Trong văn-học Công-giáo Việt Nam, chúng ta đã quen biết những bài Vãn, Kinh Sách, Truyện và Tuồng là những thể-loại đã xuất hiện từ thời mới có chữ quốc-ngữ từ những thế-kỷ XVIII, XIX. Thời trước 1975, các linh-mục Đỗ Bá Ái, Hồng Phúc, Vũ Minh Nghiễm, v.v. đã để lại nhiều bài viết và sách rao giảng Tin Mừng và truyện các Thánh; rồi sau 1975, các hồng y Nguyễn Văn Thuận, giám mục Bùi Tuần, v.v. đã có những tác-phẩm suy niệm, chia sẻ về đức tin, giảng về Tin Mừng, về sống đạo, linh-mục Chu Quang Minh với bộ sách tâm lý về hôn nhân và gia đình, LM Trần Cao Tường với nhiều bộ sách về nguồn đạo và Tin Mừng, v.v.

LM Nguyễn Tầm Thường xuất hiện cùng thời hoặc sau các vị vừa kể, nhưng đã đem lại một phấn khởi mới về học hỏi Tin Mừng, đã sử-dụng những hình thức hiện đại hơn: truyện ngắn, thơ, bút ký, nhật ký, suy niệm, và bài giảng trên mặt nhựa CD. Thi ca mảnh đất của tâm hồn, với hai tuyển tập Tình Thơ Thập Giá, Mùa Hoa Trên Thánh Giá Gỗ. Truyện ngắn với bố cục tinh tế để lý trí giải bày có hai tập Đường Về Thượng Trí 1995 và Tiếng Gọi Phiá Bên Trong 1999. Suy niệm và cẩu nguyện để tâm linh siêu thoát: hình thức đề tài có Nước Mắt Và Hạnh Phúc 1989, Con Biết Con Cần Chúa 1994; hình thức đoản khúc gồm 100 đề tài suy niệm và cầu nguyện: Viết Trong Tâm Hồn 1996, Mùa Chay Và Con Sâu Bướm 1997, Cô Đơn Và Sự Tự Do 2001, Đưòng Đi Một Mình 2005. Thể bút ký đã xuất bản Những Trang Nhật Ký Của Một Linh Mục 2002. CD có các bộ Tỉnh Thức, Thánh Thể, Bí Tích Hòa Giải, Tôi Là Ai; Đường Vào Tâm Linh với 15 đề tài suy niệm và cầu nguyện, v.v.

Ngày Tảo Mộ


Tôi đến đây thăm ngôi mộ của tôi. Ba năm trước người ta đưa tôi ra nghĩa trang này. Hôm ấy có người khóc. Chung quanh mộ bia tôi có hoa. Bốn năm ngày sau hoa mới tàn. Sau trận mưa, hoa mới rữa. Người coi nghĩa trang hốt hết đổ vào thùng rác. Rồi, thỉnh thoảng mộ tôi vẫn có hoa. Những cánh hoa lẻ tẻ trong lòng một vài người nhớ tôi. Không nhiều.

Hôm nay không còn thế nữa. Tôi đến đây khá sớm. Tôi hồi hộp không biết hôm nay thế nào. Tôi không biết mình sẽ gặp lại những ai. Hôm nay kỷ niệm ba năm ngày người ta chôn tôi. Tôi còn nhớ ba năm trước, cũng vào ngày này, có linh mục mặc áo lễ, có ca đoàn hát. Trước khi đến đây, tôi nôn nao không biết ngày hôm nay có những gì. Tôi hồi hộp.

NGÀY LỄ BẠC

hình minh họa

Tôi chết được 25 năm rồi. Hôm nay tôi trở lại tảo mộ lần thứ hai. Tôi gọi là Ngày Lễ Bạc.

Sau khi chết được ba năm. Tôi tảo mộ lần thứ nhất. Lần đó tôi kể trong tập sách Cô Ðơn và Sự Tự Do, đoản khúc số 59. Ngày đó mộ tôi không có hoa. Không có ai đến mộ tôi cả. Tôi đứng đó hồi hộp suốt buổi chiều. Mây xuống thấp, xám một hoàng hôn. Rồi trời tắt nắng phía sau hàng cây. Tôi còn nhớ rõ hôm ấy trời không gió. Nghĩa trang im lìm. Sau ba năm tôi chết, vẫn còn ít người nhớ và cầu nguyện cho tôi. Nhưng không ai ra nhìn mộ tôi.

Tôi biết nếu trở lại vào năm sau thì cũng thế. Thản nhiên như một cánh chuồn chuồn đậu hờ hững trên một bờ giậu thưa nào đó. Không có gì hồi hộp nữa nên tôi không trở lại. Ðợi 25 năm sau. Một kỷ niệm đặc biệt hơn. Ngày Lễ Bạc.

CON MUỖI

Thân tặng quý Anh Chị trong Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình.
Ghi nhớ mười năm thành lập phong trào 1987-1997


Lần này tôi sẽ viết một bức thư lâm ly để lại cho vợ, rồi đi! Tôi đang giận vợ tôi ghê lắm, vừa bắt đầu thảo lá thư thì con muỗi vo ve bay đến. Cái tật ấy của nàng đã bao lần “chích’’ tôi cũng giống như con muỗi đang vo ve rình mồi kia. Không được đâu, tôi sẽ đập một cái cho nó chết !

Hà! Hà! Con muỗi kia, mày đến vo ve phá rối vào lúc tao đang viết “tuyệt mệnh thư’’ hả. Tao sẽ thanh toán mày ! Tôi chuẩn bị tiêu diệt kẻ thù thì nghe tiếng nó than thở. “Hôm nay đói quá, đói thế này thì chết mất”. A! Thì ra con muỗi biết nói! Thú vị quá, tôi cúi nhìn se sẽ. Cái bụng nó xẹp lép, trong như giấy bóng kiếng. Nó đứng run run. Tội nghiệp hết sức vậy đó. “ Hôm nay bị xua đuổi quá, hu... hu... Chúa ơi... hu... hu...” A! Thì ra con muỗi đang khóc, nó lại biết kêu cả Chúa ơi nữa. Ai mà không trắc ẩn trước tiếng khóc thê lương như thế, nhất là những người có tâm hồn nghệ sĩ như tôi! 

Tôi liền nhẹ nhàng đưa cánh tay ra. Nó sáng mắt lên khi ngửi thấy da thịt tôi. Như tôi thèm một tô phở thơm hơi vào lúc đói. Rung đôi cánh, nhẹ một đường bay êm như thiên thần, con muỗi đáp xuống bãi đậu. “Xin Chúa cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày.’’ À, thì ra con muỗi đọc kinh trước bữa ăn. Con muỗi này lạ quá. Một tí xíu nữa là tôi gọi nàng đến mà xem rồi. Nhưng chợt nhớ ra là tôi đang viết tuyệt thư để lại cho vợ. Tôi lại thôi, hừ, đây cũng là cách tôi trả thù nàng, không cho nàng biết con muỗi kỳ lạ thế này trên cõi đời. Một mình tôi với con muỗi thôi!

Nhà thờ Phát Diệm


“Chúa ơi! Sao Cha xứ mình keo thế!’’ 
“Cha keo thì bà bếp cũng khổ, chả bao giờ được ăn miếng thịt!’’ 

Chuyện cha xứ hà tiện lại được đem ra làm đề tài. “Chả bao giờ mua sắm cái gì cả. Chắc cha phải có hàng trăm ngàn!’’ 
Một bà khác: “Có một thân một mình, chả mấy ngày không có lễ mồ bậc nhất! Lại còn mấy sào ruộng nhà xứ nữa!’’ 
Có giọng thêm vào: “Còn mấy cây xoài chung quanh nhà thờ để làm gì! Cứ tiền bán xoài năm nay thì cha cũng đã đủ tiêu cả năm!’’ 
Dựa lưng vào tường, bà quản giáo góp lời: “Mà lạy Chúa tôi! Bà bếp cũng khó chịu quá, cả rau cỏ cũng chẳng phải mua.’’ 
Chạy ra gốc cau nhổ miếng trầu, bà phó hội buông một câu sắc như dao: “Gớm! Ở với cha xứ keo như thế thì không chịu khó cũng chả được!’’ 
Mùa lúa gặt xong, không còn chuyện đầu làng cuối xóm, các bà quay về chuyện cha xứ.


Gian phòng không gì đáng vài trăm bạc. Chiếc bàn gỗ cạnh cửa sổ không sơn phết. Cánh tủ bị nứt một đường lớn, dán có thể chui qua. Tủ không bao giờ khoá nhưng cũng treo lủng lẳng một chiếc khoá sắt sét rỉ. Đôi giầy cất trên nóc tủ, chỉ đi vào những ngày lễ trọng. Cái giường gỗ mốc, chiếc gối đầu đan bằng tre mây cạnh chiếc mền có dấu hiệu hai bàn tay bắt nhau của Mỹ viện trợ cho dân di cư năm 1954. Chiếc mũ loại chủ đồn điền cao su người Pháp ngày xưa, móc vào cây đinh trên cột mùng. Chiếc đồng hồ quả quít tróc sơn với những con số La Mã, để ở cạnh chỗ mấy cuốn sách la tinh. Đáng giá nhất: Cái xe đạp.


TRANG HỒI KÝ CỦA TOÀ GIẢI TỘI

Ngày... tháng... năm...

Đã lâu không có ai vào đây, nhưng một Mùa Chay nọ, câu chuyện xảy ra.


Người thanh niên ngồi dưới cuối nhà thờ lâu lắm. Người ấy đến đây mấy lần, chỉ ngồi trong nhà thờ thôi, không vào đây. Tôi là toà giải tội lâu ngày không có người vào. Tôi cầu nguyện, tôi xin cho có một người vào đây với Chúa đi. Cây thánh giá treo trên tường cũng bụi bám, vắng thật vắng. Tôi cầu nguyện nhiều, và sau cùng, tôi thấy anh ta từ từ bỏ ghế ngồi đi lên. Lòng tôi hồi hộp cầu nguyện thêm, tôi xin cho anh đừng bỏ cuộc. Rồi, người thanh niên đến gần, ngó vào toà giải tội, ngại ngùng. Tôi lại lấy hết tâm hồn cầu nguyện cho anh. Dáng đi của người thanh niên vất vả, có ai kéo anh lại? Tôi cầu nguyện thêm, cầu nguyện thêm. Sau cùng, người thanh niên giơ tay đẩy nhẹ cánh cửa, bước vào.

Giới thiệu: "Con gái Việt phải đi lấy chồng Đài Loan đúng là một thảm trạng của nòi giống Việt! 'Thuê một con ở Philippines mỗi tháng phải trả bao nhiêu tiền mà không được làm tình. Như lão nhà đây là sướng nhất rồi đấy, rẻ chán!' Lm. Nguyễn Tầm Thường đã ghi lại lời họ nói với nhau như vậy trong thời gian làm việc tại Đài Bắc, thành một truyện ngắn trong tác phẩm Tiếng Gọi Phía Bên Trong. Truyện đã viết 10 năm về trước như những tiếng "thở ngắn", nay là những tiếng "thở dài", mà có thể còn dài hơn... 'Truyện ngắn trong chữ nghĩa mà dài như hơi thở của cõi làm người.' Bây giờ lại tới thảm cảnh đi lấy chồng Hàn quốc! Mẹ Việt Nam ơi!!! (Lm. Trần Cao Tường)


Chàng đạp xe qua ngõ nhà nàng đã mấy vòng, không muốn vào. Ngại. Hai lần qua, mới dựng chiếc xe vào gốc vú sữa, đã có tiếng trong nhà vọng ra: "Nó không có nhà". Từ hôm đó, chàng thấy ngại làm sao ấy. Quen nàng có tới nửa năm nay rồi thì phải. Tình yêu như những đám mây, có đó mà sao thấy mong manh. Không ai dám giơ tay bắt sợ vuột mất sẽ đau. Chàng linh cảm có chuyện gì chẳng lành đang xẩy ra trong gia đình nàng. Từ tháng nay nàng thay đổi, hỏi gì cũng không nói. Chỉ buồn. Chàng không còn vào nhà nàng chơi như xưa. Đạp xe qua ngõ vòng nữa. Không nhìn thấy nàng. Chỉ biết nhớ.


Lá thu về nhuộm đỏ ối cánh rừng nhỏ. Mây trắng lãng đãng bay về cuối nẻo trời xa. Người thanh niên ngồi ở ven đồi, trầm tư. Chàng đến đây khi sương thu chớm về. Những ngày đầu tiên trên đất lạ là những ngày lênh đênh nhất đối với chàng. Lo âu cho tương lai. nhớ thương quá khứ. Hiện tại thì vất vả. Gia đình chàng ở lại bên kia. Ra đi một mình. Chỉ riêng có giấc mơ mà chàng đang ấp ủ là người bạn song hành. Nhưng giấc mơ chẳng nuôi được chàng, mà chàng lại phải âu lo vì giấc mơ.
Được tạo bởi Blogger.