lại nó ở nhà thương, khiến chúng tôi xúc động. Sau ngần ấy năm, giờ nó là bệnh nhân của tôi. Bệnh án của nó không có gì đáng lo, chỉ cần nghỉ ngơi bồi dưỡng là ổn, chỉ lo những chuỗi ngày còn lại của đời nó sẽ ra sao? Tôi lặng lẽ nhìn nó trong nước mắt! Quả đúng như nhiều người nói, cuộc sống như là một mầu nhiệm. Và để hiểu mầu nhiệm ấy, con người cần sống chậm lại, thinh lặng thì mới có thể thấu cảm được.

Gần chục năm qua, nó lặn lội đi sớm về khuya như một thân cò, “eo xèo mặt nước buổi đò đông.” Nó đã làm nhiều nghề, nhưng không có nghề nào ủng hộ nó! Từ mò cua bắt ốc, lao công dọn dẹp, thu phế liệu, thậm chí bán máu lấy tiền nuôi con! Buôn bán nó cũng từng làm. Đi ở, nó cũng đã thử. Cuộc đời nó ba chìm bảy nổi sau ngày vu quy!

Thời áo trắng của nó khép lại sớm. Nó buộc phải nghỉ học để bước sang sông, bao mộng mơ hoài bão bị cuốn trôi theo dòng nước. Một ngã rẽ ngoài sự tưởng tượng của nó và nhiều người. Tuy nơi nó bắt đầu cuộc sống mới là một nơi nhiều hứa hẹn.

Chồng nó đẹp trai, có khiếu ăn Nói. Nó quen anh trong dịp lễ Noel. Tiếng xét yêu đương khiến nó đánh đổi với chính niềm tin của mình. Cuộc hôn nhân “tai nạn” của nó và hắn diễn ra trong vội vã nhưng âm thầm, như báo trước một tương lai không bình yên!

Một vài người thân như ruồng bỏ nó. Mẹ nó khóc nhiều. Nó cũng tủi thân, nhưng điều đau khổ hơn là hắn đã bỏ rơi nó. Nó đã yêu và trao hiến cho hắn trọn vẹn, vô vị lợi, đánh đổi tất cả, gia đình và niềm tin. Nó sống những chuỗi ngày đầy nước mắt kể từ về với hắn. Hắn làm tan nát cuộc đời nó. Khi nó nhận ra đàng sau sự ngọt ngào đường mật của hắn thì đã quá muộn! Ngày qua ngày, nó ôm con gào thét trong nỗi đau quằn quại.

Nó nghe thiên hạ nói đủ điều về hắn: cờ bạc, rược chè, gái gú, côn đồ máu lạnh… Trước khi cưới nhau, hắn là một chàng trai lịch lãm, nhưng hắn đã trở nên một con người khác từ khi nào? Chỉ có hắn mới biết được. Việc gì hắn cũng dám làm. Ngay cả nắm đấm vào mặt vợ, vào anh chị em và cha mẹ hắn! Hắn không quan tâm sự tồn tại của bất cứ ai. Thứ hắn cần là tiền và những cuộc ăn chơi trụy lạc thâu đêm.

Tôi không hiểu tại sao nó có thể sống với hắn với hai mặt con? Trái tim nó lớn quá, nên dù hắn xem nó như nô lệ nhặt từ xó chợ về, nó vẫn yêu hắn. Thật ra, nhiều lần nó muốn bỏ lại tất cả để ra đi, nhưng một phần vì thương con, một phần vì yêu hắn, nên nó cam chịu. Nhưng có thể, nó muốn giữ trọn lời thề của giao ước hôn nhân mà niềm tin dạy nó?

Cho đến một ngày, tận mắt nó nhìn thấy hắn gian díu với người phụ nữ khác ngay trong nhà mình! Từ đó, bầu trời trong tim nó sụp đổ. Nó kìm lòng chịu đựng, không phải vì yêu hắn, nhưng vì thương con. Nó không muốn con nó không có cha. Thật ra, Nó nhiều lần tha thứ và hi vọnghHắn trở về, nhưng hắn vẫn ngựa quen đường cũ!

Quá đau khổ, Nó giận cả Chúa. Nó bỏ lễ. Nó sợ gặp nhiều người, nhất là những người trước đây là khuyên Nó không nên lấy chồng ngoại đạo. Nó bắt đầu oán trách về cuộc đời mình. Nó hối tiếc về chọn lựa sai lầm ngày ấy, nhưng nó không hề nói ra. Nó trách mình đã nhẹ dạ cả tin, Nó trách mình đã yêu một cách mùa quáng, nên không nghe lời khuyên của cha mẹ và bạn bè. Nhưng có lẽ, nó ăn năn với Chúa nhiều hơn, Đấng mà nó một đời tin yêu một đời, nhưng giờ nó như đã quên Ngài.

Thật ra, nó không bỏ đức tin, nhưng vì hắn không cho nó đến nhà thờ. Có lần, nó đưa con đi rửa tội và đi lễ, bị hắn cho một trận đòn chí tử. Hắn nói: “Mày rửa tội cho bọn nó, thế sau này ai thờ tao? Mày đi lễ làm gì? Mày đi lễ có được tiền không? Mày đi lễ, mày cầu nguyện thế nào mà tại sao tao không trúng được số đề, làm ăn toàn thất bại vậy?...” Rồi hắn xúc phạm niềm tin mà trước đây hắn từng đi theo, xúc phạm đến lời cam kết khi bước vào cuộc hôn nhân này.

Khi say, hắn chửi cả cha đứa nào sinh ra hắn. Hắn giống Chí Phèo. Nhưng Chí Phèo năm xưa còn cao thượng hơn hắn. Vì Chí Phèo có khao khát lương thiện. Câu nói cuối cùng của Chí Phèo nói với Bá Kiến, khiến người đời suy nghĩ! Rằng: “ai cho tao lương thiện?” Còn hắn, có lẽ đời hắn không cần lương thiện, hắn cần lương tháng!

Hắn không cần lương thiện vì dù hắn đã trở thành một người theo đạo Công giáo. Nhưng hắn đã chối bỏ sự thánh thiện! Chẳng qua, ngày ấy, hắn vì bất đắc dĩ, nên miễn cưỡng theo đạo để làm đẹp lòng gia đình bên vợ, cũng như để tiến tới đám cưới hợp lệ, bằng không, đám cưới ấy sẽ vắng bóng họ hàng bên ngoại. Hắn đã thực hiện cú lừa ngoại mục. Hắn đã đạt được mục đích. Ôi ! Vô phúc cho kẻ dùng sự thánh thiện để lừa dối!

***

Phượng! Cậu về sống ở nhà Thu nhé? Tớ thì đang sống một mình. Nhà tớ rộng lắm!

Cậu Nói sao? Cậu đang độc thân hả? Nó hỏi tôi.

Uhm ! Tớ còn độc thân. Tớ đang chờ người đến rước về nhà họ đây. Nói rồi tôi quay ra cửa sổ như muốn trốn cái nhìn tò mò của nó. Hình như nó đoán ra điều gì đó.

Nó cười và nói: “Lấy chồng thì chọn đứa cho đàng hoàng, đừng lấy chồng ngoại đạo nhé. Đừng đi lên vết xe đổ của tớ nhé tớ. Tớ đã đau khổ một đời. Nhiều năm nay tớ không được đến nhà thờ. Tớ sống như đã chết vậy! Nhưng lúc nào tớ cũng cầu nguyện, xin Chúa, xin Mẹ nâng đỡ.”

Cả hai chúng tôi òa khóc!

Tôi thì thào với nó: “Đức tin của cậu lớn quá. Dù sống trong đau khổ, cậu vẫn không quên Chúa, cậu vẫn cầu nguyện. Tớ tin là Chúa sẽ nhận lời cầu nguyện của cậu. Thú thật với cậu, nhiều lúc tớ bỏ quên và than trách Chúa, nhất là lúc gặp khó khăn tớ không cầu nguyện nhiều như cậu. Cám ơn Cậu đã dạy cho tớ một bài học quý giá”

Thưa bác sĩ! Có chuyện gì thế? Một y tá tìm tôi.

Dạ có người nhà của bệnh nhân Phượng xin gặp.

Alo ! Xin lỗi ai vậy? “Dạ tôi là mẹ chồng của Phượng. Phiền bác sĩ nói với Phượng rằng: Hưng, chồng của nó vừa qua đời do xốc thuốc phiện!”

Nó ngã gục ngay xuống giường và bất tĩnh!

Tôi cầm điện thoại lên chỉ kịp nghe: “xin bác sĩ làm ơn nhắn dùm Phượng, cho con nó về chịu tang bố chúng, cám ơn bác sĩ!”

***

Hơn bốn tháng sau, tôi mới có dịp về thăm nó. Điện thoại của nó không liên lạc được. Tôi tìm đến căn nhà nhỏ của nó, nhưng hoàn toàn vắng tanh. Căn nhà lá lát gạch nung vách nứa lạnh tanh! Ở giữa nhà, bát hương khói, phía trên là di ảnh Hắn, phía sau là dòng chữ: “cầu cho anh Phêrô Hải mới qua đời, hưởng dương 32 tuổi!”. Người trong tấm ảnh thờ khá đẹp trai! Thật ra, tôi không hiểu tại sao lại gọi chồng nó là hắn? Lẽ nào, tôi thành kiến về người đã gây đau khổ cho Phượng? Nhưng từ tận đáy lòng, tôi vẫn cầu nguyện cho chồng nó. Đúng vậy, con người được phép lên án tội lỗi, nhưng phải xót thương tội nhân.

Đột nhiên, bà lão tiến tới hỏi: “Cô tìm cô Phượng à?

Dạ! Cháu là bạn Phượng, cháu tới thắp hương cho chồng nó.

Bà hàng xóm thở dài đáp: “Ừ! Phượng dắt con đi được hơn 1 tuần nay. Tội nghiệp con bé! Nhưng có khi chồng nó chết coi như là một sự giải thoát cho nó! Hi vọng nó về với cha mẹ nó, may ra đỡ cơ cực hơn, rồi làm lại cuộc đời, chứ ở đây như là địa ngục trần gian, ai mà chịu được! Vậy mà con bé nó chịu đựng được ngần ấy năm thật không thể tin được? Thôi coi như con bé đã trả nghĩa vợ chồng. Cái thằng Hải, nó có phúc mà không biết hưởng. Mà nghe đâu vợ chồng nó là người theo đạo Công giáo gì đó?”

Tôi chào bà cụ ra về mà lòng buồn tê tái, xót xa cho cuộc đời nó. Nhưng điều bà cụ vừa nói khiến Tôi đau nhói hơn! Đi hết con đường đất, phía trước tôi là con đường liên huyện dẫn tôi về Bản Eo. Mặt trời ngã dần xuống sườn đồi, con dốc cao dẫn về bản Eo. Hai bên đường là đồi keo xanh mướt. Mùi hoa dẻ thoang thoảng. Xa xa phía đồi trọc, hoa sim, hoa mua và mẫu đơn đang đua sắc. Trên nền trời, từng khóm mây vội vã cuốn lại như muốn thúc dục đàn én về tổ. Lâu lắm rồi tôi mới được thưởng thức hương vị mặn mà thân thương của đất mẹ. Quả đúng như người đời thường nói: “dù vui hay buồn, đất mẹ là nơi ta muốn về nhất”

Không biết nó có về lại quê xưa không? Không biết nó có nhớ và suy nghĩ gì về tôi không? Có lẽ, giờ này nó đã biết về ý định của tôi qua gia đình? Hi vọng nó không quá ngạc nhiên về việc tôi quyết định sống độc thân dâng hiến để phục vụ nhiều người, trở thành ‘bác sĩ tình thương’, để điều trị cho những tâm hồn bị thương tổn! Vì thiếu tình thương cũng là một căn bệnh nan y, một ‘thứ virút’ đã và đang gây đau khổ cho nhân loại này!

Nó và tôi, ai cũng có ơn gọi. Chúng tôi chỉ khác nhau về bậc sống. Đau khổ hay hạnh phúc phụ thuộc khả năng phân định ơn gọi của từng người. Vậy nên, lựa chọn ơn gọi không giống một ván bài theo kiểu may rủi. Phân định và lựa chọn ơn gọi cần ơn Chúa, và sống ơn gọi đó nhờ Người. Vì lựa chọn ơn gọi luôn là điều khó, và sống trọn vẹn ơn gọi đã lựa chọn lại càng khó hơn gấp bội.



Mùa Phục Sinh 2021

Hướng tới Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, cầu cho ơn thiên triệu.

Lighthouse


Trên Patheos ngày 9 tháng 4, Cha Matthew P. Schneider, LC, có bài tường thuật về một ơn gọi đặc biệt trong thời đại xô bồ hiện nay. Đó là trường hợp Montserrat Medina Martínez, một thiếu nữ Tây Ban Nha. Cô thành công rất sớm trên đường đời: ở tuổi 30, cô sáng lập một công ty được giới kinh doanh mệnh danh là công ty khởi nghiệp.



Theo từ điển mở Wikipedia, Công ty khởi nghiệp là một công ty hoặc dự án do một doanh nhân thực hiện nhằm tìm kiếm, phát triển và chứng thực một mô hình kinh tế có khả năng qui mô lớn. Công ty của Medina đang lên như diều trong lĩnh vực kinh doanh tại Tây Ban Nha. Dù mới 36 tuổi nhưng cô đã đi từ thành công này đến thành công khác trong sự nghiệp. Với học bổng từ Stanford, cô đã tạo ra một công ty khởi nghiệp ở Thung lũng Silicon mà sau đó cô đã bán cho Pay Pal với giá vài triệu dollars và dù còn trẻ nhưng cô đã được ký hợp đồng với tư cách là đối tác của công ty kế toán thời danh Deloitte. Danh tiếng, tiền bạc, nổi tiếng quốc tế… Cô có tất cả mọi thứ, ngoại trừ hạnh phúc. Sau một thời gian phân định, cô thấy Chúa đang kêu gọi cô sử dụng tài năng của mình một cách khác: cô quyết định bỏ mọi thứ và vào một tu viện dòng Thánh Augustinô với tư cách là một nữ tu chiêm niệm.

Cô đã thổ lộ cõi lòng trong một bức thư và giải thích quá trình dẫn cô đến tu viện với các đối tác của cô tại Deloitte. Người ta có thể tưởng tượng phản ứng của họ sẽ ra sao.

Montserrat tốt nghiệp ngành Kỹ sư Hàng không, hạng danh dự. Ngay sau đó, Stanford đã cung cấp cho cô một học bổng có trả tiền để lấy bằng Tiến sĩ về Toán học vi tính ở đó. Chính trong môi trường này, cô đã đồng sáng lập Jetlore, một công ty trí tuệ nhân tạo mà kết cục trở thành một chuẩn mực ở Thung lũng Silicon và cuối cùng bán cho công ty khổng lồ PayPal. Sau đó, cô được đề nghị trở thành đối tác của Deloitte ở Tây Ban Nha khi mới 34 tuổi.

Tuy nhiên, cô đã quyết định từ bỏ tất cả những thứ đó để theo Thiên Chúa. Trong bức thư gửi cho các đồng nghiệp, cô thừa nhận mình là người Công Giáo nhưng bấy lâu nay không đặt Thiên Chúa làm trung tâm. Cô nhận định, “Tôi đã sử dụng mọi tài năng mà lòng tốt vô hạn của Thiên Chúa chúng ta đã ban cho tôi, nhưng tôi sử dụng chúng vì vinh quang của chính mình và để tích lũy sự giàu có trên thế giới này. Tôi đã chiếm đoạt các hồng ơn nhận được chỉ để tìm kiếm lợi ích cho riêng mình. Tôi đang tự lừa dối bản thân: không hề làm tôi hạnh phúc, thái độ đó chỉ gây ra cho tôi sự trống trải ngày càng lớn thêm”.

Montserrat giải thích với những đối tác khác của Deloitte, “Tôi chìm trong nỗi khốn cùng, không biết phải làm gì với tất cả tội lỗi của mình, tôi hiểu rằng Thiên Chúa đã tha thứ tất cả vì Người là tất cả mọi sự tốt lành và thương xót. Bây giờ tôi muốn bỏ tất cả để đi theo vị Thiên Chúa này, Đấng đã chinh phục trái tim tôi. Tôi sống một món nợ tình yêu… mặc dù tôi biết rằng về phần mình, món nợ đó sẽ luôn được trả”.

Trước khi xin lỗi đồng nghiệp về những lỗi lầm mà cô có thể đã làm đối với họ, người phụ nữ trẻ này tuyên bố rằng cô đã đưa ra “quyết định quan trọng nhất và đồng thời là quyết định đơn giản nhất trong cuộc đời tôi”.

“Tôi đã quyết định, không hối tiếc, ngừng đầu tư vào tương lai trần thế của mình và bắt đầu đầu tư vào tương lai vĩnh cửu của mình. Vì tôi rời bỏ thế gian để phục vụ và làm theo Thánh Ý Thiên Chúa, nên tôi chắc chắn rằng Chúa nhân từ sẽ cung cấp nhiều hơn sự thiếu thốn của tôi với những thứ mà tôi để lại để đi theo Người. Đúng ra, tôi không rời khỏi thế giới, mà chỉ rời bỏ những thứ thuộc về thế giới. Tôi muốn dâng cuộc đời mình cho cầu nguyện và dâng hiến cho tất cả những người được Thiên Chúa yêu thương”, cô khẳng định như thế.

nguồn: Vietcatholic




SỨC MẠNH CỦA SỰ THINH LẶNG

(Cảm nhận từ câu chuyện người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng Gioan 8,1-11)


Người xưa có câu “không có gì mềm bằng nước, nhưng cũng không có gì mạnh bằng nước”. Thật vậy, trong điều kiện bình thường, nước là một loại vật thể hết sức mềm mại. Nó có thể thích nghi với tất cả mọi địa hình hay vật chứa nó. Thế nhưng, nước lại có sức mạnh khủng khiếp trong cơn giông bão hay mưa lũ. Nước chảy cuồn cuộn, mạnh mẽ đến mức có thể phá đổ và cuốn phăng tất cả những gì trên dòng chảy của nó.

Trong cuộc sống con người, có một trạng thái tinh thần có tính chất tương tự như nước, đó là sự thinh lặng. Thinh lặng là một trạng thái cần thiết cho sự cân bằng và phục hồi sự sống, sức khoẻ… Thinh lặng là điều kiện đem lại cho con người sự nghỉ ngơi, bồi bổ sức khoẻ tâm thể lý. Tuy nhiên, trong những lúc cô đơn buồn bã; sau những sai lầm hay lỗi phạm; sau những xung đột và nóng nảy… thinh lặng là lúc con người cảm thấy sợ hãi và trống trải nhất. Quả thật, chính trong những giây phút hồi tâm trong thinh lặng, con người cảm thấy mình bị trần trụi, phải đối diện với chính mình, với những yếu đuối và lầm lỗi, với cảm giác bơ vơ và bị bỏ rơi… Chính giây phút ấy, tiếng nói của lương tâm gào thét khiến cho con người điên đảo, hoảng loạn, mất bình an và thậm chí là bị điên loạn. Đó chính là sức mạnh của sự thinh lặng. Nó buộc con người phải đối mặt với sự thật, với quan toà lương tâm và với sự trần trụi thực sự của con người. Chính vì thế, tôi có thể nói rằng “không có gì dễ chịu bằng thinh lặng, những cũng không có gì đáng sợ bằng thinh lặng”.

Một số người ngày nay quan niệm rằng, thinh lặng là biểu hiện của sự hèn nhát và thất bại. Trái lại, sự náo nhiệt, hoan hỉ là biểu hiện của niềm vui, của thành công, của sức mạnh. Quan niệm này đúng không? Để trả lời cho câu hỏi này, người viết xin dùng câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng Gioan (Ga 8,1-11) để lý giải. Trước hết, chúng ta cùng tìm hiểu xem phải chăng sự ồn ào náo động là biểu hiện của sức mạnh.


1. Phải chăng sự ồn ào náo động là biểu hiện của sức mạnh?


Đoạn Tin Mừng Gioan 8,1-11 kể lại: Khi Chúa Giêsu đang giảng dạy cho dân chúng thì có một đám đông gồm các kinh sư và người Pharisêu điệu đến trước mặt Chúa Giêsu một người phụ nữ với lời tố cáo là đã bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Họ xin Chúa Giêsu xử lý người phụ nữ ấy. Tin Mừng không mô tả chi tiết về bối cảnh của đám đông này, nhưng tôi có thể hình dung ra đó là một đám đông náo động, hầm hầm sát khí, vừa la ó vừa tố cáo. Sự náo động của đám đông tạo sức ép lên Chúa Giêsu, đòi Ngài xử lý hoặc theo luật là ném đá người phụ nữ, hoặc vi phạm lề luật nếu tha bổng hay bảo vệ người phụ nữ.


Theo dõi cách hành xử của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ thấy được sự khôn ngoan của Ngài. Quả thật, giả sử trong bối cảnh đó nếu không có sự khôn ngoan và điềm tĩnh, thì chắc chắn sự náo động của đám đông sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của Chúa Giêsu. Chúng ta còn nhớ quan tổng trấn Philatô khi xét xử Chúa Giêsu, dù biết Ngài vô tội, nhưng đứng trước một đám đông hò hét, náo động, ông vẫn phải chiều theo họ mà kết án Chúa Giêsu. Với lại, theo sự thường, tiếng nói của quần chúng luôn luôn có sức mạnh và sức ảnh hưởng. Chẳng hạn như ở các nước tự do, khi dân chúng đổ ra đường biểu tình đòi hỏi quyền lợi gì thì hầu như nhà cầm quyền đều phải nhân nhượng. Cũng vậy, sự cổ vũ ồn ào và cuồng nhiệt của đám đông khán giả trên các sân vận động cũng thường có tác động tâm lý rất lớn đến các vận động viên thi đấu trên sân. Tương tự như thế, trên chiến trường, tiếng hò la xung trận cũng là một cách tạo sức mạnh hữu hiệu. Thấy được sức mạnh từ sự ồn ào náo động như thế, chúng ta mới hiểu được áp lực Chúa Giêsu phải chịu lớn đến mức nào trước một đám đông đang nhao nhao lên án người phụ nữ ngoại tình.


Thế nhưng, qua những gì vừa nêu lên chúng ta thử hỏi phải chăng sự ồn ào náo động là biểu hiện của sức mạnh thực sự? Thiết nghĩ không phải như vậy. Đúng hơn, sức mạnh thực sự phải đến từ sự bình an trong thinh lặng sâu xa. Xét trên bề mặt thì ồn ào quả có sức mạnh thật. Nhưng xét trong chiều sâu, đằng sau sự náo động đó là gì? Phải chăng sự ồn ào ấy là tấm bình phông che đậy một tâm hồn trống rỗng, một sự nhu nhược sợ hãi hay những âm mưu đen tối? Chẳng hạn đám đông những người kinh sư và Pharisêu tố cáo người phụ nữ ngoại tình, họ dùng sự ồn ào để gây sức ép có vẻ như chính đáng là bảo vệ luân lý, thi hành lề luật, nhưng thực ra là họ đang có âm mưu hãm hại Chúa Giêsu. Sự ồn ào ấy che giấu âm mưu đen tối của họ.


Trong thế giới hôm nay, người ta chuộng sự náo nhiệt hơn là thinh lặng. Nói đúng hơn, người ta sợ thinh lặng và chạy trốn thinh lặng trong những tiếng nhạc đinh tai nhức óc, trong sự náo nhiệt của hội hè, đình đám. Thậm chí có những người “sợ thinh lặng” mà lại “nghiện tiếng ồn”. Họ thích tìm niềm vui trong sự náo nhiệt không phải vì nó đem lại hạnh phúc cho họ, nhưng thực ra là để che giấu một tâm hồn trống trải không có gì lấp đầy. Tiếng ồn làm cho họ quên đi phần nào sự thiếu thốn và trống trải ấy. Người ta cho rằng sự náo động mới là sức mạnh, còn thinh lặng là hèn nhát, là nhu nhược, là sợ hãi… thế mà con người ngày nay lại sợ thinh lặng, sợ những giây phút cô đơn vì thinh lặng bắt họ phải đối diện với chính mình, với sự trần trụi và thiếu thốn tinh thần của mình. Nhưng khi sợ thinh lặng thì cũng cho thấy thinh lặng thực sự có sức mạnh.


2. Sức mạnh của sự thinh lặng


Đương đầu với âm mưu đen tối của các kinh sư và những người Pharisêu cùng với đám đông ồn ào trước mặt, Chúa Giêsu không lớn tiếng chế ngự họ, cũng không đứng ra phân xử điều họ muốn Ngài làm. Họ càng hối thúc, Ngài càng thinh lặng, đến khi thấy họ hết kiên nhẫn, Ngài mới ngẩng đầu lên và nói rất nhẹ nhàng như một lời mời gọi: “Ai trong các ông thấy mình vô tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi”. Nói rồi Ngài lại thinh lặng! Lời nói của Ngài rất nhẹ nhàng, nhưng khi được kết hợp với sự thinh lặng, lời nói ấy lại trở thành lời phán xét rất nghiêm khắc. Câu nói của Chúa Giêsu tạo nên một bầu khí thinh lặng bao trùm đám đông. Và theo tôi nghĩ, trong những giây phút thinh lặng ngắn ngủi ấy, đám đông phải đối diện với con người thật và với lương tâm của họ, nơi đó tiếng nói của Chúa Giêsu đang âm vang tận đáy sâu: “Ai thấy mình vô tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi”. Đó! Sức mạnh của thinh lặng chính là ở đó. Tiếng nói của toà án lương tâm vang lên trong thinh lặng. Đây chính là điều làm cho người ta sợ thinh lặng. Vì khi đó, con người thật của họ bị phơi bày.


Cách hành xử của Chúa Giêsu rất nhẹ nhàng nhưng lại rất hiệu quả, có thể nói là hiệu quả hơn cả cách dùng vũ lực hay lời quát tháo. Hẳn mọi người còn nhớ khi Chúa Giêsu vào đến thờ Giêrusalem (x.Ga 3,13-22; Lc 19,45-46) và thấy đền thờ bị ô uế vì những người buôn bán chiên bò, bồ câu và đổi tiền, Ngài đã lớn tiếng quát nạt: “Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 3,16), và Ngài còn xua đuổi, lật nhào bàn ghế của họ. Tôi không dám nói là cách làm của Chúa Giêsu trong hoàn cảnh này là sai hay quá đáng, nhưng so sánh kết quả của hai cách hành xử trong hai trường hợp đó, chúng ta thấy rằng khi Ngài mạnh tay với dân chúng, thì họ quay lại đối chất với Ngài: “Ông lấy dấu nào chứng tỏ ông có quyền làm như thế?”. Rồi họ còn dùng chính câu nói của Chúa Giêsu lúc đó: “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại” để tố cáo Ngài sau này (x.Mt 26,61). Ngược lại, trong trường hợp này, sau khi Chúa Giêsu mời gọi đám đông đi vào thinh lặng để tra vấn lương tâm thì họ đã tự động rút lui, không cần Ngài xua đuổi hay giải tán.


Rõ ràng, thinh lặng không chỉ làm cho bên nguyên cáo là đám đông câm miệng mà còn làm cho bị cáo là người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình suy nghĩ về việc làm của chị. Không biết khi thấy đám đông giải tán, chị đã thở phào nhẹ nhõm vì được cứu mạng, hay bật khóc vì nhận ra tình thương của Thiên Chúa cũng như tội lỗi của mình mà ăn năn sám hối, có thể là cả hai. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là thinh lặng có sức mạnh đẩy lui những âm mưu đen tối, bởi vì như M.Zundel khẳng định: “Trong sự thinh lặng của Thiên Chúa, người ta học được nhân phẩm của con người, người ta thấy được chỉ duy một sự cần thiết, đó là sự thật, sự công chính”. Trong sự thinh lặng, đám đông không chỉ nhận ra tội lỗi của họ, mà còn thấy bị đòi hỏi phải tôn trọng chân lý, điều đó làm họ xấu hổ vì tội lỗi cũng như vì đầu óc xấu xa, đen tối của mình. Chính ở điểm này, thinh lặng tạo nên sự biến đổi.


Trong những trận cuồng phong bão tố, khi chứng kiến sự hung hãn của những cơn sóng biển dập dồn, người ta cứ nghĩ rằng đó chính là sức mạnh của biển cả. Nhưng họ đâu biết rằng, những con sóng đó chỉ là biểu hiện nơi bề mặt, còn nguồn tác động tạo nên chúng lại là những dòng hải lưu ngầm, âm thầm lưu chuyển dưới lòng biển sâu. Chúng rất âm thầm lặng lẽ, nhưng có khả năng làm biến đổi thời tiết. Điều đó cho thấy, không hẳn là sự náo động và ồn ào bề mặt là sức mạnh thực sự. Trái lại, sự thinh lặng mới là thời gian, là không gian và cơ hội cưu mang sức mạnh thực sự, đồng thời sự thinh lặng ấy có khả năng tạo nên sự đột biến và sự thay đổi: Hạt giống nảy mầm trong thinh lặng; những mầm sống được hình thành và phát triển trong thinh lặng...


Thinh lặng thật có giá trị và ý nghĩa đối với đời sống mọi người, cách riêng là đối với các tu sĩ nam nữ. Thinh lặng giúp cho chúng ta lắng đọng tâm hồn, để kết hợp với Chúa, để hồi tâm và tìm lại được sự quân bình cho đời sống của mình. Đó chính là khẳng định của M.Zundel: “Đối với chúng ta, điều tối cần thiết để giữ lấy sự quân bình và bình an là phải liên tục trở về với thinh lặng”. Không chỉ có thế, trong tương quan với tha nhân, thinh lặng cũng là điều kiện và cơ hội giúp ta nhận ra nét đẹp nơi tâm hồn tha nhân; đồng thời, trước những yếu đuối và lầm lỗi của họ, thinh lặng giúp chúng ta đồng cảm, tha thứ và có khả năng trao cho họ những lời khuyên hữu hiệu. Về điều này, Michel Hubaut trong cuốn “Những nẻo đường thinh lặng” đã nhắc nhở chúng ta: “Để đánh giá người khác, để khuyên bảo hay góp ý người khác, chúng ta hãy bình tâm để xem những ý kiến đó đi đến từ trong thinh lặng nội tâm hay bộc phát từ cái nhìn và đánh giá vội vã. Lời khuyên đến từ người có tài ăn nói có thể hay nhưng chưa chắc đã ý nghĩa và thấm đậm bằng lời khuyên của người nói trong thinh lặng. Đó là ‘sự thinh lặng nhẫn nại biết có một thời để nói và một thời để im. Sự thinh lặng cẩn trọng và cân nhắc từng lời, sự thinh lặng thông cảm biểu hiện bằng hành động hơn lời nói. Sự thinh lặng khiêm nhường thừa nhận những giới hạn của mình và mở lòng ra với những ánh sáng khác” (tr.32).


Cầu chúc mọi người, nhờ ơn Chúa, sẽ khám phá ra được ý nghĩa và sức mạnh của sự thinh lặng đối với cuộc sống tinh thần cũng như thiêng liêng của mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ lợi dụng được giá trị của thinh lặng mà xây dựng đời sống thiêng liêng, đồng thời luôn biết dừng lại trong thinh lặng để hồi tâm suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Nhờ đó, chúng ta sẽ có được định hướng đúng đắn cho cuộc sống.

M. Hạnh Tử

 


NGÀY THỨ SÁU MÙA CHAY

Đúng là một ngày thứ sáu đặc biệt vì nó mang lại cho tôi nhiều cảm xúc. Tôi phải ghi vội vì sợ những cảm xúc đó bay đi như cánh hoa trước gió.

Sáng hôm nay, khi thức dậy sau một đêm ngủ dài, tôi nhìn về giường vợ tôi, tôi nhớ đến nàng. Cô ấy vừa đi tới nhiệm sở, tội cho cô ấy vẫn còn mang bệnh trong người; lại phải gồng mình 12 tiếng đồng hồ nơi làm việc, đến khuya mới về. Rồi tôi nghĩ đến những những đứa con còn say giấc nồng, chúng đã quần quật suốt ngày hôm qua, kiếm tiền nơi đất Mỹ đâu phải dễ. Tôi lại nghĩ đến người mẹ dấu yêu, không biết còn sống vui vẻ với chúng tôi được bao lâu, vì bà đã 86 tuổi rồi. Tôi lai mường tượng về cảnh lễ dạm ngõ của đứa trai thứ, mà nhà gái hào phóng mời hết đại gia đình nhà tôi, thế là anh em tôi có dịp chén tạc chén thù kết nghĩa thông gia. Xin Chúa giữ gìn họ.

Bỗng tôi lại chạnh lòng nhớ đến những “con cái” tôi, “đàn em” tôi đang ở Việt Nam, mà tôi từng là lãnh tụ, từng là soái ca. Chúng đang tan đàn xẻ nghé, bị đối xử bất công, sắp đi con đường thập giá của chúng, tôi thấy xót xa. Tôi ở xa làm sao bảo vệ được chúng đây, tôi thấy mình hèn yếu và cần được nâng đỡ. Nhớ lại hôm nay là ngày thứ 6, ngày có ban bí tích xức dầu bệnh nhân, tôi vụt dậy sửa soạn đi đến nhà thờ. Vừa ra cửa thì 2 chiếc xe của con trai tôi đã đi mất, còn lại một chiếc xe mới của con gái vừa mới mua. Tôi ngại lắm vì lái xe rất dở, nhưng có cái gì đó thôi thúc và tôi quyết định lái đi.

Bầu trời Texas cuối đông âm u, cây lá chưa nảy mầm, cảnh buồn nơi xứ Mỹ làm tôi nhớ đến quê hương. Tôi nhớ ngôi nhà màu xanh, nhớ nhà thờ cổ kính, nhớ xóm nhớ làng. Rồi tôi đến nhà thờ cũng vừa kịp thánh lễ, lễ hôm nay hơi đông người, nhà thờ Việt Nam mà. Trong lễ lòng trí tôi lo ra, chẳng nghe gì 2 bài đọc và bài giảng của cha xứ. Đến khi sắp ban Bí tích Xức Dầu, tôi nhớ các em, tôi thấy tôi quá hèn nhát, bắt đầu tất cả những cảm xúc dâng trào trong tim, trào ra ngoài theo tuyến lệ, nước mắt tôi giàn giụa đến nổi cha ban bí tích cũng nhận ra. Tôi mặc cho suối lệ tuôn trào theo lời hát: “Con trông cậy Chúa khác nào em bé ngủ yên trong tay mẹ hiền…”. Từ đó tôi tham dự thánh lễ một cách sốt sắng. Cuối lễ, tôi cùng cộng đoàn đọc kinh Năm Thánh Giu-Se, tôi thành khẩn xin Ngài, cũng là bổn mạng tôi trong cơn nguy khốn này. Tôi định vài ngày nữa mới xưng tội, nhưng tôi đã khóc với Chúa đêm qua rồi; tôi nhẹ nhàng xưng thú vì Chúa đã nghe những gì tôi thầm thì với Ngài.

Rồi nhà thờ có một buổi gẫm đàng Thành Giá. Trời sụp buồn như cảnh ngày nào trên đồi Can-vê xưa, lại lất phất mưa rơi như dòng nước mắt khóc thương Chúa của các bà Giêrusalem năm nào, thật là bi thương! Tôi đến trước đài Đức Mẹ, quỳ xuống vài giây chào Mẹ. Đoàn gẫm đàng Thánh Giá Việt Nam đã tới chặng thứ 3, nhưng một đoàn người Mỹ vừa mới bắt đầu, tôi lẽo đẽo theo họ, họ đọc tiếng Anh tôi không hiểu được. Tới chặng thứ 4, một bà tốt bụng đã trao cho tôi một tập kinh nhỏ để theo dõi khi gẫm, tôi đọc lí nhí theo họ và tôi hiểu. Bà lại hỏi tên họ tôi nữa nhé, rất thân tình! Tôi ngạc nhiên về phong cách của họ, khác với người Việt chúng ta: thường ủy mị, sầu thảm than khóc. Họ can đảm chia sẻ nỗi đau của Chúa trong một sự can trường, nơi họ toát lên phong thái của một người chiến sĩ dày dặn kinh nghiệm. Tới chặng thứ 4, một phụ nữ lên vuốt mắt Mẹ và Chúa Giêsu. Rồi những chặng Chúa ngã xuống đất, họ dắt con cái quỳ lạy trước tượng Chúa. Những điều đó như một bài học cho tôi mà suốt bao năm trước đây tôi không hề học được.

Giữa đường Thánh Giá, tôi đi giữa họ, đọc kinh tiếng Anh với họ, nghe họ hát. Tôi cảm nghiệm như tôi đang đứng giữa muôn vàn dân tộc, nhưng cùng một ngôn ngữ, mà như xưa đã chứng kiến cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Cuối buổi gẫm, tôi cám ơn người phụ nữ đã cho tôi tập kinh và xin làm kỉ niệm, tôi hứa trong lòng sẽ gẫm vào các ngày thứ 6. Tôi xin họ một tấm hình làm kỉ niệm và bao lời chúc thân thiện. Xin Chúa chúc lành họ.

Trên đường về tôi thấy một tai nạn xe tại ngã tư, tôi cám ơn Chúa cho tôi được trở về nhà bình an. Vừa mở mạng lên, tôi vui sướng vì “đứa con tinh thần” đầu đời đã được trân trọng trên kênh youtube. Họ bảo tôi nên chia sẻ cho con cái và mọi người, tất nhiên rồi; tối nay nhé, vợ tôi sẽ được một phen cười khúc khích, thế nào cũng lén hôn tôi một cái thôi; còn sấp nhỏ sẽ rất tự hào về ba của nó đấy. Và tôi bật lên một bài ca mà tôi thích là: “Và con tim đã vui trở lại…Vì Ngài bên tôi mãi”. Tôi mở lại account ngân hàng, tiền lương ít ỏi cuối tuần của vợ lại lấp đầy chỗ khuyết nhé. Thôi thì không thể hoãn cái sự sung sướng này lại chi bằng một miếng bánh ngọt. Tôi gọi cho mẹ, khoe với bà tôi vừa lãnh nhận một lúc 3 bí tích và nhiều niềm vui khác. Bà hẹn tối nay chở bà đi tĩnh tâm Mùa Chay, tôi đi chớ.

Rồi lòng tôi chùng xuống, tôi chợt nhớ lại sấp nhỏ đang ở Việt Nam, chúng đang cô độc, mọi người đang bỏ rơi chúng, chúng chỉ còn có tôi để núp bóng, mà tôi thì ở xa quá, cánh tay tôi không đủ dài mà đối thủ thì quyền uy và thế lực. Tôi như Samson bị thất trận, chỉ xin Chúa cho lại sức mạnh một lần thôi để chiến đấu; liệu Ngài cho không nhỉ? Nhớ ngày nào, tôi dạy các em, nhất là các lớp thêm sức, tôi cao giọng: nào là các em phải nhiệt thành rao giảng Lời Chúa, nào là phải can đảm làm chứng cho đức tin, phải hy sinh bảo vệ sự thật. Nhiều em đã dâng mình theo Chúa sang tận Mỹ, Pháp và cả Camerun với bước chân truyền giáo. Còn tôi, tôi làm được gì, nói được mà làm không được, tôi thẹn trong lòng tôi lắm. Viết đến đây, tôi lại rơi lệ.

Trong cuộc chiến đấu cam go này, tôi định trốn chạy. Nhưng Ngài đã đón đầu tôi, Ngài bảo “Con đi đâu”, tôi đành ngậm miệng. Ngài không dẫn tôi vào thành Rôma, Ngài đưa tôi đến doanh trại của Ngài, bày mưu tính kế cho tôi để tôi chiến đấu; phen này là thắng chắc lắm vì mưu lược của Ngài thì huyền diệu vô song. Xong trận chiến rồi, Ngài đưa tôi vào công xưởng của Ngài, Ngài cho tôi làm kỹ sư trưởng nhé, để cùng Ngài xây lên những căn nhà tình thương cho nhân loại. Làm với Ngài sướng lắm, làm ít mà lương hậu hĩnh nhé. Rồi cuối tuần Ngài chở tôi trên những chiếc Rolls-Royce dạo quanh những đồi hoa thơ mộng, những thung lũng với suối nước lượn quanh. Ngài tăng tốc độ vượt đèo cao cho tôi chiêm ngưỡng những núi đồi hùng vĩ. Ôi du lịch với Ngài tôi thật đã con mắt. Rồi Ngài chở tôi vào nhà hàng sang trọng bậc nhất trên trần gian, kêu cho tôi những món ngon vật lạ, tôi ăn không nhiều lắm, tôi than thở với Ngài là tôi bị đau bao tử từ lâu và kể lể với Ngài hàng tá bệnh khác. Ngài nhẹ nhàng bảo tôi: “Con đừng lo, ta là thầy thuốc đây mà”. Ngài chở tôi đến bệnh viện của Ngài để chữa lành vết thương thể xác và tâm hồn tôi. Trời về đêm, xe Ngài chầm chậm trên biển vắng, Ngài kể cho tôi về cuộc đời của một Giêsu đã liều mình chết vì bạn hữu mình, Ngài còn kể cho tôi bài dụ ngôn Người cha nhân hậu. Tôi thiu thiu buồn ngủ, Ngài hứa sẽ đưa tôi về nhà Ngài, Ngài đã dành một giường êm nệm ấm cho tôi. Tôi ngủ hồi nào không hay, đầu tôi gục vào ngực Ngài, tôi nghe tiếng tim đập nhịp nhàng êm ái của Ngài rất rõ và ngực Ngài rất ấm nhé, lồng ngực của lòng yêu thương và bao dung. Hình như trong cơn mê ngủ, tôi đã hát nho nhỏ cho Ngài nghe: “Bỏ Ngài con biết theo ai….”

                                                                                                                      Tg: Tín Thác

Houston, ngày 3 tháng 5 năm 2021

Được tạo bởi Blogger.