Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê-Đình-Bảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê-Đình-Bảng. Hiển thị tất cả bài đăng

26/10/2021

10/10/2021

22/06/2021

Vẻ đẹp văn hóa Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng- Tác giả: Bùi Công Thuấn

Vẻ đẹp văn hóa Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng- Tác giả: Bùi Công Thuấn

(Đọc tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang. 2014)

Văn hóa là một đề tài rộng. Ở Việt Nam về địa lý, có 7 vùng văn hóa với những đặc điểm khác nhau: văn hóa đồng bằng sông Hồng, văn hóa Tây Bắc, văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam bộ…; có những tiểu vùng văn hóa như văn hóa Huế, văn hóa Kh’mer Nam Bộ. Ngoài ra còn có sự giao lưu văn hóa như văn hóa Phật giáo, văn hóa Công giáo, văn hóa Pháp, văn hóa Chăm…

Những vấn đề rộng của Văn hóa xin không bàn đến trong bài viết này. Chỉ xin giới hạn trong một số thành tố văn hóa để xem xét đặc điểm thơ Lê Đình Bảng trong tập Ơn dời một cõi mênh mang.

VẺ ĐẸP NGÔN NGỮ

Ngôn ngữ là thành tố quan trọng bậc nhất của văn hóa. Bởi có ngôn ngữ mới có tư tưởng, thi ca, nghệ thuật, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống (là những thành tố khác của văn hóa). Ngôn ngữ không chỉ là ký hiệu (Ký hiệu học), cũng không chỉ là Cái Biểu đạt và Cái được biểu đạt (Ferdinand de Saussure)…Ngôn ngữ chứa đựng trong nó tư tưởng, lịch sử, nghệ thuật và thế giới tinh thần (của một dân tộc, một thời đại) và nhiều thành tố văn hóa khác. Nếu chỉ dùng Ký hiệu học hay lý thuyết ngôn ngữ cùa Saussure thì không thể nào đọc được kinh vô ngôn của Phật giáo (giống như thầy trò Tam Tạng thỉnh được bộ kinh không có chữ).

Khi Đức Giêsu nói: ”Lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mt 8, 18-26), thì câu nói ấy không chỉ có nghĩa thông tin, không chỉ là ký hiệu chữ, mà Lời của Chúa chứa đựng một tín niệm căn cốt của Kitô giáo, đó là Đức tin.

Nguyễn Du viết: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Đoạn trường tân thanh). “Chữ tâm” không chỉ là ký hiệu chữ, mà chứa đựng toàn bộ Lý giải thoát và con đường tu tập Phật giáo, bởi “Tâm tức Phật/ Phật tức tâm/ Tức tâm tức Phật/ Thời thời như vậy”(Kệ)

Ngôn ngữ có nhiều chức năng: vừa là công cụ giao tiếp, công cụ tư duy. Ngôn ngữ còn có chức năng hành động và là phương tiện sáng tạo nghệ thuật.

Trong sáng tác thơ ca, ngôn ngữ là yếu tố quyết định giá trị thơ và năng lực thi nhân. Phong cách của một tác giả trước hết được xác lập bởi việc sử dụng lời.

Lời thơ Lê Đình Bảng có những đặc điểm gì?

Thơ Lê Đình Bảng có nhiều lớp ngôn ngữ. Trước hết là khẩu ngữ dân gian vùng đồng bằng Bắc bộ (Thái Bình), đan xen với vốn từ của văn chương cổ điển (điển tích trong thơ văn cổ Trung quốc). Đặc biệt là lớp từ vựng mới là những điển ngữ Kinh thánh được Việt hóa. Từ đó Lê đình Bảng sáng tạo một kho từ vựng cho riêng mình.

Đây là ngôn ngữ cổ điển
“Thế sự thăng trầm quân mạc vấn
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu” (tr.30).
(Trong bài thơ Uống rượu tiêu sầu II của Cao Bá Quát)

“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”(tr.57).
(Đoạn trường tân thanh-Nguyễn Du)

Xót cho những Kinh Kha chí lớn
Ở bên kia ngọn sóng tràng giang (tr.59)
(Điển: Năm 227 trước Công Nguyên, Kinh Kha sang Tần hành thích Tần Thủy Hoàng nhưng bị thất bại. Xin đọc bài thơ Dịch Thủy ca của Kinh Kha và Dịch Thủy tống biệt của Lạc Tân Vương)

Đây là ngôn ngữ dân gian kết hợp với điển ngữ Kinh Thánh:

Mẹ đã dạy con học ăn học nói
Làm dấu, dâng mình sớm tối, chiều trưa
Một chữ cắn đôi, Mẹ có đi học bao giờ
Sao, kinh sách lẽ đời, trong lời ru văng vẳng
Nào hạnh tích, sấm truyền, nào ca dao vè vãn
Lần chuỗi đưa con, nhịp võng sau hè
Con lớn dần và chợt hiểu khi nghe
Cám ơn Mẹ, mỗi sớm tinh mơ gọi con đi lễ
Quãng lội, đường mưa, lạnh cắt thịt da
Mau đến nhà thờ, kịp lúc cha ra
Hôm nay lễ kính Đức Bà dâng Con, làm phép nến
Cảm ơn Mẹ đã dạy con cầu nguyện
Phó thác đời con làm của lễ thiêng liêng
Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi
Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá
(Cám ơn mẹ)
Chỉ một đoạn thơ ngắn của Lê Đình Bảng cũng hội tụ nhiều lớp ngôn ngữ.

Lớp từ ngữ: “học ăn học nói”, “Một chữ cắn đôi”, “lạnh cắt thịt da” là thành ngữ dân gian. Hình ảnh mẹ dạy con lẽ đời, ru con bằng ca dao theo “nhịp võng sau hè” là những hình ảnh dân dã đậm Việt tính của mọi bà mẹ Việt Nam. Chất dân dã trong thơ Lê Đình Bảng còn bao trùm vũ trụ thơ Lê Đình Bảng ở những bài ông viết theo “thể hứng” của ca dao.

Lớp từ ngữ: “Làm dấu, dâng mình sớm tối; kinh sách, hạnh tích, sấm truyền, vãn, lần chuỗi,” lúc cha ra”,“lễ kính Đức Bà dâng Con, làm phép nến”, “Phó thác đời con làm của lễ thiêng liêng”; Con chỉ là hạt bụi … Rơi xuống đất “ là ngôn ngữ “nhà đạo” (ngôn ngữ hàng ngày của người Công giáo).

Những từ ngữ đó gợi ra một nền giáo dục Công giáo, một nét sinh hoạt gia đình ở nhà người có đạo. Làm việc gì, người theo Chúa cũng “lần chuỗi” cầu nguyện với tâm tình “phó thác”. Ru con, thay vì kể chuyện cổ tích cho con nghe, người mẹ quê đã kể hạnh tích, sấm truyền, tức là chuyện về đời sống đạo hạnh của các vị thánh (gọi là Hạnh các thánh), và các truyện tích trong Kinh thánh (Sấm truyền). Mỗi sáng sớm, dù đường từ nhà đến nhà thờ phải qua “Quãng lội, đường mưa, lạnh cắt thịt da”, mẹ cũng gọi con dậy đi dự thánh lễ cho kịp “lúc cha ra” (không được đi trễ). Con lớn lên trong bầu khí ngôn ngữ, đạo hạnh, nề nếp sinh hoạt thánh thiện ấy.

“Ngôn ngữ nhà đạo” chiếm một lượng lớn trong vốn từ của Lê Đình Bảng. Người đọc lần đầu tiếp cận thơ Lê Đình Bảng sẽ ngỡ ngàng về vốn từ giàu có, mới mẻ ấy. Về phương diện này, Lê Đình Bảng đã góp phần làm mới, làm giàu ngôn ngữ thi ca Việt đương đại. Điều đặc biệt là, ngôn ngữ nhà đạo, vẫn tự nhiên, nhuần nhuyễn và gần gũi với người đọc, không gây trở ngại gì cho việc tiếp nhận. Tôi cho đó là tài năng ngôn ngữ mà Lê Đình Bảng kế thừa được từ kinh nghiệm sử dụng và sáng tạo từ của dân tộc.

Xin đọc lại tứ thơ

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi
Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá
Về ngữ nghĩa, câu thơ này không có gí khó hiểu, người đọc bình thường có thể tiếp nhận một cách tự nhiên.

Đặc sắc sáng tạo là ở chỗ, Lê Đình Bảng kết hợp hai điển ngữ Kinh Thánh:

Thứ nhất, Sáng Thế Ký viết “Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật”.”Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất." (St 2,7 và St 3, 19).

Thứ hai: dụ ngôn Người gieo giống (Lc 8, 5-8). Đức Giê su nói với đám đông dụ ngôn này: "Người gieo giống đi ra gieo hạt giống của mình. Trong khi người ấy gieo, thì có hạt rơi xuống vệ đường, người ta giẫm lên và chim trời ăn mất. Hạt khác rơi trên đá, và khi mọc lên, lại héo đi vì thiếu ẩm ướt. Có hạt rơi vào giữa bụi gai, gai cùng mọc lên, làm nó chết nghẹt. Có hạt lại rơi nhằm đất tốt, và khi mọc lên, nó sinh hoa kết quả gấp trăm".
Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi
Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá
Câu thơ ánh lên một tư tưởng mới. Hạt bụi không trở về cát bụi mà trở thành cây xanh tốt. Trịnh Công Sơn viết: “Hạt bụi nào hóa kiếp nên tôi/ Để một mai tôi trở về cát bụi” hàm chứa cái bi đát của đời người. Trái lại, Lê Đình Bảng hướng về phía sự sống, sinh sôi tốt tươi: “Hạt bụi…rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá”.

Cái nhìn của người theo Chúa luôn là vậy, luôn nhìn về phía sự sống. Đức Giêsu nói: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6).

Trong thí dụ trên, Lê Đình Bảng có cách dùng diển ngữ Kinh thánh rất hay. Hai điển ngữ với ý nghĩa tương phản lại dệt được một tứ thơ tư tưởng đặc sắc, mới mẻ; đồng thời nhà thơ nói với người đọc trải nghiệm tâm linh của mình, rằng, từ những lời đạo hạnh mẹ dạy, con đã trưởng thành lên xanh tốt trong đời.

Tôi đã gặp được những từ ngữ này của nhà đạo trong thơ Lê Đình Bảng (xin chỉ nêu thí dụ): Của lễ trên bàn thánh, của lễ thiêng liêng, quê trời muôn phúc thật, dư đầy ơn thiêng, lời kinh sốt mến (tr. 28), tràn trề ân sủng (tr.97). Lời hằng sống. Giọt máu cuối cùng trên thánh giá; về Emmaus, lễ mở tay, tiến lên bàn thánh; Hoa Mân côi nở bốn bề dậy hương (tr.90), Phiên chầu lượt (tr.83); Như men, muối (tr.62); mặc áo tân nương/ tiệc cưới / về đồng cỏ / Con nguyện tin, yêu, phó thác / thông công, Hôm qua, hôm nay, mãi mãi / ở trong nhà Chúa (tr.63), hạt mầm gieo vãi (tr.107). Đỗ cụ, làm cha.(tr.66)… Hầu hết những từ này hàm nghĩa của Kinh Thánh.

Tôi đặc biệt chú ý đến lớp từ Lê Đình Bảng sáng tạo riêng. Nó là dấu ấn phong cách của thơ ông. Lê Đình Bảng dùng nhiều hình ảnh của đồng bằng Bắc bộ. Thơ của ông ở bái nào cũng là hình ảnh thiên nhiên cao rộng khoáng đạt (trời cao xanh, núi non mây ngàn, sông nước tràng giang, trùng dương mênh mang…)
Biển trời, mây nước mênh mông
Một đi, chín nhớ, mười mong nỗi nhà
(Con là khách ở quê ra)

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật
150 năm canh thức dầu đèn (tr.44)

Mau chân với, về thông công đại lễ
Cứ lung linh xiêm áo mới dầu đèn
(Trẩy hội lên đền)

Lạy trời, đổ xuống sương mưa
Chân mây mặt đất lưng bờ tràng giang
(Lạy trời đổ sương mưa)

Có lẽ nhà thơ tâm đắc hai chữ “sương mưa”“bờ xôi ruộng mật”. Ông dùng hai từ này nhiều lần ở nhiều bài thơ khác nhau.

Hai từ này được Lê Đình Bảng sáng tạo từ kho từ vựng Kinh thánh. Sách Asaia (Is 45, 8) viết: “Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hạy đổ mưa, mưa đức công chính; đất mở ra đi cho nẩu mầm ơn cứu độ, đồng thời chính trực sẽ vươn lên…”

Sách Xuất hành (3, 1-8) kể lại cuộc gặp gỡ của Môise với Chúa ở núi Horeb. Chúa hứa với ông: “Ta xuống giải thoát chúng (dân Do Thái khỏi tay người Ai Cập), và đưa đến miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật”.

Lê Đình Bảng là dân Thái Bình nông nghiệp, đồng chiêm, đồng trũng; đắp đập, be bờ; lúa mùa tốt tươi. Ông đem hình ảnh này tháp nhập vào “miền đất tràn trề sữa và mật” của Kinh thánh, thành một từ vừa quen, vừa mới: “bờ xôi ruộng mật”.

“Bờ xôi ruộng mật” là hình ảnh một miền quê ruộng đồng màu mỡ trù phú. Lúa nếp vàng ươm, thơm tho bao nhiêu là sôi. Cánh đồng mía tốt tươi, ngọt ngào bao nhiêu là mật: “Xem mía trổ cờ, rươi chín đỏ/ Thuyền qua sông Hóa, trắng mây bay” (tr. 69); vừa là miền “đất hứa” trong Kinh Thánh.

Những sáng tạo ngôn ngữ mới lạ như vậy tạo nên phong cách nghệ thuật của thơ Lê Đình Bảng.

Lê Đình Bảng còn đưa vào thơ rất nhiều địa danh, tạo nên tính hiện thực và tính hiện đại trong thơ (điều này ca dao đã có). Đoạn thơ sau đây dày đặc những địa danh ghi dấu chân Lê Đình Bảng, cũng đồng thời bày tỏ nồng nàn một tấm lòng với quê hương của nhà thơ.
Tôi về quê mẹ-Thái Bình đây
Cờ bay hay tóc em bay, nhỉ
Thơm ngát đường thôn lúa gặt đầy

Lấn biển, quai đê, Tiền Hải đấy
Kiến Xương, Thái Thụy, Vũ Thư này
Hưng Hà nhãn tiến vua sai trái
Chén rượu Đồng Châu ai tỉnh say

Xem mía trổ cờ, rươi chín đỏ
Thuyền qua sông Hóa, trắng mây bay
Ai về An Vỹ sang Lương Đống
Làng Thọ, làng Vân tay nắm tay
(Thái Bình ca)
Sự pha trộn ngôn ngữ đồng bằng Bắc bộ với điển ngữ Kinh thánh đem đến một vẻ đẹp mới cho ngôn ngữ thi ca. Những nội dung, tư tưởng Kinh Thánh trở nên gần gũi quen thuộc, và ngược lại ngôn ngữ dân dã chứa đựng hàm nghĩa mới từ Kinh Thánh. Đấy chính là vẻ đẹp của ngôn ngữ thi ca Công giáo (một mặt rất quan trọng của văn hóa Công giáo) trong tiến trình hội nhập với văn hóa dân tộc.

Về hành động ngôn ngữ, với vốn từ phong phú từ Kinh thánh, Lê Đình Bảng đã dẫn người đọc rời bỏ bầu khi văn hóa cổ điển Trung quốc (những Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Lạc Tân Vương…) mà tiến vào thế giới tinh thần phương Tây (Cựu Ước và Tân Ước), vào bầu trời thần học Kitô giáo, khác hẳn với vũ trụ Thiên Mệnh của Nho giáo, Đạo “vô vi” của Lão giáo và Bát chánh đạo của Phật giáo.

Cũng bằng hành động ngôn ngữ, nhà thơ đã “sống đạo”, đã “loan báo Tin Mừng” theo cách của người nghệ sĩ. Vốn điển ngữ Kinh thánh của Lê Đình Bảng giúp người đọc hiểu được lý tưởng thẩm mỹ, ý thức sáng tạo của nhà thơ. Điều này giúp định vị thơ Lê Đình Bảng, một tiếng thơ khác biệt với thơ thế tục.

NÉT ĐẸP NGƯỜI CÔNG GIÁO

Nói văn hóa là nói đến con người. Loài vật chỉ có bản năng, không có văn hóa. Sự trỗi dậy của bản năng nơi con người chính là sự tha hóa, suy đồi. Người ta đánh giá một con người bằng những ứng xử văn hóa của người ấy.

Cho nên, nói về vẻ đẹp văn hóa Công Giáo, trước hết hãy quan sát những chân dung, những hình tượng người Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng.

Trong thơ lê Đình Bảng, hình tượng người mẹ Công giáo khá đậm nét.
Trên bến vắng đò khuya lau lách
Tiếng đàn ai dặm khách trăng soi
Đêm nay bếp lửa ai ngồi
Hắt hiu đường vắng bóng người về thôn

Súng nổ vang phía đồn Kha-Lý
Từ Vân Am, Xá Thị, Quỳnh Côi
Đêm đêm mưa đạn tơi bời
Dưới hiên thềm đá mẹ ngồi cầu kinh
Rồi lửa ngút giặc tràn quê nội
Mẹ con mình khăn gói đi mô
“Hoạt Thành, Tiên Lãng ra tro
Thụy Anh, Vĩnh Bảo ăn no kẹo đồng”

Mẹ ơi, sao mẹ không than thở
Dù đói no, sầu khổ, buồn vui
Chúng con vẫn nhớ nụ cuời…
(Khóc mẹ)

Nhớ ngày rày năm xưa
Mẹ ngồi lần tràng hạt
Đợi con dưới phương đình
Rưa hè vẳng lời kinh
Nghe ca vè Cụ Sáu
(Về quê nhà Phát Diệm)

Nhân vật người mẹ Công giáo có những phẩm chất của người mẹ Việt Nam (cần cù, chịu thương chịu khó, giàu đức hy sinh, thương chồng thương con,..), nhưng Lê Đình Bảng tô đậm hình ảnh mẹ ngồi lần tràng hạt, mẹ ngồi cầu kinh, dù trong hoàn cảnh gian khổ hay trong bom rơi đạn nổ. Hình như tất cả những gian nan hiểm nguy đối với mẹ, không gây ra sự lo sợ, thảng thốt, bi đát nào, mặc dù có những nỗi buồn được chôn kín trong lòng, và những nỗi truân chuyên không tỏ lộ. Do đâu người mẹ Công giáo có sự bình tâm ấy? Là do mẹ cầu nguyện phó thác mọi sự trong tay Chúa với một lòng tin kiên vững, dẫu có sóng gió ba đào thì Chúa luôn che chở giữ gìn. Đức Giê su nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14, 27). Như vậy vẻ đẹp văn hóa Công giáo ở người mẹ chính là vẻ đẹp đức tin trong mọi cảnh đời, sống tinh thần phó thác.

Vẻ đẹp người công giáo cũng đậm nét trong bài thơ Những người anh em tôi

Anh em tôi
Có những người lên non xuống bể
Ngước nhìn trời, gối sóng mà bơi
Giữa trầm luân, giữa tục lụy phần đời
Vẫn yêu lấy chiếc áo dòng ngày xưa mẹ sắm

Anh em tôi
Có những người ở tận vùng sâu, xa lắm
Xứ đạo nghèo, bốn mùa cây lúa chẳng ra bông
Lũ trẻ thơ bỏ học, mò cua bắt ốc ngoài đồng
Của lễ mọn là chục trứng gà, một hai nải chuối
Có những lứa đôi yêu nhau, chẳng đủ tiền cheo cưới
Hoa mẫu đơn vẫn đỏ thắm vườn nhà
Cố quên đi những tháng ngày lầm than, cơ nhỡ
Anh em tôi
Có những người nông dân chân đất
Cũng lên bờ xuống ruộng như ai
Cũng tro phân, chèo chống, cấy cày
Để lời Chúa mọc lên từ biển phèn mặn chát
Họ thủy chung như tấm lòng của đất
Họ bồng bềnh như con nước, tuần trăn
Chẳng bao giờ tham đó bỏ đăng
Vui lúa mới, buồn mùa màng thất bát

Nhà thơ ghi nhận nhiều cảnh đời gian nan, vất vả, khốn khó trăm điều, “bồng bềnh như con nước” của những người anh em (cần hiểu người anh em trong Kinh thánh), song tất cả đều không thở than. Họ vẫn vui sống và bằng lòng mang lấy phận người để “Hoa mẫu đơn vẫn đỏ thắm vườn nhà”, “Để lời Chúa mọc lên từ biển phèn mặn chát”. Tất cả những người Công giáo ấy, dù là tu sĩ hay giáo dân nghèo khổ, họ đều là con dân Việt, đậm phẩm tính Việt. Nhưng họ còn có thêm vẻ đẹp mới. Họ giữ gìn phẩm hạnh và sống Lời Chúa giữa mọi người, họ bình tâm gieo trồng Lời Chúa giữa biển đời mặn chát. Họ không coi kiếp người là kiếp khổ (“Đời là bể khổ”). Họ không cho rằng những khổ lụy phải chịu là do nghiệp quả. Không oán trời, không trách người như văn thơ cổ:

Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
(Văn tế thập loại chúng sinh-Nguyễn Du)

Cả Truyện Kiều (Đọan trường tân thanh) và Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn du đều là tiếng kêu thương bi đát, bế tắc về phận người. Trái lại, Lê Đình Bảng đã ghi được vẻ đẹp văn hóa Công giáo nơi những người sống đức tin ở giữa cộng đồng. Họ vác thập giá và đi trong sự bình an của Đấng Phục sinh. Nét đẹp ấy khác hẳn những triết lý thế tục về con người trước kia.

GIA ĐÌNH, LÀNG QUÊ CÔNG GIÁO
(Nhà thờ đá Phát Diệm)
Thơ Lê Đình Bảng không phải là thơ “phản ánh hiện thực”. Hơn nữa, bút pháp của ông là bút pháp của thơ Lãng mạn (1930-1940), dùng nhiều hình ảnh tượng trưng. Thơ phát triển theo mạch cảm xúc dào dạt của tâm trạng nhà thơ; vì thế nếu muốn tìm hiểu hiện thực gia đình, làng quê Việt Nam trong thơ ông, thì đó là điều bất khả.

Lê Đình Bảng không miệu tả những cảnh sưu thuế phi nhân như trong Tắt Đèn (Ngô Tất Tố), không có những phận người chết đói và cả chết no trong nỗi nhục (truyện Nam Cao), cũng không lên tiếng về những điều chà đạp lên nhân phẩm như trong Thời xa Vắng (Lê lựu)…

Mặc dù cũng chịu đau thương bởi chiến tranh, bởi đói nghèo nhưng Gia đình, làng quê Việt Nam trong thơ Lê Đình Bảng thấm đẫm vẻ đẹp văn hóa Công giáo. Vẻ đẹp ấy tỏa sáng từ mẫu gương Thánh gia (Chúa Giêsu - Đức Mẹ và Thánh Giuse). Trong gia đình này cả ba vị đều là đấng thánh. Gia đình Công giáo Việt Nam và sống ơn gọi nên thánh. Làng quê Việt Nam nhộn nhịp tươi vui trong mùa Nô-en, rộn ràng lễ hội 40 ngày Chay thánh và Phục Sinh. Khác hẳn với làng quê trong thơ thế tục lặng lẽ bầu khí tâm linh Phật, tiếng chuông chùa tiễn ngày tàn vào hư vô…
Sớm chiều ba cứ đinh ninh
Mỗi khi lần hạt, đọc kinh, nguyện cầu
Ngủ đi con, ngủ thật lâu
Đã nghe sương xuống mái đầu bạc phơ
(Ru con)

Đây, trọn vẹn một niềm thuận thảo
Làm lễ dâng, lòng đạo, đức tin
Chắp tray, miệng hát muôn kinh
Chúa thương, phù hộ, giữ gìn Mẹ luôn
(Mẹ là bóng cả cây cao)

Vẫn cái gốc chân quê mình mãi mãi
Vẫn một sương hai nắng mẹ ra đồng
Vẫn thân cò lặn lội ở bờ sông
Cha cày ải trên cánh đồng chiêm trũng

Em hái đầy thuyền hoa sen hoa súng
Chở hết chiêm bao dâng trước bàn thờ
Ôi đức tin đã vàng óng chanh mơ
Và lòng đạo đã chín mùi thơm thảo

Mấy trăm năm là mấy mùa giông bão
Mỗi bước ta đi chân cứng đá mềm
Cứ mơ hoài được trong ấm ngoài êm
Vì nước mắt đã trào ra từ đấy
(Trên đỉnh Trường Sơn)

Xin cứ hái những nhành hương vừa ý
Bồ câu ơi, bay lên, rợp ngoài đồng
Em có về quê lúa của nhau không
Vẫn đỏ thắm hoa vông, vào vụ gặt
Từ những buổi hừng đông đi vỡ đất
Đồng trũng, đồng chiêm, mùa gạo tám thơm
Tháng Giêng này, bông trĩu hạt, vườn ươm
Rộn ràng làng quê, chiếu chèo mở hội
Những cô tấm vừa lớn không như thổi
Rủ nhau đi, xiêm áo mới, dầu đèn
Cứ như thuyền ra nước lớn, triều lên
Mắt sáng, môi tươi, đàn ca nhã nhạc
(Khi trăm họ một nhà)

Nửa thế kỷ, tôi lìa xa quê mẹ
Nay trở về, đôi mắt cứ rưng rưng
Qua những cánh đồng nhòa nhạt hơi sương
Qua những đường thôn rạ rơm sũng ướt

Về Trà Vy đúng vào phiên chầu lượt
Giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ
Hình như là ai giữ bước chân đi
Thiêng liêng quá, đất và người yêu dấu

Ở đâu đó những lũy tre, hàng dậu
Ôi dạt dào, những cảm xúc, tôi nghe…
Lời mẹ ru hay nhịp võng sau hè
Ai vẫn đợi ngoài bến sông xưa cũ

Chùm mẫu đơn nở trong vườn nhà xứ
Em kết thành đôi hoa đỏ hồng hồng
Để hôm nào, ra đầu ngõ ngóng trông
Ai cuối bãi, ai đầu ghềnh xa lắc

Đã lâu lắm, tôi xa quê bằn bặt
Nhớ ngày xưa còn cắt cỏ, chăn trâu
Đâu những bến bờ trong, đục, nông, sâu
Đâu những chân đê, bếp chiều lên khói

Tôi nghe rõ mỗi gập ghềnh trôi nổi
Mấy mươi năm dài hơn cả đời người
Nghe tiếng chuông chiều, ra ngắm mây trôi
Đứng trước hàng hiên, gửi hương cho gió
(Nhớ Trà Vy)

Những trích đọan thơ trên đủ vẽ ra bức tranh làng quê Công giáo đẹp, êm ả với nhiều nét đẹp văn hóa mới. Vẫn là một vùng quê nghèo, người dân lam lũ “một nắng hai sương”, vẫn những “thân cò lặn lội bờ sông”. “Mấy trăm năm là mấy mùa giông bão”, những cánh đồng nhòa sương, những đường thôn ướt sũng rơm rạ, tiếng mẹ ru võng sau hè, bếp chiều lên khói cùng với tiếng chuông chiều đưa hồn ta lên trời; nhưng nhà thơ lắng nghe được những dạt dào cảm xúc sau lũy tre, hàng dậu, trong những phiên chầu lượt, làng quê giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ…thật thiêng liêng, thật thắm thiết nghĩa tình.
Về Trà Vy đúng vào phiên chầu lượt
Giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ
Hình như là ai giữ bước chân đi
Thiêng liêng quá, đất và người yêu dấu
Tứ thơ này thật mới lạ và quyến rũ
Em hái đầy thuyền hoa sen hoa súng
Chở hết chiêm bao dâng trước bàn thờ
Ôi đức tin đã vàng óng chanh mơ
Và lòng đạo đã chín mùi thơm thảo
Nét đẹp văn hóa làng quê Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng là nét đẹp của “đức tin vàng óng chanh mơ”, là “lòng đạo thơm thảo” trong cả một “thuyền đầy hoa sen hoa súng dâng trước bàn thơ”. Một làng quê bình an, vừa sôi nổi sức sống lại vừa lắng đọng niềm tin yêu. Điều này khác hẳn với thơ hiện thực về làng quê. Có nỗi xót xa, hiu hắt.
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá…

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay…

Áo anh rách vai
Quần tôi có vài miếng vá..
(Đồng chí-Chính Hữu)
Tôi thấm thía cái tình làng nghĩa xóm của người nhà quê khi một người trong làng qua đời:
Trải qua một cuộc bể dâu
(Những điều trông thấy mà đau đớn lòng)

Trời mênh mông đất mênh mông
Nghìn thu cách mặt xa lòng từ đây
Hôm nay có một người nằm ngủ
Dưới tàn cây cổ thụ xanh tươi
Máu ngừng reo, tắt nụ cười
Mà xe thiên cổ đưa người về đâu
Chúng tôi xin được giã từ
Người đi đi mãi tít mù tăm hơi
Đau thương chẳng nói lên lời
Nguyện xin được hưởng quê trời, Amen
(Nhớ ông giáo Hà Nam)

‘TRẨY HỘI LÊN ĐỀN”

Ở Việt Nam có nhiều lễ hội. Có những lễ hội lịch sử: Giỗ tổ Hùng Vương, Lễ Hội Gióng, Lễ hội đền Hai Bà Trung, Lễ hội Gò Đống Đa. Có lễ hội tâm linh: Trẩy hội Chùa Hương, Hội Lim, Lễ hội Katê của người Chăm ở Ninh Thuận, Lễ hội Cầu Ngư (Huế), lễ hội Tháp Bà Ponagar ở Khánh Hòa, Lễ hội Căm Mường ở Lai Châu, Lễ hội Bà Đen, lễ hội vía Bà Chúa xứ…

Các lễ hội là dịp để con dân Việt trở về lịch sử, cội nguồn, gắn kết cộng đồng, hun đúc tính yêu quê hương đất nước. Lễ hội cũng thể hiện những khát vọng tâm linh. Người ta cầu cho quốc thái dân an…

Trong tập Ơn đời một cõi mênh mang có nhiều bài “Trẩy hội”, gắn liền với những sự kiện lớn của Giáo hội Công giáo Việt Nam: Về Sở Kiện về Thăng Long hội ngộ (Khai mạc Năm Thánh 2010), Về phương Nam trẩy hội (Đại hội Dân Chúa 2010), Về La Vang trăm họ một nhà (Bế mạc Năm Thánh 2011), Khi trăm họ một nhà, Cho trần gian được sống dồi dào (Kỷ niệm 150 năm thành lập GP Huế)…

Mặc dù cũng là “trẩy hội” song lễ hội Công giáo hoàn toàn khác với lễ hội dân gian cả về nội dung và hình thức tổ chức. Lệ hội Công giáo có phần lễ là chính. Phần này theo đúng nghi thức của Roma trong việc cử hành các phụng vụ tế lễ tôn vinh Thiên Chúa. Phần “hội” thường chỉ là dịp để muôn dân khắp bốn phương trời hội ngộ, có dịp đến thánh địa kín múc ơn thiêng. Không có các nghi thức, các “trò” như trong lễ hội dân gian.

Nhà thơ Lê Đình Bảng không viết về phần phần “Lễ” mà tập trung miêu tả tâm trạng của người dự “hội” khi được gặp mặt người anh em khắp Trung, Nam, Bắc.

Trong các tập thơ của Lê Đình Bảng, những bài thơ về lễ hội có một mạch cảm xúc đặc biệt dào dạt phơi phời, cảm xúc của người đi dự lễ hội với một tâm hồn bay bổng như cánh hồng ngàn khơi. Những tay bắt mặt mừng, những gọi nhau ơi ới, những chuyện trò miên man, những níu kéo không dứt ra được. Muôn người cùng hòa một nhịp trái tim, cùng hát một khúc hoan ca của một đức tin trào dâng như sóng muôn trùng, của lòng mến rực sáng như lửa cháy.

Có lẽ đây là những bài thơ đúng với tầm vóc của hồn thơ Lê Đình Bảng. Một Cái Ta quảng giao, Cái Ta nhập vào cộng đoàn lễ hội, Cái Ta bay bổng non ngàn, trùng khơi khắp ba miền. Mạch thơ cuồn cuộn dào dạt cùng với đoàn người trẩy hội. Ông hay dùng từ “trẩy hội lên đền”. Từ này bao hàm nghĩa của Kinh thánh.
Ơi những liển-em liền – chị Kinh Bắc
Đã xôn xao lời biển gọi trào dâng
Từ buổi truyền tin Mẹ nói “xin vâng”
Mau chân nhé, bởi hồn đương thổn thức
Hôm nay trời và đất đã gồm thâu…
Ngày hội trùng dương tay bắt mặt mừng
Ngồi cùng bàn, góp gạo thổi cơm chung
Để chia sẻ những buồn vui, đắp đổi
Ba miền đất ba dòng sông vời vợi
Một trái tim sôi tràn lửa Đa Minh
Giữ gìn nhau bền đỗ để làm tin
Như men, muối giữa trần gian giông gió
(Khi trăm họ một nhà)

Nay, trăm họ một nhà, vui hội ngộ
Tiệc đoàn viên, mừng lịch sử sang trang
Cao vút mây xanh, rực rỡ đền vàng
Nhà Chúa ngự đẫm mùi hương trầm quế

Mau chân với, về thông công đại lễ
Cứ lung linh xiêm áo mới dầu đèn
Người bên người, như lớp lớp triều lên
Chung tiếng hát lời kinh mừng năm thánh
(Trẩy hội lên đền)

Tay bắt mặt mừng vui trẩy hội
Người đi như nước mấy hôm liền
Hôm nay, mở cửa Thiên Đàng đấy
Để thấy từ Tiên Tri, Sấm Truyền
Lời Chúa đã đi vào cuộc sống
Nảy ngành xanh ngọn, trái nhiều thêm
(Vườn Xoài ơi vỗ tay reo)

Về Trà Kiệu, về quê hương, nhà Mẹ
Ghé Hội An, ra phường phố đông ken
Trong đêm giã hoa, Ngũ Xã đỏ đèn
Cờ xí rợp trời đức tin vàng đá
(Tháng 5 về quê Mẹ Trà Kiệu)

Mau lên nhé, rủ nhau về đi lễ
Về La Vang, để cầm trí cầm lòng
Nơi bến bờ gặp gỡ những dòng sông
Con cái Mẹ từ muôn phương hội ngộ

Đêm nay, La Vang pháo hoa rực rỡ
Mắt lệ trào dâng, òa vỡ trong mưa
Ơn nhiệm màu đẫm vào nhạc vào thơ
Sao, ngây ngất bởi lời kinh sốt mến
Mau lên nhé quỳ bên nhau cầu nguyện
Vì đêm nay, đêm nhật nguyệt ra đời
Bốn phương trời, mười phương đất xa khơi
Đêm trừm tịch, đêm bồi hồi chờ sáng
Mau lên nhé, kẻo núi mòn sông cạn
(Về La Vang trăm họ một nhà)

Nét đẹp của văn hóa Công giáo trong các lễ hội là tinh thần của người đi dự lễ. Lòng chung lòng, nghiêm trang cầu nguyện. Họ đắm mình trong câu kinh tiếng hát và mở lòng ra hướng về Thiên Đàng.

Người gọi người, “mau lên nhé”.”Bốn phương trời, mười phương đất xa khơi” cùng về đây, “Tay bắt mặt mừng vui trẩy hội/ Người đi như nước mấy hôm liền”; “Người bên người, như lớp lớp triều lên/ Chung tiếng hát lời kinh mừng năm thánh”; “Mau lên nhé quỳ bên nhau cầu nguyện”; “Hôm nay, mở cửa Thiên Đàng đấy”.

Ôi thật là linh thiêng, thật là xúc động: “Mắt lệ trào dâng, òa vỡ trong mưa/ Ơn nhiệm màu đẫm vào nhạc vào thơ/ Sao, ngây ngất bởi lời kinh sốt mến”. Triệu triệu con tim, triệu triệu tấm lòng cùng cất lời ca tụng Thiên Chúa và chia sẻ niềm hân hoan như ngày xưa Phêrô được Chúa đưa lên núi thánh (Mt 17, 1-9). Mỗi cử chỉ mỗi, mỗi hành vi đều hết sức giữ gìn trang nghiêm. Tình hiệp thông, sự gắn bó khắp muôn phương chưa bao giờ đẹp như thế.

Tất cả tinh thần thánh thiện ấy, thái độ tham gia lễ hội thành tín, trang nghiêm của mỗi giáo dân chính là nét đẹp văn hóa Công giáo trong đời sống cộng đồng mà các lễ hội dân gian không có được.

Tài năng của nhà thơ Lê Đình Bảng là vừa chụp ảnh được toàn cảnh “trăm họ một nhà, vui hội ngộ”, “Ngồi cùng bàn, góp gạo thổi cơm chung/ Để chia sẻ những buồn vui, đắp đổi”; vừa ghi được ánh hào quang tinh thần của “đêm nhật nguyệt ra đời”, và kìa! “Cao vút mây xanh, rực rỡ đền vàng/ Nhà Chúa ngự đẫm mùi hương trầm quế”.

Thơ ca Việt Nam có rất ít những bài thơ về lễ hội miêu tả cái tinh thần chung của “trăm họ một nhà, vui hội ngộ”. Có chăng chỉ là những tâm tình riêng, chuyện tình riêng đôi lứ khi đi dự lễ hội. Bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp có cái hay tả cảnh, tả tình từ góc nhìn cá nhân một cô gái 15 tuổi, nhưng có cái xô bồ, trần tục của bối cảnh.
Sau núi Oản, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi.
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây.
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.
(Chùa Hương-Nguyễn Nhược Pháp)

Thơ Lê Đình Bảng ghi được nét đẹp văn hóa lễ hội Công giáo. Đó là đóng góp riêng của nhà thơ vào thơ ca Việt đương đại. Mảng thơ này của Lê Đình Bảng bộc lộ rõ nhất sự tài hoa, phóng khoáng của thi nhân. Thơ mở rộng biên độ không gian, thời gian. Cái Tôi được giải phóng để hội nhập với cộng đồng. Vì thế, dù Thơ Lê Đình Bảng nằm trong thi pháp thơ thơ Lãng mạn (1930-1945) với rất nhiều hình ảnh tượng trưng, nhưng đã có những bước phát triển mới mẻ.

CÁCH NHÌN LỊCH SỬ

Tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang còn có những bài thơ thể hiện cái nhìn lịch sử dân tộc và lịch sử Giáo hội Việt Nam. Nhà thơ giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp văn hóa của một dân tộc trong tiến trình lịch sử, nhận ra vẻ đẹp của Giáo hội giữa những thăng trầm thế tục. Sự hội nhập văn hóa này xóa đi những định kiến lịch sử về đạo Công giáo ở Việt Nam một thời bị ngộ nhận.

Lê Đình Bảng viết về Xóm Chiếu (thành lập năm1856), nhân dịp kỷ niệm 150 năm thành lập giáo xứ:
Trăm năm trước có ai về Xóm Chiếu
Ngút ngàn bên kia, kinh rạch chập chùng
Ngập mặn rừng chàm, bần đước, khe truông
Cá sấu, cọp, beo, muỗi mòng ve vắt

Và bao nỗi đau lặng thầm giấu mặt
Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin
Của những lưu dân từ Nghệ, Tĩnh, Bình
Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội An, Nam Ngãi
Từ phương Bắc người tay bồng tay bế
Lại những lưu dân trốn chạy cùng đường
Ở Sài Gòn nên đồng khói đồng hương
Ở Xóm Chiếu nên đất lành chim đậu
Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật
150 năm canh thức dầu đèn
150 năm làm muối làm men
Một thời vỡ hoang một thời bão tố
Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ
(Hát bài trường ca Xóm Chiếu )

Nhà thơ nhìn những “nỗi đau lặng thầm giấu mặt/ Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin” của giáo dân lưu tán từ Nghệ, Tĩnh, Bình/ Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội An, Nam Ngãi và cả những dân di cư từ miền bắc vào Xóm Chiếu bằng cái nhìn Đức tin.
Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật
150 năm canh thức dầu đèn
150 năm làm muối làm men
Một thời vỡ hoang một thời bão tố
Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ
Dưới ánh sáng đức tin, người Công giáo nhìn những đau khổ, gian nan “Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin” (trải qua nhiều thời kì cấm đạo từ chúa Nguyễn đến thời Quang Trung, các vua nhà Nguyễn, phong trào “Bình Tây sát tả” của Văn Thân, những khó khăn trong chiến tranh, khó khăn khi đất nước bị chia cắt…). “Một thời vỡ hoang một thời bão tố” ấy là “bờ xôi ruộng mật”, là thời gian để giáo dân ”canh thức dầu đèn”, “làm muối làm men” để rồi “Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ” (Ba tứ thơ này hàm nghĩa Kinh thánh)

Một cái nhìn như thế về lịch sử, về giáo hội thể hiện nét đẹp văn hóa Công giáo, nét đẹp của sự nhận thức những chân lý lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng.
Và đây là nhận thức về lịch sử dân tộc:
Đây, hoa gấm thành đô Tổ quốc
Đây, uy linh cương vực giống nòi
Dặm dài bờ cõi xa khơi
Đông Sơn còn vọng tiếng người nghìn xưa

Ai cưỡi sóng mở cờ báo tiệp
Đuổi kình ngư, dựng nghiệp trong ngoài
Nỗi nhà, vận nước hai vai
Quyết đem chí lớn xây đài vinh quang

Bạch Đằng Giang sấm vang chớp giật
Ngập xác thù trôi dạt mênh mông
Biển-trời-mây-nước Tây Đông
Sơn hà xã tắc con Rồng cháu Tiên

Khi quốc biến côn quyền hơn sức
Thuở binh đao thao lược đua tài
Bình Ngô Đại cáo giương oai
Thù trong mất vía, giặc ngoài khiếp run

Cha dong ruổi mài son đánh giặc
Mẹ tảo tần mài mực ru con
Hàm Rồng đứng giữa mưa bom
Trơ trơ dạ sắt, gan đồng Lam Kinh

Trước Tổ quốc anh linh tiên tổ
Chúng con nay làm giỗ lập đàn
Nguyện cầu Quốc thái dân an
Non sông mở mặt Việt Nam lẫy lừng

Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế
Người với người, mở huệ tình thương
Lòng thành nguyện với hoa hương
Trăm muôn vạn lạy mười phương đất trời
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi vinh hiển
Lạy Nữ Vương Vô Nhiễm từ bi
Khi buồn vui lúc an nguy
Công cha nghĩa mẹ phú trì, ủi an
Chúng con nguyện chắp đôi tay
Chúa ban phần phúc dư đầy, Amen
(Bồi hồi bên sông Mã)
Bài thơ ghi: “Kính dâng tiền nhân tiên tổ xứ Thanh”, gợi cho người đọc một bề dày lịch sử của đất Lam Kinh, Thanh Hóa (Lam Kinh được nhà Lê xây dựng năm 1433). Trước Công nguyên, vùng đất Thanh Hóa nằm gọn trong quận Cửu Chân nước Âu Lạc (năm 111 trước CN). Nơi đây từng có cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu chống quân Đông Ngô (năm 248), nơi đây Hồ Quý Ly từng xây dựng Tây Đô (Thành nhà Hồ) và đóng đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Sau nhà Hồ, Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa và hoạt động 6 năm ở đây (1418-1424). Xứ Thanh cũng là nguồn gốc của các triều đại lớn: Họ Lê, họ Trịnh và họ Nguyễn. Nhắc lại sơ lược một vài sự kiện lịch sử để thấy Xứ Thanh có vị trí quan trong trong lịch sử Việt, nơi anh linh tổ quốc hội tụ.

Lê Đình Bảng nhắc lại thời Văn hóa Đông Sơn (Làng Đông Sơn, Thanh Hóa là nơi có di chỉ khảo cổ nổi tiếng thế giới được phát hiện năm 1924) …Nhắc tới Lam Kinh, Bình Ngô Đại cáo là ghi nhớ công ơn khởi nghĩa Lam Sơn (Lê Lợi). Hàm Rồng là khu di tích lịch sử. Nhắc tới Hàm Rồng là nhắc đến những sự tích anh hùng của dân xứ Thanh. Núi Rồng, sông Mã, động Long Quang là nơi ghi dấu nhiều danh nhân. Năm 1972, Mỹ dùng bom đánh phá cầu Hàm Rồng. Cầu do ngưới Pháp xây dựng năm 1904…

Cái nhìn của nhà thơ Công giáo Lê Đình Bảng về lịch sử dân tộc mình là cái nhìn thế nào?
Trước Tổ quốc anh linh tiên tổ
Chúng con nay làm giỗ lập đàn
Nguyện cầu Quốc thái dân an
Non sông mở mặt Việt Nam lẫy lừng

Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế
Người với người, mở huệ tình thương

Đấy là cái nhìn về một đất nước “Địa linh nhân kiệt” (Đất linh thiêng sinh người hào kiệt) với lòng tự hào và biết ơn. Nguyễn Trãi đã khẳng định: “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có” (Bình Ngô Đại Cáo). Lê Đình Bảng nhận ra một đặc điểm ưu việt của tổ tiên là: “Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế/ Người với người, mở huệ tình thương” nên con cháu mới được hưởng phần phúc. Là một nhà thơ Công giáo, Lê Đình Bảng không chỉ biết ơn tổ tiên mà còn nguyện xin Thiên Chúa cho “quốc thái dân an, non sông mở mặt…”. Nhà thơ đã hòa nhập vào tinh thần chung của dân tộc này.

THAY LỜI BẠT

Bài viết đã hơi dài, tôi không dám nhiều lời hơn. Chỉ xin chia sẻ điều này. Tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang và những tập thơ khác cùa nhà thơ Lê Đình Bảng có một giá trị đặc biệt là thể hiện những nét đẹp văn hóa Công giáo trong sự hội nhập với lịch sử văn hóa dân tộc. Ông không chỉ giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp thơ ca mà còn giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp người Công giáo, vẻ đẹp một gia đình Công giáo, làng quê Công giáo, lễ hội Công giáo và vẻ đẹp lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng.

Nhà thơ Lê Đình Bảng, từ khuôn mặt một thi nhân tài hoa lãng tử đã hiện lên những góc cạnh của một khuôn mặt văn hóa Công giao đương đại. Chất tài hoa kết hợp với sự uyên bác cùng với lòng nhiệt thành của một trái tim đầy ân sủng, Lê Đình Bảng đã góp cho văn học Công giáo những trang thơ văn độc đáo và giá trị.

Ông hiểu tất cả những điều ấy là do Trời, do đời cho ông.
Cảm ơn, Trời vẫn sương sa
Đã cho đất nở thành hoa, thành người…
Cảm ơn đòi đọan trăm điều
Nuôi ta đẫy sức nâng niu cuộc đời
Ngày mai tàn cuộc rong chơi
Ta xin làm đóa trăng soi bên Người
(Ơn đời một cõi mênh mang)
Tháng 6/2021

20/06/2021

Thơ Lê Đinh Bảng: "Lời tự tình của bến trần gian"- Bùi Công Thuấn

Thơ Lê Đinh Bảng: "Lời tự tình của bến trần gian"- Bùi Công Thuấn

Những khuôn mặt thơ ca Công giáo đương đại
“LỜI TỰ TÌNH CỦA BẾN TRẦN GIAN”
(Tập thơ của Lê Đình Bảng. Nxb Tôn Giáo 2012)

(Tập thơ Lời tự tình của bến trần gian)

Nhà thơ Lê Đình Bảng [*] có nhiều tập thơ đặc sắc. Quỳ trước đền vàng (2010) là tập thơ có những khám phá riêng về vẻ đẹp của Đức Maria [1]. Hành hương (2011) là tập thơ hành hương về những miền nguồn cội thi ca Công giáo bộc lộc đặc sắc thi pháp thơ Lê Đình Bảng [2]. “Lời tự tình của bến trần gian” (2012) là một tập thơ tình yêu, thơ tự tình của người trần gian nhưng vẫn được ướp hương thánh thiện.

“Lời tự tình của bến trần gian” có 112 bài thơ với lời giới thiệu của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (hiện là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam). Tập thơ cũng in kèm 72 bài nhạc của 15 nhạc sĩ tên tuổi trong làng Thánh ca Công giáo phổ thơ trong tập Lời tự tình của bến trần gian. Riêng nhạc sĩ Hải Triều phổ 41 bài. Có lẽ đây là một tập thơ có con số kỷ lục bài được phổ nhạc. Điều ấy là sự gặp gỡ kỳ diệu của thơ và nhạc. Và chính thơ đã đem đến cảm xúc âm nhạc cho nhiều nhạc sĩ (Vì là thơ của “bến trần gian”, nên ca khúc không phải là Thánh ca phụng vụ, nhưng là một dòng ca khúc đặc biệt mang âm hưởng tình ca thánh thiện).

LỜI TỰ TÌNH CỦA TÌNH YÊU

Thơ tình Việt Nam đã có những đỉnh thi sơn mà tên tuổi được ghi vào lịch sử văn học dân tộc. Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Phan Khôi, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh, Phạm Thiên Thư, Nguyên Sa…Mỗi người một vẻ, các nhà thơ đã làm giàu có đời sống tinh thần của một thời.

Thơ tình Lê Đình Bảng có những đóng góp đặc sắc gì về tư tưởng và nghệ thuật?
Xin đọc một bài

THÔI ĐỂ GIÓ CUỐN ĐI
Thơ Lê Đình Bảng

Hôm qua đi lễ khấn dòng
Nhìn em đăm đắm tựa bông hoa quỳ
Ta về đọc truyện Trương Chi
Thì ra, người ấy cũng y như mình

Cũng buồn cũng nhớ mông mênh
Cũng tương tư cả giờ kinh sớm chiều
Thì ra, từ buổi em yêu
Nụ tầm xuân đã thành điều thiêng liêng

Bây giờ ngày tháng ra Giêng
Em là của Chúa của riêng nhà dòng
Mỗi lần ra đứng trông mong
Gửi hương cho gió vào trong tường rào

Gửi thêm một chút chênh chao
Nhỡ mai cách trở ba đào, dặm khơi
Sông nào rẽ khúc ngăn đôi
Em như thánh nữ, ta người trần gian

Cũng là bụi đất tro than
Sao ta nguội lạnh, em nhân đức dày
Cũng là đầu ngọn heo may
Ta đêm bóng tối, em ngày trời trong

Hai con đường thẳng song song
Chia nhau nỗi nhớ, nửa trong nửa ngoài
Thế rồi, chiều nắng, mưa mai
Cách chia đâu phải dặm dài đường xa

Em về bên ấy hương hoa
Buồn, ta ra đứng ngã ba sông dài
(Sài gòn 1975)

Đó là chuyện tình của “người trần gian với thánh nữ”. Người con gái ấy hình như không thuộc về trần gian. - Em là của Chúa của riêng nhà Dòng”. Tuổi thanh xuân của em, “Nụ tầm xuân đã thành điều thiêng liêng”. Chỉ có “Ta” tương tư, buồn nhớ mênh mông, như chuyện tình Trương Chi. Cách ngăn không xa nhưng hai người như hai đường thẳng song song. Thời gian cứ phôi pha, “Thế rồi, chiều nắng, mưa phai”, và ta khôn nguôi thương nhớ: “Em về bên ấy hương hoa/ Buồn, ta ra đứng ngã ba sông dài”. Ta đi lễ khấn dòng của em về mà lòng đầy tâm trạng, mà lẽ ra phải chúc mừng em, phải chia vui với em. Chỉ có nỗi buồn và sự trông mong để gửi vào trong tường rao nhà dòng cho em “chút hương” và cả chút “chênh chao” (nghiêng lệch chao đảo của tâm hồn) để em hiểu lòng ta. Nhưng tất cả đã cách ngăn.

Người đọc nhân ra ngay phải chăng đây là một mối tình đơn phương. Anh nhận ra, em ngày càng xa cách trong không gian, thời gian. Và trong em không có chút hình bóng nào của anh, không một sợi tơ vương bụi trần nào vướng gót chân em. Bởi “Em là của Chúa, của riêng nhà dòng”. Ta và em không chỉ cách trở bằng tường rào nhà dòng, mà còn “cách trở ba đào, dặm khơi”. Nhà thơ đã diễn tả nỗi nhớ thương đằng đẵng trong thời gian bằng những tứ thơ rất tuyệt. Nhớ mênh mông trong cả giờ kinh sớm chiều, “Cũng là đầu ngọn heo may (mùa đông)/ Ta đêm bóng tối, em ngày trời trong”. Nhớ em cả đêm ngày, từ đầu xuân ra Giêng đến khi gió heo may về (mùa đông). Chỉ còn lại nỗi buồn, không biết gửi về đâu: “Buồn, ta ra đứng ngã ba sông dài”. Tại sao người thơ lại ra đứng ở ngã ba sông dài? Con sông dài ấy chính là nỗi buồn mênh mông của người thơ. Nó gợi lại một tứ thơ cổ điển của Huy Cận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” (Tràng Giang)

Những điều vừa trình bày trên đã lộ ra những “cái mới” của thơ tình Lê Đình Bảng trong dòng chảy thơ tình, chuyện tình Việt Nam. Tình Lan và Điệp (Tắt lửa lòng - Nguyễn Công Hoan) là tình của người thất tình đi tu. Tình của chú tiển Lan trong Hồn Bướm mơ tiên (Khái Hưng) là tình của người chạy trốn. Chú tiểu Lan ngày ngày niệm Phật nhưng nhưng trái tim lại gửi dưới hồng trần. Tình yêu trong thơ Xuân Diệu là tình yêu nhục thể (sau này người ta phát hiện ra đó là “tình trai”). Trong thơ T.T.K.H, tình yêu rướm máu trên mỗi câu thơ. Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư (100 khổ thơ) là tình yêu “nhập niết bàn” (“Vào hang núi nhập niết bàn/ Tinh anh nở đoá hoa vàng cửa khe”). Tình yêu trong thơ Nguyên Sa (Áo lụa Hà Đông, Tuổi mười ba…), trong thơ Nguyễn Tất Nhiên (Cô Bắc kỳ nho nhỏ; Ma Soeur…) là tình yêu của đời thường (tương phản với tình yêu trong thơ Lãng Mạn 1930-1945. Tất nhiên, còn một dòng chảy khác là thơ về tình yêu trong chiến tranh (Màu Tím hoa sim – Hữu Loan; Tha La xóm đạo. 1950-Vũ Anh Khanh; Núi Đôi - Vũ Cao; Cuộc chia ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ; Sóng –Xuân Quỳnh…). Thơ tình trong chiến tranh đậm màu sắc lý tưởng, tràn ngập lửa đạn hy sinh, và nỗi niềm khôn nguôi với quê hương.

Thơ tình Lê Đình Bảng có cái trong ngần, thanh khiết của hồn thơ. Không một chút gợn của cảm xúc nhục thể. Buồn mênh mông, ngóng trông vời vợi, biết là hai người là hai đường song song, nhưng không tuyệt vọng, không hư vô. Yêu em, Ta nhận ra mình là “bến trần gian”, một sự tương phản cách biệt, nhưng lại dung chứa nhau bởi “người ấy cũng y như mình”, cũng là tro bụi, cũng cùng một tình cảnh.
“Sông nào rẽ khúc ngăn đôi
Em như thánh nữ, ta người trần gian…

…Cũng là bụi đất tro than
Sao ta nguội lạnh, em nhân đức dày
Cũng là đầu ngọn heo may
Ta đêm bóng tối, em ngày trời trong”

Sự soi chiếu vào em để nhận ra Ta là “bến trần gian”, ta nguội lạnh, ta đêm bóng tối là điều làm cho thơ Lê Đình Bảng khác hẳn với thơ tình của những nam nhân khác. Trong thơ của nam nhân, “nam tính” có sự vượt trội giữa anh và em, và nam tính trực tiếp bộc lộc nhục cảm, có sức càn lướt.

Hãy để môi rót rượu vào môi
Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn
(Tháng sáu trời mưa-Nguyên Sa)

Để anh còn dắt cô đi dạo
Còn rủ cô vào rạp cải lương
(Cô Bắc Kỳ nho nhỏ-Nguyễn Tất Nhiên)

Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi
(Động hoa vàng-khổ 22-Phạm Thiên Thư)

Với Lê Đình Bảng, nhân vật em là “cô gái Sion trong Kinh Thánh, Bồ câu của Nhã ca, và là thánh nữ” mà nhân vật Anh không thể tiếp cận như một người trần gian. Anh hướng về em là nhìn lên một vẻ đẹp tinh tuyền, "Cái Đẹp Tuyệt Đối". Em rạng ngời như ánh dương, Em mát trong như trăng ngàn, Em hồn nhiên như thiên thần. Mọi thứ trần gian quanh em đều mờ đi, kể cả Anh. Em chiếm ngự tâm hồn anh và trở thành ngôi sao soi dẫn anh suốt cuộc đời

Bởi khởi đầu của tình yêu là những kỷ niệm thánh thiêng
Khi ấy, em lên mưới sáu tuổi
Tôi từ trường Tập về quê chơi
Bỏ quên kinh sách trong nhà Chúa
làm kẻ chầu nhưng suốt cả đời…
(Thơ tình gửi Dalida )

Em còn nhớ mỗi thứ Năm, Chúa Nhật
Xong lễ về, tôi đợi dưới vòm cây
Ở ngã tư mà em vẫn qua đây
Thuở hai đứa mới mười lăm mười bảy

Hai cánh cổng, giàn hoa leo bông giấy
Lời kinh thơm như là kẹo mạch nha
Vì lễ đầu dòng vừa mới hôm qua
Trong khăn lúp còn rưng rưng lời khấn
(Lễ đầu dòng)

Đêm nay, nhớ đốt trầm, chờ nhau nhé
Lễ nửa đêm, theo kiệu Chúa Hài đồng
Con đường vòng, hai đứa bước song song
Hai ngọn nến, một đức tin ngời sáng
(Nhã ca lễ nửa đêm)

-Tôi ngắm đứng, chờ em lên dâng hạt
Sao lời kinh, điệu vãn cứ nao lòng
Hình như là ơn Chúa ngấm vào trong
hành máu thịt chở đức tin, lòng đạo
(Nơi thiên đường ký ức)

Cũng có lúc mơ ước cõi trần gian “đầu gối, tay ấp”:
Ngày mai em có lên đền thánh
Ra ngắm rừng dương xanh bóng kia
Đã tới mùa chim quyên xuống đất
Từng đôi trong vườn rợp hoa kề…

…Em hát những bài ca Thánh vịnh
Cơ hồ mật ngọt và bùa mê

Lòng tin em đỡ đần tay gối
Đầu ấp cho ta nỗi nhọc nhằn
(Em lên đền thánh)

Người đọc không thể hiểu tại sao tình đơn phương ấy lại theo Anh suốt cả cuộc đời, cả trong chiêm bao. Sự thật Em chính là Cái Đẹp tuyệt đối mà anh hướng về. Anh thấy, lúc sắp qua đời, Anh gọi em là thánh nữ.
Vì tôi trót vụng đường tu
Bao năm nặng gánh tương tư với người
(Sơn tinh Thủy tinh)

Dưng không trước lúc qua đời
Gọi em mấy bận sang chơi bên nhà

Maria, Maria
Em là thánh nữ, em là người yêu
(Chiêm bao)

Một nỗi buồn trăn trở mãi trong tâm thức người thơ. Nỗi buồn bao trùm không gian thời gian, Không phải là thất tình kiểu trai gái yêu nhau, mà là sự tìm kiếm Cái Đẹp tuyệt đối mà người ở bến trần gian chưa với tới được.

Buồn đâu ở tận thinh không
Cơn mê sũng ướt đầy đồng mưa rơi
(Buồn)

Em vẫn giong thuyền sang đất hứa
Đêm khuya, nguyệt lạnh chỗ ta ngồi
(Gửi ngưởi biên viễn )

…Từ em đầu hạt mưa tuôn
Từ ta ra ngã ba đường, vời trông
Ngọn cồn, bóng núi mênh mông
Nhớ nhung, xin hẹn một lòng hôm mai
(Đôi bờ)

Em như cây cải về trời
Để ta ngóng đợi một đời hư vô
(Một lời thác sinh)

Mai kia trong cõi vô cùng
Một vun nước nhạt, một lưng cơm thừa
Lạy trời bên ấy dăng mưa
Để tôi đứng đợi sau bờ dậu kia

Chờ khi xong lễ, em về
Bâng khuâng gió rét buồn nghe trong cành
(Bâng khuâng)

Và không ít nước mắt, nhưng nén vào trong lòng.
Ngày mai em có lên nhà mẹ
Xanh mấy trùng khơi, cách mấy sông
Nước mắt chực rơi, rồi nén lại
Đi, về đôi ngả, nước mênh mông
Chờ ngô ra bắp thêm mùa nữa
Khi cánh đống vừa gặt lúa xong
Gió đã đổi chiều ra gió chướng
Mà thôi, giấu nỗi buồn vào trong
(Em về bên ấy có bình yên)

Bao giờ hạt lệ phôi pha
Từ em khóc giấu, từ ta thương thẩm
(Mộ khúc)

Ước gì em đến bên tôi
Hai bên hàng ghế song đôi nguyện cẦu…
…Cõi trầm hương rất nguy nga
Nghe tuôn lá động, nghe nhòa lụy rơi
(lời khần nhỏ chiều Chúa nhật )

Cũng đành một buổi phân ly
Vời trông theo bóng người đi mưa nhòa
(Người về đầu non)

Từ em xa chẳng gần bên
Sẻ chia nước mắt, nhân lên nụ cười
(Quê nhà)

Không thể tìm thấy những nét chân dung cụ thể của một người yêu trần gian trong thơ tình Lê Đình Bảng. Không thể định vị nhân vật Em trong tình yêu của nhà thơ bằng không gian, thời gian, bằng những kỷ niệm, những tình huống như những người yêu trần gian của Hàn Mạc Tử. Cũng không thể tìm thấy những cảm xúc nhục thể nam nữ trong những lời tình mê đắm của thơ Lê Đình Bảng. Nhân vật Em ấy, một nữ tu, một cô gái Sion, một thánh nữ, chỉ có thể là Cái đẹp tuyệt đối mà nhà thơ suốt đời ủ ấp trong tim. Chỉ có điều, “bến trần gian” còn xa cõi trời quá, cho nên người thơ vẫn hoài ngóng trông.
Hoa kia nở trong vườn rào kín
Của thánh, nào đâu phải của mình
Của một đời hương hoa đạo hạnh
Của vâng lời, nghèo khó, đồng trinh
(Lời tự tình của bến trần gian)

VẺ ĐẸP THƠ TÌNH CỦA LÊ ĐÌNH BẢNG

Ngoài vẻ đẹp về nội dung và tư tưởng, thơ tình lê Đình Bảng có vẻ đẹp riêng về nghệ thuật ở nhiều yếu tố thi pháp.

Lê Đình Bảng đưa vào thơ thi liệu lấy từ bối cảnh đời sống sinh hoạt lễ hội Công giáo, điều này là một cách làm giàu thơ tình Việt Nam. Đối với giáo dân Công giáo, những sinh hoạt lễ hội ở nhà thờ là điều rất bình thường, nhưng chính nhà thơ là người phát hiện ra cái đẹp mới mẻ này.
Em có nhớ từ lễ Tro ra tết
Từ Giêng, Hai trong cái rét nàng Bân
Nắng ngọt ngào từ hơi ấm trong chăn
Quê nhà ta cũng vào mùa thương khó

Và khi ấy dọc đường hoa xoan nở
Ội, loài hoa chịu phép rửa muộn màng
Như kẻ trộm vừa được phúc ăn năn
Đến tắm mát ở đầu nguồn Cứu Rỗi

Những tuần chay, mình xếp hàng xưng tội
Lòng bâng khuâng nghe chim hót ngoài vườn…
(Hoa xoan mùa thương khó)

Giục giã lời kinh thơm nắng gió
Thiêng liêng câu hát đượm hương trời
Nô –en về vàng rực lúa ngô phơi
Những mắt biếc với môi trầm rạng rỡ

Ước gì mình sánh bước song đôi
Đêm rất thánh quỳ bên nhau lặng lẽ
(Rước tình)

Đêm nay, nhớ đốt trầm, chờ nhau nhé
Lễ nửa đêm, theo kiệu Chúa Hài đồng
Con đường vòng, hai đứa bước song song
Hai ngọn nến, một đức tin ngời sáng
(Nhã ca lễ nửa đêm)

Nhớ mùa chay trước em qua
Thứ Năm đi lễ Đức Cha Truyền Dầu
Hai lòng đã bén duyên lâu
Cứ như lá rét tìm nhau trong cành

Ta nhìn trong mắt em xanh
Hoa xoan tim tím mỏng manh. Ô kìa
Ở nơi vòm cửa bên kia
Có đôi chim mới tha về cọng rơm

Lúa mùa con gái đương thơm
Hay hương tóc của chiều hôm lên đền
(Mùa chay)

Mời em, xin nhảy mừng cho thỏa
Theo những tình nhân vui sánh đôi

Ở đấy lúa đồng chiêm chín tới
Lời quyên ca ríu rít vàng mười
(Hương mùa mới)

Đọc những câu thơ trên, người đọc còn nhận ra một điều mới lạ khác trong thi pháp thơ tình Lê Đình Bảng. Thơ tình Lê Đình Bảng gắn liền với khung cảnh thiên nhiên làng quê. Nơi ấy đẹp sững sờ: “Lúa mùa con gái đương thơm”, “dọc đường hoa xoan nở”, “nắng ngọt ngào” “trong cái rét nàng Bân”; “Nô –en về vàng rực lúa ngô phơi/ Những mắt biếc với môi trầm rạng rỡ”…

Cho nên lễ hội Công giáo ở thôn quê vừa ngân vang lời kinh, tiếng hát, tiếng chuông, tiếng chim trong vườn; vừa ướp trong hương hoa, hương lúa, hương đất, và “hương tóc của chiều hôm lên đền”…Trong thơ ca tình yêu Việt, những chất liệu, thi tứ, cảm xúc đó thật mới mẻ, có sức gây nghiện. Người đọc không chỉ cảm nhận thơ hay mà còn nhận ra những nét rất đẹp mà làng quê Công giáo đem vào đời sống văn hóa Việt.

Đi vào thế giới thơ tình Lê Đình Bảng, người đọc còn nghe đâu đây dư âm những câu thơ Kiều, thấy lấp lánh cái duyên dáng trong cách kể chuyện của Nguyễn Bính, cảm cái đồng điệu tài hoa sang trọng của thơ Phạm Thiên Thư (nhưng rất khác về tư tưởng. Phạm Thiên Thư viết theo nhãn quan Thiền - Lê Đình Bãng viết dưới ánh sáng Mỹ học Kitô giáo), và hơn thế, Lê Đình Bảng làm mới thơ cổ điển (thơ Đường-Lý Bạch, Bạch Cư Dị) bằng những tứ thơ rất khoáng đạt đậm Việt tính. Không gian và thời gian được mở ra rất rộng, thế giới tâm tưởng trôi chảy miên viễn đến vô cùng, thoát ra khỏi cái không gian chật chội của Thơ Mới (1930-1945): “Hai mươi bốn năm xưa/ một đêm vừa gió lại vừa mưa/ Dưới ngọn đèn mờ/ trong gian nhà nhỏ/ hai cái đầu xanh kề nhau than thở…”(Tình Già-Phan Khôi)

Xin hãy bay theo cánh thơ Lê Đình Bảng
Từ em chẳng thấy tăm hơi
Từ em bóng nắng gương soi nhạt nhòa
Tôi về quê mẹ quê cha
Con trăng thấp thoáng khi xa khi gần
(Quê nhà)

Những chiều buồn bã thinh không
Em đi khói ngất vời trông quê nhà
Bao giờ mở hội, tôi qua
Lễ xa bên ấy bằng ba lễ gần
(Lễ xa lễ gần)

Em đi biền biệt chưa về
Mấy mùa sông lấp còn nghe gió đàn
(Sa mạc)

Lạy trời, đổ xuống sương mưa
Chân mây mặt đất lưng bờ tràng giang
Dặn dò sông cứ mênh mang
Để ta phiêu bạt với ngàn long đong

…Khi không chiều lại trông chiều
Gửi em đây cả trăm điều xót xa
(Lạy trời đổ mưa sương )

Hỏi người, rặng liễu kia xanh
Có còn in những bóng hình hồng nhan?
Ta về, hỏi khắp dương gian
Trong vuông áo mỏng cơ hàn ngày xưa
(Cố hương)

Từ em cách trở quan san
Ta nương cánh gió trăng ngàn miền khơi
Lặng thầm khi những tăm hơi
Non phơi đầu bãi, non phơi bóng mình
(Những miền xa khơi)

Ở đây chiều rét không mùa
Vào ra sớm vắng, buồn trưa, mưa chiều
Ở đây trời vẫn trong veo
Hình như gió nói những điều thiêng liêng
(Thanh xuân)

Những tứ thơ khoáng đạt mở ra “chân mây mặt đất”, gió núi trăng ngàn, đầu non cuối bãi, những rặng liễu xanh và ngọn gió nói lời thiêng liêng bay khắp cõi dân gian, mãi trên cõi trời trong xanh, đưa tâm hồn người đọc vào cõi thơ bất tuyệt. Thơ tình Việt Nam ít có một thế giới nghệ thuật như vậy.

VẺ ĐẸP CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH

Đó là một Cái Tôi dân dã, nghèo, long đong phiêu bạt nhưng vẫn thừa sang trọng. Một mình nhưng ở giữa trăng gió, hoa cỏ vây che.
Bỗng dưng ngồi nhớ trăng quê
Tình tang cơm cháo măng tre đỡ lòng

Bỗng thương cái phận long đong
Giăng câu, vó tép bên sông một mình
(Tình tang)

Tôi mỏng manh và ải giòn như lá
Nhưng bốn mùa, hoa cỏ sống vây che
(Thư nhà)

Cái Ta ấy có khí chất phương Đông: tĩnh tại, tự soi vào Tâm, hóa thân vào muôn kiếp khổ, mang nặng xác thân hư huyễn, để sẻ chia kiếp người phù du như hương bay. Và trong cái nhìn Hoa Nghiêm (con sâu cái kiến, núi non mây ngàn…, vạn pháp đều có Phật tính), Cái Ta ấy bỗng nhiên ngộ “lẽ nhiệm màu”.
Đợi người ta đã quên ta
Hóa thân dưới cội sim già trầm tư
Ôi người khổ hạnh chân tu
Còn bao nhiêu kiếp thân hư hèn này

Ta đong giọt lệ từng ngày
Gửi người trong cõi hương bay nhạt nhòa
(Dòng đời)

Mời người thả bước vô thăm
Ngó lên cao, chỗ Phật nằm tịnh không
Mây gần, nở trắng như bông
Đường tăng ơi, rũ bụi hồng về đâu?

Ta, loài cỏ kiến, chim sâu
Bỗng dưng ngộ lẽ nhiệm màu từ bi
(Trưa trên đèo Takóu)

Cái Ta ấy lại như một hành giả khổ hạnh, nương nhờ vào lượng trời và lưng cơm thừa của nhân gian, để cảm nhận cho đến tận cùng nỗi hiện sinh xót xa.
Ta dỗ dành ta không cạn hẹp
Trời cho, xin nửa trái sim già
Và lưng bát nước qua cơn khát
Để kẻ trần gian đỡ xót xa…
(Bây chừ Huế mưa)

Mai kia trong cõi vô cùng
Một vun nước nhạt, một lưng cơm thừa
Lạy trời bên ấy dăng mưa
Để tôi đứng đợi sau bờ dậu kia
(Bâng khuâng)

Nhà thơ có lúc như một khách giang hồ, một tráng sĩ qua sông Dịch, vượt qua một hành trình đầm đìa máu và thân xác đầy dấu đinh.
Nâng chén trà thơm, thơm tuyết trắng
Mài gươm đợi một chuyến sang Tần
(Quỳnh)

Dặn lòng còn chút hương hoa
Giữ giùm nhau để may ra có ngày
Bốn bề lửa đốt giăng vây
Ta nghe mướt máu. Hồn đầy dấu đinh
(Vượt qua)

Và, cốt cách là một Cái Tôi si tình
Tịnh không một tiếng thở dài
Phòng không gác khánh, mái ngoài tường rêu
Ai về, tôi ngóng trông theo
Ngẩn ngơ trưa xế, ráng chiều bặt tăm…
(Đi lễ chùa nào)

Nhưng tôi rất thích nét tiêu dao (Nam Hoa kinh-Trang Tử) này của Lê Đình Bảng
Người từ quảy lúa lên nương
Hai vai gánh nặng nhành hương nhân từ
Ta về, đọc lại thiên thư
Ngắm bông sim nở rừng Thu phong đầy

Cảm ơn bờ bụi quanh đây
Tháng giêng hoa cải vàng rây trước thềm
Ba nghìn thế giới tây riêng
Tịnh không một cõi kề bên thôn đào

Cảm ơn ngày tháng xôn xao
Đôi con chim mộng ra vào vườn mai
Cảm ơn giờ khắc khoan thai
Trăm muôn bến đợi, ngàn phai sắc vàng

Cảm ơn bầu bạn dương gian
Áo gai hài cỏ, một gian liễu bồ
Sớm chiều vài hạt lương khô
Tiếng chim ghềnh đá, giọng hò bãi sông

Cảm ơn đợt gió trên khộng
Thầm đem hơi ấm giữa lòng đương xuân
(Giữa đường thơm)

Tôi gọi đó là Cái Tôi tài hoa đậm chất phương Đông, nền nã Việt tính và nghệ sĩ tính. Cái tôi ấy tài hoa trong cách dẫn truyện, tài hoa trong dùng lời để nói những điều rất đẹp, dù là hiện thực khó nghèo. Cái Tôi ấy tài hoa ở việc tìm ra Cái Đẹp và sự chia sẻ với mọi người cái hạnh phúc thánh thiện. Tất nhiên không thể không nói đến sự tài hoa trong sử dụng những thể thơ, tài hoa trong việc thẩm thấu ca dao và những câu thơ Kiều, những điển tích phương đông và phương Tây, những tư tưởng triết học của mọi thời. Chính Cái Tôi tài hoa ấy làm nên mọi giá trị thẩm mỹ của thơ tình Lê Đình Bảng.

CHỜ NGƯỜI SẺ CHIA

Tập thơ Lời tự tình của bến trần gian còn những bài thơ sâu nặng tình quê (Tội tình, Gửi người quê lũ, Quê nhà, Mấy thương, Ơi, đồng quê ta, Về quê lúa quê chèo), những bài thơ giàu có hiện thực và đầy ắp tài hoa về những miền quê nồng đượm nghĩa tình (Về Gò Thị, Lý Cái Mơn, Ghé thăm nhà ông Đốc, Về Long Xuyên, Ơi người Cần Xây, Đêm mịt mùng Tân Châu, Thả thuyền về sông nước Cửu Long, Ai về vườn bưởi Tân Triều về Huế ; thăm Nhà dòng phố biển (Nha Trang), Về Tây Nguyên, Trưa trên đèo Takóu, Ghé thăm Kinh Bắc, Đêm ở Tràng An (tiếp nối được tâm thức thơ Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan).

Lê Đình Bảng cũng viết những bài giàu chất trí tuệ với cốt cách nghệ sĩ gửi Nguyễn Du (Thì thầm với Nguyễn Du), gửi Cố Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống, cố Đức Ông-nhà thơ Xuân Ly Băng, nhạc sĩ Thế Thông, nhạc sĩ Phanxicô. Đọc những bài thơ này, người đọc nhận ra những khuôn mặt văn hóa lớn của văn hóa Công giáo đương đại (nhưng cũng hiểu rằng, viết về người đương thời là rất khó).

Những mảng thơ ấy chứa đựng nhiều thông điệp của trái tim nhà thơ hướng về mọi người. Nó cũng ánh lên những sắc màu khác của tài thơ và cốt cách Lê Đình Bảng, rất tiếc trong phạm vi một bài viết ngắn tôi chưa nói được điều gì, mong bạn đọc yêu quý thơ Lê Đình Bảng tiếp tục lắng nghe trong tim mình “Lời tự tình của bến trần gian”.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều trong lời đề tựa tập thơ có viết: “…không ít những câu thơ lục bát của nhà thơ Lê Đình Bảng đã thực sự quyến rũ tôi;…Những câu thơ lục bát đã làm nên phần cơ bản con người thi sĩ của ông”. Tôi nghĩ thêm, những bài thơ 7 chữ, 8 chữ của Lê Đình Bảng đã làm sống lại cái thi vị của Thơ Mới, mà một thời người ta đã “chôn” nó đi (Trần Dần).

Tôi nghe thấy trong thông điệp của Lê Đình bảng điều này:
Giữ gìn, đừng để phai hương
Dẫu ngày son nhạt, bước đường xa quê
(Cố hương)

Long Khánh ngày 04/5/2021
_________________________________________

[*] Nhà thơ Lê Đình Bảng đã in các tập thơ: Bước chân người Giao chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012). Ngoài ra, ông còn là nhà nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Ông đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) gồm 6 cuốn, 4.088 trang in do ông sưu tầm, nghiên cứu…


[2] https://buicongthuan.wordpress.com/2021/06/04/le-dinh-bang-hanh-huong/