https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg





Trong văn hóa của tôi, khi một người đàn ông lấy vợ, anh ta biếu một con dê cho gia đình cô dâu. Đó là cách để nói “cám ơn” vì đã giữ cho người con gái còn trong trắng. Khi chồng của chị tôi trao tặng con dê cho mẹ tôi ở nhà chúng tôi ở Nigeria, anh nói “Con đã tìm được con gái của mẹ tại nhà” có nghĩa là anh biết chị tôi còn trong trắng. Tôi nhìn thấy cảnh này khi còn là một cô gái nhỏ và tự nhủ rằng những lời này một ngày nào đó sẽ được lập lại đối với tôi

Khi một nữ tu đến thăm làng chúng tôi, kế hoạch của tôi đã thay đổi. Tôi cảm thấy rằng Thiên Chúa đang mời gọi tôi trở thành một nữ tu. Mẹ tôi nói với tôi rằng điều đó sẽ xẩy ra nếu đó là ý Chúa. Trong khi tôi chờ đợi, tôi quyết định sống thật tốt, tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ bảo vệ tôi và đáp lại lời cầu nguyện của tôi.

Đêm tối tăm nhất của tôi


Sau trung học, Tôi bắt đầu tìm kiếm một công việc để có thể giúp đỡ mẹ tôi. Tôi hỏi người anh họ đang sống ở thành phố, để xem liệu anh có thể tìm cho tôi một công việc ở đó. Nhưng thay vì một công việc, anh kêu tôi tới làm người giúp việc cho gia đình anh. Tôi đồng ý, hy vọng rằng cuối cùng anh sẽ tìm được công việc cho tôi. Anh luôn hứa hẹn tìm cho tôi một công việc, nhưng anh không bao giời thực hiện lời hứa đó.



Cuộc hành trình của tôi từ vô gia cư đến với Giáo Hội



Từ tháng Tám năm 2002 đến tháng Sáu năm 2003, tôi sống và đi giữa những người vô danh trên đường phố. Tôi nói “vô danh” bởi vì khi bạn là người vô gia cư, phần còn lại của thế giới không thèm nhìn đến bạn.

Cuộc sống của tôi dần dần đi xuống sau một cuộc ly dị rất rối rắm. Rất nhanh, tôi phải chịu đựng hết mất mát này đến mất mát khác: hôn nhân, nhà cửa, công việc, lợi tức và ngay cả sức khỏe khi tôi phải trải qua chứng co giật động kinh. Tôi đã có một nơi để ở nhưng bởi vì tôi luôn cảm thấy ở nơi đó không an toàn, tôi đã bỏ ra đường phố.

Giống như nhiều người vô gia cư khác, tôi thường dùng một phần thời gian trong ngày trú ngụ trong một thư viện công cộng của thành phố. Ở đó, vào tháng Mười Một năm 2002, tôi băt đầu đọc về các thánh, xem lại những câu chuyện Kinh Thánh mà tôi đã yêu mến khi còn là một đứa trẻ. Trong lúc ngồi trong thư viện, tôi bất ngờ nảy ra một ý nghĩ rằng Thiên Chúa đang mời gọi tôi quay về với Giáo Hội Công Giáo – ngôi nhà thiêng liêng tôi đã phiêu bạt rất lâu.

Tôi đã dùng những tháng còn lại của mùa đông năm đó suy gẫm về những gì tôi đã đọc và suy nghĩ xem làm thế nào để trở về với Giáo Hội. Tâm hồn tôi đặc biệt bị thu hút bởi quyết định trở thành một linh mục của thánh Gioan Bosco và trí óc sáng suốt của Mẹ Têrêsa khi nói với các giám mục về việc thành lập dòng Thừa Sai Bác Ái. Hai vị thánh này – cùng với nhiều vị thánh khác – đã giúp tôi tập trung vào một điểm và chỉ cho tôi biết tôi cần phải làm gì để đưa cuộc sống của tôi trở lại.



Tương lai được nhìn thấy là tươi sáng đối với các môn đệ của Chúa Giêsu. Phêrô vừa mới tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và đã nhận chìa khóa nước trời. Chúa Giêsu đã hứa rằng ngay cả các cửa địa ngục cũng không thắng được các ông (Mt 16: 13- 20). Mọi việc dường như đang diễn tiến tốt đẹp. Tuy nhiên không lâu sau đó, Chúa Giêsu bắt đầu nói về cuộc khổ nạn và cái chết sắp đến của Ngài. Điều đó chắc chắn không phải là cái tương lai các ông mong đợi.


Chúng ta có thể tưởng tượng các môn đệ cảm thấy như thế nào khi lần đầu tiên Chúa Giêsu tiên đoán số phận đang chời đợi Ngài? Hoang mang, sốc, thậm chí tức giận. Làm sao Đấng Mêsia lại có thể bị từ bỏ và bị đóng đinh? Chính cái ý tưởng này đã làm Phêrô kinh hãi “Lạy trời đừng có chuyện đó, thưa Thầy” ông nói “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Nhưng Đức Giê-su đã trách mắng ông: “tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16: 22- 23).

Chúa Giêsu biết những gì đang dành cho Ngài. Ngài biết rằng để hoàn thành sứ mạng của Cha Ngài, Ngài sẽ phải chịu đau khổ như các tiên tri đã viết, và chết trên thập giá. Nhưng Ngài cũng tin tưởng rằng Cha Ngài sẽ nâng Ngài lên từ cõi chết. Chúa Giêsu đã cho các môn đệ một cái nhìn thoáng qua về tương lai của Ngài, một tương lai có lẽ sẽ đè nặng trên họ.





Đã có một thời tôi là một người Công giáo tốt. Tôi gia nhập nhóm trẻ và còn ghi danh vào một tiểu chủng viện ở Tây Ban Nha khi tôi mới 11 tuổi. Nhưng rồi qua thời gian tất cả đã biến mất. Vậy điều gì đã xẩy ra?

Nó bắt đầu với việc tôi nhận ra là mình thiếu tự do. Tôi đã nghĩ rằng sống với Chúa không cho phép tôi còn là tôi nữa. Tôi nghĩ Công giáo là một Giáo hội của “không”. Tôi thường đi nhà thờ để làm cho mẹ tôi vui. Tôi thực sự không tìm thấy câu trả lời tốt hơn. Và Thiên Chúa: Ngài ở đâu? Tôi có cảm nghiệm được lòng thương xót, tình yêu và sự tha thứ của Ngài? Tôi đã làm được khi tôi còn nhỏ nhưng không còn để ý hay nhớ gì nữa.

Vì vậy tôi rời tiểu chủng viện và đi học ở Madrid để trở thành một thầy giáo dậy Anh ngữ. Ước mơ lớn của tôi là đi du dịch khắp thế giới và được gặp rất nhiều người. Và ôi chao, những người tôi đã gặp!


Từ bỏ địa vị để theo Chúa Giêsu

Khi tôi là học sinh lớp cuối ở trường trung học tôi đã có lòng muốn vào một trường cao đẳng có uy tín, cách nhà chỉ ít giờ lái xe. Nhưng Thiên Chúa đã có ý định khác. Với lá thư từ chối đến với tôi trong nước mắt, thất vọng và với một chuỗi những quyết định khác, cuối cùng tôi đã vào một trường đại học ở gần nhà hơn, nơi tôi đã rơi vào tình yêu không những với một cộng đồng Công giáo sống động mà còn cả với người chồng của tôi bây giờ. Khi tôi nhìn lại thời gian ở trung học, tôi không thể tưởng tượng được một tình huống tốt hơn.

Có lẽ đó là lý do tại sao câu chuyện của một thiếu nữ người Ái Nhĩ Lan tên là Clare Crokett đã lôi cuốn tôi. Clare cũng nhận ra rằng kế hoạch của Thiên Chúa cho cuộc sống của Clare vượt xa với ý định riêng của cô. Là một phụ nữ trẻ được được kêu gọi đi vào đời sống tu trì là trật đường với nghề diễn xuất mới chớm nở trong Clare. Cuối cùng Clare đã khám phá ra niềm vui của việc đáp lại ân sủng về sự chuyển đổi lạ lùng – ân sủng mà Thiên Chúa ban cho mỗi người chúng ta.

Câu chuyện người đi nhờ xe


Đêm hôm đó là một đêm mưa bão trời tối đen như mực. Không. Đây không phải là sự khởi đầu của một câu chuyện kinh dị. Đó là sự khởi đầu của một câu chuyện đã diễn ra trong một đêm mưa bão tối trời. Đó là cái đêm mà một trận bão bất ngờ và nguy hiểm đang tấn công vào bờ biển New Jersey. Chồng tôi và tôi đang lái xe trong cơn mưa lớn, trên mặt đường thỉnh thoảng ánh lên những tia sáng cùng với những tiếng sấm sét nổ vang trên bầu trời. Qủa thật đêm hôm đó không phải là một đêm để đi ra ngoài và chúng tôi rất lo lắng mong được về nhà.

Lạy Đức Mẹ Guadalupe, cầu cho chúng con


Trong ngôi nhà thời thơ ấu của tôi có một bức tượng Đức Maria có đôi mắt dường như lúc nào cũng nhìn theo tôi mỗi lần tôi đi ngang qua bức tượng. Bà tôi nói đùa rằng Đức Maria luôn theo dõi tôi, vì vậy tôi phải sống cho thật tốt.

Ở trong trường học Công giáo người ta nhấn mạnh rằng Đức Maria là người hoàn hảo trong mọi phương diện bởi vì Người được thụ thai không nhiễm tội lỗi. Tôi nhìn bức tượng Đức Maria ở trường học mặc áo màu trắng và xanh, thật là đẹp, và tôi nghĩ về bản thân mình “Một người hoàn hảo không bao giờ có thể hiểu tôi”. Vì vậy khi lớn lên và bước vào tuổi trưởng thành tôi đã đi tìm kiếm mối quan hệ với Chúa Giêsu, Đấng có thể hiểu được những mất mát, đau đớn, niềm vui cũng như sự tức giận. Chúa Giêsu có thể hiểu tôi với tất cả những lỗi lầm và thiếu sót của tôi. Còn Maria? Chắc là không.

Người Công giáo và những tập tục ngày Tết


Tin, bài liên quan:  Tết của người Công giáo

Tết là ngày lễ hội truyền thống đã có từ ngàn xưa. Ngày Tết có ý nghĩa thiêng liêng, mang đậm bản sắc dân tộc. Đã là người Việt Nam thì dù sống ở đâu, từ thành thị đến thôn quê, từ vùng đồng bằng đến vùng cao nguyên, dù ở trong nước hay đang sinh sống ở nước ngoài, dù thuộc những thành phần xã hội khác nhau, dù có chính kiến khác nhau, dù theo tín ngưỡng khác nhau… cũng đều coi Tết là một ngày trọng đại, cũng đều có chung một niềm hân hoan đón mừng ngày Tết. Tết đã đi vào tim óc mỗi một người Việt Nam.

Những người tương đối lớn tuổi đã từng sống ở miền Bắc đều rất quen thuộc với câu nói “Ba vua, lễ Nến, Tết đến sau lưng.” Theo thứ tự thời gian, sau lễ Ba vua (tức lễ Hiển Linh) đến lễ Nến (tức là lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh) rồi Tết đến ngay sau đó. Điều này cho thấy người Công giáo gắn bó với văn hoá dân tộc và sự tương quan giữa lịch đạo và lịch đời trong việc tính ngày Tết là điều dễ hiểu.
Được tạo bởi Blogger.