https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg

VIẾT CHO NHÃ*

(Dựa trên câu chuyện có thật về em Phêrô Khoa Nguyễn Văn Nhã)


Nhã thương mến!

Gặp em vô tình trên một trang truyền thông của giáo phận Vinh, khi em đã về với Chúa. Tôi miên man nghĩ về sự chết, sự chết của em ngay chính giữa mùa Phục sinh này. Chết là một hiện tượng rất bình thường với con người. Chúng ta ai cũng phải chết. Nhưng chúng ta có thản nhiên chấp nhận nó không? Nó có phải là một sự cố số phận chúng ta không thể tránh? Tôi hình dung ra trong buổi lễ an táng của em, đã có rất nhiều bài thánh ca tôn vinh Thiên Chúa và cả những khúc ca ly biệt đang da diết xót xa vang lên trong chính tâm hồn những người thân yêu, những bạn bè của em. Và khi quan tài em từ từ đi vào lòng đất, chúng tôi, những người còn sống nghĩ gì về bài học em để lại?


Nhã à! Cảm ơn em, cảm ơn về hành động của em. Chẳng có thứ huân chương nào đong đo được sự hy sinh của em, một sự hy sinh vì người khác, một sự hy sinh xuất phát từ những bài học về Đức Ái Kitô giáo phải không em? Em đã lớn lên trong âm hưởng từ những câu kinh của bà, của mẹ. Cái nôi xứ đạo đã nuôi lớn em. Dù gia cảnh khốn khó, nhưng em vẫn vượt khó để bước tới giảng đường đại học. Em là niềm tự hào, là niềm vui của nội, của bố mẹ và chỗ dựa cho các em. Chiếc hình bà em làm tôi xúc động, đôi mắt ấy đã cạn nước vì thương đứa cháu ngoan. Nơi cổ bà, tôi thấy chiếc Áo Đức Bà đã cũ mèm, như thể bà đã cầu xin sự chết lành từ lâu rồi. Có lẽ mái đầu bạc ấy chưa đành tin vào sự ra đi của em. Phải chăng bà đang nghĩ: giá mà bà được chết thay cho em, để em được sống và thực hiện ước mơ tuổi đôi mươi.



Câu chuyện về cuộc đời em đã được viết lên, không phải em là một vĩ nhân hay thiên tài. Em bình thường, rất bình thường như bao cậu sinh viên khác. Đôi mắt và nụ cười của em nói lên những ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ. Tôi còn được biết, tháng 7 này em sẽ tốt nghiệp Đại học và dự định sẽ đi tu. Đó là một ước mơ đẹp, rất đẹp Nhã ạ! Nhưng chương trình của Chúa chúng ta sao có thể thấu biết hết được. Chúa muốn điều tốt đẹp cho chúng ta, và chúng ta có quyền tự do để vẽ lên bao sáng kiến làm vinh danh Ngài. Em đã bắt chước Chúa trước cả khi em đi tu. Hy sinh vô điều kiện vì lòng yêu người.

Câu chuyện của em được viết lên như một bản tình ca trong thời đại vô cảm ngày hôm nay. Câu chuyện ấy chỉ trong chớp nhoáng và ngắn ngủi nhưng bài học từ tấm gương em thì mãi mãi ngời sáng. Tuổi 23 của em sẽ đi vào vĩnh cửu với hai chữ Hy sinh cao cả. Tôi tự hỏi, trong giây phút giữa lằn ranh tử thần của ngọn sóng ngoài kia đang đe dọa ba mạng người với tiếng cầu cứu vang lên, em đã nghĩ gì? Liệu em có kịp nghĩ để đắn đo lựa chọn? Thứ gì đã thôi thúc bước chân em chạy về phía đó? Để ba con người được cứu sống, em đã chấp nhận tan biến giữa lòng đời. Sự ra đi của em không vô nghĩa! Lòng tốt nơi đáy tâm hồn của con người trong khoảnh khắc nào đó chợt vụt sáng như vì sao chổi. Nhưng lòng tốt ấy không bao giờ rơi chìm vào bóng đêm thất vọng. Lòng tốt của em mãi mãi là vệt sáng không lịm tắt trên nền trời hôm nay. Đẹp biết mấy và trân quý biết mấy. Em đã về Thiên đường, về với Chúa là Cha. Nhà văn Hemingway đã từng nói: “Khi bạn yêu thương, bạn muốn làm vì người khác. Bạn muốn hy sinh. Bạn muốn phục vụ.” Có lẽ em chưa từng đọc câu nói ấy nhưng em đã sống chân lý đó rồi! Và em cũng sẽ sống mãi trong lòng mọi người, sống mãi ở lứa tuổi đẹp nhất của đời người - tuổi trẻ.



Nhiều lúc, tôi nghĩ mình chẳng có gì để cống hiến cho tha nhân, nhất là khi ngồi bên những người nghèo, những người đau khổ hay những người đang hấp hối. Nhưng khi tôi nghĩ về một ngày nào đó, tôi cũng sẽ chết, nhưng chẳng ai có thể biết trước mình sẽ chết cách nào. Nghĩ như thế, bỗng nhiên tôi lại thấy gắn bó hơn với những cảnh đời trước mắt và có thêm nghị lực để can đảm lên đường sống đời chứng nhân cho Chúa. Cám ơn em, vì bài học về lòng can đảm tuyệt vời. Lòng can đảm và sự chết của em đã truyền đi như một thông điệp, một cách để làm chứng cho Đức tin của chúng ta phải không Nhã?

Cuối cùng, tôi xin chép gửi tặng em lời kinh về Thánh Quan Thầy của em - Thánh Phêrô Khoa. Ngài đã được nhiều người quý mến và tôn kính trên quê hương em và trong lòng Giáo hội Việt Nam. Cái tên của em giờ đây cũng sẽ mãi được khắc ghi như thế: Phêrô Khoa Trần Văn Nhã, người con của xứ Nghệ. Nguyện cầu cho em về hưởng Nhan Thánh Chúa.

Lạy ơn Đức Chúa Trời lòng lành vô cùng
Đã đoái thương nước Việt Nam
Ban cho anh em chúng con được phúc Tử vì đạo
Xin Chúa Con vì công nghiệp Cha Thánh Phêrô Khoa
Nghe lời chúng con cầu xin cho được mọi sự lành
Và ban ơn cho chúng con được bắt chước Cha Thánh Phêrô Khoa
Làm sáng danh Chúa con ở đời này
Cho ngày sau được lên Thiên đàng
Hưởng phúc đời đời Amen.

(Lời Kinh Cha Thánh Phêrô Khoa)

Thân mến chào em!

Chị.

Anna Bích Hạt

*Ghi chú: Em Phêrô Khoa Nguyễn Văn Nhã, thuộc giáo họ Đồng Lăng, Giáo xứ Cẩm Trường, Gp. Vinh. Nhã 23 tuổi, sinh viên Khoa Công nghệ thông tin, Trường ĐH Khoa học Huế. Chiều 30.4. 2021, tranh thủ thời gian nghỉ lễ, nhóm bạn của em Nhã đã cùng nhau về biển Thuận An (Huế) vui chơi tắm biển. Tại đây, phát hiện 3 bạn nữ trong nhóm bị sóng cuốn xa bờ, đuối nước, nên Nhã bơi ra ứng cứu. Sau khi đưa được các bạn vào nơi an toàn thì Nhã kiệt sức và bị sóng cuốn trôi.




Ảnh Đêm rằm trên Nhà Nguyện Thánh Tâm- Nhà thờ Phát Diệm

Nét mặt nó u sầu phiền muộn, đôi mắt hốc hác, hình hài chỉ còn ‘da bọc xương’. Nó nhìn về phía cửa sổ ra sân trước bệnh viện. Ngoài trời đổ mưa phùn, gió bấc đuổi bắt vài hạt mưa bụi làm nhiệt độ giảm xuống thấp hơn. Hình như Nó lo cho hai đứa trẻ bị lạnh hay đang chờ đợi điều gì đó?

Thân hình nó tiều tụy lắm! Nó nhìn vào khoảng không vô định, miệng không mấp máy. Đôi tay Nó như người bại liệt, da dẻ nhợt nhạt như người thiếu máu. Tôi không nhận ra nó trước lúc đọc bệnh án và lý lịch! Nó cố tình không nhận ra tôi hay đối với nó giờ này, mọi ký ức đã trôi vào quên lãng?

Phượng ơi! Cậu có phải là Phượng Lan, ở Bản Eo không? Mắt nó lờ đờ nhìn tôi, miệng run lẩy bẩy, ấp úng không thốt nên lời, hàng lệ bắt đầu lăn trên gò má gầy guộc!

Sao cô biết tên Tôi? Cô là ai? Nó hỏi Tôi.

Tớ Thu đây! Thu choắt. Phượng còn nhớ không? Nó gục đầu xuống oà khóc nức nở! Nó khóc như chưa được khóc bao giờ vậy. Thật ra, Nó đã khóc quá nhiều. Tôi cùng khóc với Nó! Cơ thể nó suy nhược vì lao lực. Có lẽ, vì nó quá khổ cực và bần cùng. Nó ôm lấy tay tôi vừa khóc vừa run lên.

Hoàng hôn đã xuống núi, nhưng tôi không muốn về phòng trọ. Đêm nay tôi ở lại với nó. Nó thật đáng thương, chẳng ai đến chăm và thăm nom. Cha mẹ đẻ của nó đã già lại đau bệnh. Anh chị em thì lập gia đình ở xa. Gia đình nhà chồng không đoái hoài đến nó. Chồng nó thì trôi dạt ở phương trời nào không ai hay! Nó được láng giềng đưa đi cấp cứu.

***

Nó và tôi sống cùng một bản và học chung một lớp. Nhưng từ khi nó sang sông! Tôi lao vào học tập, nên chúng tôi chẳng biết thêm gì về cuộc sống của nhau. Tình cờ gặp lại nó ở nhà thương, khiến chúng tôi xúc động. Sau ngần ấy năm, giờ nó là bệnh nhân của tôi. Bệnh án của nó không có gì đáng lo, chỉ cần nghỉ ngơi bồi dưỡng là ổn, chỉ lo những chuỗi ngày còn lại của đời nó sẽ ra sao? Tôi lặng lẽ nhìn nó trong nước mắt! Quả đúng như nhiều người nói, cuộc sống như là một mầu nhiệm. Và để hiểu mầu nhiệm ấy, con người cần sống chậm lại, thinh lặng thì mới có thể thấu cảm được.

Gần chục năm qua, nó lặn lội đi sớm về khuya như một thân cò, “eo xèo mặt nước buổi đò đông.” Nó đã làm nhiều nghề, nhưng không có nghề nào ủng hộ nó! Từ mò cua bắt ốc, lao công dọn dẹp, thu phế liệu, thậm chí bán máu lấy tiền nuôi con! Buôn bán nó cũng từng làm. Đi ở, nó cũng đã thử. Cuộc đời nó ba chìm bảy nổi sau ngày vu quy!

Thời áo trắng của nó khép lại sớm. Nó buộc phải nghỉ học để bước sang sông, bao mộng mơ hoài bão bị cuốn trôi theo dòng nước. Một ngã rẽ ngoài sự tưởng tượng của nó và nhiều người. Tuy nơi nó bắt đầu cuộc sống mới là một nơi nhiều hứa hẹn.

Chồng nó đẹp trai, có khiếu ăn Nói. Nó quen anh trong dịp lễ Noel. Tiếng xét yêu đương khiến nó đánh đổi với chính niềm tin của mình. Cuộc hôn nhân “tai nạn” của nó và hắn diễn ra trong vội vã nhưng âm thầm, như báo trước một tương lai không bình yên!

Một vài người thân như ruồng bỏ nó. Mẹ nó khóc nhiều. Nó cũng tủi thân, nhưng điều đau khổ hơn là hắn đã bỏ rơi nó. Nó đã yêu và trao hiến cho hắn trọn vẹn, vô vị lợi, đánh đổi tất cả, gia đình và niềm tin. Nó sống những chuỗi ngày đầy nước mắt kể từ về với hắn. Hắn làm tan nát cuộc đời nó. Khi nó nhận ra đàng sau sự ngọt ngào đường mật của hắn thì đã quá muộn! Ngày qua ngày, nó ôm con gào thét trong nỗi đau quằn quại.

Nó nghe thiên hạ nói đủ điều về hắn: cờ bạc, rược chè, gái gú, côn đồ máu lạnh… Trước khi cưới nhau, hắn là một chàng trai lịch lãm, nhưng hắn đã trở nên một con người khác từ khi nào? Chỉ có hắn mới biết được. Việc gì hắn cũng dám làm. Ngay cả nắm đấm vào mặt vợ, vào anh chị em và cha mẹ hắn! Hắn không quan tâm sự tồn tại của bất cứ ai. Thứ hắn cần là tiền và những cuộc ăn chơi trụy lạc thâu đêm.

Tôi không hiểu tại sao nó có thể sống với hắn với hai mặt con? Trái tim nó lớn quá, nên dù hắn xem nó như nô lệ nhặt từ xó chợ về, nó vẫn yêu hắn. Thật ra, nhiều lần nó muốn bỏ lại tất cả để ra đi, nhưng một phần vì thương con, một phần vì yêu hắn, nên nó cam chịu. Nhưng có thể, nó muốn giữ trọn lời thề của giao ước hôn nhân mà niềm tin dạy nó?

Cho đến một ngày, tận mắt nó nhìn thấy hắn gian díu với người phụ nữ khác ngay trong nhà mình! Từ đó, bầu trời trong tim nó sụp đổ. Nó kìm lòng chịu đựng, không phải vì yêu hắn, nhưng vì thương con. Nó không muốn con nó không có cha. Thật ra, Nó nhiều lần tha thứ và hi vọnghHắn trở về, nhưng hắn vẫn ngựa quen đường cũ!

Quá đau khổ, Nó giận cả Chúa. Nó bỏ lễ. Nó sợ gặp nhiều người, nhất là những người trước đây là khuyên Nó không nên lấy chồng ngoại đạo. Nó bắt đầu oán trách về cuộc đời mình. Nó hối tiếc về chọn lựa sai lầm ngày ấy, nhưng nó không hề nói ra. Nó trách mình đã nhẹ dạ cả tin, Nó trách mình đã yêu một cách mùa quáng, nên không nghe lời khuyên của cha mẹ và bạn bè. Nhưng có lẽ, nó ăn năn với Chúa nhiều hơn, Đấng mà nó một đời tin yêu một đời, nhưng giờ nó như đã quên Ngài.

Thật ra, nó không bỏ đức tin, nhưng vì hắn không cho nó đến nhà thờ. Có lần, nó đưa con đi rửa tội và đi lễ, bị hắn cho một trận đòn chí tử. Hắn nói: “Mày rửa tội cho bọn nó, thế sau này ai thờ tao? Mày đi lễ làm gì? Mày đi lễ có được tiền không? Mày đi lễ, mày cầu nguyện thế nào mà tại sao tao không trúng được số đề, làm ăn toàn thất bại vậy?...” Rồi hắn xúc phạm niềm tin mà trước đây hắn từng đi theo, xúc phạm đến lời cam kết khi bước vào cuộc hôn nhân này.

Khi say, hắn chửi cả cha đứa nào sinh ra hắn. Hắn giống Chí Phèo. Nhưng Chí Phèo năm xưa còn cao thượng hơn hắn. Vì Chí Phèo có khao khát lương thiện. Câu nói cuối cùng của Chí Phèo nói với Bá Kiến, khiến người đời suy nghĩ! Rằng: “ai cho tao lương thiện?” Còn hắn, có lẽ đời hắn không cần lương thiện, hắn cần lương tháng!

Hắn không cần lương thiện vì dù hắn đã trở thành một người theo đạo Công giáo. Nhưng hắn đã chối bỏ sự thánh thiện! Chẳng qua, ngày ấy, hắn vì bất đắc dĩ, nên miễn cưỡng theo đạo để làm đẹp lòng gia đình bên vợ, cũng như để tiến tới đám cưới hợp lệ, bằng không, đám cưới ấy sẽ vắng bóng họ hàng bên ngoại. Hắn đã thực hiện cú lừa ngoại mục. Hắn đã đạt được mục đích. Ôi ! Vô phúc cho kẻ dùng sự thánh thiện để lừa dối!

***

Phượng! Cậu về sống ở nhà Thu nhé? Tớ thì đang sống một mình. Nhà tớ rộng lắm!

Cậu Nói sao? Cậu đang độc thân hả? Nó hỏi tôi.

Uhm ! Tớ còn độc thân. Tớ đang chờ người đến rước về nhà họ đây. Nói rồi tôi quay ra cửa sổ như muốn trốn cái nhìn tò mò của nó. Hình như nó đoán ra điều gì đó.

Nó cười và nói: “Lấy chồng thì chọn đứa cho đàng hoàng, đừng lấy chồng ngoại đạo nhé. Đừng đi lên vết xe đổ của tớ nhé tớ. Tớ đã đau khổ một đời. Nhiều năm nay tớ không được đến nhà thờ. Tớ sống như đã chết vậy! Nhưng lúc nào tớ cũng cầu nguyện, xin Chúa, xin Mẹ nâng đỡ.”

Cả hai chúng tôi òa khóc!

Tôi thì thào với nó: “Đức tin của cậu lớn quá. Dù sống trong đau khổ, cậu vẫn không quên Chúa, cậu vẫn cầu nguyện. Tớ tin là Chúa sẽ nhận lời cầu nguyện của cậu. Thú thật với cậu, nhiều lúc tớ bỏ quên và than trách Chúa, nhất là lúc gặp khó khăn tớ không cầu nguyện nhiều như cậu. Cám ơn Cậu đã dạy cho tớ một bài học quý giá”

Thưa bác sĩ! Có chuyện gì thế? Một y tá tìm tôi.

Dạ có người nhà của bệnh nhân Phượng xin gặp.

Alo ! Xin lỗi ai vậy? “Dạ tôi là mẹ chồng của Phượng. Phiền bác sĩ nói với Phượng rằng: Hưng, chồng của nó vừa qua đời do xốc thuốc phiện!”

Nó ngã gục ngay xuống giường và bất tĩnh!

Tôi cầm điện thoại lên chỉ kịp nghe: “xin bác sĩ làm ơn nhắn dùm Phượng, cho con nó về chịu tang bố chúng, cám ơn bác sĩ!”

***

Hơn bốn tháng sau, tôi mới có dịp về thăm nó. Điện thoại của nó không liên lạc được. Tôi tìm đến căn nhà nhỏ của nó, nhưng hoàn toàn vắng tanh. Căn nhà lá lát gạch nung vách nứa lạnh tanh! Ở giữa nhà, bát hương khói, phía trên là di ảnh Hắn, phía sau là dòng chữ: “cầu cho anh Phêrô Hải mới qua đời, hưởng dương 32 tuổi!”. Người trong tấm ảnh thờ khá đẹp trai! Thật ra, tôi không hiểu tại sao lại gọi chồng nó là hắn? Lẽ nào, tôi thành kiến về người đã gây đau khổ cho Phượng? Nhưng từ tận đáy lòng, tôi vẫn cầu nguyện cho chồng nó. Đúng vậy, con người được phép lên án tội lỗi, nhưng phải xót thương tội nhân.

Đột nhiên, bà lão tiến tới hỏi: “Cô tìm cô Phượng à?

Dạ! Cháu là bạn Phượng, cháu tới thắp hương cho chồng nó.

Bà hàng xóm thở dài đáp: “Ừ! Phượng dắt con đi được hơn 1 tuần nay. Tội nghiệp con bé! Nhưng có khi chồng nó chết coi như là một sự giải thoát cho nó! Hi vọng nó về với cha mẹ nó, may ra đỡ cơ cực hơn, rồi làm lại cuộc đời, chứ ở đây như là địa ngục trần gian, ai mà chịu được! Vậy mà con bé nó chịu đựng được ngần ấy năm thật không thể tin được? Thôi coi như con bé đã trả nghĩa vợ chồng. Cái thằng Hải, nó có phúc mà không biết hưởng. Mà nghe đâu vợ chồng nó là người theo đạo Công giáo gì đó?”

Tôi chào bà cụ ra về mà lòng buồn tê tái, xót xa cho cuộc đời nó. Nhưng điều bà cụ vừa nói khiến Tôi đau nhói hơn! Đi hết con đường đất, phía trước tôi là con đường liên huyện dẫn tôi về Bản Eo. Mặt trời ngã dần xuống sườn đồi, con dốc cao dẫn về bản Eo. Hai bên đường là đồi keo xanh mướt. Mùi hoa dẻ thoang thoảng. Xa xa phía đồi trọc, hoa sim, hoa mua và mẫu đơn đang đua sắc. Trên nền trời, từng khóm mây vội vã cuốn lại như muốn thúc dục đàn én về tổ. Lâu lắm rồi tôi mới được thưởng thức hương vị mặn mà thân thương của đất mẹ. Quả đúng như người đời thường nói: “dù vui hay buồn, đất mẹ là nơi ta muốn về nhất”

Không biết nó có về lại quê xưa không? Không biết nó có nhớ và suy nghĩ gì về tôi không? Có lẽ, giờ này nó đã biết về ý định của tôi qua gia đình? Hi vọng nó không quá ngạc nhiên về việc tôi quyết định sống độc thân dâng hiến để phục vụ nhiều người, trở thành ‘bác sĩ tình thương’, để điều trị cho những tâm hồn bị thương tổn! Vì thiếu tình thương cũng là một căn bệnh nan y, một ‘thứ virút’ đã và đang gây đau khổ cho nhân loại này!

Nó và tôi, ai cũng có ơn gọi. Chúng tôi chỉ khác nhau về bậc sống. Đau khổ hay hạnh phúc phụ thuộc khả năng phân định ơn gọi của từng người. Vậy nên, lựa chọn ơn gọi không giống một ván bài theo kiểu may rủi. Phân định và lựa chọn ơn gọi cần ơn Chúa, và sống ơn gọi đó nhờ Người. Vì lựa chọn ơn gọi luôn là điều khó, và sống trọn vẹn ơn gọi đã lựa chọn lại càng khó hơn gấp bội.



Mùa Phục Sinh 2021

Hướng tới Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, cầu cho ơn thiên triệu.

Lighthouse


Trên Patheos ngày 9 tháng 4, Cha Matthew P. Schneider, LC, có bài tường thuật về một ơn gọi đặc biệt trong thời đại xô bồ hiện nay. Đó là trường hợp Montserrat Medina Martínez, một thiếu nữ Tây Ban Nha. Cô thành công rất sớm trên đường đời: ở tuổi 30, cô sáng lập một công ty được giới kinh doanh mệnh danh là công ty khởi nghiệp.



Theo từ điển mở Wikipedia, Công ty khởi nghiệp là một công ty hoặc dự án do một doanh nhân thực hiện nhằm tìm kiếm, phát triển và chứng thực một mô hình kinh tế có khả năng qui mô lớn. Công ty của Medina đang lên như diều trong lĩnh vực kinh doanh tại Tây Ban Nha. Dù mới 36 tuổi nhưng cô đã đi từ thành công này đến thành công khác trong sự nghiệp. Với học bổng từ Stanford, cô đã tạo ra một công ty khởi nghiệp ở Thung lũng Silicon mà sau đó cô đã bán cho Pay Pal với giá vài triệu dollars và dù còn trẻ nhưng cô đã được ký hợp đồng với tư cách là đối tác của công ty kế toán thời danh Deloitte. Danh tiếng, tiền bạc, nổi tiếng quốc tế… Cô có tất cả mọi thứ, ngoại trừ hạnh phúc. Sau một thời gian phân định, cô thấy Chúa đang kêu gọi cô sử dụng tài năng của mình một cách khác: cô quyết định bỏ mọi thứ và vào một tu viện dòng Thánh Augustinô với tư cách là một nữ tu chiêm niệm.

Cô đã thổ lộ cõi lòng trong một bức thư và giải thích quá trình dẫn cô đến tu viện với các đối tác của cô tại Deloitte. Người ta có thể tưởng tượng phản ứng của họ sẽ ra sao.

Montserrat tốt nghiệp ngành Kỹ sư Hàng không, hạng danh dự. Ngay sau đó, Stanford đã cung cấp cho cô một học bổng có trả tiền để lấy bằng Tiến sĩ về Toán học vi tính ở đó. Chính trong môi trường này, cô đã đồng sáng lập Jetlore, một công ty trí tuệ nhân tạo mà kết cục trở thành một chuẩn mực ở Thung lũng Silicon và cuối cùng bán cho công ty khổng lồ PayPal. Sau đó, cô được đề nghị trở thành đối tác của Deloitte ở Tây Ban Nha khi mới 34 tuổi.

Tuy nhiên, cô đã quyết định từ bỏ tất cả những thứ đó để theo Thiên Chúa. Trong bức thư gửi cho các đồng nghiệp, cô thừa nhận mình là người Công Giáo nhưng bấy lâu nay không đặt Thiên Chúa làm trung tâm. Cô nhận định, “Tôi đã sử dụng mọi tài năng mà lòng tốt vô hạn của Thiên Chúa chúng ta đã ban cho tôi, nhưng tôi sử dụng chúng vì vinh quang của chính mình và để tích lũy sự giàu có trên thế giới này. Tôi đã chiếm đoạt các hồng ơn nhận được chỉ để tìm kiếm lợi ích cho riêng mình. Tôi đang tự lừa dối bản thân: không hề làm tôi hạnh phúc, thái độ đó chỉ gây ra cho tôi sự trống trải ngày càng lớn thêm”.

Montserrat giải thích với những đối tác khác của Deloitte, “Tôi chìm trong nỗi khốn cùng, không biết phải làm gì với tất cả tội lỗi của mình, tôi hiểu rằng Thiên Chúa đã tha thứ tất cả vì Người là tất cả mọi sự tốt lành và thương xót. Bây giờ tôi muốn bỏ tất cả để đi theo vị Thiên Chúa này, Đấng đã chinh phục trái tim tôi. Tôi sống một món nợ tình yêu… mặc dù tôi biết rằng về phần mình, món nợ đó sẽ luôn được trả”.

Trước khi xin lỗi đồng nghiệp về những lỗi lầm mà cô có thể đã làm đối với họ, người phụ nữ trẻ này tuyên bố rằng cô đã đưa ra “quyết định quan trọng nhất và đồng thời là quyết định đơn giản nhất trong cuộc đời tôi”.

“Tôi đã quyết định, không hối tiếc, ngừng đầu tư vào tương lai trần thế của mình và bắt đầu đầu tư vào tương lai vĩnh cửu của mình. Vì tôi rời bỏ thế gian để phục vụ và làm theo Thánh Ý Thiên Chúa, nên tôi chắc chắn rằng Chúa nhân từ sẽ cung cấp nhiều hơn sự thiếu thốn của tôi với những thứ mà tôi để lại để đi theo Người. Đúng ra, tôi không rời khỏi thế giới, mà chỉ rời bỏ những thứ thuộc về thế giới. Tôi muốn dâng cuộc đời mình cho cầu nguyện và dâng hiến cho tất cả những người được Thiên Chúa yêu thương”, cô khẳng định như thế.

nguồn: Vietcatholic




SỨC MẠNH CỦA SỰ THINH LẶNG

(Cảm nhận từ câu chuyện người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng Gioan 8,1-11)


Người xưa có câu “không có gì mềm bằng nước, nhưng cũng không có gì mạnh bằng nước”. Thật vậy, trong điều kiện bình thường, nước là một loại vật thể hết sức mềm mại. Nó có thể thích nghi với tất cả mọi địa hình hay vật chứa nó. Thế nhưng, nước lại có sức mạnh khủng khiếp trong cơn giông bão hay mưa lũ. Nước chảy cuồn cuộn, mạnh mẽ đến mức có thể phá đổ và cuốn phăng tất cả những gì trên dòng chảy của nó.

Trong cuộc sống con người, có một trạng thái tinh thần có tính chất tương tự như nước, đó là sự thinh lặng. Thinh lặng là một trạng thái cần thiết cho sự cân bằng và phục hồi sự sống, sức khoẻ… Thinh lặng là điều kiện đem lại cho con người sự nghỉ ngơi, bồi bổ sức khoẻ tâm thể lý. Tuy nhiên, trong những lúc cô đơn buồn bã; sau những sai lầm hay lỗi phạm; sau những xung đột và nóng nảy… thinh lặng là lúc con người cảm thấy sợ hãi và trống trải nhất. Quả thật, chính trong những giây phút hồi tâm trong thinh lặng, con người cảm thấy mình bị trần trụi, phải đối diện với chính mình, với những yếu đuối và lầm lỗi, với cảm giác bơ vơ và bị bỏ rơi… Chính giây phút ấy, tiếng nói của lương tâm gào thét khiến cho con người điên đảo, hoảng loạn, mất bình an và thậm chí là bị điên loạn. Đó chính là sức mạnh của sự thinh lặng. Nó buộc con người phải đối mặt với sự thật, với quan toà lương tâm và với sự trần trụi thực sự của con người. Chính vì thế, tôi có thể nói rằng “không có gì dễ chịu bằng thinh lặng, những cũng không có gì đáng sợ bằng thinh lặng”.

Một số người ngày nay quan niệm rằng, thinh lặng là biểu hiện của sự hèn nhát và thất bại. Trái lại, sự náo nhiệt, hoan hỉ là biểu hiện của niềm vui, của thành công, của sức mạnh. Quan niệm này đúng không? Để trả lời cho câu hỏi này, người viết xin dùng câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng Gioan (Ga 8,1-11) để lý giải. Trước hết, chúng ta cùng tìm hiểu xem phải chăng sự ồn ào náo động là biểu hiện của sức mạnh.


1. Phải chăng sự ồn ào náo động là biểu hiện của sức mạnh?


Đoạn Tin Mừng Gioan 8,1-11 kể lại: Khi Chúa Giêsu đang giảng dạy cho dân chúng thì có một đám đông gồm các kinh sư và người Pharisêu điệu đến trước mặt Chúa Giêsu một người phụ nữ với lời tố cáo là đã bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Họ xin Chúa Giêsu xử lý người phụ nữ ấy. Tin Mừng không mô tả chi tiết về bối cảnh của đám đông này, nhưng tôi có thể hình dung ra đó là một đám đông náo động, hầm hầm sát khí, vừa la ó vừa tố cáo. Sự náo động của đám đông tạo sức ép lên Chúa Giêsu, đòi Ngài xử lý hoặc theo luật là ném đá người phụ nữ, hoặc vi phạm lề luật nếu tha bổng hay bảo vệ người phụ nữ.


Theo dõi cách hành xử của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ thấy được sự khôn ngoan của Ngài. Quả thật, giả sử trong bối cảnh đó nếu không có sự khôn ngoan và điềm tĩnh, thì chắc chắn sự náo động của đám đông sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của Chúa Giêsu. Chúng ta còn nhớ quan tổng trấn Philatô khi xét xử Chúa Giêsu, dù biết Ngài vô tội, nhưng đứng trước một đám đông hò hét, náo động, ông vẫn phải chiều theo họ mà kết án Chúa Giêsu. Với lại, theo sự thường, tiếng nói của quần chúng luôn luôn có sức mạnh và sức ảnh hưởng. Chẳng hạn như ở các nước tự do, khi dân chúng đổ ra đường biểu tình đòi hỏi quyền lợi gì thì hầu như nhà cầm quyền đều phải nhân nhượng. Cũng vậy, sự cổ vũ ồn ào và cuồng nhiệt của đám đông khán giả trên các sân vận động cũng thường có tác động tâm lý rất lớn đến các vận động viên thi đấu trên sân. Tương tự như thế, trên chiến trường, tiếng hò la xung trận cũng là một cách tạo sức mạnh hữu hiệu. Thấy được sức mạnh từ sự ồn ào náo động như thế, chúng ta mới hiểu được áp lực Chúa Giêsu phải chịu lớn đến mức nào trước một đám đông đang nhao nhao lên án người phụ nữ ngoại tình.


Thế nhưng, qua những gì vừa nêu lên chúng ta thử hỏi phải chăng sự ồn ào náo động là biểu hiện của sức mạnh thực sự? Thiết nghĩ không phải như vậy. Đúng hơn, sức mạnh thực sự phải đến từ sự bình an trong thinh lặng sâu xa. Xét trên bề mặt thì ồn ào quả có sức mạnh thật. Nhưng xét trong chiều sâu, đằng sau sự náo động đó là gì? Phải chăng sự ồn ào ấy là tấm bình phông che đậy một tâm hồn trống rỗng, một sự nhu nhược sợ hãi hay những âm mưu đen tối? Chẳng hạn đám đông những người kinh sư và Pharisêu tố cáo người phụ nữ ngoại tình, họ dùng sự ồn ào để gây sức ép có vẻ như chính đáng là bảo vệ luân lý, thi hành lề luật, nhưng thực ra là họ đang có âm mưu hãm hại Chúa Giêsu. Sự ồn ào ấy che giấu âm mưu đen tối của họ.


Trong thế giới hôm nay, người ta chuộng sự náo nhiệt hơn là thinh lặng. Nói đúng hơn, người ta sợ thinh lặng và chạy trốn thinh lặng trong những tiếng nhạc đinh tai nhức óc, trong sự náo nhiệt của hội hè, đình đám. Thậm chí có những người “sợ thinh lặng” mà lại “nghiện tiếng ồn”. Họ thích tìm niềm vui trong sự náo nhiệt không phải vì nó đem lại hạnh phúc cho họ, nhưng thực ra là để che giấu một tâm hồn trống trải không có gì lấp đầy. Tiếng ồn làm cho họ quên đi phần nào sự thiếu thốn và trống trải ấy. Người ta cho rằng sự náo động mới là sức mạnh, còn thinh lặng là hèn nhát, là nhu nhược, là sợ hãi… thế mà con người ngày nay lại sợ thinh lặng, sợ những giây phút cô đơn vì thinh lặng bắt họ phải đối diện với chính mình, với sự trần trụi và thiếu thốn tinh thần của mình. Nhưng khi sợ thinh lặng thì cũng cho thấy thinh lặng thực sự có sức mạnh.


2. Sức mạnh của sự thinh lặng


Đương đầu với âm mưu đen tối của các kinh sư và những người Pharisêu cùng với đám đông ồn ào trước mặt, Chúa Giêsu không lớn tiếng chế ngự họ, cũng không đứng ra phân xử điều họ muốn Ngài làm. Họ càng hối thúc, Ngài càng thinh lặng, đến khi thấy họ hết kiên nhẫn, Ngài mới ngẩng đầu lên và nói rất nhẹ nhàng như một lời mời gọi: “Ai trong các ông thấy mình vô tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi”. Nói rồi Ngài lại thinh lặng! Lời nói của Ngài rất nhẹ nhàng, nhưng khi được kết hợp với sự thinh lặng, lời nói ấy lại trở thành lời phán xét rất nghiêm khắc. Câu nói của Chúa Giêsu tạo nên một bầu khí thinh lặng bao trùm đám đông. Và theo tôi nghĩ, trong những giây phút thinh lặng ngắn ngủi ấy, đám đông phải đối diện với con người thật và với lương tâm của họ, nơi đó tiếng nói của Chúa Giêsu đang âm vang tận đáy sâu: “Ai thấy mình vô tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi”. Đó! Sức mạnh của thinh lặng chính là ở đó. Tiếng nói của toà án lương tâm vang lên trong thinh lặng. Đây chính là điều làm cho người ta sợ thinh lặng. Vì khi đó, con người thật của họ bị phơi bày.


Cách hành xử của Chúa Giêsu rất nhẹ nhàng nhưng lại rất hiệu quả, có thể nói là hiệu quả hơn cả cách dùng vũ lực hay lời quát tháo. Hẳn mọi người còn nhớ khi Chúa Giêsu vào đến thờ Giêrusalem (x.Ga 3,13-22; Lc 19,45-46) và thấy đền thờ bị ô uế vì những người buôn bán chiên bò, bồ câu và đổi tiền, Ngài đã lớn tiếng quát nạt: “Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 3,16), và Ngài còn xua đuổi, lật nhào bàn ghế của họ. Tôi không dám nói là cách làm của Chúa Giêsu trong hoàn cảnh này là sai hay quá đáng, nhưng so sánh kết quả của hai cách hành xử trong hai trường hợp đó, chúng ta thấy rằng khi Ngài mạnh tay với dân chúng, thì họ quay lại đối chất với Ngài: “Ông lấy dấu nào chứng tỏ ông có quyền làm như thế?”. Rồi họ còn dùng chính câu nói của Chúa Giêsu lúc đó: “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại” để tố cáo Ngài sau này (x.Mt 26,61). Ngược lại, trong trường hợp này, sau khi Chúa Giêsu mời gọi đám đông đi vào thinh lặng để tra vấn lương tâm thì họ đã tự động rút lui, không cần Ngài xua đuổi hay giải tán.


Rõ ràng, thinh lặng không chỉ làm cho bên nguyên cáo là đám đông câm miệng mà còn làm cho bị cáo là người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình suy nghĩ về việc làm của chị. Không biết khi thấy đám đông giải tán, chị đã thở phào nhẹ nhõm vì được cứu mạng, hay bật khóc vì nhận ra tình thương của Thiên Chúa cũng như tội lỗi của mình mà ăn năn sám hối, có thể là cả hai. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là thinh lặng có sức mạnh đẩy lui những âm mưu đen tối, bởi vì như M.Zundel khẳng định: “Trong sự thinh lặng của Thiên Chúa, người ta học được nhân phẩm của con người, người ta thấy được chỉ duy một sự cần thiết, đó là sự thật, sự công chính”. Trong sự thinh lặng, đám đông không chỉ nhận ra tội lỗi của họ, mà còn thấy bị đòi hỏi phải tôn trọng chân lý, điều đó làm họ xấu hổ vì tội lỗi cũng như vì đầu óc xấu xa, đen tối của mình. Chính ở điểm này, thinh lặng tạo nên sự biến đổi.


Trong những trận cuồng phong bão tố, khi chứng kiến sự hung hãn của những cơn sóng biển dập dồn, người ta cứ nghĩ rằng đó chính là sức mạnh của biển cả. Nhưng họ đâu biết rằng, những con sóng đó chỉ là biểu hiện nơi bề mặt, còn nguồn tác động tạo nên chúng lại là những dòng hải lưu ngầm, âm thầm lưu chuyển dưới lòng biển sâu. Chúng rất âm thầm lặng lẽ, nhưng có khả năng làm biến đổi thời tiết. Điều đó cho thấy, không hẳn là sự náo động và ồn ào bề mặt là sức mạnh thực sự. Trái lại, sự thinh lặng mới là thời gian, là không gian và cơ hội cưu mang sức mạnh thực sự, đồng thời sự thinh lặng ấy có khả năng tạo nên sự đột biến và sự thay đổi: Hạt giống nảy mầm trong thinh lặng; những mầm sống được hình thành và phát triển trong thinh lặng...


Thinh lặng thật có giá trị và ý nghĩa đối với đời sống mọi người, cách riêng là đối với các tu sĩ nam nữ. Thinh lặng giúp cho chúng ta lắng đọng tâm hồn, để kết hợp với Chúa, để hồi tâm và tìm lại được sự quân bình cho đời sống của mình. Đó chính là khẳng định của M.Zundel: “Đối với chúng ta, điều tối cần thiết để giữ lấy sự quân bình và bình an là phải liên tục trở về với thinh lặng”. Không chỉ có thế, trong tương quan với tha nhân, thinh lặng cũng là điều kiện và cơ hội giúp ta nhận ra nét đẹp nơi tâm hồn tha nhân; đồng thời, trước những yếu đuối và lầm lỗi của họ, thinh lặng giúp chúng ta đồng cảm, tha thứ và có khả năng trao cho họ những lời khuyên hữu hiệu. Về điều này, Michel Hubaut trong cuốn “Những nẻo đường thinh lặng” đã nhắc nhở chúng ta: “Để đánh giá người khác, để khuyên bảo hay góp ý người khác, chúng ta hãy bình tâm để xem những ý kiến đó đi đến từ trong thinh lặng nội tâm hay bộc phát từ cái nhìn và đánh giá vội vã. Lời khuyên đến từ người có tài ăn nói có thể hay nhưng chưa chắc đã ý nghĩa và thấm đậm bằng lời khuyên của người nói trong thinh lặng. Đó là ‘sự thinh lặng nhẫn nại biết có một thời để nói và một thời để im. Sự thinh lặng cẩn trọng và cân nhắc từng lời, sự thinh lặng thông cảm biểu hiện bằng hành động hơn lời nói. Sự thinh lặng khiêm nhường thừa nhận những giới hạn của mình và mở lòng ra với những ánh sáng khác” (tr.32).


Cầu chúc mọi người, nhờ ơn Chúa, sẽ khám phá ra được ý nghĩa và sức mạnh của sự thinh lặng đối với cuộc sống tinh thần cũng như thiêng liêng của mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ lợi dụng được giá trị của thinh lặng mà xây dựng đời sống thiêng liêng, đồng thời luôn biết dừng lại trong thinh lặng để hồi tâm suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Nhờ đó, chúng ta sẽ có được định hướng đúng đắn cho cuộc sống.

M. Hạnh Tử

 


NGÀY THỨ SÁU MÙA CHAY

Đúng là một ngày thứ sáu đặc biệt vì nó mang lại cho tôi nhiều cảm xúc. Tôi phải ghi vội vì sợ những cảm xúc đó bay đi như cánh hoa trước gió.

Sáng hôm nay, khi thức dậy sau một đêm ngủ dài, tôi nhìn về giường vợ tôi, tôi nhớ đến nàng. Cô ấy vừa đi tới nhiệm sở, tội cho cô ấy vẫn còn mang bệnh trong người; lại phải gồng mình 12 tiếng đồng hồ nơi làm việc, đến khuya mới về. Rồi tôi nghĩ đến những những đứa con còn say giấc nồng, chúng đã quần quật suốt ngày hôm qua, kiếm tiền nơi đất Mỹ đâu phải dễ. Tôi lại nghĩ đến người mẹ dấu yêu, không biết còn sống vui vẻ với chúng tôi được bao lâu, vì bà đã 86 tuổi rồi. Tôi lai mường tượng về cảnh lễ dạm ngõ của đứa trai thứ, mà nhà gái hào phóng mời hết đại gia đình nhà tôi, thế là anh em tôi có dịp chén tạc chén thù kết nghĩa thông gia. Xin Chúa giữ gìn họ.

Bỗng tôi lại chạnh lòng nhớ đến những “con cái” tôi, “đàn em” tôi đang ở Việt Nam, mà tôi từng là lãnh tụ, từng là soái ca. Chúng đang tan đàn xẻ nghé, bị đối xử bất công, sắp đi con đường thập giá của chúng, tôi thấy xót xa. Tôi ở xa làm sao bảo vệ được chúng đây, tôi thấy mình hèn yếu và cần được nâng đỡ. Nhớ lại hôm nay là ngày thứ 6, ngày có ban bí tích xức dầu bệnh nhân, tôi vụt dậy sửa soạn đi đến nhà thờ. Vừa ra cửa thì 2 chiếc xe của con trai tôi đã đi mất, còn lại một chiếc xe mới của con gái vừa mới mua. Tôi ngại lắm vì lái xe rất dở, nhưng có cái gì đó thôi thúc và tôi quyết định lái đi.

Bầu trời Texas cuối đông âm u, cây lá chưa nảy mầm, cảnh buồn nơi xứ Mỹ làm tôi nhớ đến quê hương. Tôi nhớ ngôi nhà màu xanh, nhớ nhà thờ cổ kính, nhớ xóm nhớ làng. Rồi tôi đến nhà thờ cũng vừa kịp thánh lễ, lễ hôm nay hơi đông người, nhà thờ Việt Nam mà. Trong lễ lòng trí tôi lo ra, chẳng nghe gì 2 bài đọc và bài giảng của cha xứ. Đến khi sắp ban Bí tích Xức Dầu, tôi nhớ các em, tôi thấy tôi quá hèn nhát, bắt đầu tất cả những cảm xúc dâng trào trong tim, trào ra ngoài theo tuyến lệ, nước mắt tôi giàn giụa đến nổi cha ban bí tích cũng nhận ra. Tôi mặc cho suối lệ tuôn trào theo lời hát: “Con trông cậy Chúa khác nào em bé ngủ yên trong tay mẹ hiền…”. Từ đó tôi tham dự thánh lễ một cách sốt sắng. Cuối lễ, tôi cùng cộng đoàn đọc kinh Năm Thánh Giu-Se, tôi thành khẩn xin Ngài, cũng là bổn mạng tôi trong cơn nguy khốn này. Tôi định vài ngày nữa mới xưng tội, nhưng tôi đã khóc với Chúa đêm qua rồi; tôi nhẹ nhàng xưng thú vì Chúa đã nghe những gì tôi thầm thì với Ngài.

Rồi nhà thờ có một buổi gẫm đàng Thành Giá. Trời sụp buồn như cảnh ngày nào trên đồi Can-vê xưa, lại lất phất mưa rơi như dòng nước mắt khóc thương Chúa của các bà Giêrusalem năm nào, thật là bi thương! Tôi đến trước đài Đức Mẹ, quỳ xuống vài giây chào Mẹ. Đoàn gẫm đàng Thánh Giá Việt Nam đã tới chặng thứ 3, nhưng một đoàn người Mỹ vừa mới bắt đầu, tôi lẽo đẽo theo họ, họ đọc tiếng Anh tôi không hiểu được. Tới chặng thứ 4, một bà tốt bụng đã trao cho tôi một tập kinh nhỏ để theo dõi khi gẫm, tôi đọc lí nhí theo họ và tôi hiểu. Bà lại hỏi tên họ tôi nữa nhé, rất thân tình! Tôi ngạc nhiên về phong cách của họ, khác với người Việt chúng ta: thường ủy mị, sầu thảm than khóc. Họ can đảm chia sẻ nỗi đau của Chúa trong một sự can trường, nơi họ toát lên phong thái của một người chiến sĩ dày dặn kinh nghiệm. Tới chặng thứ 4, một phụ nữ lên vuốt mắt Mẹ và Chúa Giêsu. Rồi những chặng Chúa ngã xuống đất, họ dắt con cái quỳ lạy trước tượng Chúa. Những điều đó như một bài học cho tôi mà suốt bao năm trước đây tôi không hề học được.

Giữa đường Thánh Giá, tôi đi giữa họ, đọc kinh tiếng Anh với họ, nghe họ hát. Tôi cảm nghiệm như tôi đang đứng giữa muôn vàn dân tộc, nhưng cùng một ngôn ngữ, mà như xưa đã chứng kiến cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Cuối buổi gẫm, tôi cám ơn người phụ nữ đã cho tôi tập kinh và xin làm kỉ niệm, tôi hứa trong lòng sẽ gẫm vào các ngày thứ 6. Tôi xin họ một tấm hình làm kỉ niệm và bao lời chúc thân thiện. Xin Chúa chúc lành họ.

Trên đường về tôi thấy một tai nạn xe tại ngã tư, tôi cám ơn Chúa cho tôi được trở về nhà bình an. Vừa mở mạng lên, tôi vui sướng vì “đứa con tinh thần” đầu đời đã được trân trọng trên kênh youtube. Họ bảo tôi nên chia sẻ cho con cái và mọi người, tất nhiên rồi; tối nay nhé, vợ tôi sẽ được một phen cười khúc khích, thế nào cũng lén hôn tôi một cái thôi; còn sấp nhỏ sẽ rất tự hào về ba của nó đấy. Và tôi bật lên một bài ca mà tôi thích là: “Và con tim đã vui trở lại…Vì Ngài bên tôi mãi”. Tôi mở lại account ngân hàng, tiền lương ít ỏi cuối tuần của vợ lại lấp đầy chỗ khuyết nhé. Thôi thì không thể hoãn cái sự sung sướng này lại chi bằng một miếng bánh ngọt. Tôi gọi cho mẹ, khoe với bà tôi vừa lãnh nhận một lúc 3 bí tích và nhiều niềm vui khác. Bà hẹn tối nay chở bà đi tĩnh tâm Mùa Chay, tôi đi chớ.

Rồi lòng tôi chùng xuống, tôi chợt nhớ lại sấp nhỏ đang ở Việt Nam, chúng đang cô độc, mọi người đang bỏ rơi chúng, chúng chỉ còn có tôi để núp bóng, mà tôi thì ở xa quá, cánh tay tôi không đủ dài mà đối thủ thì quyền uy và thế lực. Tôi như Samson bị thất trận, chỉ xin Chúa cho lại sức mạnh một lần thôi để chiến đấu; liệu Ngài cho không nhỉ? Nhớ ngày nào, tôi dạy các em, nhất là các lớp thêm sức, tôi cao giọng: nào là các em phải nhiệt thành rao giảng Lời Chúa, nào là phải can đảm làm chứng cho đức tin, phải hy sinh bảo vệ sự thật. Nhiều em đã dâng mình theo Chúa sang tận Mỹ, Pháp và cả Camerun với bước chân truyền giáo. Còn tôi, tôi làm được gì, nói được mà làm không được, tôi thẹn trong lòng tôi lắm. Viết đến đây, tôi lại rơi lệ.

Trong cuộc chiến đấu cam go này, tôi định trốn chạy. Nhưng Ngài đã đón đầu tôi, Ngài bảo “Con đi đâu”, tôi đành ngậm miệng. Ngài không dẫn tôi vào thành Rôma, Ngài đưa tôi đến doanh trại của Ngài, bày mưu tính kế cho tôi để tôi chiến đấu; phen này là thắng chắc lắm vì mưu lược của Ngài thì huyền diệu vô song. Xong trận chiến rồi, Ngài đưa tôi vào công xưởng của Ngài, Ngài cho tôi làm kỹ sư trưởng nhé, để cùng Ngài xây lên những căn nhà tình thương cho nhân loại. Làm với Ngài sướng lắm, làm ít mà lương hậu hĩnh nhé. Rồi cuối tuần Ngài chở tôi trên những chiếc Rolls-Royce dạo quanh những đồi hoa thơ mộng, những thung lũng với suối nước lượn quanh. Ngài tăng tốc độ vượt đèo cao cho tôi chiêm ngưỡng những núi đồi hùng vĩ. Ôi du lịch với Ngài tôi thật đã con mắt. Rồi Ngài chở tôi vào nhà hàng sang trọng bậc nhất trên trần gian, kêu cho tôi những món ngon vật lạ, tôi ăn không nhiều lắm, tôi than thở với Ngài là tôi bị đau bao tử từ lâu và kể lể với Ngài hàng tá bệnh khác. Ngài nhẹ nhàng bảo tôi: “Con đừng lo, ta là thầy thuốc đây mà”. Ngài chở tôi đến bệnh viện của Ngài để chữa lành vết thương thể xác và tâm hồn tôi. Trời về đêm, xe Ngài chầm chậm trên biển vắng, Ngài kể cho tôi về cuộc đời của một Giêsu đã liều mình chết vì bạn hữu mình, Ngài còn kể cho tôi bài dụ ngôn Người cha nhân hậu. Tôi thiu thiu buồn ngủ, Ngài hứa sẽ đưa tôi về nhà Ngài, Ngài đã dành một giường êm nệm ấm cho tôi. Tôi ngủ hồi nào không hay, đầu tôi gục vào ngực Ngài, tôi nghe tiếng tim đập nhịp nhàng êm ái của Ngài rất rõ và ngực Ngài rất ấm nhé, lồng ngực của lòng yêu thương và bao dung. Hình như trong cơn mê ngủ, tôi đã hát nho nhỏ cho Ngài nghe: “Bỏ Ngài con biết theo ai….”

                                                                                                                      Tg: Tín Thác

Houston, ngày 3 tháng 5 năm 2021





Những cảm nghĩ về việc ăn chay

XÉ LÒNG ĐỪNG XÉ ÁO

Ăn chay. Đó là một từ ngữ rất tốt đẹp, vì chúng ta, bạn, cũng như tôi đều biết đến lợi ích của việc ăn chay. Người ta dạy nhau, sách vở dạy nhau, truyền miệng nhau, đời này qua đời khác là: Ăn chay rất tốt, rất có ích cho thể xác, và khỏe cho tinh thần. Nhưng tôi muốn đặt vấn đề ở đây là: Ai ăn chay? Lợi ích của nó như thế nào? Ăn chay thế nào cho đúng? Đúng như thế nào theo Hội Thánh dạy và Chúa dạy? Năm vấn đề nhé các bạn, dài đấy.

1. Ai ăn chay? Nói thật ra, ai cũng thích ăn chay vì lợi ích của nó, ai cũng biết thế và mọi người cùng rủ nhau ăn chay, nhưng thực tế thì ai đã ăn chay?

· Người vô thần thì cái gì cũng ăn: lúa gạo, rau cỏ, nhất là thịt cá, từ thông thường như gà, vịt, chim chóc, heo, bò; rồi chó, thỏ, heo rừng, nhím sóc, gà rừng, v..v… trong tự nhiên; và dữ hơn là rắn, cọp, beo, cá sấu, côn trùng, bọ cạp, chuột chù, chuột cống, cái gì họ cũng đớp không từ; ngay cả nếu mà thịt con hà mã mà ngon thì họ cũng xơi luôn. Nhưng mà họ cũng “ăn chay”nhen. Thật đấy, khi họ bị thừa mứa đồ ăn thức uống, cholesterol lên cao, béo phì bụng bự; thì họ lại chạy đôn chạy đáo, thuốc giảm cân này, thuốc thực phẩm chức năng kia; phương pháp giảm béo tùm lum tà la. Bó phép, họ bắt đầu ăn rau, ăn đậu thay cơm thay thịt; nhưng hết đường chữa rồi thì bác sĩ cũng “bó tay.com”. Thôi tiêu đời!

· Còn người Lương dân (là người lương thiện) thì họ cũng ăn uống rất thanh bạch và luyện tập nhiều phương pháp như khí công hay dưỡng sinh để giữ gìn sức khỏe.

· Người đạo hồi có cả một tháng ăn chay gọi là tháng Ramada. Không biết họ ăn thứ gì nhưng cũng phải kiêng khem dữ lắm

· Và các đạo khác như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Ấn Độ giáo, Bà La Môn giáo cũng có ăn chay một cách nào đó.

· Do Thái giáo chắc phải có ăn chay vì là dân của Chúa. Họ kiêng thịt heo và các con vật dính máu.

· Phật giáo thì ăn chay nhiều lắm, họ quan niệm việc ăn chay trường, và Phật tử cũng ủng hộ việc này.

· Các hội thánh Thiên Chúa giáo như Công giáo, Chính Thống giáo, các Hội Thánh Tin Lành đều tin Chúa Giê su thì phải có việc ăn chay.

· Riêng Hội Thánh Công giáo chúng ta, thì có luật buộc ăn chay và kiêng thịt vào ngày thứ tư lễ tro và thứ sáu tuần thánh mỗi năm.

· Còn Chúa Giê su cũng dạy dỗ chúng ta ăn chay bằng chính cuộc sống của Ngài: là việc đi vào sa mạc ăn chay 40 ngày đêm.

· Đấy rõ ràng nhé. 99% chúng ta đều được dạy dỗ và có thiện ý muốn ăn chay, mặc dầu trong thực tế vẫn muốn sống u trệ và thừa bừa.

2. Lợi ích của việc ăn chay như thế nào?

· Ồ, ai chẳng biết lợi ích của việc ăn chay mà ông Tín Thác cứ nói hoài. Đúng, ai mà chẳng biết, tự nhiên mà, rồi sách báo, truyền hình, diễn thuyết này nọ, bao nhiêu chuyện, ai mà chẳng rõ. Nhưng chúng ta biết thượng đế đã đặt để trong tự nhiên một luật ăn chay rồi đó. Có phải các loài động vật có máu nóng như con người, và các thú vật khi ăn xong thì lại uống, mà uống gì thì uống, dù là rượu ngon hay CocaCola, cuối cùng cũng phải tọng vô vài ly nước lọc.

· Rồi bạn có thấy, đôi khi con chó bị sình hơi, nó làm gì? Nó ra đám cỏ xơi vài cọng cỏ mực để ói ra. Và con người khi bị sình ruột, thì ra sau vườn tuốt lấy một nắm bồ xít lông hay lá ổi để tự chữa bệnh mình. Đấy đấy, con người khôn lắm, ăn rau nhiều hơn ăn thịt, uống nước nhiều hơn uống rượu; nhưng ngược lại, mấy ông bợm rượu thì cứ tì tì lít này tới lít kia, thịt cày này tới mèo nọ. Tôi dẫn chứng có đúng không nào, và cao hơn nữa một tí, là người ta thích dùng các thức ăn thực phẩm có lợi cho sức khỏe, như rau xà lách, cải, đậu hơn là thịt đỏ, trứng, sữa. Vượt lên trên là các bậc chân tu, thường xuyên ăn chay để giúp tăng cường sức khỏe, tâm thần thanh tịnh, tâm hồn thanh thoát bay lên cùng thượng đế.

· Và đỉnh cao chót vót là những kỹ thuật y học. Nhiều triết thuyết về y học, nhất là của Nhật Bản, đề cao việc chay tịnh. Họ cho rằng một tuần nhịn đói một ngày và chỉ uống nước để thải trừ chất độc, giúp giữ thăng bằng cơ thể. Lại có một vị thần y Nhật Bản mà tôi đã quên tên nói rằng: Để chữa bách bệnh, ta chỉ cần nhịn đói chừng một tuần hay mười ngày, và uống nước lã hay nước đường thôi, để thải độc, giúp làm teo các u bướu. Các bạn đang có u bướu trong người, dù lành hay ác, cứ thử xem sao nhé. Vì tôi đã có một lần làm như thế. Hồi đó tôi hay bị sốt rét và viêm gan, ăn uống tiêu hóa không tốt. Tôi đã nhịn đói và uống nước lã thôi. Vài ngày đầu khó chịu lắm, cái đói cồn cào ruột gan, thấy ai ăn uống gì thì nước miếng nhiễu nhảo ra. Nhưng tới ngày thứ tư, tôi cảm thấy dễ chịu lần, tôi nhin đói được, ngủ được. Tới ngày thứ bảy, tôi ốm đi, nhưng cơ thể tôi thấy nhẹ nhàng, tinh thần tôi thật sảng khoái. Tới ngày thứ chín, mọi người lo âu nhìn tôi, nhưng tôi thấy tâm hồn tôi bay bổng. Tôi nhịn đói tới ngày thứ mười hai, và một vài cục u trong người tôi teo nhỏ đi rất kỳ diệu. Nhưng tôi đã phạm một sai lầm là: Tôi đã ăn lại quá nhanh và quá no. Hậu quả là gan làm việc quá sức, và lại có vấn đề. Đó là bài học xương máu của tôi đó.

Vậy là lợi ích của việc ăn chay thật tốt và kì diệu phải không các bạn.

3. Ăn chay thế nào cho đúng?

Cái này khó đấy: vì ai cũng có quan điểm khác nhau, có thể cãi nhau đến tận thế. Tôi chỉ gồm tóm như thế này:

· Thứ nhất phải ăn sạch: dù là thịt cá hay rau đậu thì phải sạch, nghĩa là thịt cá không ươn thối và rau đậu không bẩn, không nhiễm thuốc bảo vệ thực vật.

· Thứ hai thức ăn phải được chế biến sạch và tốt: có nghĩa là ăn ít dầu mỡ, hạn chế thịt, cá nướng, chiên, xào, siêng dùng canh rau củ quả, và rau tươi như xà lách, cresson, v..v.. Bên nhà Phật thì đặt nặng hơn là không sát sanh. Vậy nên họ thường dùng các loại đậu, tương, xì dầu, đậu phụ. Nhưng vì sợ ăn lâu ngày sẽ ngấy, họ chế biến giả này giả kia để có thể ngon miệng.

· Điều thứ ba là phải ăn điều độ: là phải ăn đúng giờ. Có thể hai hay ba hoặc nhiều bữa nhỏ khác nhau, giúp đường tiêu hóa hoạt động tốt. Ăn đúng giờ sẽ làm cho dạ dày làm việc một cách điều hòa và khoa học, tránh bệnh đau bao tử.

· Điều thứ tư là cách ngồi cũng phải ngay thẳng: nghĩa là đừng quá nghiêm trang cũng đừng quá thừa bừa. Bàn ăn phải ngăn nắp gọn gàng sẽ kích thích vị giác, giúp ta ngon miệng. Xin đừng vừa ăn vừa xem ti vi, nó mệt đầu mệt óc ta lắm; hay mắng la con cháu làm bầu khí bữa ăn mất vui. Chúng ta nên chia sẻ các món ngon và chia sẻ tâm tình yêu thương với nhau.

Vậy đó, ăn như thế nào dễ thực hiện phải không bạn? Cứ từ từ một chút một sẽ thành công. “Có công mài sắt có ngày nên kim”

4. Hội Thánh Công giáo dạy giáo dân ăn chay như thế nào?

· Thật rõ ràng nhé, Hội Thánh dạy rằng: “Phải ăn chay và kiêng thịt ngày thứ tư lễ tro và ngày thứ sáu trong tuần Thánh. Đó là luật buộc: Ai sai phạm thì có tội, nặng nhẹ tùy theo hoàn cảnh, ý thức, và tự do. Đó là áp dụng cho lứa tuổi 18-59 về việc ăn chay. Còn việc kiêng thịt thì áp dụng 14 đến suốt đời. Riêng giáo hội Việt Nam thì cho phép chỉ kiêng thịt ngày thứ Tư Lễ Tro, và thứ Sáu tuần Thánh mà thôi. Còn Giáo hội Hoa Kì và các nước Châu Âu thì buộc kiêng thịt các ngày thứ Sáu Mùa Chay. Nhưng nhiều người lạm dụng lắm, không ăn thịt thì ăn dĩa crawfish to đùng, hay ăn một con cá mú bự chảng. Hay chờ cho đúng sau 12 giờ đêm là quất cành hông. Thì không đúng với tinh thần ăn chay đâu nhé. Trái lại, vì trường hợp đau bệnh, hoặc quá đói, như lạc vào rừng sâu mà chỉ có thịt, thì ăn một bữa thịt, tôi nghĩ rằng Chúa cũng không bắt tội đâu. Nói như vậy tôi cũng không có ý bào chữa họ, nhưng vì lòng bác ái, Hội Thánh cũng miễn nhiễm cho mà.

· Và việc ăn chay theo luật buộc như thế nào được quy định như sau: Ăn một bữa trưa no, tối ăn một nửa. Không ăn vặt trong ngày, chỉ uống nước lã. Còn uống cà phê cà pháo được hay không thì tôi không rõ. Các hoàn cảnh bệnh đau hay hoàn cảnh đặc biệt thì được Hội Thánh cho miễn giảm vì lòng bác ái.

· Vậy nhé, luật thì chúng ta phải giữ cho đúng nhé.

Tôi cũng đang bắt đầu tập ăn chay và kiêng thịt vào thứ sáu mùa chay, và hứa sẽ ăn chay kiêng thịt các ngày thứ sáu suốt năm nữa. Không biết có giữ nổi không?

5. Chúa dạy chúng ta ăn chay như thế nào?

· Trong Kinh Thánh Chúa dạy chúng ta nên ăn chay để khỏi sa chước cám dỗ, và thêm một điều nữa là: “Các ngươi phải ăn chay và cầu nguyện”. Hai việc nhen các bạn. ĂN CHAY và CẦU NGUYỆN. Hai cái mới đủ sức đuổi con quỷ ra khỏi con người chúng ta. Chúa Giê su không chỉ dạy chúng ta mà bằng gương lành cụ thể: là Ngài đã đi vào sa mạc chay tịnh 40 ngày đêm.

· Tôi cũng thấy Chúa chưa nói lợi ích của việc ăn chay cụ thể như thế nào. Nhưng chắc Chúa cũng ám chỉ đến việc lợi ích của ăn chay là: chúng ta tránh các dịp tội và chúng ta hoàn thiện cùng với việc cầu nguyện, giúp chúng ta mỗi ngày đồng hình đồng dạng với Chúa.

· Chúa Giê su cũng không dạy chúng ta phải ăn gì, nhưng trong sách Sáng thế ký, Ngài cho con người chúng ta có quyền ăn tất cả mọi động vật, và cây cỏ có hạt mầm. Trong Cựu Ước với lề luật thời Mô sê, luật có cấm ăn thịt heo và các súc vật có dính máu, vì đó là vật ô ế, không nên tiến dâng cho Chúa.

Vậy thì Chúa có chỉ chúng ta ăn uống gì cụ thể không? Ngài không nói rõ, Ngài chỉ nói rằng: Chỉ một câu thôi. Lời Ngài thâm sâu, hiểu mãi ngàn đời cũng không thấu. Ngài chỉ nói rằng: “Chớ mê ăn uống”.

· Chúa cũng không dạy chúng ta phải ăn một lần hay nhiều lần? Có ăn vặt không? Phải kiêng thịt như thế nào? Nhưng ý Ngài muốn chúng ta phải hãm mình, tiết chế dục vọng, kiềm hãm vui chơi hưởng thụ, hy sinh, làm việc nho nhỏ như quét nhà, giặt đồ, rửa chén…vv… để đền bù tội lỗi. Thế đấy, và nhất là trong tư tưởng phải thôi dồn nén hỉ nộ ái ố v..v.. để lòng thật sự sám hối với Ngài, vì trí não đã bị vẫn đục vì bao nhiêu thứ dơ dáy rồi.

· Chúa Giêsu cũng không quy định chúng ta phải ăn chay vào ngày nào? Thứ sáu nào? Đúng không? Nhưng vì Hội Thánh hiểu rõ sự yếu đuối các con cái mình, mà đặt ra luật buộc để bảo vệ tính duy nhất trong Hội Thánh. Vậy thì ý Chúa là: Chúa không bảo chúng ta ăn chay ngày nào, nhưng có thể là bất cứ ngày nào trong năm phải không các bạn.

· Chúa dạy chúng ta ăn chay thế nào cho đúng đây? Chúa không dạy cụ thể phải xào nấu món gì, Chúa Giêsu chỉ nói: Khi các ngươi ăn chay thì hãy đóng cửa phòng lại, ăn bận thật đẹp, giày dép đàng hoàng, đầu xức dầu thơm, để mọi người không biết các ngươi đang ăn chay. Sợ chúng ta không hiểu, Ngài còn đệm thêm: “Hãy xé lòng nhưng đừng xé áo” hiểu sao đây bạn. Chúa vẫn muốn những cái cúi đầu, những giọt nước mắt, những tiếng nấc sụt sùi ăn năn, những áo nhậm, những đốm tro xức trên đầu. Nhưng Chúa muốn đỉnh cao hơn nữa: là tấm lòng tan nát khiêm cung, là sự trần truồng của thể xác tội lỗi, là tiếng van xin hối lỗi của linh hồn bạn kìa. Đúng vậy không?

KẾT LUẬN: Tôi chỉ tóm gọn: Ăn chay là một phương pháp, cách thế Chúa dạy để chúng ta đi vào Nước Chúa, nước Thiên Đàng vậy.

Tg. Tín Thác

Houston, ngày 27 tháng 3 năm 2021


 

       Vài suy nghĩ trong Mùa Chay

THÙ VẶT THÙ DAI

Tôi có cái tật nhớ dai, cái này nó làm khổ tôi lắm. Tôi hơi nhỏ con, nhút nhát nên dễ bị người ta ăn hiếp. Khi bị như vậy, tôi chỉ biết lầm bầm bỏ đi, nhưng được cái tôi có ít kẻ thù, vì ai thù chi cái thằng nhóc như tôi. Tôi lại hay bị nhạy cảm và thương tổn, nên nhiều khi cũng dễ phát cáu. Ngày xưa Mạnh Tử nói rằng: “Nhân chi sơ bản thiện”- con người sinh ra vốn tính thiện; rồi Tuân Tử lại nói: “Nhân chi sơ bản ác”- con người sinh ra vốn tính ác, cái nào tôi cũng thấy phần đúng. Con người thì ai cũng thương yêu cha mẹ, anh em họ hàng mình, xóm làng mình, đồng lọai mình. Đồng thời, con người cũng lại phản kháng với các cá thể khác xung quanh, bất kể là ai, kể cả cha mẹ, anh em, v.v….Trong sự phản kháng đó, hình như có nhiều cấp độ: từ hờn, rồi giận, ghét, không ưa, thành kiến, hận, và căm thù. Cấp độ này thường hay diễn tiến theo tuổi tác.

Hồi còn tiểu học, tụi tôi chỉ biết HỜN thôi, mà hờn thì giỏi lắm chừng 5, 10 phút. Lũ trai thường chia phe chơi trò đánh giặc, bắn phằng; nhiều khi quá hăng máu cũng sức đầu mẻ trán. Còn chơi trò u mọi bị ôm kéo tuột cả cái quần đùi lò xo. Lại có đứa chơi ác, đè đầu tôi xuống, lột quần ra, và bắt đĩa bỏ vào mông làm tôi chết khiếp. Tôi hờn nhưng không thể thù được vì thiếu chúng thì tôi chơi với ai. Còn đám con gái, chuyên cặp đôi tôi với con M., lại còn hạch sách dò kinh từng chấm từng phẩy, không chịu được. Tôi hờn nhưng không thể thù được vì tụi nó hay cho tôi ăn me chấm mắm ruốc. Hờn chi hờn lâu kẻo không đứa nào chơi với mình.

Rồi lớn lên một tí, khi vào chủng viện. Tôi thấy lòng mình biết GIẬN. Nhưng giận thì cũng chỉ vài ngày. Tính tôi nhút nhát, lại cái mặt khờ khờ nên dễ bị ăn hiếp. Có một thằng nhỏ hơn tôi, mà nó lấm lắt lắm, cứ lấy tay chọt vào hông tôi, thấy tôi nhịn nó làm tới, ăn hiếp tôi ra mặt. Tôi giận nhưng không thể thù được vì nó là đứa ngồi chung bàn ăn với tôi. Nhưng tôi chơi chiêu, một hôm tôi thách đấu với một đứa to hơn tôi, bạn bè cổ vũ nhiệt tình trên sân cát; kể từ đó thằng nhóc cạch mặt tôi luôn. Rồi có thằng chơi banh rất giỏi, nhưng nó hay chơi xấu tôi. Tôi giận nhưng không thể thù được vì nó là đồng đội tôi, từng sát cánh chiến đấu cho màu cờ sắc áo. Rồi có một lần, một thằng bạn chơi quá xấu với tôi, tôi đánh nó một trận bất phân thắng bại. Tôi giận nhưng không thể thù được vì nó là đứa hay dấm dúi bánh kẹo cho tôi nhiều nhất. Ôi bạn bè thân thiết, giận dai làm gì cho mệt.

Tới tuổi trưởng thành 20-30, tuổi biết thương biết GHÉT; nhưng mà gặp mặt mới ghét à nhen. Tôi thấy mấy thằng bạn, râu mới lún phún, tập tành uống rượu, bận quần ống loa, tóc chải óng mượt, cái mặt vênh vênh, tướng đi thì khệnh khạng, thấy mà phát ghét. Ghét nhưng không thể thù được vì nhiều lần đám này đèo tôi đi uống cà phê, xem xi nê. Còn mấy cô mới nhớn, bắt đầu tí son phấn, đi ỏng a ỏng ẹo, quần jean áo pull hở rốn, ăn nói chả chợt, làm giá làm cao, thấy mà ớn. Tôi ghét nhưng không thể thù được vì họ là cô gái láng giềng mà tôi hay len lén liếc nhìn và si mê. Lúc ấy, sự ghét sự thương nó lẫn lộn với nhau, sao thật đáng yêu.

Tuổi 30-40, chín chắn rồi đây. Cái ghét trong tôi biến hóa thành cái KHÔNG ƯA. Cái này hơi nặng hơn, không phải khi thấy mà cả khi nghe người ta cũng dị ứng. Có một thằng bạn chơi thân với nhau, nhưng hai tính cách hoàn toàn khác nhau. Tính nó quá thẳng, hay nói khía người khác, đôi khi chọt vào nổi đau của họ, ai không hiểu thì dễ mất lòng. Tôi không ưa nhưng không thể thù được vì tôi với nó nặng nợ với nhau, tâm sự hằng đêm bên nhau, nhiều lần bệnh hoạn vào sinh ra tử có nhau. Còn cô kia, có nhiều học thức, nhưng hay lí luận ngược đời, ăn nói cao ngạo, hành động lập dị. Tôi không ưa nhưng không thể thù được vì cô ta là người tôi ngưỡng mộ, và đeo đuổi bấy lâu nay. Cái không ưa này có thể lặp đi lặp lại, nhưng không làm khổ tôi là mấy, vì nó chỉ ám tôi có thì có lúc. Nó chỉ xợt xợt ngoài da thôi.

Rồi 40-50, người ta bắt đầu lí luận, cách điệu từ ngữ, từ không ưa biến thành THÀNH KIẾN. Tôi có một người đồng nghiệp, tính cũng tốt, nhưng phải cái tật đãi bôi, rồi cường điệu vấn đề. Tôi thành kiến nhưng không thể thù được vì anh ta là thầy dạy của mấy đứa con tôi. Lại nữa, có một vị chức trọng hay lớn giọng, hò hét trịch thượng. Tôi có thành kiến nhưng không thù được vì ông ta là phó chủ tịch hội đồng giáo xứ. Rồi có một linh mục kia rất khó khăn, không bao giờ nở một nụ cười. Tôi có thành kiến nhưng không thể thù được vì ngài là cha sở của mình. Thành kiến nó làm cho chúng ta mệt đầu mệt óc lắm, nó quấn quít ta lắm.

Tới 50-60, con người suy tư nhiều hơn, sâu lắng hơn, nhớ nhiều hơn, người ta lại HẬN. Hận là vì họ từng bị tước đoạt quyền lợi, bị xâm phạm thể xác, xúc phạm danh dự, làm mất tương lai hay hạnh phúc gia đình. Tôi có nhiều vố bị đau lắm. Có lần có người tranh giành một cây mít rõ ràng là của tôi, tôi phải thua nhịn. Tôi hận nhưng không thể thù được vì bà là mẹ của bồ cũ tôi. Rồi tôi cho đất một người khác, chỉ yêu cầu để lại cho tôi cây mít. Mít trái mít cây hắn xơi luôn. Tôi hận nhưng không thể thù được vì đó là ông anh họ tôi. Lại có một người hay ganh tị với chúng tôi, đặt điều nói xấu, bôi nhọ gia đình tôi. Tôi hận nhưng không thể thù được vì cô ấy là láng giềng tôi. Khi đến đất Mỹ, tôi đã xa họ rồi, tôi lại nhớ họ, tôi vui vẻ gởi cho họ ít quà trong dịp lễ tết. Rồi công sản vào, họ giết chết ba tôi, cướp nhà, xua đuổi chúng tôi lên nơi rừng sâu nước độc, chịu đói chịu khát. Tôi hận biết bao nhiêu, hận nhưng không thể thù được vì họ cũng là đồng bào của tôi. Cái hận này nó làm ta ray rứt lắm, dễ lên máu, ăn không ngon, ngủ không yên.

Những hờn, giận, tới hận kia không chỉ đối với người ngoài đâu, mà ngay cả đối với những người ruột thịt. Nhiều khi tôi cũng hờn cha mẹ, giận vợ con, ghét anh em, không ưa họ hàng, thành kiến bạn bè, hận xóm hận làng. Bao nhiêu thứ ấy cũng không thể thù được, vì họ là máu thịt tôi, là thân cận tôi.

Tới 60, bắt đầu già nua, sức khỏe đi xuống, thất nghiệp, về hưu, bao nhiêu mộng ước không thành, thất vọng, cuộc sống không còn nhiều ý nghĩa. Người ta miên man nhớ lại những ai đã gây cho họ thân bại danh liệt, làm tan nát gia đình họ, tương lai họ; và họ bắt đầu CĂM THÙ. Tôi đang bắt đầu bước vào tuổi 60, và tôi đang sợ những điều này. Tôi có nghe những chuyện cha mẹ từ mặt con cái; vợ chồng mắng chửi nhau, không thèm nhìn mặt nhau, hết tình hết nghĩa, rồi lôi nhau ra tòa li dị. Rồi anh chị em ruột chém nhau sứt đầu mẻ trán, chỉ vì tranh nhau vài tấc đất. Bạn bè cạch mặt nhau, thề sống thề chết, có tao thì không có mày. Và chưa hả cơn căm thù, lại lôi vô cả dòng cả họ; xưa, đôi trẻ Rô-mê-ô và Ju-li-ét phải chết tức tưởi, vì mối thù truyền kiếp giữa hai dòng họ. Lại tôi nghe rằng, những vị ái quốc đáng kính như Trump và Mc Cain, có thể bắt tay với cộng sản, nhưng thề thốt tới chết cũng không thèm nhìn mặt nhau; ghê thật. Rồi vì một lí do cỏn con nào đó, mà dân tộc này căm thù dân tộc kia, nổ ra chiến tranh hằng chục năm trời, gây bao đau thương chết chóc. Cái căm thù này nó ghê gớm lắm, nó đi vào xương vào tủy, con người lúc nào cũng thấy lành lạnh. Cái căm thù này khó có thể dập tắt được, cũng vì cái tôi quá nặng, đó là cái tội vậy.

Vậy thì khi nào chúng ta có thể tha thứ. Chắc có chứ, vì như Mạnh Tử nói: “Nhân chi sơ bản thiện”; từ bé sơ sinh đẹp tựa thiên thần thì trở về cũng là thiện nhân. Tôi nghĩ khi chúng ta già rồi, khi 70, 80 hay 90, lúc lưng còng sức yếu, nhận thức được lẽ vô thường, hiểu được phần nào chân lý, muốn quay về cội nguồn, tâm ta lắng đọng, lòng ta bao dung thì ta sẽ dễ dàng tha thứ (Nhưng chưa chắc đâu). Thời gian khiến chúng ta thêm gian ác thì cũng chính thời gian làm cho chúng ta biết yêu thương hơn. Và ngay cả khi chúng ta không còn họ để yêu thương, để tha thứ vì họ đã ra đi; nghĩa tử là nghĩa tận. Xin bạn cùng tôi một lời nguyện cầu.

Chúa Giê su dạy chúng ta: “Hãy yêu thương kẻ thù ngươi” và “Hãy tha thứ cho anh em ngươi 70 lần 7”, khó quá phải không bạn, tôi cũng vậy. Chúa cũng đòi hỏi chúng ta không phải đến già mới tha thứ, mà phải biết yêu thương và tha thứ mọi lúc, mọi nơi, và mọi hoàn cảnh. Chúa đòi hỏi thì Ngài cũng bày cho chúng ta một cách thế: là cho chúng ta một chữ VÌ, đơn giản vậy đấy. Vì ai đó là cái gì của chúng ta mà ta không thể thù ghét được, mà ta phải yêu thương họ, tha thứ họ. Thiên Chúa không dạy chúng ta bằng lời mà thôi, Ngài còn nêu gương cho chúng ta bằng chính cái chết của Ngài trên Thập giá.

Thiên Chúa đã không thù ghét mà tha thứ cho chúng ta, vì chúng ta là con cái Ngài; cớ sao chúng ta lại thù ghét và không tha thứ cho anh em mình, vì họ là đồng loại của chúng ta, là chính hiện thân của Thiên Chúa.

                                                                                                    Tg. Tín Thác

                                                                                    Houston, ngày 26 tháng 2, năm 2021


SỐNG CÁCH LY





Kể khi bệnh Covid 19 xuất hiện tại Việt Nam, chúng ta bắt đầu nghe nhiều tới chữ “cách ly”. Khi dịch bệnh bùng phát ở đâu và nhất là khi nào xuất hiện ca dương tính, nơi đó lập tức bị cách ly. Cách ly có thể không được tập trung quá 20 người nơi công cộng và không được đứng gần nhau quá hai mét. Cách ly cũng có thể không được tập trung quá 2 người nơi công cộng và không được đứng gần nhau quá một mét. Cách ly có khi còn là không được ra ngoài khi không có lý do chính đáng và đi chợ mua đồ ăn phải có phiếu. Nói chung, không ai muốn sống cách ly vì nó vô cùng bất tiện và gây ra rất nhiều thiệt hại. Những người đang phải sống trong tình trạng cách ly đều mong ước sớm hết thời gian cách ly. Bởi thế nhiều khu vực cách ly đến ngày dỡ bỏ, người dân vẫy cờ vỗ tay reo mừng.


Đang phải sống trong tình trạng cách ly như thế, 17 giờ 33 phút, thứ Ba ngày 23 tháng 2 năm 2021, tôi nhận được tin nhắn của cha sinh hoạt ĐCV: “Cha ơi, cha cầu nguyện cho thầy Giuse Trần Quang Đạo lớp triết 2 qua đời đêm qua vì đột quỵ”. Tôi bàng hoàng nhắn tin hỏi lại: “Lạy Chúa, sao nhanh vậy?”. Cha đó trả lời: “Nhanh lắm cha ạ. Có gần nửa tiếng là thầy đi rồi”. Tôi hỏi tiếp: “Có kịp xức dầu không?”. Cha đó trả lời: “Thầy đang ngồi đọc sách lúc 21 giờ 35 thì bỗng dưng ngã xuống. Con xức dầu ngay lúc tim vẫn còn đập. Sau đó cấp cứu đến và làm hồi sức cho thầy rồi đưa vào bệnh viện nhưng thầy không qua được. 22 giờ là thầy đi rồi”. Tôi nhắn tin lại: “Con hợp ý với gia đình chủng viện cầu nguyện cho thầy”.


Bỏ điện thoại xuống, tôi lặng người âm thầm đọc kinh cầu nguyện cho thầy. Đến 20 giờ, chúng tôi dâng thánh lễ và không quên cầu nguyện cho linh hồn Giuse, thầy chủng sinh giáo phận Hưng Hóa của ĐCV Hà Nội vừa mới về với Chúa.


Hôm sau, tâm trí tôi thi thoảng vẫn nghĩ về thầy và âm thầm cầu nguyện cho thầy. Đến tối, tôi vô tình thấy trên youtube có bài nói về ước mơ của thầy Giuse được đăng trên trang mạng của giáo phận Phát Diệm. Tôi vào trang của giáo phận Phát Diệm và quả đúng có bài viết mới được đăng lên: “Ước mơ của thầy chủng sinh Giuse Trần QuangĐạo hai năm trước khi qua đời”.


Bài viết chắc là của một cha giáo phân khoa Tu đức của ĐCV. Đó là bài làm môn Việt văn của thầy Giuse nhưng nội dung lại như một bài tâm sự. Khi đọc hết bài tâm sự của thầy, tôi lại ngồi thinh lặng, thinh lặng lâu lắm. Tôi cảm thấy có điều gì đó không ổn. Đọc bài của thầy xong, tôi cảm thấy mình đã và đang sống không ổn. Tôi bỗng nhận ra đã từng có một sự “cách Ly” giữa tôi và thầy. Biết bao lần tôi đã gặp thầy, đã bao lần tôi nói chuyện với thầy, đã bao lần dạy học cho thầy.


Một cách chủ quan, tôi vẫn nghĩ giữa tôi và thầy chưa từng có một khoảng cách nào cả; tôi và thầy đều tôn trọng, yêu mến nhau một cách chân thành. Khoảng cách nếu có thì chỉ là khoảng cách giữa một người làm thầy và một người làm trò, đó là đạo thầy trò. Vậy mà khi đọc bài tâm sự của thầy, tôi mới vỡ lẽ hóa ra giữa tôi và thầy thực sự đang có một khoảng cách mà tôi chưa bao giờ bước qua, thầy cũng chưa bao giờ bước quá. Thầy là học trò của tôi, tôi quý như bao học trò khác, nhưng quả thực có rất nhiều điều tôi chưa biết về thầy. Tôi đâu có biết lý do tại sao thầy lại chọn cho mình câu khẩu hiệu: “Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” trong Tin Mừng của thánh Matthêu.


Thầy là học trò mà tôi đã từng gặp, có khi gặp hằng tuần, nhưng tôi đâu có biết cái quá khứ tuổi thơ đầy khó khăn của thầy. Thầy là học trò mà tôi thường tiếp xúc, nhưng tôi đâu có biết tuổi thơ thầy ăn những “bữa cơm chỉ toàn là cơm trộn, nào là sắn, nào là khoai … và thức ăn chỉ có vài ba quả trứng rang rõ nhiều muối ăn mặn chát. Nghĩ lại cũng thấy tội nghiệp cả cây sấu, quanh năm bị ngắt lá để nấu canh, lắm khi chỉ còn trơ trọi những cành không lá”. Tôi đâu biết ngay cả khi thầy đã trở thành một chủng sinh, ngủ trong ĐCV rồi mà nhiều khi ngủ vẫn mơ “thấy mình đang vất vả quần quật ngoài đồng. Nước mắt nó lại lã chã rơi”. Cái kỷ niệm ăn sâu vào thầy tới mức “khi xem những bộ phim, hay bài hát buồn hoặc thấy những đứa trẻ tội nghiệp giống nó trước kia, là lòng nó lại se thắt. Những lúc như vậy, nó khóc và xin Chúa đừng để những người giống nó phải khổ thêm nữa”. Rõ ràng có một sự “cách ly” giữa tôi và thầy. Sự “cách ly” chưa “dỡ bỏ” được giữa một người làm thầy và một người làm trò, giữa một linh mục với một chủng sinh.


Giờ tôi không dám nghĩ thầy đã từng nghĩ thế nào khi thấy tôi ăn mặc và sử dụng những thứ đắt tiền; thầy đã nghĩ gì khi thấy các cha sử dụng các phương tiện đi lại sang trọng và ăn những bữa ăn “cao cấp”.

Tự dưng nghĩ lại mà cảm thấy xấu hổ, thế mà tôi lại cho đó là những chuyện bình thường. Đã không ít lần ta lấy những thứ bên ngoài để thể hiện bản thân, để “show” cho người ta thấy và nể phục mình là thuộc dạng “đẳng cấp”, đã bao lần ta khoe những cái ta “Có” mà quên mất cái ta “Là”; đã bao lần ta sợ mất cái ta “Là” mà quên mất cái “Là” của anh em. Giờ tôi mới thấy thấm thía những lời của thầy Stephanô Nguyễn Khắc Dương: “Tôi rất ngại những người yêu Nhân Loại trong lúc vẫn ngồi yên trong ghế xe công cộng, mặc kệ một cụ già hay một phụ nữ mang thai đứng tha hồ cho xe lắc lư người chen chật. Tôi rất ngại những người lo lắng việc kinh bang tế thế, mà không hề lưu ý xem, em bé nhà bên cạnh trưa nay bố mẹ đi vắng, có cơm ăn không? Vì lịch sử đã cho thấy bao con người bằng xương máu cụ thể bị hiến tế trên bàn thờ của những danh từ trừu tượng”.

Đọc bài tâm sự của thầy Giuse, tôi bỗng hối hận muốn “tháo dỡ cách ly” với thầy nhưng thầy đã vội vã đi rồi! Giờ đây tôi chỉ có thể nói với linh hồn thầy rằng: Thầy Giuse ơi, cha thực sự xin lỗi.

Cha giáo Giuse

 

LỄ AN TÁNG THẦY GIUSE TRẦN QUANG ĐẠO

Lc 12,35-40 (sách Bài đọc Ngoại Lịch tr.122)

 


Từ khi thông tin về thầy Giuse Trần Quang Đạo được Chúa gọi về một cách đột ngột, một số người gọi điện thoại hỏi tôi như để biết rõ hơn về cái chết của thầy. Biết thầy bị đột quỵ trong lúc đang ngồi học bài cùng anh em trong lớp, có người thốt lên: sợ thật! Tôi trích lại lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng Luca 13,5: “Nếu các người không sám hối, các ngươi cũng chết như vậy”. Có thầy gọi điện cho tôi với giọng trầm buồn nói nghe tin này thấy bất ngờ quá! Tôi nói với thầy: “Chúa đến vào lúc chúng ta không ngờ, vào giờ ta không biết”. Có thầy thì buồn bã nói: “Chúng con không biết làm gì bây giờ”. Tôi trả lời: Hãy thêm lời cầu nguyện cho thầy, người anh em hạnh phúc được Chúa gọi về với Ngài. Người khác thì gặng hỏi tôi về tiền sử sức khỏe của thầy trước đây khi còn học ở Tiền Chủng viện thế nào. Tôi trả lời: tôi chỉ biết thầy đi khám sức khỏe, bác sĩ kết luận: có đủ sức khỏe để tu học. Người đó lại hỏi thêm: tại sao Chúa lại gọi thầy lúc này? Tôi trả lời: vì đó là điều Chúa muốn. Người anh em quá cố của chúng ta đây được Chúa gọi ra đi gây bất ngờ cho mọi người. Nhưng đó lại là thánh ý Chúa. Chúa muốn điều mà con người không thể chống lại được. Điều quan trọng là người được Chúa gọi ra đi đã chuẩn bị như thế nào trước khi được Chúa gọi mãi mãi về với Ngài.


Cha cố Pio Ngô Phúc Hậu khi đang trong bàn ăn với chúng tôi, nghe kể lại sự việc thầy Giuse Trần Quang Đạo bị đột quỵ đang lúc ngồi học bài ở Đại Chủng viện Hà Nội và qua đời ở tuổi 28. Ngài liền nói ngay: “sao mà sướng vậy!”. Mọi người xung quanh đều cười vẻ ngạc nhiên. Thoáng nghe như thế, ta dễ lầm tưởng rằng một sự ra đi nhanh chóng mà không phải trải qua thời gian đau bệnh, không phiền hà đến bất cứ người nào chăm sóc, không tốn kém tiền của chạy thầy chạy thuốc…và cho rằng, chết nhanh chóng như thế là một cái chết sướng. Cái chết sướng mà cha Piô muốn nói, đó là thầy Giuse đã chết ngay trong khi đang làm công việc bổn phận hằng ngày, được hiểu là chết trong ân nghĩa của Thiên Chúa. Một cái chết tốt lành. Một cái chết thật đẹp. Rồi ngài nói tiếp: cuộc đời một linh mục ai cũng mong được chết đẹp như thế. Cái chết đẹp nhất là chết dưới chân bàn thờ, nhất là chết ngay sau câu kết lễ: Lễ xong chúc anh chị em đi bình an.

Đúng vậy, cuộc đời một thầy chủng sinh không bao giờ đẹp bằng thời gian học trong Đại chủng viện. Thực tế rất hiếm khi có thầy Chủng sinh nào lại được Chúa gọi về với Ngài ngay khi đang còn ngồi học trong Đại Chủng viện, cũng như hiếm có linh mục nào được chết ngay dưới chân bàn thờ. Thầy Giuse Trần Quang Đạo đã được hạnh phúc sống và chết trong ân nghĩa của Thiên Chúa. Bởi vì trong suốt những năm tháng học ở Đại Chủng viện, thầy Chủng sinh được nuôi dưỡng đầy đủ bởi Lời Chúa và bí tích Thánh Thể mỗi ngày. Cũng trong thời gian này, mỗi Chủng sinh được dạy dỗ nghiêm túc và ân cần bảo ban của các cha giáo, được sự chỉ dạy cẩn thận của các cha linh hướng, được chăm sóc chu đáo về cả đời sống vật chất và thiêng liêng. Có thể nói được Chúa gọi về với Chúa vào đúng thời gian Chủng sinh là một ân phúc lớn lao mà kinh nghiệm của một linh mục hơn 85 tuổi, có hơn 70 năm sống đời tu trì đã thốt lên: sao mà sướng vậy!

Thật vậy, dưới ánh sáng Lời Chúa hôm nay, chúng ta thấy thầy Giuse là một người đầy tớ luôn biết sống thức tỉnh và sẵn sàng chờ đợi ông chủ đi ăn cưới trở về, cho dù vào giữa đêm khuya hay tảng sáng, Chủ về gõ cửa thì mở ngay cho Chủ. Đó là người biết tỉnh thức.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người trung thành với niềm tin của mình. Một khi đã xác tín về điều mình tin, họ luôn trung thành giữ vững đức tin cho đến cùng.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người luôn biết thi hành nhiệm vụ dưới con mắt của Thiên Chúa. Họ luôn ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi công việc mình làm. Họ là người công chính trước mặt Thiên Chúa và con người.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người luôn biết trung thành với công việc được trao phó, biết vâng lời Bề Trên, chu toàn mọi việc một cách có trách nhiệm.

- Người tỉnh thức và sẵn sàng là người khôn ngoan biết được thánh ý Thiên Chúa để cộng tác tích cực với ơn Chúa để làm tốt nhiệm vụ được trao.

Đối với thầy Giuse Trần Quang Đạo, kể từ ngày thầy tĩnh tâm nhập tu năm 2014, tôi có trách nhiệm đồng hành với thầy. Tôi biết thầy là một người đơn sơ đạo đức và chăm chỉ. Nét đơn sơ chân thật ấy lại là niềm vui cho anh em bạn bè hay trêu trọc đùa giỡn. Vốn hiền lành thánh thiện, thầy chỉ biết mỉm cười và im lặng. Bên cạnh đó là sự chăm chỉ cần cù trong công việc, siêng năng tìm tòi trong học tập… Điều đáng ngại nhất đối với ơn gọi của thầy thể hiện ngay nơi vóc dáng gầy guộc khắc khổ mà nhưng người làm công tác đào tạo chỉ biết hy vọng Chúa sẽ có cách giải quyết tốt nhất. Thế thì hôm nay Chúa đã chọn thầy theo cách của Chúa, không phải theo cách mà chúng ta vẫn mong đợi và hy vọng thầy sẽ là một linh mục tốt lành trong tương lai. Đời sống tốt lành thánh thiện của thầy đã sớm trở nên của lễ xứng đáng trước mặt Chúa trong tư cách là một chủng sinh hơn là một linh mục. Hình ảnh thầy Giuse và cái chết của thầy gợi nhắc cho mỗi chúng ta về lời mời gọi của Chúa Giêsu: “hãy tỉnh thức và sẵn sàng”. Đó cũng là sống tinh thần sống mùa Chay thánh.

Cộng đoàn chúng ta thương tiếc thầy, thì hãy thêm lời cầu nguyện cho thầy. Chúng ta hãy phó dâng linh hồn của thầy trong tay Thiên Chúa quyền năng, Đấng muốn cho mọi người được ơn cứu độ, sẽ ban ơn cứu độ cho thầy, một người con ngoan của Thiên Chúa, một người môn đệ trung tín, luôn sống tỉnh thức và sẵn sàng đón chờ Chúa đến. Amen.

Lm. Đaminh Hoàng Minh Tiến

Đặc trách Chủng sinh Gp. Hưng Hóa

(Chúng con chân thành cảm ơn cha Đaminh đã cho phép chúng con chia sẻ bài giảng này) 


 BÍ MẬT ƯỚC MƠ CỦA THẦY CHỦNG SINH GIUSE TRẦN QUANG ĐẠO


Đôi lời giới thiệu:

Được tin Thầy Giuse Trần Quang Đạo, chủng sinh giáo phận Hưng Hóa, đột ngột qua đời, khi tuổi đời còn rất trẻ (1993-2021), ai nấy không khỏi giật mình và bùi ngùi xúc động. Chúng tôi chợt nhớ hai năm trước có chụp lại một bài viết rất cảm động và sâu sắc về châm ngôn sống đời tu của Thầy. (Bài viết trích từ môn Việt Văn, năm Tu Đức cơ sở Phát Diệm, năm 2018-2019).

Trong tâm tình hiệp thông cầu nguyện, chúng tôi xin mạn phép được chia sẻ công khai bài viết để hi vọng có thêm nhiều tâm hồn đồng cảm, viết tiếp ước mơ còn dang dở ấy.

Hi vọng những tâm tình thao thức của Thầy Giuse sẽ đem lại niềm an ủi cho quí đấng bậc, cho gia đình và mọi người thân yêu rằng giờ này linh hồn Giuse cũng được Thiên Chúa xót thương cách đặc biệt như chính Thầy đã xác tín, đã chọn và đã sống câu châm ngôn cho đời tu của mình.  

Đình Chẩn



 


Đề bài: Thầy hãy chọn cho mình một câu châm ngôn hay một câu Kinh Thánh bất kỳ làm phương châm sống cho đời tu của mình. Thầy hãy nêu suy nghĩ của thầy về câu thầy đã chọn.



BÀI VIẾT

Trên lộ trình của mỗi con người, chắc chắn bất cứ ai cũng đưa ra cho mình một phương châm sống, một hướng đi hay một lý tưởng để theo đuổi. Nào là hãy làm chủ cuộc đời; hãy là chính mình…Một cách minh nhiên, người chọn đời sống tu trì cũng không ngoại trừ. Bản thân nó cũng vậy! Khi chọn lựa đời sống dâng mình cho Chúa, nó đã khao khát và luôn muốn trở nên giống Chúa. Nó muốn giống Chúa tối thiểu ở một khía cạnh nổi bật nào đấy để suốt cả đời, nó sẽ thực hiện khẩu hiệu mà nó đã chọn. Khẩu hiệu đó mang tên: “Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).

“Xót thương người” là một hành vi và là một việc làm cao cả. Nó chính là mối giây thông hiệp giữa người với nhau. Nó giúp mọi người thêm bình đẳng và gần nhau hơn. Hơn thế nữa, việc “xót thương người” là việc làm của con cái Chúa và Chúa sẽ chúc phúc cho những ai luôn biết xót thương kẻ khác.

Chẳng phải tự nhiên mà nó chọn câu khẩu hiệu trên, nhưng là bởi nó đã bị ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của gia đình nó trước kia. Nó sinh ra trong một gia đình nghèo nàn lại đông anh em thành thử ra đã nghèo lại càng nghèo hơn. Ngay từ nhỏ nó đã sống với cộng đoàn và làm quen với đồng áng, nên với nó, việc sống cộng đoàn và lam lũ đã trở nên quen thuộc. Nó được cha mẹ dạy những lời chân lý; các con phải yêu thương nhau; đừng cãi nhau…

Nhớ lại quá khứ, trong bữa cơm chỉ toàn là cơm trộn; nào là sắn, nào là ngô, nào là khoai…và thức ăn chỉ có vài ba quả trứng rang rõ nhiều muối ăn mặn chát. Nghĩ lại cũng thấy tội nghiệp cả cây sấu, quanh năm bị ngắt lá để nấu canh, lắm khi chỉ còn trơ trọi những cành không lá.

Ôi! Nghĩ về ngày đó thật tội nghiệp. Bản thân nó giờ đây, tuy đã là một chủng sinh, nhưng thỉnh thoảng lại mơ về quá khứ. Qua giấc ngủ, nó lại thấy mình đang vất vả quần quật ngoài đồng. Nước mắt nó lại lã chã rơi. Vì thế mà, khi xem những bộ phim, hay bài hát buồn hoặc thấy những đứa trẻ tội nghiệp giống nó trước kia, là lòng nó lại se thắt. Những lúc như vậy, nó khóc và xin Chúa đừng để những người giống nó phải khổ thêm nữa. Vì thế, lòng thương người hay giúp người khác cũng bắt nguồn trong nó lúc nào không hay.

Chẳng ai cho cái mà mình không có bao giờ. Khi giáng trần, Chúa Giêsu cũng đã quá nghèo. Ngài sinh ra trong một cái hang, cái hang đó chỉ dành cho con vật. Không biết sau này Bà Cố có kể lại cho Chúa biết về việc Chúa phải sinh ra khổ cực như thế không ? Nếu có, chắc Chúa cũng thấy tủi lắm. Có lẽ Chúa cũng ngấm cái nghèo, Chúa cũng biết người ta khổ vì đói là như thế nào. Bởi thế, Chúa mới xót thương người một cách mãnh liệt như vậy. Bản thân nó khi được sinh ra cũng nghèo lắm, nên nó đã biết đồng cảm và xót thương người khác. Nó mong rằng cả thế giới luôn được hạnh phúc để không ai phải nghèo khổ, tật nguyền đói rách…

Thật vậy, xót thương người là một điều quan trọng. Nó là sợi dây tình yêu, nối con người lại với nhau. Thế nhưng, tiếc thương thay, xã hội ngày nay đang mắc một căn bệnh thật nghiêm trọng, đó chính là căn bệnh vô cảm. Căn bệnh này còn nghiêm trọng hơn bất cứ căn bệnh thể lý nào khác. Căn bệnh ung thư chỉ cướp đi mạng sống của một cá nhân nào đó, nhưng với chứng bệnh vô cảm, nó sẽ cướp đi tình người và đẩy con người vào hố diệt vong. Chúng ta thử nghĩ xem, nếu một ngày con người mất đi sự quan tâm tới nhau, xã hội này sẽ ra sao ? Ôi! Không, xã hội này phải được quan tâm.

Nhìn lại bản thân, khi trước nó đã khốn khổ, vất vả thế nào, nhưng Chúa đã thương xót và gọi nó gia nhập hàng chủng sinh. Nhờ đó, chính nó sẽ học đòi bắt chước Chúa và xót thương người giống Chúa để cả đời này nó sẽ là Con Đường Sáng đem niềm vui cho tất cả mọi người.

“Phúc thay ai xót thương người; vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”. Đây là thông điệp mà Chúa đã trao cho nó. Nó sẽ dùng thông điệp này để thực thi theo Ý Chúa. Nó hằng mong ước, tất cả mọi người sẽ yêu thương nhau và biết xót thương kẻ khác như Chúa luôn hằng xót thương chính nó cũng như mọi người. Cuối cùng nó mong muốn tất cả mọi người hãy cầu nguyện cho nó, để câu Kinh Thánh mà nó đã chọn sẽ đi theo và đồng hành trong suốt hành trình trong đời của nó.

Giuse Trần Quang Đạo

 




Được tạo bởi Blogger.