https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg




Như thói quen trong những ngày làm việc của mình, bác sĩ gây mê Néstor Ramírez Arrieta ở Colombia tận dụng mọi cơ hội để đọc Kinh Mân Côi. Hình ảnh bác sĩ Ramírez đang cầu nguyện với chuỗi Mân Côi trong tay trong những giây phút nghỉ ngơi ngắn ngủi là biểu tượng sống động của đức tin giữa thời khắc khó khăn.

Những ngày vừa qua, bức ảnh một bác sĩ với bộ đồ bảo hộ y tế đang cầu nguyện với chuỗi Mân Côi trong tay đã được chia sẻ rất nhiều và thu hút hàng ngàn lời bình luận trên các mạng xã hội. Đó là hình ảnh bác sĩ gây mê Néstor Ramírez Arrieta ở Colombia, được mục sư Luis Alberto Gallego chia sẻ. 

Linh mục Léthel: “Bị nhiễm coronavirus, gương của Đức Hồng y Thuận đã giúp tôi rất nhiều”

fr.zenit.org, Anita Bourdin, 2016-06-30 



Linh mục François-Marie Léthel, Dòng Camêlô nhặt phép © FML

“Cùng lúc với một số anh em khác trong cộng đoàn, tôi bị nhiễm coronavirus”, Linh mục François-Marie Léthel Dòng Camêlô nhặt phép gởi đến trang Zenit lời chứng đặc biệt về chức linh mục và bí tích Thánh Thể khi ngài nằm bệnh viện ở Rôma.

Đặc biệt ngài nói đến việc đọc các bài đọc thiêng liêng và hạnh các thánh trong giai đoạn cách ly, nhất là với Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận: “Tôi phải nói, tấm gương của Đức Hồng Y Văn Thuận, bậc Đáng Kính đã giúp tôi rất nhiều”.

Chứng từ này sẽ được đưa vào quyển sách mới của Linh mục François -Marie Léthel có tiêu đề “ Không có gì làm chúng ta xa Tình yêu của Chúa trong Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rien ne pourra nous séparer de l’Amour de Dieu en  Jésus-Christ Notre Seigneur), ngài lấy cảm hứng từ kinh nghiệm của những người đã được rửa tội.

Linh mục Léthel là thần học gia nước Pháp, giáo sư tại Học viện Giáo hoàng thần học, tác giả của nhiều bài báo và nghiên cứu thần học về các thánh (luận án tiến sĩ của ngài). Năm 2011 ngài giảng tĩnh tâm cho giáo hoàng và giáo triều.

Chứng từ của Linh mục  François-Marie Léthel, Dòng Camêlô nhặt phép, linh mục bị nhiễm Covid-19 và được lành

Tôi viết lời chứng này ở Rôma ngày chúa nhật 28 tháng 6, ngày Phục sinh của Chúa, ngày kính nhớ Thánh Irênê thành Lyon và ngày hôm trước ngày lễ hai Thánh Phêrô – Phaolô Tông đồ.

Cùng lúc với một số anh em trong cộng đoàn, tôi bị nhiễm coronavirus, dù chúng tôi đã cố gắng hết sức để giữ quy tắc về sức khỏe. Vào tối ngày 8 tháng 6, tôi cảm thấy rất đau và xe cứu thương chở tôi đến phòng cấp cứu bệnh viện Gemelli, nơi Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã nhập viện sau vụ tấn công năm 1981. Sáng ngày 9-6, tôi được chuyển đến khoa Columbus, khu vực Covid của bệnh viện Gemelli. Tôi bị cô lập hoàn toàn ở đây trong vòng 17 ngày, tôi không ra khỏi phòng cho đến khi xuất viện ngày 25 tháng 6, tôi hoàn toàn lành bệnh, không cần phải chăm sóc hay kiểm soát gì khác. Tôi cảm ơn Chúa Giêsu và Mẹ Maria về sự bình phục có phần phép lạ này với tuổi 72 nhiều nguy cơ của tôi!

Kể từ tháng 3, tôi đã viết một loạt các bài về bí tích Thánh Thể sống trong thời gian đại dịch này, đặc biệt chú ý đến sự đau lòng của giáo dân không được rước lễ, đặc biệt là ở Ý và Pháp. Sự thiếu thốn này không may lại thường được gọi là “nhịn chay Thánh Thể” do việc lạm dụng dùng biểu thức truyền thống, theo ý thức hệ năm 1968 để chống lại việc rước lễ hàng ngày. Các bài viết của tôi đã được trang Zenit đăng trong ấn bản tiếng Ý và tiếng Pháp.

Bây giờ, trong tháng 6 này, Chúa Giêsu đã ban cho tôi ơn, trong tư cách linh mục được tham dự sâu đậm hơn trong thử thách lớn lao của toàn nhân loại, và lại đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm chức linh mục của tôi, ngày chúa nhật 21 tháng 6 năm nay. Tôi cảm thấy gần gũi hơn với tất cả những ai bệnh, đặc biệt với các linh mục bị nhiễm khác (nhiều linh mục đã qua đời ở Ý). Vì thế tôi đã mừng kỷ niệm này trong cô đơn hoàn toàn, tôi dâng lễ một mình trong phòng. Chúa nhật trước là lễ Mình Máu Thánh Chúa, tôi còn ở bệnh viện. Tôi có thể dâng thánh lễ mỗi ngày, dù có những lúc tôi rất đau, trong những ngày đầu nhập viện, tôi ngồi trên mép giường, trước bàn cạnh giường làm thành bàn thờ.

Tôi phải nói tấm gương của hồng y Thuận đã giúp tôi rất nhiều. Tôi có viết một bài viết ngắn có tựa đề “Con mang Chúa theo con ngày đêm”, linh đạo Thánh Thể của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận (có đăng trên trang Zenit). Trong thực tế, khi ở trong tù, ngài dâng thánh lễ trong cô độc, trong cực kỳ khó nghèo, ngài luôn mang trong túi áo một mẫu bánh thánh để kéo dài giờ chầu Thánh Thể, “sức mạnh duy nhất của ngài là Mình Thánh Chúa”. Theo gương ngài, tôi cử hành Thánh lễ hàng ngày cách đơn giản nhất, ngày đầu tiên tôi để dành một miếng bánh thánh nhỏ tôi cất trong hộp, tôi nói với Chúa Giêsu: “Con mang Chúa theo con ngày đêm”.

Vài năm trước hồng y Thuận, Nữ tỳ Vera Grita của Chúa, một giáo dân tận hiến, đồng huấn luyện viên Dòng Salê, đã sống kinh nghiệm thần nghiệm rất đẹp về sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, Đấng mong muốn chúng ta là “Nhà tạm sống”. Tôi cũng có viết một bài ngắn Vera Grita, nhà thần nghiệm của bí tích Thánh Thể” trong cuộc khủng hoảng lớn năm 1968. Bà đã hiệp thông sâu đậm với Đức Phaolô VI trong năm đầy biến chuyển này, năm tôi khấn Dòng Camêlô. Tôi muốn nhắc lại Đức tin của Dân Chúa được Đức Phaolô VI đọc trong thánh lễ ngày 30 tháng 6 năm 1968.

Đối với tôi, đây là một kinh nghiệm mới và mạnh mẽ về sự thật của mầu nhiệm Thánh Thể và ân sủng chức tư tế của tôi. Đây không phải là cách thân mật hóa hay thiêng liêng cường điệu nhưng là sự kết hợp sâu sắc nhất với tất cả các anh em đang đau bệnh của tôi trên thế giới, trong sự hiệp thông với sự hy sinh cứu chuộc của Chúa Giêsu và liên kết với “Thân xác thật đã được Đức Trinh Nữ Maria sinh ra, người đã đau khổ và chịu nạn trên Thập giá vì loài người (Ave Verum). Là linh mục, tôi thực sự có thể làm cho Chúa Giêsu Đóng đinh và Phục sinh hiện diện nơi đau khổ của thể xác bệnh tật và đau khổ của tâm hồn cô đơn cùng cực khi không thể cho người bệnh rước lễ. Đó là công việc từ thiện mục vụ lớn nhất của tôi cho các bệnh nhân khác, và cũng cho các bác sĩ, y tá và tất cả những người chăm sóc chúng tôi với một lòng bác ái cao đẹp.

Tôi đã có kinh nghiệm sâu sắc đến như thế nào về việc không thể tách rời Thân thể thật của Chúa Giêsu và Lời của Ngài trong Kinh thánh mà tôi đọc liên lỉ trong những ngày này, đặc biệt là các Tin mừng và thư Thánh Phaolô, sách tiên tri I-sai và Diễm Ca, tôi cũng cầu nguyện với sách Phụng vụ Giờ kinh.

Ngoài Thánh Kinh, tôi còn hai quyển sách chính yếu từ ngày bắt đầu đi tu của tôi cách đây 52 năm: Câu chuyện của một tâm hồn của Thánh Têrêxa Hài Đồng và Chuyên luận về lòng sùng kính đích thực với Đức Trinh Nữ của Thánh Louis-Marie Grignion de Montfort. Tôi cũng có viết bài báo ngắn Sống với Chúa Giêsu trên Trái đất cũng như trên Trời theo Thánh Têrêxa Hài Đồng.

Tôi cũng đem theo tuyển tập sách của Thánh Jean Eudes. Hai ngày trước ngày kỷ niệm chịu chức của tôi là ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái tim Vô nhiễm Đức Mẹ. Tôi đã cầu nguyện với hai bài quan trọng nhất này: Lời hứa tử đạo và Giao ước với Đức Trinh Nữ Maria. Căn bệnh được sống trong sự hiệp thông với Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu là một hình thức tử đạo và tháng sáu là tháng tiêu biểu của các thánh tử đạo: Thánh Justinô, triết gia và tử đạo, Thánh Blandine và các vị tử đạo thành phố Lyon, các vị tử đạo của Uganda , Thánh Tôma Morô, Thánh Gioan tẩy giả, Thánh Irênê thành Lyon, Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ, các vị tử đạo đầu tiên của Giáo hội Rôma. Giao ước với Đức Trinh Nữ Maria là lời cầu nguyện Thánh hiến mà mỗi linh mục có thể thực hiện để hiến dâng trái tim mình, như trái tim của hiền phu, tình yêu duy nhất của Trái tim Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

Quyển sách cuối cùng tôi mang theo là tuyển tập các bài viết thiêng liêng của Vera Grita được các tu sĩ Dòng Salê xuất bản có tựa đề: Xin mang con đi (Portami con te, Torino, 2017, nxb. Elledici). Tôi đọc mỗi ngày, trải nghiệm theo một cách mới về chiều sâu và thời sự tính của linh đạo cao cả Thánh Thể và Thánh Mẫu, truyền giáo và linh mục. Kết hợp với Mẹ Maria, chia sẻ đức tin, hy vọng và tình yêu của Mẹ giúp chúng ta sống mật thiết và hiệp thông liên tục với Mình Máu Thánh Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Khi nào tôi cũng cầm tràng hạt trong tay.

Tôi không khi nào bật máy truyền hình, nhưng tôi dùng các phương tiện liên lạc khác như điện thoại thông minh, whatsapp và mạng điện tử để giữ liên lạc với anh em nhà dòng, với gia đình và bạn bè của tôi.

Với tôi, thời gian 17 ngày ở bệnh viện là thời gian tĩnh tâm đẹp nhất trong đời linh mục Dòng Camêlô của tôi. Tôi cầu nguyện từ sáng đến tối trong hình thức cầu nguyện mà Thánh Têrêxa Avila gọi là Hương nguyện (Oraison) và đó là sự hiệp thông không tách rời với Chúa Giêsu, và Chúa Ba ngôi, và liên tục cầu bàu cho Giáo hội và cho toàn thế giới.

Từ cửa sổ phòng, tôi thấy Vòm Đền thờ thánh Phêrô, tôi cầu nguyện nhiều cho Đức Phanxicô. Cùng với Thánh Têrêxa Hài Đồng rất thân thiết của ngài, tôi giang tay cầu nguyện như ông Môse cầu nguyện trên núi khi Dân Chúa đang chiến đấu dưới cánh đồng (Xh 17, 8-12) chia sẻ hy vọng vô bờ của Thánh Têrêxa cho sự cứu rỗi của tất cả các linh hồn. Nhưng tôi phải thú nhận, những ngày tĩnh tâm này mang nét của “dòng Camêlô!” Tôi may mắn dạy thần học ở học viện Chartreux do Thánh Bruno thành lập và cũng đã đi tĩnh tâm riêng ở Dòng Chartreux de Serra San Bruno ở Calabre, nơi Thánh Bruno qua đời. Thực tế là tôi “tu kín” trong phòng tôi như các tu sĩ Dòng Chartreux tu trong căn phòng nhỏ bé của họ!

Và cuối cùng tôi thấy được lòng bác ái của các bác sĩ, y tá và tất cả các nhân viên vào trong phòng tôi, họ mặc áo bảo vệ nặng nề nhất, làm công việc rất can đảm, luôn có hiểm nguy lây nhiễm. Trong các giây phút gặp gỡ ngắn hàng ngày, có một luồng điện rất mạnh chắc chắn đến từ sự Hiện diện của Chúa Giêsu và nhờ ơn chức thánh linh mục của tôi. Tất cả đều còn rất trẻ, nam cũng như nữ, với tất cả những người tôi có thể nói chuyện, tôi cầu nguyện cho họ, cho gia đình họ, xin Chúa Giêsu và Đức Mẹ bảo vệ họ. Tôi luôn cám ơn họ về tất cả mọi sự, về cả thức ăn rất ngon ở đây! Tôi cũng cám ơn cha tuyên úy bệnh viện, tôi xin cha rượu lễ và xin cha giải tội cho tôi. Vì không vào được lãnh vực Covid, cha đến gần cửa ra vào và ban phép giải cho tôi như các giám mục đã cho phép.

Tôi sống kinh nghiệm từ bỏ trong tinh thần cha con, vào “Bàn tay Chúa Cha”, Chúa Giêsu và Thánh Irênê, sống cảm nghiệm tuổi thơ thiêng liêng của Thánh Têrêxa Hài đồng, mong manh và lệ thuộc như một em bé. Trong nỗi bất an của tương lai, tôi thường đọc bài thơ Không có gì cho ngày hôm nay.

Tất cả những chuyện này, tôi không có công trạng gì. Tất cả được Chúa Giêsu và Mẹ Maria cho anh em tôi, để cùng đi với nhau trên con đường thánh thiện, tất cả đều là ơn sủng!

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài gốc tại đây 



Cuộc hành trình của tôi từ vô gia cư đến với Giáo Hội



Từ tháng Tám năm 2002 đến tháng Sáu năm 2003, tôi sống và đi giữa những người vô danh trên đường phố. Tôi nói “vô danh” bởi vì khi bạn là người vô gia cư, phần còn lại của thế giới không thèm nhìn đến bạn.

Cuộc sống của tôi dần dần đi xuống sau một cuộc ly dị rất rối rắm. Rất nhanh, tôi phải chịu đựng hết mất mát này đến mất mát khác: hôn nhân, nhà cửa, công việc, lợi tức và ngay cả sức khỏe khi tôi phải trải qua chứng co giật động kinh. Tôi đã có một nơi để ở nhưng bởi vì tôi luôn cảm thấy ở nơi đó không an toàn, tôi đã bỏ ra đường phố.

Giống như nhiều người vô gia cư khác, tôi thường dùng một phần thời gian trong ngày trú ngụ trong một thư viện công cộng của thành phố. Ở đó, vào tháng Mười Một năm 2002, tôi băt đầu đọc về các thánh, xem lại những câu chuyện Kinh Thánh mà tôi đã yêu mến khi còn là một đứa trẻ. Trong lúc ngồi trong thư viện, tôi bất ngờ nảy ra một ý nghĩ rằng Thiên Chúa đang mời gọi tôi quay về với Giáo Hội Công Giáo – ngôi nhà thiêng liêng tôi đã phiêu bạt rất lâu.

Tôi đã dùng những tháng còn lại của mùa đông năm đó suy gẫm về những gì tôi đã đọc và suy nghĩ xem làm thế nào để trở về với Giáo Hội. Tâm hồn tôi đặc biệt bị thu hút bởi quyết định trở thành một linh mục của thánh Gioan Bosco và trí óc sáng suốt của Mẹ Têrêsa khi nói với các giám mục về việc thành lập dòng Thừa Sai Bác Ái. Hai vị thánh này – cùng với nhiều vị thánh khác – đã giúp tôi tập trung vào một điểm và chỉ cho tôi biết tôi cần phải làm gì để đưa cuộc sống của tôi trở lại.

 


TTO - TP.HCM có một ca đoàn rất thú vị: bỏ tiền túi, cùng nhau tổ chức hàng trăm chuyến đi tới những nơi hẻo lánh, khó khăn nhất, không chỉ mang quà tặng mà còn mang tiếng hát xoa dịu nỗi vất vả, nhọc nhằn của những mảnh đời bất hạnh.



Ca đoàn Thông Vi Vu đi bằng xe công nông trong chuyến thiện nguyện ở Kon Tum - Ảnh: ĐĂNG PHÚ
Ca đoàn Thông Vi Vu đi bằng xe công nông trong chuyến thiện nguyện ở Kon Tum - Ảnh: ĐĂNG PHÚ

 VIỆT NAM NƠI CÓ TIẾNG GỌI CỦA CHÚA


Sáng ngày 15 tháng 6 năm 2020, người dân trong xóm lao động hẻm 243/48 đường Tôn Thất Thuyết, Sài gòn, tụ tập để tiễn đưa một người họ rất thương mến vừa nằm xuống. Có người quá xúc động không cầm đưc nước mắt. Và người họ thương là một ông Tây mà họ thường  gọi một cách thân mật : anh Bảy, chú Bảy, ông Bảy. Ông Tây đó sống trong khu xóm của họ đã lâu năm, từ trước biến cố tháng 4-1975. Làm sao không thương ông được, ông nói tiếng Việt như họ, ăn uống đạm bạc như họ, làm việc lao động vất vả như họ, và ông luôn luôn chuyện trò thăm hỏi họ với một nụời hiền lành.





Đã có một thời tôi là một người Công giáo tốt. Tôi gia nhập nhóm trẻ và còn ghi danh vào một tiểu chủng viện ở Tây Ban Nha khi tôi mới 11 tuổi. Nhưng rồi qua thời gian tất cả đã biến mất. Vậy điều gì đã xẩy ra?

Nó bắt đầu với việc tôi nhận ra là mình thiếu tự do. Tôi đã nghĩ rằng sống với Chúa không cho phép tôi còn là tôi nữa. Tôi nghĩ Công giáo là một Giáo hội của “không”. Tôi thường đi nhà thờ để làm cho mẹ tôi vui. Tôi thực sự không tìm thấy câu trả lời tốt hơn. Và Thiên Chúa: Ngài ở đâu? Tôi có cảm nghiệm được lòng thương xót, tình yêu và sự tha thứ của Ngài? Tôi đã làm được khi tôi còn nhỏ nhưng không còn để ý hay nhớ gì nữa.

Vì vậy tôi rời tiểu chủng viện và đi học ở Madrid để trở thành một thầy giáo dậy Anh ngữ. Ước mơ lớn của tôi là đi du dịch khắp thế giới và được gặp rất nhiều người. Và ôi chao, những người tôi đã gặp!


Khi chúng ta nghe nói về một vị thánh, thường chúng ta nghĩ rằng người đó có một khả năng siêu nhiên nào đó, là một người “ngoại thường”. Nhưng thực tế có phải vậy không? Có thể nói là “đúng” hoặc “sai”. Đúng là bởi vì lúc này các vị thánh đã ở gần bên Thiên Chúa quyền năng. Họ đang hưởng phúc Thiên Đàng vĩnh cửu với Thiên Chúa, và họ có khả năng để chuyển cầu ơn lành cho chúng ta là những người đang ở thế gian này.

Bằng chứng là khi Giáo hội tôn phong một vị hiển thánh hoặc Á Thánh (Chân phước) thì đòi hỏi phải có một phép lạ được chứng thực bởi sự chuyển cầu của người ấy. Nhưng một khía cạnh khác, họ cũng là một con người như chúng ta, cũng ăn uống, cũng vui cũng buồn như chúng ta. Điều mà họ trở nên thánh là sự vượt qua những thách thức, cám dỗ để trung tín với Chúa suốt đời, đồng thời họ thể hiện lòng yêu người một cách tuyệt vời. Có thể nói các vị thánh là những người đã chu toàn giới răn quan trọng nhất mà Chúa Giêsu đã dạy: “Mến Chúa yêu người” (cf. Mt 22:37-40) một cách triệt để.


Từ bỏ địa vị để theo Chúa Giêsu

Khi tôi là học sinh lớp cuối ở trường trung học tôi đã có lòng muốn vào một trường cao đẳng có uy tín, cách nhà chỉ ít giờ lái xe. Nhưng Thiên Chúa đã có ý định khác. Với lá thư từ chối đến với tôi trong nước mắt, thất vọng và với một chuỗi những quyết định khác, cuối cùng tôi đã vào một trường đại học ở gần nhà hơn, nơi tôi đã rơi vào tình yêu không những với một cộng đồng Công giáo sống động mà còn cả với người chồng của tôi bây giờ. Khi tôi nhìn lại thời gian ở trung học, tôi không thể tưởng tượng được một tình huống tốt hơn.

Có lẽ đó là lý do tại sao câu chuyện của một thiếu nữ người Ái Nhĩ Lan tên là Clare Crokett đã lôi cuốn tôi. Clare cũng nhận ra rằng kế hoạch của Thiên Chúa cho cuộc sống của Clare vượt xa với ý định riêng của cô. Là một phụ nữ trẻ được được kêu gọi đi vào đời sống tu trì là trật đường với nghề diễn xuất mới chớm nở trong Clare. Cuối cùng Clare đã khám phá ra niềm vui của việc đáp lại ân sủng về sự chuyển đổi lạ lùng – ân sủng mà Thiên Chúa ban cho mỗi người chúng ta.


Ông Cố của người cùi - Đức Cha Jean Cassaigne

“Để ghi nhận những hy sinh to lớn của vị thừa sai và sự gắn bó của Ngài với đất nước Việt Nam, nhất là với những người CÙI bị xã hội ruồng bỏ, chúng tôi xin giới thiệu những trang sách đơn giản nhưng khá đầy đủ nầy do Cha Dòng Solesmes nỗi tiếng, Dom J.M Guilmard viết về cuộc đời của “ÔNG CỐ” của người cùi – ĐỨC CHA JEAN CASSAIGNE.


TẢI VỀ

Ông Cố - Đức Cha Jean Cassaigne pdf

Link dự phòng


Nguồn: http://vietcatholicsydney.net/vietcatho/newsdetail/Nhung-Cuon-Sach-Hay-51/Ong-Co-cua-nguoi-cui---Duc-Cha-Jean-Cassaigne-588/

ĐỨC TIN LÀ MỘT HỒNG ÂN


Thông thường người Công giáo là người được sinh ra trong gia đình mà cha mẹ, ông bà là người có đạo nên được rửa tội từ thuở nhỏ và lớn lên mỗi Chúa nhật đều đi nhà thờ, tham dự thánh lễ là một chuyện tự nhiên, bình thường. Hoặc khi lấy vợ, lấy chồng là người Công giáo, rồi học đạo, làm lễ ở nhà thờ cũng trở thành người Công giáo. Còn số người lớn cảm nhận về đạo Công giáo thấy yêu mến đạo, yêu mến Chúa Kitiô và Đức Mẹ Maria, rồi theo đạo cũng không phải là ít. Thường những người lớn tuổi này đến với nhà thờ Công giáo, đến với Chúa Giê-su và Đức Mẹ thông qua nhiều nguyên nhân thường do ảnh hưởng từ bạn bè là những người Công giáo sống đức tin, đạo hạnh hay ảnh hưởng từ gương sống của các Thầy cô dạy ở trung học hay Đại học hay gương lành của các tu sĩ, Linh mục hay các Sơ đã hy sinh đời mình phục vụ cho tha nhân, nhất là phục vụ cho những người kém may mắn như những người bị bịnh phong cùi, người tàn tật đui mù, bịnh sida v.v…hoặc có được ơn riêng, Thiên Chúa đánh động họ để họ tìm về cội nguồn yêu thương là Thiên Chúa tình yêu.

Khoảng năm 1533, đạo Thiên Chúa truyền bá sang nước ta cho đến ngày hôm nay, đã trải qua nhiều sự thăng trầm. Những lúc đạo Chúa bị bách hại dữ dội nhất lại thường nuôi dưởng và phát triển tinh thần bác ái, yêu thương và sản sinh ra nhiều vị Thánh tử đạo…

Bài này chỉ nói đến một vài nhân vật đã đến với Đạo Chúa như sự kiện bình thường nhưng ẩn tàng bên trong là một sự chuyển biến lâu dài về tâm lý, tình cảm, lý trí rất phức tạp của con người để đến hay nói đúng hơn trở về nguồn tình yêu vô biên của Thiên Chúa toàn năng.

Lạy Đức Mẹ Guadalupe, cầu cho chúng con


Trong ngôi nhà thời thơ ấu của tôi có một bức tượng Đức Maria có đôi mắt dường như lúc nào cũng nhìn theo tôi mỗi lần tôi đi ngang qua bức tượng. Bà tôi nói đùa rằng Đức Maria luôn theo dõi tôi, vì vậy tôi phải sống cho thật tốt.

Ở trong trường học Công giáo người ta nhấn mạnh rằng Đức Maria là người hoàn hảo trong mọi phương diện bởi vì Người được thụ thai không nhiễm tội lỗi. Tôi nhìn bức tượng Đức Maria ở trường học mặc áo màu trắng và xanh, thật là đẹp, và tôi nghĩ về bản thân mình “Một người hoàn hảo không bao giờ có thể hiểu tôi”. Vì vậy khi lớn lên và bước vào tuổi trưởng thành tôi đã đi tìm kiếm mối quan hệ với Chúa Giêsu, Đấng có thể hiểu được những mất mát, đau đớn, niềm vui cũng như sự tức giận. Chúa Giêsu có thể hiểu tôi với tất cả những lỗi lầm và thiếu sót của tôi. Còn Maria? Chắc là không.

Những vui buồn khi theo chân Chúa
( Kỷ niệm 15 năm ngày Thanh tẩy)

ảnh minh họa

Giáo Xứ Ðức Ki Tô Ngôi Lời Nhập Thể gởi 200 đô la vé số để mình mua hay bán giúp để lấy tiền xây dựng trường học dạy Việt ngữ và giáo lý cho con em người Việt Nam vùng Southwest, thành phố Houston Texas. Tôi có nhờ con gái Uyên Phương bán giùm 20 tờ (100 đô la). Cháu bán được 30 đô la còn lại 70 đô la tiền vé số chưa bán được.

Ðang khi nói về chuyện bán vé số cho nhà thờ với bà xã thì đứa con trai lớn xen vào nói:

“ Nhà thờ giàu quá rồi còn bán vé số gây quỹ làm gì nữa.? Ở nhà này tự nhiên ba lại vô đạo Chúa. Gia đình mình từ trước có ai là đạo Chúa đâu? Ba xét lại đi chỉ có ba là đạo Chúa mà thôi. Làm gì cứ phải đóng tiền cho nhà thờ hoài. Ông Cha thì cũng như người bình thường thôi chứ có gì mà phải khúm núm, ông Cha chỉ có khác hơn người thường là không có vợ chứ có gì hay hơn người ta đâu? Vậy mà sao nhiều người ( bổn đạo) lại tôn trọng quá đáng như vậy.? ”


Như tựa đề bài viết nầy, tôi chỉ mong ghi lại một vài ký ức về Linh Mục PX. Nguyễn Văn Thuận luôn sinh động trong cuộc sống hằng ngày của tôi. Những ngày tháng có nêu lên trong bài có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng chắc chắn sự việc đã xảy ra, nhất là đã thực sự chi phối những bước đi của đời tôi.

Khi đề nghị tôi góp nhặt những bài nói chuyện của ngài tại Strasbourg năm 1998 để thực hiện cuốn “Niềm vui sống đạo”, Ðức Tổng Giám Mục PX. Nguyễn Văn Thuận điện thoại nhắc tôi thế nầy: “Trúc nhớ đề ở đầu sách câu nầy của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II như lời gởi gắm riêng của cha cho người trẻ Việt Nam: Thành công lớn nhất của một cuộc đời là nên thánh”.

Hôm nay, khi ngồi viết lại một vài kỷ niệm gặp gỡ Linh Mục PX. Nguyễn Văn Thuận trong đời mình, tôi thâm tín việc nầy: một người thánh, một cuộc đời đáng gọi là thánh khi ta nghĩ đến người ấy thì tự nhiên ta muốn mình trở nên tốt hơn. Và đó là kinh nghiệm của tôi khi tưởng nhớ về vị Linh Mục nầy.


ƯỚC MƠ NHỎ, HẠNH PHÚC TO….

hình minh họa

“Chát! Chát!” , “Đi lễ nè… Đi lễ nè… Tao quýnh cho mày què giò luôn”.

Những tiếng đòn roi quất túi bụi kèm theo những tiếng la mắng chát chúa của người mẹ vào đứa con trai của mình đã phạm lỗi, mà theo người mẹ đó là tội nặng đáng đánh đòn: đi lễ nhà thờ.

Mỗi con người sinh ra đều có một ước mơ, những khát khao riêng. Thế nhưng có những chuyện lại chẳng như ý muốn của mình. Người ta nói đúng: không có gian khổ sao có vinh quang. Và câu nói ấy càng khắc họa rõ nét hơn trong câu chuyện của tôi, một con người nhỏ bé, đầy tội lỗi nhưng được Chúa đoái thương nhìn đến.

Được sinh ra trong một gia đình gồm 3 chị em. Là út và là con trai duy nhất nên có lẽ mọi tình thương ba mẹ đều giành cho tôi. Nhưng nào biết được điều đó, tôi cứ mãi vô tư chìm đắm trong các trò chơi cùng lũ bạn, xin tiền mẹ để lao vào các trò game online mà nào biết đó là tội. Căn nhà nhỏ nằm trong xóm đạo nhỏ bé, gần nhà nguyện của các nữ tu dòng Phaolô, vì thế mà bọn con nít hay đi lễ và chạy đến đó chơi. Còn ngại ngùng nên không dám theo chúng, nhưng đối với tôi tiếng chuông nhà nguyện thì chẳng xa lạ gì. Thật ra thì nội tôi là người có đạo đấy. Bác tôi, chú tôi thì có đạo. Chỉ có ba tôi thì nghe nói ông đã bỏ đạo được hơn 20 năm rồi vì giận ông cha xứ hồi ấy.

“PHẢI TẮM ĐỨC MẸ BẰNG RƯỢU THÔI EM À”

hình minh họa

Cha mất vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975, Hùng mới lên hai, Kiều còn trong bụng mẹ. Kiều vừa lên hai, năm 1978, thì Mẹ mất vì sốt rét rừng. Hai anh em mồ côi cha mẹ, phải sống nương nhờ ông bà ngoại những năm mất trắng mùa lúa lịch sử ở đất Bình Tuy này. Hoa cỏ le bỗng dưng nở rộ. Cả làng đi tuốt hạt le về làm gạo ăn qua ngày. Cả củ nần, củ chuối với chút muối hầm cũng bỗng ngon ra.

Kỷ niệm lớn nhất trong tuổi ấu thơ của Hùng Kiều là chuyện ông ngoại thất chí tang bồng, co ro ngồi trong góc nhà tăm tối, lần chuỗi thâu đêm. Nhà có cái đèn hột vịt nhưng chỉ thắp được một lúc rồi tắt đi, để dành cho ngày mai thắp tiếp. “Dầu lửa quý lắm, không dễ gì mua được một lít mà để dành. Mà cũng không có tiền để mua hẳn một lít đâu con ạ”. Ông Ngoại nói.

Ngày có trí khôn, ông ngoại bảo Hùng Kiều lần chuỗi với ông trước khi ngủ. Tượng Đức Mẹ để trên đầu giường. Lần chuỗi xong, hai đứa đi ngủ, ông ngoại ôm tượng Đức Mẹ để nằm một bên gối, lấy tấm khăn phủ lại. Hùng nhớ ông ngoại thường nói: “đã Ngụy rồi mà còn Có Đạo nữa, khó lắm con. Thôi thì cất giấu đi để mai sau sẽ trưng bày…” (một câu kinh cũ trong sách mục lục giáo phận Quy Nhơn)

Nghe Hùng kể đến đây, tôi bỗng liên tưởng đến một mùa chay không chỉ của gia đình ông ngoại Hùng Kiều mà còn là mùa chay của đất nước… Và còn hơn thế nữa một Mùa Chịu Nạn chẳng khác gì Tuần Thương Khó của Chúa Giê-su. Nhà thờ không có Linh Mục, không có Thánh Lễ. Con chiên nươm nướp lo sợ đến toát mồ hôi máu như đêm trong vườn dầu…

BỐN MƯƠI LĂM - MỘT DÒNG LỆ

(Câu chuyện về phép lạ của Đức Mẹ La Vang!)


LTS: Bà Lê Tín Hương hiện ở California, là nhạc sĩ, cũng là nhà văn, qua cha cố Trọng đang nghỉ hưu tại Orange County, California, gởi cho chúng tôi câu chuyện về Ơn Lạ của Mẹ Lavang ban cho gia đình bà cách đây 40 năm. Xin mời bạn đọc theo dõi. "Về bên Mẹ Lavang" chân thành cám ơn tác giả.

Gia đình Cô ta là Phật Tử thuần thành. Cô kể lại như sau:

Tôi rời nhà lúc sáu giờ sáng Chủ Nhật. Lái xe trong cơn mưa tầm tã, trên con đường dài vẫn còn mù mờ tối của một buổi sáng mùa đông lạnh, đối với tôi là một việc làm gần như rất hiếm hoi.

Ngày cuối tuần, nhất là những sáng trời mưa, tôi vẫn có cái thú rúc trong chăn và nằm nướng. Cây đàn Tây Ban Cầm được gác sẵn bên góc đường để tôi có thể với tay kéo lên bất cứ lúc nào, và ngồi dậy tựa lưng vào thành giường nhã hứng... Những dòng nhạc về mưa, về thân phận lúc đó lại có cơ hội tiếng thăng tiếng trầm đến với cuộc đời...

ÔNG JEAN VANIER (1928-2019)
Sáng lập tổ chức Cầu Vồng (L’Arche) qua đời



Ông Jean Vanier, sáng lập ra 2 tổ chức “Cầu Vồng” (L'Arche, 1964) và ‘‘Niềm Tin và Ánh Sáng’’ (Foi et Lumière, 1971) nâng đỡ những người khuyết tật, qua đời tại bệnh viện Jeanne Garnier, Paris, đêm 6.5.2019, ung thư, hưởng thọ 90 tuổi. Người công giáo hãnh diện, ông như Mẹ Teresa Calcutta, Abbé Pierre và Sr Emmanuelle. Và giới truyền thông công giáo gọi ông Jean Vanier là ‘‘Vị Thánh Sống’’ phục vụ người khuyết tật, đã qua đời.

CON NGƯỜI CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Ông Jean Vanier sinh tại Genève, Thụy Sỹ, ngày10. 9. 1928. Thuộc gia đình ngoại giao, Canada. Là con trong gia đình 5 người, Cha mẹ là Georges Pauline Vanier. Lớn lên tại Pháp cho tới 1940, gia đình chạy qua Canada, vì Đức quốc xã. Mới 20 tuổi theo Hải quân Hoàng Gia Anh và học tại học viện Hải Quân Anh. Tốt nghiệp, phục vụ cho nghành Hải quân Anh lẫn Canada. Từ 1945, nghỉ phép cùng mẹ, Jean làm việc tại gare xe lửa Paris, giúp thương gia đình phế binh, ở tù ra. Ông mổ tả họ từ xe ra, như bộ xương cách trí, rách tả tơi, run run, còn sợ hãi và đầy lo lắng. Từ đây, ông có ý nghĩ bỏ Hải Quân, dành cho hòa bình (thư viết cho Maggie Fergusson báo The Economist). Năm 1950, ông từ nhiệm, tiếp tục học, lấy cử nhân, tại Paris. Tĩnh tâm, nhờ cha bạn, dòng Đa Minh, Thomas Philippe, linh hướng, ông bị gián đoạn học làm linh mục. Lỡ cơ hội làm linh mục, ông học thêm có tiến sỹ Triết của Instituit Catholique de Paris, 1962, với luận án : ‘‘Le gout du bonheur : au fondement de la route avec Socrate’’ (Ý niệm hạnh phúc của Aristote). Năm 1963, có thời gian ngụ trong ẩn tu Fatima, dạy học cho đại học St Michel ở Toronto, Canada. Cũng năm này, Noel, Jean Vanier đến thăm viện tâm thần do cha Thomas Philippe làm tuyên úy. Các em ở đây sống ngặt nghèo, coi như người khùng, bị khóa kín, chỉ ngủ trưa 2 tiếng. Từ đó, Jean Vanier có ý nghĩ lập ra các trung tâm nuôi trẻ khuyết tật.



“Tôi rất may mắn: một gia đình luôn ở bên cạnh tôi, tôi có nhiều bạn bè… ” Jeanne Pelat. Jeanne Pelat và gia đình của cô, cha mẹ và anh trai, em trai. © Eric Flogny

pelerin.com,Sabine Harreau, 2015-12-03


Bị liệt cơ, cô Jeanne Pelat là người quen thuộc với chương trình Téléthon gây quỹ trên truyền hình. Vừa mới 22 tuổi, cô cho biết, cô chọn đời sống tu trì.

Từ còn nhỏ, Jeanne Pelat đã ở trên sàn quay truyền hình để gây quỹ giúp các bệnh hiếm và các bệnh thần kinh bắp. Ngày 16 tháng 10-2018, cô vào Dòng Đi Viếng. Năm 2015 nhân dịp cô ra mắt sách Kháng cự! (Résiste!) báo Pèlerin đã có buổi phỏng vấn cô, cô nói về bệnh của mình và niềm vui sống.

Cô Jeanne Pelat cho biết, cô quyết định đi tu khi cô tham dự ngày hành hương Mân côi ở Lộ Đức.

Chú thích: (*) Tiêu đề do VTCG đặt

hình minh họa

Lão Thiện, cái tên mà em hay gọi anh, mỗi lần chúng ta gặp nhau.

Anh,

Bây giờ em biết anh rất đau đớn bởi căn bệnh quái ác đang gặp cạp thân thể anh...

Anh,

Ngày 5.3.2013, em nhận xứ, anh hiện diện với em. Em thì lo lắng.....trăm bề.....vì em mới là linh mục, nhận một xứ mà 70 năm không có linh mục sao không lo được. Nỗi lo hiện rõ trên khuôn mặt to đen của em......

Còn Anh thì khác - khuôn mặt chữ điền, thân hình anh cao to vạm vỡ; ai cũng nói anh như đang phát khởi của một người vừa có tâm, vừa có tầm. ...đúng như anh.

NGƯỜI MỤC TỬ ĐÁNG KÍNH TOẢ HƯƠNG THƠM LÀM ĐẸP CHO ĐỜI


Thiên đàng thêm một bông hoa
Toả hương thơm ngát bên Cha Nhân Lành.

Hôm nay là lễ tuần bảy đúng một tuần kể từ ngày Cha vĩnh biệt thế gian về với Chúa. Qua thánh lễ này, con càu xin Chúa thương đón nhận linh hồn Cha Giuse vào hưởng hạnh phúc trong Nước Trời.

Nhớ lại năm 1995 lần đầu tiên con được gặp Cha ở giáo xứ Lãng Điền, Anh Sơn Nghệ An. Nhờ một ân nhân ở Mỹ qua trung gian một cựu đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế ở Sàigon đã gửi một toa hàng ra ga Huế, hầu hết là quần áo mới và đồ dùng gia đình, để giúp người nghèo. Nhân đó, con đã xin họ chia sẻ một phần cho bà con nghèo ở Miền Tây Nghệ An, đặc biệt là bà con dân tộc thiểu số, nơi Cha đang phụ trách.

Nhận được tin Cha mừng lắm và bảo con bắt xe đò chở hàng về ngã 3 Diễn Châu có người đón và phụ áp tải chuyển xe đò về thị trấn Anh Sơn rồi cho người lấy xe máy lần lượt thay nhau chở về nhà xứ. Sáng hôm sau là ngày Chúa nhật bà con dân tộc kéo đến rất đông, Cha bảo con phát quà cho họ và Cha đã cho họ ăn no nê, để trở về bản làng trước khi trời tối. Cha đã “chạnh lòng thương” như Chúa Giêsu: “Ta không muốn cho họ về bụng đói, sợ họ té xỉu dọc đàng". (Mt 15:32).

Được tạo bởi Blogger.