* Ông Bảy Vé Số

Không ai biết tên ông, chỉ biết ông thứ bảy. Ông bán vé số dạo, nên người ta gọi ông là ông Bảy Vé Số. Sáng Chúa Nhật, như mọi ngày, khi tan lễ, ông mở đầu một ngày bằng ly xây chừng ở quán cà phê Không Tên cuối nhà thờ, bên kia đường. Hôm nay cũng như mọi ngày, khi “trà dư, cà phê hậu”, ông cười đau cười đớn:

– Ông bà mình đã bảo: “Con đàn, cháu độc”. Tía tui có chẵn mười người con, trong khi tui được mỗn thằng cu Thanh Giang thì vợ tui chết. Tui bán vé số lấy tiền nuôi con ăn học. Vô đại học, nó phải lòng con bé Thanh Hà cùng lớp, cùng tuổi con trâu, người trên kênh, theo đạo Chúa. Chúng nó lấy nhau, bên nhà gái không đòi hỏi xu teng cắc bạc nào nhưng một mực đòi thằng Thanh Giang phải trở lại đạo. Thật ra từ xưa đến nay nhà tui có theo đạo nào đâu mà trở đi trở lại? Mình chỉ bắt chước người ta nhang đèn hương khói, cúng kiếng ông bà tổ tiên những ngày sóc vọng theo thói quen, ai làm sao mình làm vậy… Tui có hỏi anh chị sui gia: “Chưa nói chuyện bác ái, tui chỉ hỏi lẽ công bằng để đâu thôi? Sao anh chị không cho con Thanh Hà theo đạo nhà tui, mà lại bắt con tui theo đạo nhà anh chị?” Tui cứ ngỡ anh chị sui ngọng luôn. Ai ngờ hai người thay phiên nhau cho tui một bài dài gấp mấy lần ông cha giảng trên nhà thờ, nghe ngán tới cuống họng luôn… Họ tưởng tui cho con theo đạo là do họ thuyết phục. Không phải đâu. Thằng Thanh Giang theo đạo chỉ để lấy vợ thôi. Mình thương con, mình phải chịu lép một bề ấy mà…


1.

Được tin ông chánh trương Khánh mất, ông Khanh nói với vợ là bà quản Minh:

– Tôi già rồi, yếu lắm, chẳng biết còn mất lúc nào. Bạn hữu chẳng còn mấy đứa, lại cứ rủ rê nhau mà đi. Bà làm ơn thu xếp để tôi đi dự đám tang, tiễn đưa thằng Khánh đến nơi yên nghỉ cuối cùng được không?

Bà quản tròn mắt:

– Người ta từng làm chánh trương hai khóa, ông cứ gọi trỏng trơ người ta là thằng, không được một tiếng ông chánh, ông trương, nghe chướng tai lắm… Mà ông muốn đi đám ư? Đường xá thì xa xôi, gần trong núi Sập cơ đấy. Lại thêm từ sau lễ Giáng Sinh tới giờ, nửa tháng trời nay rồi, trời rét đậm. Ông lại đang đau yếu, bệnh xương khớp, bác sĩ cấm mang vác nặng, cấm hết cờ bạc, rượu chè bia bọt, trai gái, thuốc sái. Bác sĩ còn cấm cả viếng xác người chết… Ông đi đám tang, nhiễm hơi lạnh thì khổ thân ông, khổ thân tôi, khổ cả nhà… Ông nghĩ xem, mình xin lễ, đọc kinh cầu nguyện cho ông chánh là được rồi.


CƠN BỆNH ƠN BAN

1. Ly thân

Trong Luận Ngữ, ông Khổng Khâu dạy: "Ngũ thập tri thiên mệnh", nghĩa là khi tới năm mươi tuổi, người ta có thể thông suốt chân lý của tạo hóa, tức là hiểu được mệnh của trời. Vậy mà tuy đã vào tuổi U70, nhưng tôi có biết được, hiểu được mệnh trời dành cho tôi thế nào đâu? Ngay như vợ tôi (người bạn đời bốn mươi năm trời má ấp vai kề, sinh cho tôi bốn đứa con, ba gái một trai, tôi có thể nhớ được rõ mồn một, đếm được vanh vách mười bốn nốt ruồi nhỏ to trên tấm thân mỏng mảnh, ngọc ngà, nuột nà, mĩ miều, không tì vết, mà nàng được Chúa thương ban), một con người cụ thể, một nhân vật sờ sờ ra đó, tôi còn không hiểu biết nổi, nói chi tới thiên với mệnh?

Chả là cưới nhau về, tôi lúc nào cũng kính trọng nàng, chắp cánh cho nàng, để nàng hoàn toàn tự do.


Họ là đôi vợ chồng hôn nhân khác đạo. Không biết giáo hội rộng ban ơn được phép chuẩn từ bao giờ, nhưng chắc là lâu rồi, ít nhất cũng từ thuở vua Bảo Đại với người đẹp Gò Công Nguyễn Hữu Thị Lan, tức Nam Phương hoàng hậu…

ảnh: dannews.info

Ngày ấy, ở các giáo x­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­ứ toàn tòng trên kênh, tình trạng hôn nhân khác đạo quả là hiếm hoi. Thế mà anh Lực, chị Thùy nên vợ thành chồng từ thuở “hai xoa ba đập”. Ngày ấy mọi sự đều khó khăn thiếu thốn. Họ làm gì có tiền mua­­­­­­­­ dép. Nhưng có tiền chăng nữa thì dép đâu mà mua?! Thế nên họ đi dép da người, da của chính mình, nghĩa là đi chân không, hay chân đất thì cũng thế. Vậy “hai xoa ba đập” là gì? Là gì ư? Là trước khi lên giường đi ngủ, người ta rửa chân giũ bụi bằng công thức xoa hai bàn chân vào nhau hai lần, đập hai bàn chân vào nhau ba lần, thế là bao nhiêu bụi bặm rơi rụng hết, lại sạch sẽ tinh tươm, không chừng còn thơm tho mùi cỏ dại, mùi lúa con gái, hương đồng gió nội nữa ấy chứ (?).

Rõ ràng đó là những năm khó khăn, thiếu đói, ăn bữa trước, lo bữa sau. Ấy vậy mà người ta cứ yêu nhau, cứ cưới vợ gả chồng, cứ sinh con đẻ cái.

HOÀNG LAN TỰ SỰ

Hình minh họa (Phim Phận Làm Dâu)


1. Con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đấy

Huy bị xe đụng, phải đi cấp cứu. Cả thời gian cấp cứu, phẫu thuật và hậu phẫu có đến cả tháng trời. Cả tháng anh hôn mê sâu, bất tỉnh nhân sự. Ăn, mặc, tắm, rửa, lau, chùi, giặt giũ, giường cứt chiếu đái cho anh, một mình tôi lo hết. Anh là con một, chỉ còn cha mẹ già, nên tôi nghiễm nhiên trở thành điều dưỡng riêng, một thứ ô sin không công cho anh. Được cái “yêu nhau trăm sự chẳng nề”, nên tôi “chẳng nề” chi hết. Nhất là một lần trong cơn mê sảng, anh quờ quạng cầm lấy tay tôi: “Hoàng Lan ơi! Anh nhớ em lắm, người yêu lý tưởng, người tình tuyệt vời của anh”. Một lần, phải, chỉ một lần ấy thôi, một câu nói thôi, từ trong vô thức của anh, đủ để tôi sẵn lòng hy sinh cả cuộc đời cho anh, chết cho anh còn được nữa kìa.


1- Quà tặng của Chúa

Anh là ca trưởng, lại là tay sô lô không thể thay thế. Còn tôi song ca với anh thì không ai chê được. Đến nỗi mùa Chay năm ấy, khi hát bài Giọt Lệ Sầu: “Lạy Chúa! Bao năm lưu lạc, nay con trở về…”, có lần cha xứ đã phải thốt lên:

– Mình đang cho rước lễ, chúng nó hát làm mình nổi da gà.

Thế rồi, người nói ra, kẻ nói vào, lại thêm “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, chúng tôi yêu nhau. Và như mơ ước của mọi đôi tình nhân trên cõi đời này, chúng tôi cưới nhau. Trước bàn thờ, khi trao nhau chiếc nhẫn cưới, tôi đã tạ ơn Chúa ban tặng anh, món quà quý báu nhất trần gian, cho tôi.

DẠY VÀ HỌC

Lớp học dành cho các em khiếm thính của các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt

1. Núi Thái, nước nguồn

Chị Huỳnh học hết lớp 12, có bằng tú tài nên những chàng trai quen biết trong xóm không ai dám sớ rớ. Anh Hải, học dưới chị hai lớp, để ý đến chị cũng chẳng dám mở lời, phải nói với mẹ, nhờ cậy người mai mối. Và lạ không? Sang thế kỷ 21 rồi vẫn còn có một cặp vợ chồng, thuộc diện “chồng cha vợ mẹ cưới cho”... Trong mắt chồng, chị Huỳnh đẹp lắm, đến nỗi dù kém chị ba tuổi, chị tuổi sửu, anh tuổi thìn thuộc tứ hành xung, thế mà cưới nhau về, anh mê tít, chẳng mấy khi xa chị được nửa ngày trời. Chị khéo ăn khéo ở nên bên ngoài nhìn vào, ai cũng phải nghĩ rằng bà mẹ chồng và cô con dâu tâm đầu ý hợp. Những ngày mới cưới, để lấy lòng mẹ chồng (cũng là để chinh phục chồng) chị Huỳnh đi thưa về gởi, chăm sóc cha mẹ chồng từng li từng tí, từ nhà trên, nhà dưới, ngoài ngõ, trong sân, từ miếng cơm, hớp nước đến tấm áo manh quần… Đi đến đâu, bà cũng khen (khen thật tình, nhá!) cô con dâu tuy cứng tuổi hơn chồng, nhưng được cái được người được nết.

Cho đến khi chị cấn thai. Chị đi siêu âm, kết quả là con gái đầu lòng, đang khi hai ông bà hết lòng mong một đứa cháu đích tôn để nối dõi tông đường. Cả hai ông bà đều không vui. Ông vốn là giáo viên môn Văn, phải an ủi bà, cũng là an ủi chính mình:
- Con nào không là con, cháu nào không là cháu? “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng” cơ mà! Tạ ơn Chúa thương ban.

Rồi cũng nguôi ngoai. Mọi sự đều nguôi ngoai, cho đến khi anh Hải dành hết thời giờ rảnh rỗi chăm sóc vợ ốm nghén, thì bà mẹ chồng có cảm tưởng như mình bị con trai bỏ lơ (Có khi nào mẹ chồng “ghen” với con dâu không, nhỉ?). Một đêm trời đã khuya, người ta nghe thấy bà ong óng chửi con trai:
- Cha tiên sư bố nhà anh! Anh được đó quên đăng, được vợ quên mẹ, được cái lỗ xỏ bỏ cái lỗ chui. Anh không biết rằng người xưa có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” hay sao?

Bà ví von có vần có điệu, nghĩa bóng nghĩa đen đủ cả, và vì đã gần nửa đêm, ông không chịu được, phải lên tiếng:
- Bà làm ơn ăn nói nhỏ nhẹ thôi, dễ nghe một chút đi nào, và vặn volume nhỏ xuống để khỏi làm phiền hàng xóm đang cần sự yên tĩnh nghỉ ngơi. Làm cha mẹ phải từ ái thì con cái mới hiếu đễ được!

Bà gào lên như “Hà Đông sư tử hống”:
- Ối! Giời ôi! Đất ôi! Cha ôi! Mẹ ôi! Cha nào con nấy, ông giống bố ông như đúc, không đi đâu mất giống. Lại còn từ với ái, hiếu với đễ!

Ông đành chịu, chùng giọng xuống, nhượng bộ như thể giữ được sự “tương kính như tân” xưa nay, như thể nhường nhịn vợ không khác gì lọt sàng xuống nia, chả mất đi đâu:
- Ừ thì thôi vậy. Tôi nói thật nhá! Các cụ ngày xưa, bậc cha mẹ ông bà ta trở lên tôi không dám chạm tới vì là bề trên. Các cụ thì như thế thật. Ngày trước thì đúng vậy. Nhưng thời nay ấy hả? Mở báo ra mà đọc, báo nào cũng được, các cha các mẹ thường ở hai thái cực đối nghịch. Người thì nuông chiều con quá mức, coi con cái là một thứ ông trời con, muốn gì được nấy...

Ông nói tiếp vừa nhỏ vừa trầm như một đấng tu mi nam tử sợ vợ chuyên nghiệp:
- Kẻ thì đối xử với con cái như súc vật: phá thai, giết con mình ngay từ trong trứng nước, lại còn chăn dắt (chăn thôi, không dắt) con mình như chăn súc vật, coi chúng như một thứ công cụ để kiếm tiền: gả bán con gái cho Tàu, Đài, Hàn, dùng con thơ đi ăn xin, bán vé số... Kiếm được tiền thì đánh đủ thứ: đánh bài, đánh bạc, đánh chén, thậm chí cả đánh... đĩ nữa kìa.

Ông nói thật nhỏ, cứ như sợ bà nghe thấy:
- Ngay như trong xứ đạo mình thôi, nạn kỳ thị con trai con gái, con dâu con rể, con nuôi con đẻ, con ghẻ con ruột, con riêng con chung… đầy ối ra đấy. Nói đâu xa, bà hãy nhìn lại chính mình đi. Bà và tôi, có mỗi mống con trai, thương yêu nó hết lòng. Nhưng chúng ta có đủ lương tâm ngay lành, đủ can đảm đối diện với Chúa, với chính mình mà vỗ ngực xưng mình là núi Thái, là nước nguồn đối với con được không?
- Ông đúng, đúng lắm. Nhưng nói ra cũng đau lắm…

- Sự thật mà. Không đau đâu phải sự thật?!
- Tôi hiểu rồi. Nghĩa là đối với phận làm con thì công ơn mẹ cha rõ ràng là nước nguồn, núi Thái. Còn đối với bậc cha mẹ thì phải nhìn lại mình, sống sao cho ra cha ra mẹ… phải không?

2. Thanh Hoa

Vợ chồng anh Hải đặt tên con gái là Thanh Hoa. Lúc sinh, con bé cân được hai ki-lô tám, được kể vào dạng khó nuôi. Sinh ra ốm yếu, đau bệnh những ba, bốn năm. Đi học mẫu giáo rồi lên tiểu học vẫn phải uống thuốc bắc từng chén mỗi ngày. Học hành toàn quay cóp thôi, và còn được cô chủ nhiệm gà bài cho nữa. Ấy thế mà do chạy theo thành tích, trường ganh đua với trường, lớp ganh đua với lớp, và cũng do thừa hưởng tí chút gen thông minh của ông nội, nó đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp huyện, lại là vô địch về vở sạch chữ đẹp cũng cấp huyện luôn. Gần ngày thi vở sạch chữ đẹp, cô Huê chủ nhiệm lớp từ 1A, 2A... tới 5 A thường đưa cho nó một cuốn tập mới tinh, giữ nó lại ngoài giờ, bảo nó chép lại các bài học từ đầu năm. Con bé nắn nót từng chữ, chăm sóc từng dòng, giữ gìn từng trang. Cuốn tập ấy sẽ được gởi đi thi, và bao giờ cũng được điểm cao.

Ấy vậy, nhưng anh Hải, chị Huỳnh còn muốn hơn thế, muốn con Thanh Hoa vẹn toàn mọi mặt (người ta còn gọi là con người toàn diện ấy mà). Nó được học ôi thôi đủ thứ. Nào là học bơi và Vovinam ở nhà thiếu nhi huyện; học đàn guitare và organ ở trung tâm Suối Nhạc; học vẽ tại nhà hội họa lừng danh Cây Cọ Vàng; chưa kể học lớp bồi dưỡng học sinh giỏi Văn, Toán, lại còn môn tiếng Anh nữa chứ... 
Dĩ nhiên học lớp giáo lý khai tâm để xưng tội rước lễ lần đầu phải là ưu tiên số một. Anh Hải, chị Huỳnh trước khi đi làm, và sau khi tan sở, phải thay nhau chạy vắt chân lên cổ mới chỉ kịp đón đưa con gái đi, về học. Có khi có những bài tập về nhà, con bé phải ngồi sau xe máy, kê cuốn vở lên lưng bố hay mẹ mà làm bài...

Tháng 11 năm học lớp Năm, con bé Thanh Hoa bị cảnh cáo dưới cờ vì vô lễ với cô hiệu trưởng. Lý do: Gặp cô hiệu trưởng, nó chỉ trố mắt nhìn, không bao giờ chào hỏi. Cô Huê đưa micro cho con bé và một tờ giấy cô vắt óc viết sẵn, nói về sự ân hận cùng quyết tâm trở thành trò ngoan của nó. Nó cầm micro, không nhìn giấy, nghĩ sao nói vậy, rõ ràng, đĩnh đạc từng tiếng:
- Em không và sẽ không bao giờ chào cô hiệu trưởng, vì cô hiệu trưởng là học trò của ông nội em nhưng cô chưa bao giờ chào hỏi ông nội em một tiếng.

Cô Huê không kịp giật micro lại, mặt méo xệch. Các thầy cô khác che miệng, cười khúc khích. Nhiều học sinh gào, rú. Sân trường rộn lên, ồn ào như vỡ chợ...

Cô Huê và lớp 5 A bị hạ bậc thi đua. Con bé Thanh Hoa bị đưa ra hội đồng kỷ luật. Anh Hải năn nỉ hết lời, con bé vẫn bị đuổi học.

3. Bóng tối

Ông bà nội, vợ chồng anh Hải, lên Phòng Giáo Dục, xin và nhờ xin cho con Thanh Hoa được tiếp tục học. Nghe nói ô dù của cô hiệu trưởng lớn lắm, nhưng người ta cũng sắp xếp để con bé học ở một trường khác gần nhất. Nhưng con bé một mực nghỉ học. Chẳng biết học của ai, ở đâu, nó nói với chị Huỳnh:
- Con sợ học lắm rồi. Bắt con đi học con sẽ tự tử cho mẹ coi.

Người ta thấy chị Huỳnh bưng mặt, khóc hu hu như một đứa trẻ vì buồn tủi.

4. Đốm lửa

Thấy con Thanh Hoa nghỉ học giáo lý, sơ Rosa tìm đến tận nhà anh chị Hải Huỳnh. Biết nó nghỉ học cả phổ thông, sơ xót xa:
- Con bé “ngon” thế mà học hành dở dang thì phí quá. Anh chị đẩy đưa sao đó cho nó đi học, bổ túc cũng được, không cần lên tới giáo sư tiến sĩ gì đâu, cho nó học nghề gì đó mà nó thích, như nấu ăn chẳng hạn. Sau này nó thành công và hạnh phúc với công việc mà nó chọn, thành người truyền cảm hứng cho mấy đứa bạn là tốt rồi...

Sơ cầm tay con bé:
- Con thích sau này làm gì nào?

Nó trả lời, không đắn đo, như đã suy nghĩ chín rồi:
- Con muốn làm ma sơ, được không?

Người ta thấy chị Huỳnh lại bưng mặt, khóc hu hu như một đứa trẻ vì vui mừng.


CỔ TÍCH THỜI NAY


Hình minh họa

1. Lời mời


Ông chánh trương Tân khệ nệ vác một bao năm mươi, leo cầu thang, lên lầu hai ký túc xá thăm con trai đang học năm bốn đại học sư phạm. Đổ ra nền nhà, toàn cây nhà lá vườn. Ông gọi anh Tấn:

- Cu ơi! Bố “nên”, mang tiền đóng học cho con, tiện thể có ít khoai “nang”, bắp ngô, cà pháo... để con ăn dần hay muốn “nàm” gì thì “nàm”.

Không hiểu do di truyền, hay do phong thủy, hay đất lề quê thói, mà đa số người làng ông chánh chỉ phát âm được phụ âm đầu “n”, không phát âm được “l". Ông chánh cũng vậy, làm cho các bạn cùng phòng của anh Tấn không nín cười được. Ông chánh có vẻ ngượng, còn anh Tấn có vẻ mắc cỡ vừa vì bố mình phát âm không chuẩn, và vừa vì ông gọi anh là “cu” như thuở anh còn bé, thuở đái dầm làm cho chăn chiếu ướt sũng, ướt dầm dề. Tuy vậy, chỉ trong vài chục giây anh lấy lại thế chủ động:

- Vậy đấy. Nhưng thử hỏi có bố đứa nào ngon hơn bố tao không? Này nhé! Mẹ tao mất, để lại chỉ mình tao. Bố tao đồng trinh thủ tiết, ở vậy nuôi con, đâu như bố thằng Hai, làm trùm khu hai nhiệm kỳ còn vợ nọ con kia, hay như bố thằng Ba đi tù vì tội đánh bạc, hay như...

CON TRÂU PHÁO

Hình minh họa


1. Con trâu nhà

Ngày ấy, ông Chín Hảo, người Mỹ Hòa Hưng về thăm ông chánh Ba trên kinh. Bên ấm trà Xuân Phát số 1, mang từ Long Xuyên về, ông Chín khề khà:

- Lạc nhà theo chó, lạc ngõ theo trâu. Con trâu là đầu cơ nghiệp, chú Ba ạ! Con trâu của chú tên Pháo phải không? Tui coi kỹ rồi. Con Pháo chín khoáy cửu long, đã khỏe lại hiền, chú chớ có dại mà mua qua bán lại, sạt nghiệp như chơi đó, ngheng!

Ông chánh chiêu một ngụm trà, chép chép miệng, rồi khà một tiềng dài:
- Ngày đó anh Chín mối lái, tậu con Pháo cho em mãi bên Cù Lao Giêng...

Ông Chín khà còn lớn tiếng hơn ông chánh:
- Ui da! Bậy, chú Ba bậy rồi. Cù Lao Ven chứ. Ven chứ không phải Giêng. Ai muốn nói sao thì nói, tui chỉ tin nội tui thôi. Nội tui kể đi kể lại nhiều lần, đúng sai không ai biết đặng: Ngày ấy bọn khách thương Nam Vang - Lục Tỉnh thường neo ghe gần cái cù lao ven sông chỗ giáp nước (mới có tên gọi họ Đầu Nước), chờ con nước lớn, nước ròng để đi ghe lên xuống cho xuôi chèo mát mái. Họ gọi cái cù lao ấy là Cù Lao Ven Sông, nhưng cù lao nào chẳng ven sông? Lâu dần, chữ sông rụng mất, còn Cù Lao Ven. Sau này người ta nói trại đi theo kiểu phát âm Nam Bộ thành Cù Lao Gieng. Gieng vô nghĩa, nên trại đi lần nữa thành Cù Lao Giêng. Như vậy, đúng ra phải kêu là Cù Lao Ven mới phải, phải không?



TÌNH KHÚC THÁNG NĂM


Tôi thưa với Mẹ:
- Mẹ ơi! Tháng Năm về, Tháng Hoa dâng Mẹ. Con là đứa con xa, rất xa về với Mẹ.

Rồi thôi. Câm lặng. Tôi chẳng biết nói gì.
Tôi nhìn lên Mẹ. Không gian và thời gian lắng đọng thành một. Đến nỗi tôi nghe thấy được tiếng nói với tôi từ ánh mắt Mẹ:

- Không xa đâu con ạ! Có lúc nào Mẹ không ở bên con?

Và tôi nghe được lời có khi là vô ngôn từ đáy lòng tôi:
- Sao con không nghe, không thấy?
- Con không nghe vì con bịt chặt tai con bằng những thanh âm xô bồ trần gian. Con không thấy vì con nhắm mắt, ngoảnh mặt đi đó thôi.



Bên giường, bốn người con trai gái có mặt đầy đủ. Con bé Bòn Bon vẫn không rời gấu váy mẹ. Chị Tư khoe con, “nịnh” bố:
- Chẳng biết nó có giống ông ngoại không, mà thông minh giỏi giang lắm, mới học xong lớp Lá, đã đọc thông viết thạo rồi.

Bà ngạc nhiên:
- Thật không? Thế thì cháu tôi giỏi quá. Lát nữa bà đưa sách cháu đọc cho cả nhà nghe, nhé!
- Dạ!


1- Thằng Lộc


Thằng Lộc bước xuống mí nước, lội ra khá xa, kính cẩn đặt bó hoa dã quỳ trên mặt biển:

- Xin Chúa cho hai linh hồn Phêrô được lên chốn nghỉ ngơi… Anh ơi! Em chào anh. Bố ơi! Con chào bố. Con đi.

Hôm qua, đúng một trăm ngày, kể từ khi ông Phước, bố thằng Lộc cùng anh rể nó ra khơi lần cuối cùng rồi không bao giờ trở về nữa.

Nhà nó ở một làng quê ven biển, trước mặt là biển, sau lưng là núi. Cảnh thiên nhiên thật hùng vĩ. Quê nó đẹp, đẹp lắm, đẹp đến nỗi có một nhà thơ nào đó, nó quên mất tên, đã tả quê nó:

“Hàng dừa chải tóc đón trăng,

Thuyền ai ăm ắp nắng vàng ngủ trưa,

Chở mây, khói, chở gió, mưa,

Tròng trành như một bài thơ lệch vần…”

Đó là vùng đất nghèo, “nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá”, nên “mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn”. Đã thế, trời lại còn “hành cơn lụt mỗi năm”. Mà chỉ có lụt thôi đâu? Còn bão nữa, mỗi năm mấy trận bão đổ bộ vào đây, tàn phá khủng khiếp… Làm gì có con thuyền nào chở nắng, khói, gió, mưa… và nhất là thơ nữa. Với nó, chỉ có những con thuyền chở lưới, cá, cùng với mồ hôi, nước mắt, đau thương, có khi là tang tóc; những con thuyền chở trai tráng trong làng ra biển khơi xa tít mờ, rồi chôn vùi phận người vào lòng biển…

Ở đây, nhiều người, khi từ giã cõi đời không có được một ngôi mộ đúng nghĩa. Ngôi mộ của họ là bụng cá, và nghĩa trang của họ là đại dương mênh mông kia… Còn ngày giỗ ư? Thường, nếu không có tin tức gì, người ta lấy ngày khởi hành ra khơi lần cuối làm ngày giỗ, như trường hợp bố nó và anh rể nó, chẳng hạn.

Mảnh đất nghèo đói, đau thương, gian khó ấy tuy không phải “địa linh sinh nhân kiệt” nhưng lại sản sinh ra và trui luyện nên những đứa con chịu thương chịu khó, rắn rỏi, giẻo dai như những thanh thép nguội. Nó bước lên bờ mà không một lần quay lại. Mẹ nó đã đứng đó, đón nó từ bao giờ:

-Con đọc kinh cho bố và anh con chưa?

Nó khẽ gật đầu, nhè nhẹ nắm tay mẹ. Bà dặn dò:

-Con đi xa. Mẹ không gần gũi dạy bảo con được. Con phải luôn luôn nhớ tới Chúa, nghe không? Con hứa đi.

Nó hứa. Bà giục giã nó:

-Rảo bước lên, con! Chú Ba chờ lâu rồi.

Chú Ba Đởm quê Ngọc Thuận, Giồng Riềng, bạn thân của bố nó. Ngày trước, hai người cùng học lớp Đệ nhất B trường trung học Lê Bảo Tịnh, cùng thi rớt Tú tài phần 2, cùng nhập ngũ theo lệnh tổng động viên, cùng là sĩ quan cấp úy ở một tiểu khu tỉnh lẻ, cùng ở chung một trại cải tạo tập trung, nên họ thân nhau như hai anh em ruột.

Trong một lần hiếm hoi có việc phải ra Rạch Giá, gặp bạn bè cũ từ thuở mài đũng quần trên ghế nhà trường, chú Ba tình cờ nghe tin dữ: anh Hai Phước, người anh kết nghĩa, người bạn chí thiết của chú mất tích ngoài khơi, chú cụ bị một mớ tiền, vội vã ra Trung viếng bạn, vừa đúng dịp giỗ bách nhật anh Hai.

Tối hôm qua, chú Ba đã bàn kỹ với gia đình chị Hai. Để mọi người yên tâm, chú hứa:

-Trước anh hồn anh Hai, em thề coi thằng Lộc như con.

Chú nói thêm:

-Xưa nay ở trong Nam chưa từng có ai chết đói. Mỗi năm em sẽ may cho nó hai bộ đồ, và gởi về cho chị số tiền ít nhất cũng khoảng nửa cây vàng hai mươi bốn. Chị yên tâm chưa?

Chị Hai ngập ngừng:

-Tôi tin chú. Tôi có nói gì về tiền bạc đâu! Có điều…, có điều…

-Điều chi, ạ?

-Chú coi nó như con, vậy là tôi yên lòng rồi. Nhưng chú biết đấy, gia đình tôi theo đạo Công Giáo…

-Mèng đéc ơi! Tưởng chi? Dưới đó có tới bốn nhà thờ lận: Hòa An, Xẻo Dầu, Kinh Tràm, Trảng Tranh. Mấy ông cố đạo dưới quê, em quen hết trơn à… Ủa! Mà chị có nhớ, hồi còn trong lính, có lần em tính vô đạo không? Ngày đó, em đã học giáo lý: giữ, tin, xin, chịu. Nhưng khi ông cha tuyên úy bảo: phải dẹp bàn thờ ông bà tổ tiên, em cự ổng, bỏ ý định theo đạo luôn…

Thế là sáng nay, thằng Lộc, chú bé mười bốn tuổi đầu, giã từ mẹ nó, giã từ chị gái nó, giã từ bốn đứa cháu mồ côi cha, giã từ làng xóm, giã từ tuổi thơ ngây…, theo chú Ba lên đường, xuôi Nam.



2- Anh Lộc



Sáng mùng ba tết, trời còn lảng vảng sương. Gã ngồi một mình trên chiếc ghế đá góc sân, dưới gốc mai còn đang nở hoa vàng trời, nhưng cũng đã rụng hoa vàng đất. Gã tủm tỉm cười một mình với mùa xuân đang về. Mùng ba tết, hôm nay, nếu tính theo lịch ta, là ngày giỗ người vợ thân yêu của gã, bà ngoại của con Kim Ngôn, đứa cháu ruột thịt duy nhất của gã. Nhưng hai ông cháu đã chọn giỗ những người thân trong gia đình theo lịch tây, nên ngày tết vẫn là ngày tết. Gã xuýt xoa, hít hà hương thơm của tách trà ô long mà một người bạn vong niên mới biếu gã. Gã lại cười một mình. Mùa xuân đất trời đã về. Con chim gáy treo ở hiên nhà gáy “cúc cu, cúc cu…” liên canh bất chỉ. Có phải đời vẫn đẹp, vẫn đáng yêu quá chừng không?

Bỗng một đoàn xe mô tô, có đến một chục chiếc, nẹt bô, rú ga, đánh võng, ào ào đua nhau chạy như bay ngay trước mặt gã. Nụ cười trên môi gã tắt lịm. Gã làu bàu:

– Tiên sư bố nhà chúng mày, quân mất dạy.



Người bạn vai anh của tôi, một tác giả chuyên viết về các đề tài luân lý đạo đức trong đạo ngoài đời, bảo:
– Anh em mình già rồi, chắc phải nghỉ viết thể loại văn nghị luận thôi. Phải đọc nhiều, nghiên cứu nhiều mới viết được, mệt quá!
Tôi mở lòng:
– Con ong làm mật, con tằm nhả tơ. Nhà Phật bảo đó là “Duyên, Nghiệp”. Nhà Đạo nói đó là “Ơn Gọi”. Bác không bỏ được đâu. Bỏ thì bác suốt ngày hát “cuộc đời vẫn buồn tênh, tình yêu vẫn buồn tênh” hay sao?
Anh cười, cởi mở:
– Mình sẽ nhảy qua viết truyện ngắn. Viết truyện ngắn dễ ẹc ấy mà, cứ phịa ra là xong…



Được tin ông cố bị đau ruột dư, phải nhập viện mổ khẩn cấp, cha phó phải về nhà gấp. Bộ máy nhà xứ khởi động nhanh chóng, chạy hết công suất. Cha xứ móc hầu bao đưa cho cha phó một chiếc phong bì mỏng, chắc bên trong toàn giấy bạc mệnh giá lớn:

– Cha cho tôi gởi lời thăm hỏi ông cố. Sáng mai, tôi sẽ dâng lễ cầu nguyện cho ngài…

Cha phó đang lúng búng nói lời cám ơn thì ông chánh trương ân cần:

– Cha có muốn con đi theo, giúp cha được việc gì chăng?

Ông phó nội bận tâm về công việc:

– Chúng con xin làm hết sức mình để tiến hành dạy giáo lý tân tòng và giáo lý hôn nhân những ngày cha vắng mặt.



Chiều hôm ấy, mấy năm rồi, tôi tỉ mỉ cắt xước mang rô cho mẹ. Cả tiếng đồng hồ sau, tôi lấy hết can đảm thủ thỉ:

– Mẹ ơi! Con lấy chồng.

Tôi chưa bao giờ thấy mẹ cười tươi đến thế:

– Hai mươi lăm tuổi đầu rồi, chứ còn bé bỏng gì? Thật lòng, mẹ mừng lắm. Mẹ chờ con nói câu ấy mấy năm nay rồi. Nhưng con lấy ai vậy? Sao không mời “người ta” đến nhà, ra mắt mẹ và ông nội?

– Mẹ có biết anh Ất con bác Giáp ngoài chợ không?

Mẹ mím môi, có vẻ suy nghĩ:

– Thằng Ất thì không, nhưng vợ chồng lão Giáp thì mẹ biết, giàu có, nhà cao, cửa rộng, nổi tiếng đại gia, chủ tiệm thuốc tây Từ Nhân ngoài chợ phải không?

Tôi gật đầu. Mẹ, mặt đỏ bừng, lắc đầu:

– Không được.

– Nhưng chúng con yêu nhau.

Cơn giận bốc lên ngùn ngụt, mẹ gào lên:

– Đã bảo không là không. Cha con mất sớm, trăm sự mẹ phải lo. Con lấy ai cũng được, bất cứ ai, miễn là không phải con cái nhà ấy. Mẹ nhắc lại, con có thể cưới bất cứ ai, dù cho đó là kẻ câm điếc đui què…




Người Nam bộ chúng tôi ít khi kêu tên khai sinh của nhau. Không biết từ bao giờ, chúng tôi kêu nhau bằng thứ, không có thứ nhất (cả) như ngoài Bắc, chỉ có thứ hai (lớn nhất), thứ ba, thứ tư… cuối cùng là thứ út. Ngày ấy, không có đôi vợ chồng nào bể kế hoạch, vì có kế hoạch đâu mà bể. Thế nên mới có những tên Đặng Văn Mười Một, Trần Văn Mười Hai, Nguyễn Văn Út Sót, Lâm Thị Út Mót, Lê Thị Út Em, Trần Thị Út Thêm, Huỳnh Thị Út Nữa…

Út Nữa là con của ông Út Tài Xế. Không ai biết tên thật của ông. Chỉ biết rằng ngày ấy ông chạy xe Lambro, rồi lên đời tậu con Daihatsu, chạy tuyến Sóc Ven – Minh Lương – Rạch Sỏi – Rạch Giá, nên người ta kêu ông là Út Tài Xế, từ đó ông chết tên luôn… Chị Út của Út Nữa chết sớm, nên cả nhà gọi Út Nữa là Út, vừa tiện, vừa gọn. Cha thứ út, con thứ út nên dù sinh sau đẻ muộn, vai vế của Út lớn lắm. Những đứa con của các anh Hai, chị Ba, anh Tư dù lớn tuổi hơn Út vẫn thuộc hàng con cháu. Không biết cả cái miền lục tỉnh này có vậy không, chứ riêng ở xã Định An, huyện Gò Quao này, hay ít ra ở nhà ông Út Tài Xế này, không có cô Út, dì Út, chị Út… mà chỉ có Út. Cha mẹ, các bác, cậu mợ, chú thím, dì dượng, hay các anh chị một điều Út, hai điều Út đã đành rồi, nhưng mấy đứa cháu lớn, nhỏ cũng chỉ kêu Út chỏng chơ thôi:



Con bé Minh Xuân toét mắt, thò lò mũi xanh ngày nào, hôm nay đẹp quá. Nó đẹp không phải vì suối tóc mây óng ả, chẳng phải vì cặp gò má phơn phớt hồng, cũng không phải vì đôi môi mọng đỏ như trái hồng đào cắt đôi, cũng không vì đôi mắt sáng long lanh, xanh biêng biếc, cặp kính cận 2,5 diop chẳng những không ảnh hưởng tới nhan sắc của nó mà còn có vẻ như tôn tạo nó thành người chững chạc, trí thức, có học. Nó đẹp, đơn giản vì nó vừa đến độ tuổi thanh xuân chín tới, trời cho như vậy, Chúa ban cho như vậy. Nó lại còn lộng lẫy vì hôm nay nó là cô dâu. Lúc cha chú rể cùng với mẹ cô dâu dẫn con đi chào bàn, chị Thùy mẹ nó hoan hỉ tới gần chỗ gã, nói với đôi trẻ cho mọi người nghe:

-Hai con chào ông ngoại đi. Không có ông, các con chẳng có ngày hôm nay đâu.

Thật ra giữa gã và mẹ con cô dâu không có chút máu mủ họ hàng nào. Gã pha trò:

-Thời nay, người Việt Nam mình ai cũng sính đồ ngoại. Trong khi lão, đồ nội 100%. Đương nhiên lão không là ông nội, cũng chẳng là ông ngoại. Ngại quá, ngại quá! Hay là cứ gọi lão là ông ngại được rồi… Con bé Minh Xuân được như hôm nay, lão mừng lắm. Mừng cho cháu Minh Xuân, cho hai cháu, cho hai họ và mừng riêng cho chị Thùy nữa.

Ồ nhưng mà, tại sao chị ấy lại nói: “không có ông, các con chẳng có ngày hôm nay đâu”? Gã chẳng cần nhớ lại, chẳng cần lục lọi ký ức, quá khứ cũng ào ạt hiện về.
Được tạo bởi Blogger.