Bạn đã từng bao giờ cảm thấy Chúa Thánh Thần hướng dẫn bạn làm điều gì đó có vẻ không giống ai không? Điều đó đã xẩy đến với tôi một hôm khi tôi ngồi ở phòng đợi của một văn phòng bác sĩ. Tôi cảm thấy một sự thôi thúc ở bên trong mà tôi nhận ra như là cách Thiên Chúa nói với tôi. Dường như Ngài đang nói “Ta muốn đưa người bác sĩ này về với Ta. Ta sẽ làm việc qua bà ta, và bà ta sẽ làm điều tuyệt vời cho Ta”



Đây không phải là điều tôi muốn nghe, nhất là vì đây là cái hẹn đầu tiên của tôi với bà bác sĩ đó. “Ôi không, Chúa ơi”, tôi nghĩ khi ngồi sụp xuống trên chiếc ghế. “Ngài đang yêu cầu con làm một điều ngu ngốc đối với bản thân – và với một người hoàn toàn lạ”

Tôi vẫn còn phản đối khi vị bác sĩ gọi tôi vào phòng khám. Tim tôi đập thình thịch vì lo âu mà tôi nghĩ nó sẽ nhảy ra  khỏi lồng ngực của tôi.

 “Tôi không hiểu sao tim bạn lại đập mạnh như vậy” vị bác sĩ nói. Sau đó tôi đã nói không suy nghĩ vài điều về niềm tin Kitô giáo của tôi và nó quan trọng thế nào đối với tôi, đặc biệt trong việc đối phó với căn bệnh Crohn’s disease (chứng viêm mãn tính về tiêu chảy với đau bụng, buồn nôn, sốt và giảm cân) mà tôi đang chờ lời khuyên của bà. Ba ta lắng nghe cách lịch sự và cuộc hẹn của tôi đã kết thúc.

Sau một vài cuộc hẹn nữa, tôi đã khá hơn và bác sĩ nói bà không cần tiếp tục gặp tôi nữa. “Làm sao bây giờ?” tôi hỏi Chúa. “Làm sao con có thể chia sẻ nhiều hơn về Ngài khi con không còn những cuộc hẹn nào nữa?”

Một người bạn đã đưa ra một gợi ý khôn ngoan “Chúng ta chỉ cầu xin Chúa mở ra một cánh cửa”.

Tìm lối vào. Chúa đã cho cơ hội đó khoảng sáu tháng sau cuộc hẹn lần đầu tiên của tôi. Người bạn đã cầu nguyện với tôi xin “mở cửa” vừa mới gặp mặt vị bác sĩ đó. “Bà ta nói với tôi rằng người dọn dẹp nhà của bà ta đã gặp cơn đột quỵ nghiêm trọng và đang ở trong tình trạng nguy kịch” bạn tôi kể lại. “Tôi nghĩ bà ta sẽ rất cần người giúp dọn dẹp nhà cửa”

Tôi là một y tá chuyên nghiệp và việc dọn dẹp nhà cửa không phải là công việc ưa thích của tôi. Nhưng cuối tuần đó, sau nhiều lần cầu nguyện và phấn đấu, tôi đã tìm được địa chỉ nhà của vị bác sĩ. Sau đó lấy hết can đảm, với dụng cụ lau sàn và chổi, tôi gõ cửa nhà bà để xin được phục vụ.

Vâng, Thiên Chúa hoàn toàn có tính hài hước. Tin tức của bạn tôi chỉ đúng có một phần, như tôi đã phát hiện khi vị bác sĩ mời tôi vào nhà và giải thích tình hình thực tế. Đó là người ở cùng nhà - tôi gọi chị ta là Helen – người đã bị đột quỵ bây giờ chị ta đang ở trong bệnh viện, bị tê liệt một phần và không thể nói được.

Hơi bối rối vì hiểu lầm, tôi không biết phải nói gì. Nhưng lúc đó một sự thúc đẩy quen thuộc đã đến “Hãy mở miệng và Ta sẽ cho con biết phải nói gì”. Vì vậy tôi nói “Tôi có thể đến cầu nguyện cho chị ta tại bệnh viện được không?”

Vị bác sĩ đột nhiên ra vẻ khó chịu, và tôi nghĩ là đã hủy hoại cơ hội truyền giáo của tôi mất rồi. Cuối cùng sau dường như cả hàng giơ đồng hồ, vị bác sĩ đã trả lời “Cô được hoan nghênh để thử, nhưng tôi không nghĩ chị ta sẽ để cho cô cầu nguyện với chị ta đâu”

Bà bác sĩ tiếp tục nói với tôi rằng Helen đã từng thuộc về một tu viện. Trong thời gian đó chị mắc phải một số vấn đề nghiêm trọng về thể chất gây ra đau đớn nhưng đã từ chối chữa trị y tế. Cảm giác rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi mình, Helen gửi đơn đến Rôma xin xá miễn những lời khấn hứa của chị, như vậy là từ bỏ giấc mơ suốt đời của chị là một nữ tu Công giáo. Từ bỏ trở thành giận dữ. Giận dữ với bề trên tu viện và chẳng bao lâu trở thành giận dữ với Chúa.

Tình yêu không bao giờ thất bại. Nỗ lực đầu tiên của tôi để cầu nguyện với Helen diễn ra suôn sẻ - bởi vì chị đang hôn mê. Tuy nhiên vào lần thứ nhì, chị đập mạnh xuống thành giường và la hét một trong hai từ chị chỉ có thể nói được từ khi bị đột quị: “không, không, không!” (từ ngữ khác là “vâng”!). Nghe thấy tiếng động, một đám y tá chạy vào phòng. Tôi đã phải tìm cách xoay xở để trấn an họ rằng mọi việc đều ổn cả.

Tôi về nhà trong nước mắt, không thấy có cách nào xua tan tất cả tức giận trong lòng Helen “Điều này rất khó đối với con” tôi nói với Chúa “Con không biết phải làm gì”. Và một lần nữa tôi cảm giác rằng tất cả những gì tôi phải làm là nói những lời Ngài sẽ cho tôi.

Tôi bắt đầu đến thăm Helen hàng ngày, có đôi khi hơn một lần. Tôi nói về sự giận dữ của chị và về việc mà chính con người chứ không phải Thiên Chúa đã làm tổn thương chị. Tôi đọc cho chị nghe những đoạn Kinh Thánh tập trung vào sự giận dữ, sự tha thứ và tình yêu khi tức giận. Tôi nói với chị rằng Thiên Chúa yêu thương chị và đã cho chị sống sót sau cơn đột quỵ để chị quay về với Ngài.

Từ từ, Helen bắt đầu thay đổi. Mỗi ngày chị được mang đến gần Chúa hơn một chút và tha thứ hơn một chút đối với những người đã gây tổn thương cho chị. Và mỗi ngày mang đến cho tôi một tình yêu sâu sắc hơn và tận tụy hơn đối với Helen. Cuối cùng tôi tin rằng chính tình yêu này Thiên Chúa đã ban cho tôi để làm mềm lòng chị. Tôi tin rằng chúng ta phải thực sự yêu thương người nào đó với tình yêu của Thiên Chúa trước khi chúng ta có thể giảng cho họ về tình yêu.

Những bước đi của trẻ thơ. Một tháng trôi qua, Helen đã bắt đầu tham gia cầu nguyện với tôi, công việc mà chị đã biết từ trước. (Những nạn nhân đột quỵ thường nhớ và đọc thuộc những điều họ đã thuộc lòng từ trong qúa khứ, cho dù cách phát âm của họ không được chuẩn xác). Tháng tiếp theo, chị cho phép tôi đưa chị đến nhà nguyện của vệnh viện – nhưng chỉ vào bên trong cánh cửa thôi. Từ đó về sau, ngày qua ngày, chúng tôi tập những bước đi của trẻ thơ càng ngày càng đi xa  hơn vào bên trong nhà nguyện.

Một buổi tối chúng tôi đi tới tận bàn thánh. Quỳ bên cạnh Helen và cảm nhận được sự thay đổi đang diễn ra trong tâm hồn chị, tôi cầu nguyện “Lạy Chúa, chúng con đã gần đến rồi. Ngài muốn con nói thêm điều gì nữa?” Rồi tôi được nhắc nhớ đến một bài thơ nổi tiếng của Francis Thompson “The Hound of Heaven”(Cuộc săn đuổi thiên đàng). Nói về việc săn đuổi yêu thương của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta, những người cố gắng chạy trốn Ngài. Tôi đọc cho Helen nghe trong lần viếng thăm tiếp theo và chị đã khóc:

Tôi đã chạy trốn Ngài cho đến tận đêm khuya, cho đến tận ngày mới

Tôi đã chạy trốn Ngài cho đến tận năm dài . . .        

 “Thấy chưa Helen” tôi nói với chị “Thiên Chúa không bỏ rơi chị. Ngài đang cho chị một cơ hội nữa. Chị đã chạy trốn, nhưng Ngài đã đuổi theo chị và sẽ tiếp tục đuổi theo chị cho đến khi chị trở lại với Ngài. Chị đã sẵn sàng chưa?” Sau đó câu trả lời mà tôi đã chờ đợi và cầu nguyện trong bốn tháng qua đã đến “Vâng,vâng,vâng” chị nói.

Phép lạ gấp đôi. Vào ngày Chúa nhật Phục sinh, Helen đi xưng tội. Sau đó một linh mục cử hành Thánh lễ trong phòng của chị ở bệnh viện, Helen và tôi đã cùng rước Mình Thánh Chúa.

Sau đó Thiên Chúa đã đưa Helen trở lại với ơn gọi chị nghĩ là đã mất. Phòng ngủ của chị đã trở thành tu viện của chị, nơi chị đã sống với lời thề hứa nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời. Thiên Chúa đã phục hồi khả năng để chị nói được ba từ ngữ quan trọng nhất trong Anh ngữ “I love you”. Bạn còn cần gì nữa để nói với Chúa và với những người khác.

Helen đã dùng hai mươi tám năm còn lại trong cuộc sống trần thế của chị như là một nữ tu, chị cầu nguyện cùng Chúa và cầu thay cho người khác. Càng ngày càng có nhiều người đem đến cho chị những yêu cầu xin chị cầu nguyện. Sơ Helen như bây giờ được người ta gọi, hãy còn có thể đọc được, vì vậy tất cả những yêu cầu xin cầu nguyện được viết ra giấy đã được chị cầu nguyện nhiều lần trong ngày. Chị chịu đau đớn thể xác mỗi ngày nhưng chị chịu đựng sự đau đớn với lòng can đảm và kiên nhẫn và dâng lên Chúa vì lợi ích của người khác. Chị là một chiến binh cầu nguyện cho tất cả chúng ta.

Và vị bác sĩ, người đã bắt đầu với tất cả những điều này thì sao? Sau khi chứng kiến phép lạ hoán cải trong cuộc sống của Helen, bà đã dâng cuộc sống của bà cho Chúa và đã gia nhập Giáo hội Công giáo.

Nhưng đó là một câu chuyện khác./.

https://wau.org/archives/article/baby_steps_to_the_altar/

 

Một cuộc gặp gỡ bất ngờ đã dạy tôi cách nhìn và cách cầu nguyện

hình minh họa
hình minh họa


Một ngày nọ, tôi đi Manhattan để tham dự một cuộc họp trên đường số 31. Sau đó tôi quyết định đi tản bộ quanh khu phố. Hôm đó là một ngày mùa hè đẹp trời. Nhiệt độ vừa phải, và không có một lọn mây trên bầu trời.

Tôi đi lên đại lộ số 6 qua Quảng trường Herald, dọc theo đường số 34 và qua chợ Macy, xuống đại lộ số 7 và đi vào ga Penn, rồi dọc theo khu vườn của quảng trường Madison, qua đại lộ số 8 và trên những bậc thềm to lớn  của Tổng cục Bưu điện.





Trong văn hóa của tôi, khi một người đàn ông lấy vợ, anh ta biếu một con dê cho gia đình cô dâu. Đó là cách để nói “cám ơn” vì đã giữ cho người con gái còn trong trắng. Khi chồng của chị tôi trao tặng con dê cho mẹ tôi ở nhà chúng tôi ở Nigeria, anh nói “Con đã tìm được con gái của mẹ tại nhà” có nghĩa là anh biết chị tôi còn trong trắng. Tôi nhìn thấy cảnh này khi còn là một cô gái nhỏ và tự nhủ rằng những lời này một ngày nào đó sẽ được lập lại đối với tôi

Khi một nữ tu đến thăm làng chúng tôi, kế hoạch của tôi đã thay đổi. Tôi cảm thấy rằng Thiên Chúa đang mời gọi tôi trở thành một nữ tu. Mẹ tôi nói với tôi rằng điều đó sẽ xẩy ra nếu đó là ý Chúa. Trong khi tôi chờ đợi, tôi quyết định sống thật tốt, tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ bảo vệ tôi và đáp lại lời cầu nguyện của tôi.

Đêm tối tăm nhất của tôi


Sau trung học, Tôi bắt đầu tìm kiếm một công việc để có thể giúp đỡ mẹ tôi. Tôi hỏi người anh họ đang sống ở thành phố, để xem liệu anh có thể tìm cho tôi một công việc ở đó. Nhưng thay vì một công việc, anh kêu tôi tới làm người giúp việc cho gia đình anh. Tôi đồng ý, hy vọng rằng cuối cùng anh sẽ tìm được công việc cho tôi. Anh luôn hứa hẹn tìm cho tôi một công việc, nhưng anh không bao giời thực hiện lời hứa đó.



Cuộc hành trình của tôi từ vô gia cư đến với Giáo Hội



Từ tháng Tám năm 2002 đến tháng Sáu năm 2003, tôi sống và đi giữa những người vô danh trên đường phố. Tôi nói “vô danh” bởi vì khi bạn là người vô gia cư, phần còn lại của thế giới không thèm nhìn đến bạn.

Cuộc sống của tôi dần dần đi xuống sau một cuộc ly dị rất rối rắm. Rất nhanh, tôi phải chịu đựng hết mất mát này đến mất mát khác: hôn nhân, nhà cửa, công việc, lợi tức và ngay cả sức khỏe khi tôi phải trải qua chứng co giật động kinh. Tôi đã có một nơi để ở nhưng bởi vì tôi luôn cảm thấy ở nơi đó không an toàn, tôi đã bỏ ra đường phố.

Giống như nhiều người vô gia cư khác, tôi thường dùng một phần thời gian trong ngày trú ngụ trong một thư viện công cộng của thành phố. Ở đó, vào tháng Mười Một năm 2002, tôi băt đầu đọc về các thánh, xem lại những câu chuyện Kinh Thánh mà tôi đã yêu mến khi còn là một đứa trẻ. Trong lúc ngồi trong thư viện, tôi bất ngờ nảy ra một ý nghĩ rằng Thiên Chúa đang mời gọi tôi quay về với Giáo Hội Công Giáo – ngôi nhà thiêng liêng tôi đã phiêu bạt rất lâu.

Tôi đã dùng những tháng còn lại của mùa đông năm đó suy gẫm về những gì tôi đã đọc và suy nghĩ xem làm thế nào để trở về với Giáo Hội. Tâm hồn tôi đặc biệt bị thu hút bởi quyết định trở thành một linh mục của thánh Gioan Bosco và trí óc sáng suốt của Mẹ Têrêsa khi nói với các giám mục về việc thành lập dòng Thừa Sai Bác Ái. Hai vị thánh này – cùng với nhiều vị thánh khác – đã giúp tôi tập trung vào một điểm và chỉ cho tôi biết tôi cần phải làm gì để đưa cuộc sống của tôi trở lại.



Tương lai được nhìn thấy là tươi sáng đối với các môn đệ của Chúa Giêsu. Phêrô vừa mới tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và đã nhận chìa khóa nước trời. Chúa Giêsu đã hứa rằng ngay cả các cửa địa ngục cũng không thắng được các ông (Mt 16: 13- 20). Mọi việc dường như đang diễn tiến tốt đẹp. Tuy nhiên không lâu sau đó, Chúa Giêsu bắt đầu nói về cuộc khổ nạn và cái chết sắp đến của Ngài. Điều đó chắc chắn không phải là cái tương lai các ông mong đợi.


Chúng ta có thể tưởng tượng các môn đệ cảm thấy như thế nào khi lần đầu tiên Chúa Giêsu tiên đoán số phận đang chời đợi Ngài? Hoang mang, sốc, thậm chí tức giận. Làm sao Đấng Mêsia lại có thể bị từ bỏ và bị đóng đinh? Chính cái ý tưởng này đã làm Phêrô kinh hãi “Lạy trời đừng có chuyện đó, thưa Thầy” ông nói “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Nhưng Đức Giê-su đã trách mắng ông: “tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16: 22- 23).

Chúa Giêsu biết những gì đang dành cho Ngài. Ngài biết rằng để hoàn thành sứ mạng của Cha Ngài, Ngài sẽ phải chịu đau khổ như các tiên tri đã viết, và chết trên thập giá. Nhưng Ngài cũng tin tưởng rằng Cha Ngài sẽ nâng Ngài lên từ cõi chết. Chúa Giêsu đã cho các môn đệ một cái nhìn thoáng qua về tương lai của Ngài, một tương lai có lẽ sẽ đè nặng trên họ.





Đã có một thời tôi là một người Công giáo tốt. Tôi gia nhập nhóm trẻ và còn ghi danh vào một tiểu chủng viện ở Tây Ban Nha khi tôi mới 11 tuổi. Nhưng rồi qua thời gian tất cả đã biến mất. Vậy điều gì đã xẩy ra?

Nó bắt đầu với việc tôi nhận ra là mình thiếu tự do. Tôi đã nghĩ rằng sống với Chúa không cho phép tôi còn là tôi nữa. Tôi nghĩ Công giáo là một Giáo hội của “không”. Tôi thường đi nhà thờ để làm cho mẹ tôi vui. Tôi thực sự không tìm thấy câu trả lời tốt hơn. Và Thiên Chúa: Ngài ở đâu? Tôi có cảm nghiệm được lòng thương xót, tình yêu và sự tha thứ của Ngài? Tôi đã làm được khi tôi còn nhỏ nhưng không còn để ý hay nhớ gì nữa.

Vì vậy tôi rời tiểu chủng viện và đi học ở Madrid để trở thành một thầy giáo dậy Anh ngữ. Ước mơ lớn của tôi là đi du dịch khắp thế giới và được gặp rất nhiều người. Và ôi chao, những người tôi đã gặp!


Từ bỏ địa vị để theo Chúa Giêsu

Khi tôi là học sinh lớp cuối ở trường trung học tôi đã có lòng muốn vào một trường cao đẳng có uy tín, cách nhà chỉ ít giờ lái xe. Nhưng Thiên Chúa đã có ý định khác. Với lá thư từ chối đến với tôi trong nước mắt, thất vọng và với một chuỗi những quyết định khác, cuối cùng tôi đã vào một trường đại học ở gần nhà hơn, nơi tôi đã rơi vào tình yêu không những với một cộng đồng Công giáo sống động mà còn cả với người chồng của tôi bây giờ. Khi tôi nhìn lại thời gian ở trung học, tôi không thể tưởng tượng được một tình huống tốt hơn.

Có lẽ đó là lý do tại sao câu chuyện của một thiếu nữ người Ái Nhĩ Lan tên là Clare Crokett đã lôi cuốn tôi. Clare cũng nhận ra rằng kế hoạch của Thiên Chúa cho cuộc sống của Clare vượt xa với ý định riêng của cô. Là một phụ nữ trẻ được được kêu gọi đi vào đời sống tu trì là trật đường với nghề diễn xuất mới chớm nở trong Clare. Cuối cùng Clare đã khám phá ra niềm vui của việc đáp lại ân sủng về sự chuyển đổi lạ lùng – ân sủng mà Thiên Chúa ban cho mỗi người chúng ta.

Câu chuyện người đi nhờ xe


Đêm hôm đó là một đêm mưa bão trời tối đen như mực. Không. Đây không phải là sự khởi đầu của một câu chuyện kinh dị. Đó là sự khởi đầu của một câu chuyện đã diễn ra trong một đêm mưa bão tối trời. Đó là cái đêm mà một trận bão bất ngờ và nguy hiểm đang tấn công vào bờ biển New Jersey. Chồng tôi và tôi đang lái xe trong cơn mưa lớn, trên mặt đường thỉnh thoảng ánh lên những tia sáng cùng với những tiếng sấm sét nổ vang trên bầu trời. Qủa thật đêm hôm đó không phải là một đêm để đi ra ngoài và chúng tôi rất lo lắng mong được về nhà.

Lạy Đức Mẹ Guadalupe, cầu cho chúng con


Trong ngôi nhà thời thơ ấu của tôi có một bức tượng Đức Maria có đôi mắt dường như lúc nào cũng nhìn theo tôi mỗi lần tôi đi ngang qua bức tượng. Bà tôi nói đùa rằng Đức Maria luôn theo dõi tôi, vì vậy tôi phải sống cho thật tốt.

Ở trong trường học Công giáo người ta nhấn mạnh rằng Đức Maria là người hoàn hảo trong mọi phương diện bởi vì Người được thụ thai không nhiễm tội lỗi. Tôi nhìn bức tượng Đức Maria ở trường học mặc áo màu trắng và xanh, thật là đẹp, và tôi nghĩ về bản thân mình “Một người hoàn hảo không bao giờ có thể hiểu tôi”. Vì vậy khi lớn lên và bước vào tuổi trưởng thành tôi đã đi tìm kiếm mối quan hệ với Chúa Giêsu, Đấng có thể hiểu được những mất mát, đau đớn, niềm vui cũng như sự tức giận. Chúa Giêsu có thể hiểu tôi với tất cả những lỗi lầm và thiếu sót của tôi. Còn Maria? Chắc là không.

Người Công giáo và những tập tục ngày Tết


Tin, bài liên quan:  Tết của người Công giáo

Tết là ngày lễ hội truyền thống đã có từ ngàn xưa. Ngày Tết có ý nghĩa thiêng liêng, mang đậm bản sắc dân tộc. Đã là người Việt Nam thì dù sống ở đâu, từ thành thị đến thôn quê, từ vùng đồng bằng đến vùng cao nguyên, dù ở trong nước hay đang sinh sống ở nước ngoài, dù thuộc những thành phần xã hội khác nhau, dù có chính kiến khác nhau, dù theo tín ngưỡng khác nhau… cũng đều coi Tết là một ngày trọng đại, cũng đều có chung một niềm hân hoan đón mừng ngày Tết. Tết đã đi vào tim óc mỗi một người Việt Nam.

Những người tương đối lớn tuổi đã từng sống ở miền Bắc đều rất quen thuộc với câu nói “Ba vua, lễ Nến, Tết đến sau lưng.” Theo thứ tự thời gian, sau lễ Ba vua (tức lễ Hiển Linh) đến lễ Nến (tức là lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh) rồi Tết đến ngay sau đó. Điều này cho thấy người Công giáo gắn bó với văn hoá dân tộc và sự tương quan giữa lịch đạo và lịch đời trong việc tính ngày Tết là điều dễ hiểu.
Được tạo bởi Blogger.