Một số tập thơ của Hàn Mạc Tử
Một số tập thơ của Hàn Mạc Tử

Tập thơ Xuân như ý là cánh cửa mở rộng để thi nhân đưa tâm hồn mình vào địa hạt siêu tưởng, một cõi nhiệm mầu bao trùm một thứ ánh sáng siêu thoát:
Một chiều xanh, một chiều xanh huyền hoặc
Sáng bao la vây lút cõi thiên không
 (Ra đời)


Đây là một mùa xuân trong tưởng tượng, đầy rẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ

Mùa xuân Hàn Mạc Tử nói đây có khi ở đâu hồi trời đất mới dựng lên, có khi ra đời một lần với Chúa Giêsu, có khi hình như chỉ là mùa xuân đầu năm.

1. Về tác giả Quách Tấn
Quách Tấn (1910-1992), tự là Đăng Đạo, hiệu Trường Xuyên, các tiểu hiệu là Định Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão giữ vườn; là một nhà thơ Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, nghĩa là Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn.
Ông có những tập thơ nổi tiếng: Một tấm lòng (1939), Mùa cổ điển (1941); 5 tập thơ khác đã in và 13 tập thơ chưa xuất bản.
Văn xuôi: Non nước Bình Định (1968), Xứ Trầm hương (1970); 6 tập văn khác đã in và 20 tập văn chưa xuất bản.
Nói về Hàn Mạc Tử, nhà thơ Quách Tấn (1910-1992) được coi là có một thế giá riêng, vì là người bạn rất thân đã được Hàn Mạc Tử ký thác di sản thơ văn. Từ vị thế ấy, ông đã kể lại những kỷ niệm với Hàn Mạc Tử, về bút danh, về hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa một số bài thơ mang nội dung tôn giáo và nhất là về ảnh hưởng Đạo Phật trên thơ Hàn Mạc Tử. Độc giả thường đón nhận những kỷ niệm ấy cách hồn nhiên và theo đó để hiểu thơ Hàn Mạc Tử. Tuy nhiên có một sự kiện khiến chúng tôi nghĩ rằng nên dè dặt về tính khách quan của những kỷ niệm.
Sự kiện nói đây là cước chú ở cuối trang 41 quyển Hàn Mạc Tử, Tác Phẩm, Phê Bình và Tưởng Niệm, của Phan Cự Đệ, Nxb Văn Học 2002: “Đây là nguyên văn thư của Phan Bội Châu, đầy đủ hơn và chính xác hơn so với tường thuật của Quách Tấn trong “Hàn Mạc Tử với thơ Đường luật” (Người Mới, ngày 30-11-1940).
Nguyên văn thư của cụ Phan như sau:
“Thưa tác giả P.T. tiên sinh
Tác giả cho tôi được đọc ba bài thơ, tôi lấy làm hân hạnh cho Mộng Du thi xã lắm. Xem trong thơ, u oán cao tình, thâm tâm nhã điệu, đủ cả mấy phương diện. Tôi chỉ phàn nàn rằng: “Người xướng quá cao, tất nhiên người họa phải ít” nên tôi xin tục điêu ba bài, khỏi để tác giả buồn sự cô điệu độc đàn mà thôi.
Còn như nói rằng: Tôi là người nối thơ được với tác giả, thì tôi không dám.
Ôi! Hồn giao nghìn dặm, biết làm sao được bắt tay nhau cười lớn một tiếng mới là thỏa hồn thơ đó!”
(Thực Nghiệp dân báo, số 3256, ngày 21-10-1931 – Trích lại theo PCĐ-1, 41).
Trong bài “Hàn Mạc Tử với thơ Đường luật”, Quách Tấn viết: “Cụ họa vận cả ba và viết bài đăng trên một tờ báo quốc văn (báo Trung lập thì phải) hết lời khen ngợi. Về đoạn kết bài ấy tôi nhớ mày mạy như thế này: “Từ về nước đến nay, tôi được xem thơ quốc âm cũng khá nhiều song chưa gặp được bài báo nào hay đến thế... Ôi hồng Nam nhạn Bắc, ước ao có ngày gặp gỡ, để bắt tay nhau cười lên một tiếng lớn ấy là thỏa hồn thơ đó”. (Người Mới, số 30, 11-1940 - Trích lại theo PCĐ-2, 374).
Ông Quách Tấn đã đọc điều cụ Phan viết. Ông nhớ chính xác được 13 từ cuối của cụ Phan, còn tất cả những dòng phía trên ông tự dàn dựng thành bối cảnh dẫn vào câu nói. Thêm vào đó, một lá thư đã biến thành một bài báo. Đó là vào năm ông 30 tuổi. Có thể trí nhớ của ông lúc ấy không tốt lắm hoặc ông không bận tâm lắm tới sự thật khách quan. Vấn đề là, lá thư trên giấy trắng mực đen còn được ông dàn dựng lại như thế, thì tính khách quan của những câu đối thoại đã bay theo gió thật khó kiểm chứng. Những người nghiên cứu về Hàn Mạc Tử cũng như độc giả đều trân trọng những kỷ niệm do ông Quách Tấn kể lại. Tuy nhiên, theo tôi, kỷ niệm là có thật nhưng liệu kỷ niệm có bị vận dụng để hỗ trợ cho điều mình muốn chứng minh chăng? Một khi đã bị vận dụng, sự thật khách quan của kỷ niệm dễ biến thiên theo câu chuyện.
Như thế, phải chăng vì đã xác tín sẵn “Tôi nhận thấy vang bóng của đạo Phật có phần tô đậm hơn đạo Thiên Chúa” (Trích lại theo PCĐ-1, tr. 36) cho nên Quách Tấn có khuynh hướng giảm thiểu chiều sâu Kitô giáo nơi một số bài thơ đạo đặc biệt của Hàn Mạc Tử và khi kể lại kỷ niệm đã mặc quan điểm của mình cho người đã khuất để chứng minh điều mình muốn khẳng định? (Xem bài Đôi nét về Hàn Mạc Tử, trong PCĐ-2, tr, 180-207). Trong phần trích tuyển thơ Hàn Mạc Tử, chúng tôi cước chú nhiều số tham chiếu Kinh thánh cho các bài Ave Maria, Cô liêuCuối thu, chính là để giúp độc giả có thêm một hướng khi muốn tìm ý nghĩa thật của những bài ấy.
Từ khi còn là học sinh trung học tôi đã yêu thích Quách Tấn. Tôi không nghiêng về thơ Đường luật nhưng tôi yêu thích Quách Tấn vì ông là bạn thân của Hàn Mạc Tử, là tác giả Nước non Bình Định Xứ Trầm Hương, đặc biệt là vì chữ Quách trong tên ông (lúc ấy tôi không biết đó là tên họ). Khi chia sẻ những điều nói trên, về kinh nghiệm bình thường của nhân sinh, trong đó có cả bản thân mình, tôi chỉ mong đóng góp một hướng tìm kiếm sự thật, chứ không hề muốn giảm niềm kính trọng đối với một tiền bối trong văn giới.
khi đọc Hàn Mạc Tử, chúng ta nên mở tấm lòng cho rộng rãi, đừng chấp về mặt tư tưởng cũng như về mặt ngôn từ, thì mới dễ cảm động cùng con người thơ phức tạp, mới tận hưởng được tất cả những gì sâu kín ẩn khuất dưới những hàng mây ráng lung linh
Khi đọc Hàn Mạc Tử, chúng ta nên mở tấm lòng cho rộng rãi, đừng chấp về mặt tư tưởng
cũng như về mặt ngôn từ, thì mới dễ cảm động cùng con người thơ phức tạp,
mới tận hưởng được tất cả những gì sâu kín ẩn khuất dưới những hàng mây ráng lung linh

Nếu một đàng tôi dè dặt với tính khách quan nơi những kỷ niệm của Quách Tấn thì đàng khác, tôi rất thích bài Ảnh hưởng Đạo Phật trong thơ Hàn Mạc Tử dưới đây của ông. Tôi cho rằng đây là một hướng nghiên cứu đáng trân trọng và cần được tiếp tục.

Lm TRĂNG THẬP TỰ

Ÿ ẢNH HƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ - QUÁCH TẤN




Quách Tấn
Quách Tấn
Hàn Mạc Tử rất chú trọng về âm nhạc và màu sắc. Đó chính vì tâm hồn Tử có nhiều trạng thái cá biệt, nhiều khi rất bí ẩn u huyền; để diễn tả, phải dùng màu sắc, hình ảnh và âm nhạc – nhất là âm nhạc, vì chỉ có âm nhạc mới diễn tả nổi những cái sâu xa, thầm kín, những cái tế nhị, u ẩn của một tâm hồn.
Nhiều khi Tử phải bỏ nghĩa thông thường của chữ, bỏ cả văn phạm của câu, để cho thanh âm tiết tấu phù hợp với những biến chuyển, những rung động, những xao xuyến của tâm hồn – một tâm hồn mênh mông và đối với chúng ta có phần xa lạ – mà văn tự chính xác nhiều khi không diễn tả được thấu đáo, không diễn đạt đúng ý muốn của người thơ. Cho nên xem thơ Hàn Mạc Tử, nhiều khi không nên chấp ở chữ mà hại lời, không nên chấp ở lời mà hại ý. Và muốn nhận thức tình ý trong thơ được đầy đủ, thì phải thưởng thức nhạc thơ trước nhất, vì trong thơ Tử, nhạc đi trước mà ý theo sau, và có khi ý không ở trong lời mà ở trong nhạc.
Trong tâm hồn Tử, không có những bức thành kiên cố ngăn cách tôn giáo của mình và tôn giáo của người, nhất là đối với Phật giáo. Vì không có những bức thành kiên cố ngăn cách giữa tôn giáo mình và tôn giáo người, nên Tử đã đi tìm nguồn cảm hứng trong Đạo Bồ Đề. Và mặc dù tự xưng mình là “Thi sĩ của đạo quân Thánh Giá”, Tử vẫn không ngần ngại đem những từ ngữ, những hình ảnh của Phật giáo và dùng trong văn thơ mình, dùng cả vào trong những bài có tinh thần Thiên Chúa giáo nhiều nhất. Như bài Thánh Nữ Đồng Trinh là một.
Bài này là những lời Tử dâng lên Đức Maria để ca ngợi “ơn phước cả”, mà Thánh Nữ đã ban cho Tử trong “cơn lâm lụy”. Trong bài có những chữ “Từ Bi”, “ba ngàn thế giới”, là chữ của nhà Phật, dùng một cách sướng khoái:
Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn
Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi
Tôi ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh
Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới
Hai chữ “từ bi”, còn thấy dùng trong nhiều bài khác:
Thơ tôi thương huyền diệu
Mọc lên đạo từ bi
(Cao Hứng)
Trời từ bi cảm động ứa sương mờ
Sai gió lại lay hồn trong kẽ lá
(Hãy Nhập Hồn Em)
Nhiều từ ngữ khác của Phật giáo, như “hằng hà sa số”, “mười phương” cũng thường gặp trong thơ Tử:
Mây vẽ hằng hà sa số lệ
Là nguồn ly biệt giữa cô đơn
(Cuối Thu)
Đóng cửa mười phương lại
Dồn ánh sáng vào đây
(Điềm lạ)
Trời như hớp phải hơi men ngan ngát
Đắm muôn nghìn tinh lạc xuống mười phương
(Nguồn thơm)
Nhưng đó chỉ là những dấu tích bên ngoài. Trong thơ Hàn Mạc Tử có nhiều bài chịu ảnh hưởng cả hình thức lẫn tinh thần Phật giáo:
Bay từ Đao Ly đến trời Đâu Suất,
Và lùa theo không biết mấy là hương.
(Phan Thiết)
Trở lại trời tu luyện với muôn đêm,
Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả.
(Phan Thiết)
Ngoài những ngôn ngữ phổ thông của nhà Phật, như “thành chánh quả”, “sông Hằng”, Tử vãi tung thơ lên tận sông Hằng (Phan Thiết). Ngoài những hình ảnh đẹp đẽ của trời “Đao Ly”, trời “Đâu Suất” – những cõi Phật xa xăm, đầy nhạc, đầy hương, đầy ánh trăng – chúng ta nhận thấy trong bài Phan Thiết, thuyết nghiệp báo và thuyết luân hồi được thi vị hóa một cách tài tình: con chim Phụng Hoàng vì Sân Si mà phải đoạ, và khi trở lại trời tu luyện thành chánh quả rồi, mà vì tập khí chưa tiêu trừ trọn vẹn, nên phải trở xuống trần gian, “nơi đã khóc đã yêu đương da diết” để mà “chôn hận nghìn thu” và “sầu muộn ngất ngư”.
Trong bài Phan Thiết, chúng ta còn nhận thấy rằng Hàn Mạc Tử đã nhìn đời bằng con mắt giác ngộ: những hiện tượng trong cõi đời này đều là những tuồng ảo hóa:
Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao,
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hoá đại điện đã rất nên tráng lệ
(Phan Thiết)
Và cõi đời này – mà Phan Thiết là tượng trưng–là nơi đau khổ, là nơi “chôn hận nghìn thu”, là nơi “sầu muộn ngất ngư”. Vì nhận biết cõi đời là giả tạo, là nơi khổ lụy, Tử đi tìm nơi giải thoát và đã tìm thấy Cực Lạc Quốc Độ của Phật A Di Đà.
Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
(Ngoài vũ trụ)
Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc
Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác
Rất phương phi trên hết cả anh hoa
(Ra đời)
Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho,
Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo
(Đêm xuân cầu nguyện)
Những “ánh sáng vô cùng” “sáng láng cả mọi miền”, những tiếng “nhạc thiêng liêng dồn trỗi khắp hư linh”, những điệu nhạc “rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác” những “cây bằng gấm và lòng sông bằng ngọc”, ở trong Tử là vang bóng của “vô lượng quang” của “thiên nhạc”, của “hoa sen đủ màu sắc và đủ hào quang mọc trong ao Thất bảo” trên thế giới Cực Lạc mà Tử đã nhìn qua kinh A Di Đà.
Tinh thần Phật giáo còn ảnh hưởng trong nhiều văn thơ của Tử, nhưng nhiều khi hoặc quá tiềm tàng, hoặc bị hình ảnh thơ lấn đi, nên chúng ta không thấy nếu chúng ta không chú ý, không lưu tâm. “Ôi trời hạo nhiên đây không phải là công trình châu báu của Người sao? Lòng vô lượng đây không phải do phép mầu nhiệm của Đấng Vô Thỉ Vô Chung?” (bài tựa Xuân như ý). Đó chẳng phải là chữ Tâm được thi vị hóa bằng những hình ảnh tượng trưng? Hàn Mạc Tử đã xác nhận tính chất vô thỉ vô chung của Tâm (lòng vô lượng), mà biểu hiện mầu nhiệm là Mùa xuân thơm tho, trong đẹp, tràn lan khắp không gian (trời muôn trời) chen lấn vô tận hồn tạo vật, và tồn tại cùng thời gian (năm muôn năm). Nhưng vì là một tín đồ Thiên Chúa giáo, Tử đã quan niệm cái Tâm bất sanh bất diệt là Đấng Vô Thỉ Vô Chung, và coi những hiện tượng do “lòng vô lượng” đã “đưa ra” kia là “công trình châu báu” của Đức Chúa Trời, nên Tử “cao rao danh Cha cả sáng”. Như thế Hàn Mạc Tử có phải là một nhà thơ của đạo Thiên Chúa? Nghĩa là Tử phải có một tín đồ dùng thơ để phụng sự tôn giáo mình? Thưa không phải. Tử tìm vào Đạo – Đạo Thiên Chúa cũng như Đạo Phật chỉ để tìm nguồn cảm hứng, để tìm nguồn an ủi khi bị tình đời phụ rẫy hoặc thể xác dày vò. Lý tưởng chính của Tử là Thơ. Tôn giáo chỉ là những yếu tố phụ vào để làm cho thơ thêm giàu sang và trọng vọng. Do đó nhiều khi bị hứng thơ lôi cuốn, Tử đã thốt ra những lời có thể gọi là “phạm thượng” đối với những Đấng Thiêng Liêng mà Tử phụng thờ. Ví dụ đương quỳ trước Thánh Nữ Maria để ca ngợi ơn cứu nạn, mà Tử dám nói:
Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ;
Giọng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua
Thật chẳng khác nào đứng nói cùng một người ngang hàng ngang lứa hoặc Nàng Thơ! Thậm chí trong khi cầu nguyện lúc đêm xuân, mà chàng vẫn để tứ thơ ngang tàng theo hứng:
Ta chắp hai tay, lạy quỳ hoan hảo,
Ngửa trông cao cầu nguyện trắng không gian,
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân
Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế.
(Đêm xuân cầu nguyện).
Nghĩ đến những gì “giàu sang hơn Thượng Đế”, Tử biết là một tội lỗi lớn, nên tiếp đó chàng van lơn thầm nguyện:
Tôi van lơn, thầm nguyện Chúa Giêsu
Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối
Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi.
Lời xưng tội vẫn không thật nghiêm trang thành kính! Trong khi viết những lời tạ tội, Tử đã nghĩ đến thơ nhiều hơn nghĩ đến Chúa, mặc dù Tử luôn luôn thờ Chúa trên thơ.
Tôi van lơn, thầm nguyện Chúa Giêsu
Tôi van lơn, thầm nguyện Chúa Giêsu
Còn đối với Đạo Phật? Hàn Mạc Tử đi vào Đạo Từ Bi không phải để tu, mà cũng không phải để tìm hiểu những gì cao siêu huyền diệu. Tử vào Đạo Từ Bi cũng như một lãng nhân vào vườn hoa nghìn hương muôn sắc. Vào không phải với mục đích của nhà vạn vật học hay nhà làm vườn, mà vào với tấm lòng con nhà nghệ sĩ khoáng đạt phong lưu. Vào để thưởng thức những cái Đẹp khác thường vừa giàu sang vừa thanh thoát. Hoa có bao nhiêu hương giống, cũng không cần biết. Vườn hoa có tự bao giờ và rộng đến đâu, cũng không cần biết nốt. Mà chỉ biết rằng có nhiều hương lạ, nhiều sắc lạ, và chỉ biết trải lòng mênh mông. Rồi những gì đã thấm vào tâm khảm thỉnh thoảng trào ra ngọn bút những lúc Thơ về, khi thì đượm đà, khi thì phảng phất, khi thì hiển hiện, khi thì ẩn tàng và tràn ra một cách tự nhiên, khiến lắm lúc nhà thơ tưởng rằng đó là do mình sáng tạo ra chớ không ngờ rằng mình đã chịu ảnh hưởng,
Và tất cả những gì đã thâu nhập được trong tôn giáo, trong Phật giáo, cũng như trong Thiên Chúa giáo – một khi đã vào thơ Tử thì không còn giữ nguyên chất, vì đã bị tâm hồn Tử biến thể, pha trộn theo quan niệm và sở thích của mình. Tử thường nói cùng bạn rằng: “Tôi lợi dụng văn chương và triết lý nhà Phật để làm thơ mà thôi. Tôi dung hòa cả hai thể văn và tôn giáo: Thiên Chúa và nhà Phật. Đó chính là muốn làm giàu cho nền văn chương chung”.
Bởi vậy, khi đọc Hàn Mạc Tử, chúng ta nên mở tấm lòng cho rộng rãi, đừng chấp về mặt tư tưởng cũng như về mặt ngôn từ, thì mới dễ cảm động cùng con người thơ phức tạp, mới tận hưởng được tất cả những gì sâu kín ẩn khuất dưới những hàng mây ráng lung linh.

Quách Tấn
Trích trong cuốn Nguồn Đạo Trong Thơ Văn của Quách Tấn do nhà xuất bản Phương Đông ấn hành năm 2007.

Bài viết này được trích từ bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, linh mục Trăng Thập Tự chủ biên, tập I, trang 195-205.

1. Tình bạn
Giáo sư Phan Cự Đệ viết: “Về tình bạn thì chúng ta phải tìm hiểu thêm vì ít có một người nào giữ được tình bạn lâu dài, trong sáng và chung thuỷ như Hàn Mạc Tử. Sự có mặt đông đủ bạn thân của Hàn Mạc Tử thời ấy trong tập sách này (Chế Lan Viên, Quách Tấn, Bích Khê, Trần Thanh Địch, Yến Lan, Nguyễn Viết Lãm, Nguyễn Minh Vỹ, Hoàng Diệp, Hoàng Trọng Miên, Trần Tái Phùng, Trần Thanh Mại, Nguyễn Văn Xê...) đã chứng minh tình bạn cao quý đó” (PCĐ-1, tr. 63-64).
Tuyển tập Thi Sĩ của Thánh Giá này tập trung vào mảng thơ đạo của Hàn Mạc Tử. Do đó, từ những ký ức của bạn bè anh, tập này chỉ chọn trích lại những phần liên quan đến lãnh vực này. Mối chân tình giữa Hàn Mạc Tử và các bạn anh thì đã rõ, tuy vậy, từ tình bạn tới chỗ đồng cảm về kinh nghiệm đức tin có một khoảng cách rất lớn. Qua chiêm niệm trong tĩnh nguyện hay giữa cuộc sống, nhiều lúc Hàn Mạc Tử thấy trong “tâm tư có một điều rất thích, không nói ra vì sợ bớt say sưa” (Ra đời, c. 20). Anh “đã phát tiết hết tinh lực của hồn, của máu, bằng những câu thơ ngất đi vì khoái lạc” (Quan niệm thơ, PCĐ-1, t. 178) mà liệu chừng được mấy ai đồng cảm? Phản xạ bình thường là thích giữ lấy niềm riêng giữa mình với Chúa (x. Biển Hồn Ta, c. 9; Say Thơ, c. 69), không thích diễn thành thơ[1] vì ngôn từ thật giới hạn[2].
Là một tín hữu ngoan đạo, hẳn Hàn Mạc Tử luôn để cho đức tin dẫn dắt những cảm xúc và cách diễn tả của anh. Dù vậy, lắm lúc anh diễn tả rất tự do, dùng đủ mọi thứ để lột được điều anh cảm nhận, và như thế cũng là chấp nhận bị hiểu lầm, mặc cho người đọc đoán mò về điều anh đã cảm nhận thâm sâu.
Vâng, có lẽ nhiều bài thơ đạo của Hàn Mạc Tử chưa được đánh giá đúng lắm. Khi tác giả đưa thơ cho bạn bè, họ rất thích nhưng tác giả “không có lấy được một người hiểu mình” (Quan niệm thơ). Do đó, khi họ hỏi thì anh rất khó diễn giải; anh phải tìm cách này cách kia để giúp họ hiểu được phần nào[3], và vì thế vô tình để lại những chứng từ gây ngộ nhận như trường hợp lời kể của Quách Tấn trong PCĐ-1, t. 95 về hai bài Cuối thuCô liêu. Xin thử đối chiếu với những cước chú của chúng tôi nơi hai bài này cũng như nơi bài Ave Maria, ở phần Tuyển Thơ.

Lm TRĂNG THẬP TỰ


Bài viết này được trích từ bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, linh mục Trăng Thập Tự chủ biên, tập I, trang 169-171.

Biển Qui Nhơn - không gian nuôi dưỡng cảm xúc của Hàn Mạc Tử
Biển Qui Nhơn - không gian nuôi dưỡng cảm xúc cho Hàn Mạc Tử



[1] Tôi làm thơ? - Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì của lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. (Hàn Mạc Tử, Lời tựa của tập Đau thương).
[2] Ý còn ở trong lòng thì rạo rực xốn xang, khi phô phang lên giấy thì tê dại, ngất ngư, như không có chút gì là rung động nữa (Hàn Mạc Tử, Kêu gọi).
[3] Không, không, không! Tôi chẳng bán hòn Trăng
Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng
Tôi nói thiệt, là anh dại quá:
Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang.
(Trăng Vàng Trăng Ngọc, 5-8).

Năm 1942, tôi đang ở Sông Cầu, được tin có vụ kiện do anh Quách Tấn nguyên đơn khiếu nại anh Trần Thanh Mại, với lý do anh Trần Thanh Mại đã sử dụng những bài thơ của Hàn Mạc Tử vào cuốn nghiên cứu của mình: Hàn Mạc Tử - Thân thế và sự nghiệp, nhưng không xin phép Quách Tấn là người được Hàn Mạc Tử di chúc giao quyền quản lý. Vụ kiện trở thành vụ án văn học đầu tiên ở nước ta, báo chí từ Nam chí Bắc đều đăng tin và mọi người, ai cũng chờ đợi kết quả. Tin ấy đã làm phiền lòng những người bạn thân tình của Hàn Mạc Tử. Từ Sông Cầu, tôi viết thư vào Nha Trang cho Quách Tấn và viết ra Huế cho Trần Thanh Mại, đề nghị hai anh đừng kiện nhau nữa, vì tôi không muốn tên Hàn Mạc Tử được nhắc đến trong một phiên tòa của chế độ thời ấy. Mấy hôm sau anh Quách Tấn viết trả lời tôi: “.... Nguyễn Hạnh Đàn hãy yên tâm, tôi tin rằng dưới suối vàng, Tử sẽ vui lòng về việc này...” (Trước Cách mạng, tôi đăng thơ trên báo chí với tên Nguyễn Hạnh Đàn). Anh Trần Thanh Mại cũng viết gửi tôi, đại ý nói rằng việc kiện này là do Quách Tấn đưa ra chứ không phải anh, đồng thời anh Mại gửi tặng tôi tập sách. Tòa án Nam triều đã mở phiên tòa tại Thừa phủ ở Huế xét xử. Báo chí khắp nước đổ xô săn tin. Nguyên và bị cáo là hai nhà văn, kiện nhau về tác phẩm của một nhà thơ quá cố. Chánh án giữ quyền xét xử cũng là một nhà văn, đó là Nguyễn Tiến Lãng, nhà văn viết bằng tiếng Pháp khá nổi tiếng và là em vợ của thi sĩ Tản Đà. Kết quả, Quách Tấn thua kiện (chứ không phải xử hòa như tạp chí Văn của Sài Gòn cũ viết).


Bút tích bản chép tay Gái Quê của Chế Lan Viên khi làm Tuyển tập Hàn Mạc Tử
Bút tích bản chép tay Gái Quê của nhà văn Chế Lan Viên
khi làm Tuyển tập Hàn Mặc Tử, NXB Văn học, 1987

Trăng cũ giờ đây vẫn sáng trong,
Người mùa xuân cũ cách muôn trùng!
Ai về thăm thẳm trời tinh tú,
Để lại trần gian bóng lạnh lùng!
Từng tập thơ xưa! Từng tập thơ!
Từng trang huyết lệ ngấn trăng mờ
Hồn ai siêu thoát ngoài nhân thế
Có biết rằng em vẫn đợi chờ?


Người tình của Hàn Mạc Tử
Chân dung những "người tình" của Hàn thi sĩ. Ảnh Mai Đình ở góc phải.

I.
Bóng nào nhợt như ma
Khắp châu thân hổn hển
Huyền hồ nhìn không ra
Lưu luyến nhường thiết tha
Chờm chờm trên giường bệnh?
Bóng nào nhợt như ma
Khắp châu thân thóp thểnh
Huyền hồ nhìn không ra!
Hay là tôi hóa hai
Đã chết đi một nửa?
Hay là trời ban mai
Bị mù sương vây bủa
Làm buồn ngập hoàng hôn
Ảnh hưởng tới linh hồn
Tiều tụy:
Hiện ra hình ủy mị?
II.
Bóng nào trắng dần ra
Trên đầu đơm vòng hoa
Khắp thân in màu tuyết
Trong trẻo mà diễm tuyệt
Tơ tơ gần như nguyệt
Biếc biếc gần như thu
Đều quy trên nét mặt!
Hoàng hôn mai mờ sắc!
Buồn ban mai trắng ra.
Ôi! Ôi! Không là ma,
Đừng nhìn trong ý tứ
Mát mẻ nhận cho ra
Gần rồi, không còn xa:
Hàn Mạc Tử!
Trại phong Qui Hòa
Trại phong Quy Hòa (TP Quy Nhơn, Bình Định), nay là bệnh viện điều trị bệnh phong - da liễu Quy Hòa được xây dựng từ năm 1929. Nơi đây, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã điều trị bệnh phong và qua đời năm 1940 khi mới 28 tuổi.
Ngày nay, ở đây vẫn giữ nguyên căn phòng ông ở trong vòng chưa đầy 2 tháng trước khi trút hơi thở cuối cùng.

Trời về chiều thêm lên. Tôi đến thăm Hàn Mạc Tử, bảo là tìm nhà để thăm thì đúng hơn. Ở đây, rất nhiều người biết tiếng. Nhưng thực là một sự mỉa mai nguyên vẹn cho văn chương, người ta để ý tới Hàn Mạc Tử vì người anh chứ không phải thơ anh. Tôi bước vào nhà, lưỡng lự một hồi rồi gõ cửa. Một bà cụ hé cánh cửa nhìn ra ngoài, ngó tôi từ đầu xuống chân: cử chỉ và nét mặt lúc bấy giờ là cả một sự ngạc nhiên làm cho tôi đoán ngay là mẹ chàng.
- Bẩm bà, cháu là Trần Thanh Địch, bạn của Trí[1], ở Huế vào, xin đến thăm...
Rồi bà vào trước, đổi giọng hiền hiền:
- Trí ơi! Có anh Địch ở Huế vào đấy!
(...) Thấy tôi Hàn Mạc Tử gọi tên lên một tiếng nhỏ mừng rỡ rất cảm động. Tôi định đưa tay ra bắt nhưng anh đã quen lệ: chào người đến thăm chỉ bằng hai tay chắp lại với nhau như vái.
Trông chàng, tôi thấy cũng không khác trước gì nhiều. Chỉ có bộ đi không được mạnh. Chúng tôi nói chuyện rất nhiều, lẽ cố nhiên về văn thơ. Nhắc đến Huế, chỗ đất mà chàng đã sống qua trong những năm trẻ dại, Hàn Mạc Tử hỏi:
- Có gì thay đổi không?
Tôi chưa trả lời thì chàng đã nói luôn:
- Chắc là con gái đẹp lắm?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Liền đó, Hàn Mạc Tử ngâm cho tôi nghe bài Đây thôn Vĩ Dạ... mà chàng vừa làm xong, sau khi nhận được bức ảnh chụp cảnh Vĩ Dạ của một người bạn gửi vào tặng...
Sao anh không về chơi thôn Vĩ...
Giọng ngâm đều đều, xa xôi, có một vẻ quê mùa thế nào của bao nhiêu say sưa mê man. Và trong ấy phủ qua một lớp buồn ghê gớm. Chàng còn ngâm nhiều lần nữa và nói và bàn luận.
– Đau rứa mà không lo, cả ngày cứ sa đà theo... rứa đó!
Bà mẹ ở bên kia đang têm trầu nói qua như thế....

Hàn Mạc Tử tạ thế!
Lại một hình ảnh thân yêu thoáng qua rồi mất!
Trong hiu quạnh, một lời ca thanh cao siêu thoát bỗng nghẹn thở!
Một lần nữa, chúng ta nhận thấy rằng lòng đớn đau, thương mến, day dứt, tiếc nuối của chúng ta là nghĩa tộc, cũng như tình máu mủ thiêng liêng khăng khít của thân tộc chàng, dù bao la rộng rãi đến đâu, dù xây bồi vững chãi như thành mây, như núi xanh, cũng không giành giựt chàng lại được với sự phá hoại thản nhiên và cay nghiệt của số mệnh!
Trời xanh quá chúng ta không thể tìm thấy và đoán trước được một sự tàn sát sắp thiệt hành, cũng như thơ chàng, quá trong trẻo, quá băng trinh, chúng ta không thể đoán trước được một trang đời thảm khốc mà ngắn ngủi lắm thay! Một trang đời, than ôi! Đã dồn ép lại, bên cạnh một tật bệnh khổng lồ, một sự nghiệp đại quy mô về văn thơ.
* * *
Sự nghèo khổ túng thiếu về vật chất, góp sức với sự đau thương quằn quại về tinh thần, đã nâng cao thiên tài và nghệ thuật chàng ngang một địa vị bất hủ.
Chúng ta không cần phải nhắc lại tình bạn của chàng, mà ai cũng phải công nhận là tuyệt nhiên thanh cao, và điểm toàn những màu tươi vui mát mẻ. Ngay đến phút cuối cùng, chàng đã không muốn phiền bận đến một người quen biết nào, bằng ít lời than hay một hơi thở.
Thế mà, than ôi! Chúng ta chỉ biết lâu lâu lại cảm động bắt được một bài thơ chàng, thường thấy đăng ở các báo miền Nam và là mỗi lượt chúng ta nghiền ngẫm lời thơ chàng với tất cả sự khao khát thèm muốn.
Đó là một mùi vị thơm tho bồi bổ cho tinh thần, khơi nguồn từ trên suối tiên của lời ca thượng cổ, trong Kinh Thi, trong Dịch Kinh của Á Đông, hay là trong Thánh kinh Cựu Ứớc và Tân Ứớc của phương Tây.
Chàng đã trả lại – và chao ôi! hùng hồn bao nhiêu – cho Thơ Nhạc sự “rung cảm thần tiên” với tất cả sự say ngợp, chơi vơi, mê man, đắm đuối, vang dội trong linh hồn tinh khiết và hoang dại của một người rất mực tân kỳ. Chàng đã rung cảm trước sự huyền diệu của tạo vật một cách thành thật và đầy đủ quá, khác nào một chiếc máy tự ký rất tinh mật. Vì thế, chàng đã nâng cao toàn giá trị của sự rung cảm trong văn thơ ta, bằng cách rửa sạch những mảy sai lạc mà một số thi sĩ khác đã thêm bồi vào một cách vô ý thức!
Nói tóm lại, chàng đã tìm lại giá trị của sự “rung cảm thần tiên và đầu tiên”, hơn nữa chàng loại nó lại, cũng như lúc ban sơ vua Hạ tìm ra nguyên tố của ngũ hành. [...]
Đài tưởng niệm Hàn Mạc Tử ở khu mộ cũ
Đài tưởng niệm Hàn Mạc Tử ở khu mộ cũ

Được tạo bởi Blogger.