Linh mục Léthel: “Bị nhiễm coronavirus, gương của Đức Hồng y Thuận đã giúp tôi rất nhiều”

fr.zenit.org, Anita Bourdin, 2016-06-30 



Linh mục François-Marie Léthel, Dòng Camêlô nhặt phép © FML

“Cùng lúc với một số anh em khác trong cộng đoàn, tôi bị nhiễm coronavirus”, Linh mục François-Marie Léthel Dòng Camêlô nhặt phép gởi đến trang Zenit lời chứng đặc biệt về chức linh mục và bí tích Thánh Thể khi ngài nằm bệnh viện ở Rôma.

Đặc biệt ngài nói đến việc đọc các bài đọc thiêng liêng và hạnh các thánh trong giai đoạn cách ly, nhất là với Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận: “Tôi phải nói, tấm gương của Đức Hồng Y Văn Thuận, bậc Đáng Kính đã giúp tôi rất nhiều”.

Chứng từ này sẽ được đưa vào quyển sách mới của Linh mục François -Marie Léthel có tiêu đề “ Không có gì làm chúng ta xa Tình yêu của Chúa trong Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rien ne pourra nous séparer de l’Amour de Dieu en  Jésus-Christ Notre Seigneur), ngài lấy cảm hứng từ kinh nghiệm của những người đã được rửa tội.

Linh mục Léthel là thần học gia nước Pháp, giáo sư tại Học viện Giáo hoàng thần học, tác giả của nhiều bài báo và nghiên cứu thần học về các thánh (luận án tiến sĩ của ngài). Năm 2011 ngài giảng tĩnh tâm cho giáo hoàng và giáo triều.

Chứng từ của Linh mục  François-Marie Léthel, Dòng Camêlô nhặt phép, linh mục bị nhiễm Covid-19 và được lành

Tôi viết lời chứng này ở Rôma ngày chúa nhật 28 tháng 6, ngày Phục sinh của Chúa, ngày kính nhớ Thánh Irênê thành Lyon và ngày hôm trước ngày lễ hai Thánh Phêrô – Phaolô Tông đồ.

Cùng lúc với một số anh em trong cộng đoàn, tôi bị nhiễm coronavirus, dù chúng tôi đã cố gắng hết sức để giữ quy tắc về sức khỏe. Vào tối ngày 8 tháng 6, tôi cảm thấy rất đau và xe cứu thương chở tôi đến phòng cấp cứu bệnh viện Gemelli, nơi Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã nhập viện sau vụ tấn công năm 1981. Sáng ngày 9-6, tôi được chuyển đến khoa Columbus, khu vực Covid của bệnh viện Gemelli. Tôi bị cô lập hoàn toàn ở đây trong vòng 17 ngày, tôi không ra khỏi phòng cho đến khi xuất viện ngày 25 tháng 6, tôi hoàn toàn lành bệnh, không cần phải chăm sóc hay kiểm soát gì khác. Tôi cảm ơn Chúa Giêsu và Mẹ Maria về sự bình phục có phần phép lạ này với tuổi 72 nhiều nguy cơ của tôi!

Kể từ tháng 3, tôi đã viết một loạt các bài về bí tích Thánh Thể sống trong thời gian đại dịch này, đặc biệt chú ý đến sự đau lòng của giáo dân không được rước lễ, đặc biệt là ở Ý và Pháp. Sự thiếu thốn này không may lại thường được gọi là “nhịn chay Thánh Thể” do việc lạm dụng dùng biểu thức truyền thống, theo ý thức hệ năm 1968 để chống lại việc rước lễ hàng ngày. Các bài viết của tôi đã được trang Zenit đăng trong ấn bản tiếng Ý và tiếng Pháp.

Bây giờ, trong tháng 6 này, Chúa Giêsu đã ban cho tôi ơn, trong tư cách linh mục được tham dự sâu đậm hơn trong thử thách lớn lao của toàn nhân loại, và lại đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm chức linh mục của tôi, ngày chúa nhật 21 tháng 6 năm nay. Tôi cảm thấy gần gũi hơn với tất cả những ai bệnh, đặc biệt với các linh mục bị nhiễm khác (nhiều linh mục đã qua đời ở Ý). Vì thế tôi đã mừng kỷ niệm này trong cô đơn hoàn toàn, tôi dâng lễ một mình trong phòng. Chúa nhật trước là lễ Mình Máu Thánh Chúa, tôi còn ở bệnh viện. Tôi có thể dâng thánh lễ mỗi ngày, dù có những lúc tôi rất đau, trong những ngày đầu nhập viện, tôi ngồi trên mép giường, trước bàn cạnh giường làm thành bàn thờ.

Tôi phải nói tấm gương của hồng y Thuận đã giúp tôi rất nhiều. Tôi có viết một bài viết ngắn có tựa đề “Con mang Chúa theo con ngày đêm”, linh đạo Thánh Thể của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận (có đăng trên trang Zenit). Trong thực tế, khi ở trong tù, ngài dâng thánh lễ trong cô độc, trong cực kỳ khó nghèo, ngài luôn mang trong túi áo một mẫu bánh thánh để kéo dài giờ chầu Thánh Thể, “sức mạnh duy nhất của ngài là Mình Thánh Chúa”. Theo gương ngài, tôi cử hành Thánh lễ hàng ngày cách đơn giản nhất, ngày đầu tiên tôi để dành một miếng bánh thánh nhỏ tôi cất trong hộp, tôi nói với Chúa Giêsu: “Con mang Chúa theo con ngày đêm”.

Vài năm trước hồng y Thuận, Nữ tỳ Vera Grita của Chúa, một giáo dân tận hiến, đồng huấn luyện viên Dòng Salê, đã sống kinh nghiệm thần nghiệm rất đẹp về sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, Đấng mong muốn chúng ta là “Nhà tạm sống”. Tôi cũng có viết một bài ngắn Vera Grita, nhà thần nghiệm của bí tích Thánh Thể” trong cuộc khủng hoảng lớn năm 1968. Bà đã hiệp thông sâu đậm với Đức Phaolô VI trong năm đầy biến chuyển này, năm tôi khấn Dòng Camêlô. Tôi muốn nhắc lại Đức tin của Dân Chúa được Đức Phaolô VI đọc trong thánh lễ ngày 30 tháng 6 năm 1968.

Đối với tôi, đây là một kinh nghiệm mới và mạnh mẽ về sự thật của mầu nhiệm Thánh Thể và ân sủng chức tư tế của tôi. Đây không phải là cách thân mật hóa hay thiêng liêng cường điệu nhưng là sự kết hợp sâu sắc nhất với tất cả các anh em đang đau bệnh của tôi trên thế giới, trong sự hiệp thông với sự hy sinh cứu chuộc của Chúa Giêsu và liên kết với “Thân xác thật đã được Đức Trinh Nữ Maria sinh ra, người đã đau khổ và chịu nạn trên Thập giá vì loài người (Ave Verum). Là linh mục, tôi thực sự có thể làm cho Chúa Giêsu Đóng đinh và Phục sinh hiện diện nơi đau khổ của thể xác bệnh tật và đau khổ của tâm hồn cô đơn cùng cực khi không thể cho người bệnh rước lễ. Đó là công việc từ thiện mục vụ lớn nhất của tôi cho các bệnh nhân khác, và cũng cho các bác sĩ, y tá và tất cả những người chăm sóc chúng tôi với một lòng bác ái cao đẹp.

Tôi đã có kinh nghiệm sâu sắc đến như thế nào về việc không thể tách rời Thân thể thật của Chúa Giêsu và Lời của Ngài trong Kinh thánh mà tôi đọc liên lỉ trong những ngày này, đặc biệt là các Tin mừng và thư Thánh Phaolô, sách tiên tri I-sai và Diễm Ca, tôi cũng cầu nguyện với sách Phụng vụ Giờ kinh.

Ngoài Thánh Kinh, tôi còn hai quyển sách chính yếu từ ngày bắt đầu đi tu của tôi cách đây 52 năm: Câu chuyện của một tâm hồn của Thánh Têrêxa Hài Đồng và Chuyên luận về lòng sùng kính đích thực với Đức Trinh Nữ của Thánh Louis-Marie Grignion de Montfort. Tôi cũng có viết bài báo ngắn Sống với Chúa Giêsu trên Trái đất cũng như trên Trời theo Thánh Têrêxa Hài Đồng.

Tôi cũng đem theo tuyển tập sách của Thánh Jean Eudes. Hai ngày trước ngày kỷ niệm chịu chức của tôi là ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái tim Vô nhiễm Đức Mẹ. Tôi đã cầu nguyện với hai bài quan trọng nhất này: Lời hứa tử đạo và Giao ước với Đức Trinh Nữ Maria. Căn bệnh được sống trong sự hiệp thông với Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu là một hình thức tử đạo và tháng sáu là tháng tiêu biểu của các thánh tử đạo: Thánh Justinô, triết gia và tử đạo, Thánh Blandine và các vị tử đạo thành phố Lyon, các vị tử đạo của Uganda , Thánh Tôma Morô, Thánh Gioan tẩy giả, Thánh Irênê thành Lyon, Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ, các vị tử đạo đầu tiên của Giáo hội Rôma. Giao ước với Đức Trinh Nữ Maria là lời cầu nguyện Thánh hiến mà mỗi linh mục có thể thực hiện để hiến dâng trái tim mình, như trái tim của hiền phu, tình yêu duy nhất của Trái tim Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

Quyển sách cuối cùng tôi mang theo là tuyển tập các bài viết thiêng liêng của Vera Grita được các tu sĩ Dòng Salê xuất bản có tựa đề: Xin mang con đi (Portami con te, Torino, 2017, nxb. Elledici). Tôi đọc mỗi ngày, trải nghiệm theo một cách mới về chiều sâu và thời sự tính của linh đạo cao cả Thánh Thể và Thánh Mẫu, truyền giáo và linh mục. Kết hợp với Mẹ Maria, chia sẻ đức tin, hy vọng và tình yêu của Mẹ giúp chúng ta sống mật thiết và hiệp thông liên tục với Mình Máu Thánh Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Khi nào tôi cũng cầm tràng hạt trong tay.

Tôi không khi nào bật máy truyền hình, nhưng tôi dùng các phương tiện liên lạc khác như điện thoại thông minh, whatsapp và mạng điện tử để giữ liên lạc với anh em nhà dòng, với gia đình và bạn bè của tôi.

Với tôi, thời gian 17 ngày ở bệnh viện là thời gian tĩnh tâm đẹp nhất trong đời linh mục Dòng Camêlô của tôi. Tôi cầu nguyện từ sáng đến tối trong hình thức cầu nguyện mà Thánh Têrêxa Avila gọi là Hương nguyện (Oraison) và đó là sự hiệp thông không tách rời với Chúa Giêsu, và Chúa Ba ngôi, và liên tục cầu bàu cho Giáo hội và cho toàn thế giới.

Từ cửa sổ phòng, tôi thấy Vòm Đền thờ thánh Phêrô, tôi cầu nguyện nhiều cho Đức Phanxicô. Cùng với Thánh Têrêxa Hài Đồng rất thân thiết của ngài, tôi giang tay cầu nguyện như ông Môse cầu nguyện trên núi khi Dân Chúa đang chiến đấu dưới cánh đồng (Xh 17, 8-12) chia sẻ hy vọng vô bờ của Thánh Têrêxa cho sự cứu rỗi của tất cả các linh hồn. Nhưng tôi phải thú nhận, những ngày tĩnh tâm này mang nét của “dòng Camêlô!” Tôi may mắn dạy thần học ở học viện Chartreux do Thánh Bruno thành lập và cũng đã đi tĩnh tâm riêng ở Dòng Chartreux de Serra San Bruno ở Calabre, nơi Thánh Bruno qua đời. Thực tế là tôi “tu kín” trong phòng tôi như các tu sĩ Dòng Chartreux tu trong căn phòng nhỏ bé của họ!

Và cuối cùng tôi thấy được lòng bác ái của các bác sĩ, y tá và tất cả các nhân viên vào trong phòng tôi, họ mặc áo bảo vệ nặng nề nhất, làm công việc rất can đảm, luôn có hiểm nguy lây nhiễm. Trong các giây phút gặp gỡ ngắn hàng ngày, có một luồng điện rất mạnh chắc chắn đến từ sự Hiện diện của Chúa Giêsu và nhờ ơn chức thánh linh mục của tôi. Tất cả đều còn rất trẻ, nam cũng như nữ, với tất cả những người tôi có thể nói chuyện, tôi cầu nguyện cho họ, cho gia đình họ, xin Chúa Giêsu và Đức Mẹ bảo vệ họ. Tôi luôn cám ơn họ về tất cả mọi sự, về cả thức ăn rất ngon ở đây! Tôi cũng cám ơn cha tuyên úy bệnh viện, tôi xin cha rượu lễ và xin cha giải tội cho tôi. Vì không vào được lãnh vực Covid, cha đến gần cửa ra vào và ban phép giải cho tôi như các giám mục đã cho phép.

Tôi sống kinh nghiệm từ bỏ trong tinh thần cha con, vào “Bàn tay Chúa Cha”, Chúa Giêsu và Thánh Irênê, sống cảm nghiệm tuổi thơ thiêng liêng của Thánh Têrêxa Hài đồng, mong manh và lệ thuộc như một em bé. Trong nỗi bất an của tương lai, tôi thường đọc bài thơ Không có gì cho ngày hôm nay.

Tất cả những chuyện này, tôi không có công trạng gì. Tất cả được Chúa Giêsu và Mẹ Maria cho anh em tôi, để cùng đi với nhau trên con đường thánh thiện, tất cả đều là ơn sủng!

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài gốc tại đây 


“Tôi phải xưng gì? Tôi phải chính xác hơn? Tôi phải trung thực hơn?”

Tôi đã xưng tội từ rất nhiều năm, nhưng tôi vẫn có cảm tưởng tôi chưa biết xưng như thế nào cho đúng. Đôi khi sau khi xưng tội, tôi tự hỏi: “Tôi phải xưng gì? Tôi phải chính xác hơn? Tôi phải trung thực hơn?”

Cách đây vài ngày, tôi quyết định đi hỏi các linh mục giải tội cho chúng tôi! Và đây là câu trả lời của họ:

1: Khi mình nhìn mình, thì mình đối diện với tội của mình. Nhưng khi mình đi xưng tội thì mình đối diện với Tình yêu, với Lòng thương xót và với sự Tha thứ của Chúa.

2: Sau khi nói từ bao lâu mình chưa xưng tội thì nên nói một ít về tình trạng của mình (độc thân, hứa hôn, lập gia đình và nghề của mình). Linh mục giải tội sẽ khuyên bạn dễ hơn khi cha biết hoàn cảnh của bạn.

Mục sư Fernando Casanova:
Trở lại đạo công giáo và khám phá sức mạnh đơn sơ của tràng chuỗi



fr.aleteia.org, Javier Ordovás, 2016-02-22


Cựu mục sư Tin lành giáo phái Ngũ tuần, tiến sĩ, giáo sư thần học Fernando Casanova không nghĩ lời cầu nguyện của mình lại có tác dụng đến như thế.

Tháng 4 năm 2013, mục sư Tin lành người Porto Rico Fernando Casanova trở lại đạo Công giáo đã làm giới Tin lành latinô-mỹ xôn xao một thời. Từ đó mục sư là người hết lòng bảo vệ Giáo hội với sự hiểu biết Thánh Kinh sâu đậm và cách rao giảng hùng biện, nồng nhiệt của mình.

Chính mục sư Fernando kể tiến trình trở lại đạo Công giáo chầm chậm và đau thương của mình: sau nhiều năm phục vụ tận tâm trong giáo phái Tin lành, mục sư đã phải đi qua năm năm cần thiết để có một sự hoán cải sâu đậm

Tiến trình này bắt đầu bằng cuộc nghiên cứu Thánh Kinh của một Giáo hội duy nhất và hợp nhất được Chúa Kitô thành lập, mục sư Fernando bị mất định hượng do sự bành trướng liên tục của các Giáo hội và các nhóm Tin lành. Nhưng sự sốt sắng của ông chỉ nhằm một mục đích rõ ràng và duy nhất: “không trở thành người Công giáo”. Và mục sư đã nhận được ơn sủng trở lại khi ông khám phá được Phép Thánh Thể của Công giáo.

Các dân tộc thiểu số sống ở miền Trung. Có tinh thần Công Giáo, các người dân tộc ở đây làm cho Giáo hội địa phương hội nhập sâu đậm theo văn hóa của người dân tộc để phục vu những người nghèo nhất, theo đường hướng của Hội Thừa Sai Paris.


Kon Tum, Pleiku, Đắk Tô… Nếu ai còn nhớ chiến tranh Việt Nam thì đây là các tỉnh người Mỹ gọi là vùng tam biên giới Việt, Miên, Lào, đồng nghĩa với đổ máu và chiến tranh kinh hoàng. Vào thời đó, vùng Cao Nguyên, vùng núi “hiền hòa” Trung Việt bị dội bom, bị bom napalm tàn phá, chứng kiến các trận chiến xáp lá cà tàn khốc giữa bộ đội cộng sản và lính Mỹ. 
Ngày nay, sau khi nước Việt Nam thống nhất năm 1975 và dưới chế độ cộng sản, hơn một nữa dân số không biết chiến tranh Pháp, không biết chiến tranh Mỹ, không biết vụ thống nhất đất nước đau đớn và giáo phận Kon Tum đơn thuần chỉ là một giáo phận miền quê và nghèo nàn. Kon Tum, và tỉnh Pleiku rộng hơn là nơi có nhiều dân tộc thiểu số người vùng núi. Về mặt lịch sử, thì luôn có các vấn đề khó khăn của người dân tộc và người “Kinh” khi họ ở chung với nhau. Người dân tộc nghèo hơn, ít học hơn, xuất thân từ các gia đình đông con, có truyền thống thờ vật linh, bây giờ các dân tộc này theo đạo Công Giáo rất nhiều.

hình minh họa

Từ nhiều năm nay, câu chuyện này lan rộng trong tâm hồn tín hữu kitô trên internet.

Đây là câu chuyện ngắn chạy suốt trên các trang Facebook và các trang mạng xã hội. Mới đầu là câu chuyện của người Tin lành nhưng dần dần thay đổi một chút cho phù hợp với người Công giáo. Nhưng dù thay đổi hay không, câu chuyện khi nào cũng làm cho lòng người xúc động! Một dụ ngôn cho thời buổi hiện đại giúp chúng ta thấy được bí ẩn của lời cầu nguyện hàng ngày. Một lời khuyến khích để nuôi dưỡng đời sống đức tin cho chúng ta.



Philiphê Nêri, Thánh bổn mạng của niềm vui

Thánh Philiphê Nêri là người cầu bàu rất mạnh cho tất cả những ai không còn niềm vui.

Trong cuộc sống chúng ta, có nhiều hoàn cảnh làm cho chúng ta nản lòng, giận dữ. Nhưng Chúa mời gọi chúng ta bỏ loại buồn bã này. Tín hữu kitô biết và sẽ không quên “Chúa nhớ đến họ, Ngài yêu họ, tháp tùng họ, chờ họ” như Đức Phanxicô vừa nhắc gần đây trong thánh lễ ở Nhà nguyện Thánh Marta. Và đó phải là niềm vui của tín hữu kitô dù có lúc họ phải gặp khó khăn và vác thập giá trên đường đời của mình. Niềm vui này đến từ Tin Mừng, từ sự nhận biết “mình được cứu và được tái sinh” và “Chúa Giêsu chờ chúng ta, đó là thẻ căn cước của tín hữu Kitô”.

famillechretienne.fr, Benoỵt Pénicaut, 2018-01-23


Jim Caviezel, trong trong buổi hội thảo Focus ở Chicago đầu tháng 1 năm 2018


Đầu tháng 1 năm 2018, trong buổi hội thảo Focus ở Chicago, diễn viên Jim Caviezel, người đã diễn vai Chúa Kitô trong cuốn phim Sự Thương Khó của Chúa Kitô đã nói chuyện với 8000 sinh viên công giáo ở thành phố Chicago nước Mỹ.

Ông xin họ mang Tin Mừng cho toàn thế giới: “Tôi mong các bạn đi vào thế giới lương dân này và có can đảm nói lên đức tin của mình trước công chúng mà không xấu hổ. Các chiến binh như Thánh Phaolô, Thánh Luca, những người đã mạo hiểm dùng tên mình, danh tiếng của mình để mang đức tin, tình yêu của mình cho Chúa Kitô đến cho thế giới”.

Ông cũng nói với các sinh viên có mặt ở đây, rằng đức tin của họ phải vững chắc, phải cắm sâu trong các bí tích, trong cầu nguyện, trong việc đọc Thánh Kinh “Thiên Chúa gọi mỗi người chúng ta – từng người trong các bạn – để làm những chuyện lớn. Nhưng trước hết các bạn phải dấn thân cầu nguyện, giúp đỡ, chiêm niệm về Sách Thánh và phải coi trọng các bí tích”.

Nói về vai diễn của mình trong cuốn phim của nhà đạo diễn Mel Gibson, lúc đó ông Jim 33 tuổi (tuổi Chúa Kitô chết), ông kể: “Khi tôi ở trên thập giá, tôi hiểu sự thương khó của Chúa Kitô là để cứu chuộc chúng ta. Các bạn nhớ, không người tôi tớ nào lớn hơn chủ của mình”. Ông kể, ông đã bị đau về mặt thể xác khi đóng phim (một cái vai bị lệch, sét đánh khi ông ở trên thập giá) mà ông xem đây như việc “đền tội” cá nhân.

Cuối cùng, ông nhấn mạnh đến sự quan trọng phải chống lại tội lỗi và Satan: “Để đến được với Chúa, chúng ta phải sống với Thần Khí, Ngài là mộc khiên và Chúa Kitô là lưỡi đòng. Chúng ta có thể kết hợp với Thiên thần thủ lãnh Mi-ca-e và tất cả các thiên thần để đưa Lu-xi-phe và bầy lũ của chúng đi thẳng xuống hỏa ngục, nơi ở của chúng!”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch


Mười lời khuyên của Đức Phanxicô để nên thánh

pelerin.com, Agnès Chareton, 2018-04-09

Tông huấn Vui mừng và Hân hoan, Đức Phanxicô cho chúng ta một tài liệu vui mừng và sáng rõ. Sau đây là mười lời khuyên để nên thánh.


1 – Con đừng biểu diễn!


“Để là thánh, không nhất thiết phải là giám mục, linh mục hay nam nữ tu sĩ. (…) Chúng ta tất cả được gọi để nên thánh khi sống với tình thương và trao tặng chứng tá của mình trong đời sống hàng ngày”. 14


“Tôi thích thấy sự thánh thiện nơi dân kiên nhẫn của Chúa: nơi các phụ huynh yêu thương dạy dỗ con cái, nơi những người đàn ông, đàn bà làm lụng để đem cơm gạo về cho gia đình, nơi những người bệnh, nơi các nữ tu lớn tuổi tiếp tục vui cười. Với một lòng kiên trì luôn đi tới đàng trước mỗi ngày, tôi thấy sự thánh thiện của Giáo hội chiến đấu. Và vì thế, thường thường sự thánh thiện “ở cửa bên cạnh”, nơi những người sống gần chúng ta, họ là phản ảnh sự hiện diện của Chúa hay nói một cách khác, họ là “tầng lớp trung lưu của thánh thiện”. 7.


Trong Tông Huấn mới Đức Thánh Cha Phanxicô đưa ra 
các bước thực tiễn để đạt đến sự thánh thiện


Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố một tông huấn mới, Gaudete et Exsultate (Mừng rỡ Hân hoan), trong đó ngài đưa ra các chỉ dẫn thực hành nhằm đạt đến sự thánh thiện trong thế giới hiện đại.

Toàn bộ Tông huấn được chia làm 5 chương với 177 đoạn.

Đức Thánh Cha nói rằng tài liệu này “không phải muốn trở thành là một luận văn về sự thánh thiện”, nhưng muốn “tái đề nghị lời mời gọi thánh thiện một cách thực tế cho thời đại chúng ta, với mọi rủi ro, thách thức và cơ hội”.

Sự thánh thiện, theo Đức Thánh Cha, không chỉ dựa vào lời cầu nguyện thôi mà còn phải bao gồm việc phục vụ những người quẫn bách và việc tự làm chủ bản thân.


Blaise Pascal (19/6/1623 – 19/8/1662)

Bài viết liên quan: Thị kiến thần nghiệm đã biến đổi Blaise Pascal

Nhân dịp Vatican mở án phong chân phước cho Blaise Pascal, một triết gia nổi tiếng thế kỷ 17, chúng ta đọc lại một vài tư tưởng để đời của ngài.

1. Ít người nói về sự khiêm tốn một cách khiêm tốn, về nhân đức một cách đức hạnh, về sự hoài nghi một cách ngờ vực.
Được tạo bởi Blogger.