(Tác phẩm Đất Mới)

(Đọc truyện dài Đất Mới của Song Nguyễn )

Giá trị của một tác phẩm văn chương trước hết là ở nội dung câu chuyện được kể, ở thái độ diễn ngôn của tác giả, và ở nghệ thuật kiến tạo tác phẩm (sử dụng ngôn ngữ, tổ chức cấu trúc truyện, lựa chọn bút pháp, cách khắc hoạ nhân vật; ở việc đặt ra và giải quyết những vấn đề của thời đại). Nhưng cốt lõi giá trị của tác phẩm là tư tưởng, tác phẩm thể hiện tư tưởng tiến bộ hay suy đồi.. Ngòai Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Cao Bá Quát, ở Việt Nam có rất ít “nhà văn tư tưởng”. Không có tư tưởng thì tác phẩm chỉ là một lớp vỏ chữ.

Những tác phẩm lớn, sống lâu bền trong lòng người đọc là nhờ nó chưá đựng những tư tưởng tiến bộ. Những người khốn khổ của V. Hugo, Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du… là những thí dụ.

Tư tưởng Nhân văn là nền tảng làm nên giá trị nghệ thuật của mọi thời đại.

I. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN TRUYỀN THỐNG

Tư tưởng Nhân văn đã có trong ý thức của dân tộc từ xa xưa, nó thấm nhuần trong mọi ứng xử giữa người với người. Người Việt coi trọng con người: “Người ta là hoa đất”, con người là Cái Đẹp của cuộc đời này. Sự sống là vô giá: ”Người sống hơn đống vàng”. Quan hệ người với người là quan hệ yêu thương: “Thương người như thể thương thân”.

Tư tưởng Nhân văn đặc biệt phát triển thành trào lưu nghệ thuật từ thời Phục Hưng [thế kỷ XV-XVII] ở phương Tây. Ðặc trưng của Chủ nghĩa Nhân văn là sự suy tôn con người, là sự khôi phục lại con người (hay tính người), và con người bao giờ cũng được coi là tốt đẹp (con người chí thiện). Con người được đặt vào trung tâm thế giới, được đặt lên ngôi cao nhất (con người chí tôn)(1).

Văn học và nghệ thuật thời đó đưa “chất người” vào “chất thần thánh”, biến đời sống thần thánh thành đời sống bình thường của con người. “Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài” (Shakespear). Các nhà Nhân văn Chủ nghĩa lấy câu của Terence, một nhà hài kịch La Mã làm phương châm: ”Tôi là một con người, không có cái gì có tính chất người lại xa lạ với tôi” (1b). Con người là một bộ phận của tự nhiên, sống và chết theo quy luật tự nhiên, vì thế phải trả con người về tự nhiên để nó phát triển theo tư nhiên (2). Chiến tranh phong kiến, chủ nghiã khổ hạnh, đàn áp tư tưởng là trái với tự nhiên, là nguồn gốc gây ra bất hạnh, xấu xa, tội lỗi trên thế giới. Chủ nghĩa Nhân Văn sau thời Phục Hưng được làm phong phú hơn bởi tư tưởng dân chủ thời Khai Sáng [Thế kỷ XVII-XVIII], ý thức đấu tranh giải phóng con người cuả chủ nghiã Marx và ý thức về tồn tại của Chủ nghiã Hiện sinh.

Nhưng vượt lên trên tất cả là tư tưởng Nhân văn Công giáo mà cội nguồn là Kinh Thánh. Kinh Thánh đem đến cho nhân loại cái nhìn về bản thể con người, về cõi người, về ý nghiã sự sống của con người. Con người là gì? Con người không chỉ là vật chất thụ tạo, mà con người được nâng lên khỏi mọi loài thụ tạo, mang bản thể cuả Thiên Chuá, được thánh hiến và ở trong Thiên Chuá. Không có cái nhìn nào về con người siêu việt như thế. Đức Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chuá Cha cho con người: “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta(Ga.17.19-21).

Kinh Thánh nói Con người nhưng không phải là “con người” trừu tượng mà là con người cụ thể, đó là những người nghèo khổ.

Mở đầu bài giảng Tám mối phúc, Đức Giêsu dạy rằng: ”Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chuá là của anh em”(Lc 6.20). Trong cuộc phán xét chung, Đức Vua đã thưởng cho những người được chúc phúc, vì “xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”.”Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt.25.35-40). Kinh Thánh đã trân trọng con người ở thân phận bé nhỏ và khốn khổ nhất, lấy hành động vì con người làm thang bậc giá trị để phán xét ở ngày cánh chung.

Từ cái nhìn con người như thế, Kinh Thánh lấy lòng yêu thương con người làm điều răn quan trọng. Khi được hỏi điều răn nào quan trọng nhất, Đức Giêsu trả lời:”Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.(Mt.22.37-39). Đức Giêsu còn dạy: “Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”(Mt. 5:44).

Nhưng yêu thương như thế nào? Dụ ngôn về người Samari tốt lành là một lời giải đáp cụ thể (Lc.10.29-37): Thấy người bị nạn bên đường, thầy Tư Tế bỏ đi, thầy Lêvi cũng tránh xa, còn người Samari lại gần “lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, ông ta lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói:” Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”.

Người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, theo luật Môise thì phải bị ném đá. Thế nhưng Đức Giêsu đã cứu chị và nói với chị: ”tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"(Ga.8.11). Một lần khác, cảm thương tình cảnh cuả chị em Mácta và Maria, Đức Giêsu đã khóc thương Lazarô (Ga.11.33). Người truyền cho Lazarô từ cõi chết sống lại. Lại một lần nữa, Đức Giêsu nói với các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31).

Qua những trường hợp cụ thể ấy, Kinh Thánh đã chỉ ra, tư tưởng nhân văn Công giáo thể hiện ở cái nhìn trân trọng, yêu thương những con người “bé nhỏ nhất” trong cuộc sống, giải thoát họ khỏi đau khổ, tội lỗi và sự chết.

Vấn đề Con Người, giải phóng Con Người, và hạnh phúc của Con Người là vấn đề của muôn thuở. Bi kịch của con người vẫn còn nguyên đó. Đau khổ, thù hận, tội lỗi, cái chết vẫn bao trùm lấy con người. Chỉ tư tưởng Nhân văn Công giáo mới soi rọi ánh sáng hy vọng cho cuộc đời này.
(Hình ảnh do tác giả cung cấp)

II. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN TRONG ĐẤT MỚI

Đất Mới là truyện dài gồm 3 tập, in lần thứ 2, Nxb Hội Nhà văn 2018.

Đất Mới kể chuyện Lm Phương Toàn. Ngài xuất thân là giáo sự Đại Chủng viện. Sau 30/4/1975, Đại Chủng viện đóng cửa, Lm Phương Toàn cùng giáo dân đi xây dựng “kinh tế mới”. Trước đó, nhiều lần được mời gọi đi định cư ở nước ngoài nhưng ngài từ chối. Ở vùng đất kinh tế mới, ngài đã cùng giáo dân chịu đựng bao nhiêu gian khổ, khó khăn, thử thách; bao nhiêu hiểm nguy, nhiều lần kề cận cái chết, tưởng không qua khỏi. Kiên định lý tưởng theo Chúa, sống chết cùng đoàn chiên, và tín thác hết lòng vào thánh ý Chúa, ngài đã vượt qua những bi kịch cá nhân và đưa được đoàn chiên tới đồng cỏ xanh tươi, có suối mát trong ngọt lành. Ngài đã biến đổi thế giới hiện thực (khu kinh tế mới) và thế giới tâm hồn của đoàn chiên thành vùng “đất mới của đức tin và lòng yêu thương”.

Trong Đất Mới, tư tưởng Nhân văn Công Giáo được thể hiện đậm nét ở nhân vật Lm Phương Toàn.

Cái nhìn của Lm Phương Toàn về con người là cái nhìn trân trọng, hiểu biết và cảm thông sâu sắc. Ngài nhìn thấy vẻ đẹp thánh trên khuôn mặt bà Tương Ấn khi bà qua đời, “khuôn mặt gầy gò xanh mét dần dần trở nên đầy đặn hồng hào, với một vẻ bình an lạ lùng” (tập 2, tr.45) Trong bịnh viện, Ngài sống chung với anh thanh niên bịnh nặng nằm bên cạnh mình, và với những bệnh nhân cùi xung quanh như bạn hữu, cùng sẻ chia phận người trong cảnh ngộ ngặt nghèo. Ngài cũng ẩn nhẫn và trân trọng với những người đã gây ra cho mình sự khốn khó trong lúc nằm viện (Chương 4, tập 1) hay lúc bị tạm giam 75 giờ (Chương 11, tập 3) và cả lúc ngài phải hạ mình trước bọn xã hội đen khi đi tìm đòan con bị giữ ở đồi vàng. Trong hoàn cảnh khó khăn và đầy lo âu của những năm tháng sau 1975 (đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng), tương lai chưa biết thế nào, lòng người không nguôi xao xuyến, cái nhìn về con người của Lm Phương Toàn là cái nhìn tỏa sáng tư tưởng Nhân văn. Cái nhìn ấy làm thăng hoa những khó khăn, đau khổ, hoạn nạn, và hóa giải những nghịch cảnh tưởng không thể vượt qua.

Thái độ chọn lựa đứng về phía người nghèo khổ cuả Lm Phương Toàn mới thực sự thể hiện tư tưởng Nhân văn Công giáo. Ngài đi kinh tế mới với giáo dân, cùng lao động, cùng sẻ chia những khó khăn vất vả (bão lụt, cháy nhà, sốt rét, voi rừng về phá rẫy, kẻ xấu phá hoại…). Ngài sống giữa mọi người, như mọi người, nhưng quan tâm đến mọi người, chăm lo cả đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người. Lm Phương Toàn từ chối mọi mời gọi xuất cảnh (để sống một cuộc sống sung sướng), ngài hòa nhập với người nghèo, người đau khổ. Dù là lúc nằm viện hay là lúc được đưa đi chữa bịnh trên đất Mỹ, tiếng gọi của quê hương luôn vang lên trong tâm hồn ngài, lôi kéo ngài trở về với đòan chiên và dấn thân cho họ. Ngài vượt qua mọi điều tiếng dị nghị và làm hết sức mình cho cuộc sống no cơm ấm áo và đời sống tinh thần cuả họ được tốt tươi. Tinh thần nhập thể ấy của Lm Phương Toàn chính là lòng yêu thương nhân loại của Đức Giêsu trong đời thường.

Lý tưởng của Chủ nghĩa Nhân văn là hướng đến sự giải phóng con người khỏi trạng thái nô lệ, khẳng định giá trị làm người, đem đến hạnh phúc cho con người ngay trong cõi đời trần gian này, nhận ra cái đẹp của chính cuộc sống thế tục. Muốn vậy phải hành động để thay đổi những hoàn cảnh làm tha hoá con người. Đất Mới có đạt đến lý tưởng như vậy không?

Lòng yêu thương con người của Lm Phương Toàn đã biến đổi một vùng đất khô cằn sự sống thành một vùng “đất mới” (như Đất hứa trong Cựu Ước). Nơi ấy con người được giải phóng khỏi những hẹp hòi, ích kỷ, thù nghịch. Nơi ấy con người mở lòng ra với nhau để cùng góp sức xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, sẻ chia cơm áo và tình thương. Nơi ấy hóa giải mọi mâu thuẫn để cùng phát huy những nguồn lực vật chất và tinh thần. Nơi ấy cải thiện hoàn cảnh sống để nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp của con người.

Có thể thấy rõ tư tưởng Nhân văn Công giáo trong Đất Mới đã trổ sinh hoa trái trong hiện thực. Những định kiến ban đầu của nhân viên Nhà nước với Lm. Phương Toàn dần dần được thay thế bằng sự hiểu biết và trân trọng lẫn nhau. Những yêu thương vị kỷ của Mỹ Linh, Minh Nguyệt hay ông Trưởng Tuất được thay thế bằng tình yêu thương có tầm vóc xã hội rộng hơn để rồi sau đó chính gia đình Mỹ Linh, Minh Nguyệt đã có những đóng góp quan trọng và có ý nghiã giúp Lm. Phương Toàn hoàn thành ý nguyện của mình ở vùng kinh tế mới. Việc dời ấp Tân Hữu là một nỗ lực làm thay đổi môi trường, làm thăng tiến đời sống giáo dân, ngăn chặn được những yếu tố làm tha hoá con người, mà trực tiếp là nạn nghèo đói. Sự sẻ chia cơm áo cuả giáo dân Tân Hữu cho bà con di dân Tân Thành là hành động cụ thể của yêu thương Công giáo.

Đất Mới là bài ca yêu thương, bài ca ca ngợi Con Người. Ánh sáng tư tưởng Nhân văn Công giáo đem đến một niềm tin thực sự cho người đọc, niềm tin vào Con Người chí thiện, vào sức mạnh của Con Người có thể làm nên Nước Trời ngay trong cõi tại thế này, và hơn hết niềm tin vào người Mục tử “hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29) hết lòng vì đoàn chiên.

Hãy so sánh một chút với một truyện miêu tả con người qua cái nhìn của Chủ nghĩa Hiện sinh. Nhà văn Dương Nghiễm Mậu trong truyện Cũng đành (1958) kể lại cuộc chạy trốn cuả một con người từ Sơn Tây về Hà Nội. Không có giấy tờ tùy thân, anh ta phải trốn trên xe chở củ nâu. Về đến bến xe Kim Mã, trời tối, anh không biết đi đâu, đành chui vào một túp lều sống với lũ chuột… Cuộc sống trôi đi. Anh ta như như con chó ốm ghẻ, lang thang lẩn lút, không chốn nương thân. Không có tiền mua thuốc, anh ta phải nuốt giun để chữa sốt rét. Không có gì để ăn, anh ta phải nhét vào mồm từng chút cặn thịt hộp đã thiu moi trong ống lon ở bãi rác để khỏi chết đói. Rồi cũng tìm được việc làm phụ ở chỗ thổi thuỷ tinh. Lại bỏ việc, đi nhặt mảnh chai. Rồi dun rủi, lại sống chung với gái điếm, và sau cùng bị bắt. Khi bị tra hỏi, anh ta không biết mình là ai, kể cả tên mình. Bị đánh đập tra khảo mãi, anh ta đành chịu vì chẳng biết khai gì. Viên cố đạo đến giúp tù binh, bị anh ta chửi vào mặt. Rồi một hôm bọn lính dồn anh ta lên xe chở ra cánh đồng, bắt đào hố. Anh ta biết sắp được tự chôn mình. Có tiếng lên đạn lách cách, chúng bắt anh quay mặt vào hố. Anh ta nhớ câu hỏi: ”Cha mẹ mày tên gì”. Câu truyện kết thúc ở đó.

Nhà văn Hiện Sinh miêu tả con người như con vật trần trụi, bị săn đuổi, không chốn nương thân. Sống là đi về cái chết như một tất yếu bi đát. Cô đơn trong thân phận con người. Tuyệt vọng đến chối bỏ cả đức tin, và vô nghiã đến độ không còn biết mình là ai. Nhìn con người như thế, nhà văn tỏ ra hoàn toàn bất lực trong nhận thức về con người về sức mạnh vất chất và tâm linh cuả con người. Con người đành bó tay trong cõi chết từng ngày. Nếu nhà văn có yêu thương con người thì tình yêu thương ấy chẳng đem đến cho con người điều gì an ủi ngoài nỗi sợ hãi và tâm trạng bi đát.

Trái lại, tư tưởng Nhân văn trong Đất Mới soi rọi vào bên trong sức mạnh cuả con người, sáng lên những phẩm chất tốt đẹp của con người và đem đến Niềm tin Cứu rỗi cho con người khỏi tăm tối tuyệt vọng.

Tư tưởng Nhân văn Công Giáo cũng kết tinh trong việc xây dựng nhân vật Lm Phương Toàn, một người bình thường nhưng lại đạt đến những phẩm chất lý tưởng. Nhân vật Lm Phương Toàn là tiêu biểu cho vẻ đẹp cuả người sống đời dâng hiến (khác hẳn với sự miêu tả về Linh mục trong các tác phẩm thế tục). Đất Mới khẳng định chính người Mục tử Công Giáo, cùng với giáo dân “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, đang đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng Đất Nước.

Kiểu nhân vật như vậy là kiểu nhân vật mới, đóng góp cho văn chương Việt Nam đương đại. Đó là một công dân của Nước trời, như mọi công dân của đất nước này, nhưng tỏa sáng tư tưởng nhân văn Công giáo giữa đời thường,

III. VỚI VĂN CHƯƠNG VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI

Ngọai trừ một số ít tác phẩm văn chương đích thực (tác phẩm đề tài lịch sử, tác phẩm trong dòng văn chương Nhân văn và Dân chủ), thật khó tìm ra một nhân vật có lý tưởng sống tích cực trong văn chương Việt đương đại. Trái lại, không thiếu những tác phẩm miêu tả những mặt tiêu cực của đời sống, văn chương sex, những truyện ngôn tình…tác giả khắc hoạ những nhân vật tha hóa, thực dụng, vị kỷ, ngụp lặn trong bóng tối, vô vọng…(3). Khó tìm thấy những nhân vật tích cực, tỏa sáng vẻ đẹp Nhân văn, biết sống vì tha nhân, đem tin yêu đến mọi nơi, như nhân vật Lm Phương Toàn trong Đất Mới.

Thực trạng ấy của văn chương đương đại đang được báo động. Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị đã phê phán: ”Một số văn nghệ sĩ còn… chạy theo các đề tài nhỏ nhặt, tầm thường, chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí…Một số sản phẩm văn học, nghệ thuật tầm thường, chất lượng kém được phát hành, truyền bá gây tác hại, ảnh hưởng xấu tới công chúng, nhất là thế hệ trẻ .”

Đất Mới là đời sống thật được chưng cất bởi ánh sáng của tư tưởng Nhân văn Công giáo nên có thể chạm vào được tâm thức sâu xa cuả người đọc, nhất là những ai đã sống qua thời đất nước khủng hoảng (1975-1990), phải di dân đi Kinh tế mới. Đó là khát vọng về một “Đất Mới” trong đời thực, Đất Mới trong tâm hồn và niềm tin vào con người. Hoặc ít ra cũng đem đến cho người đọc cái nhìn nhân ái về cuộc sống, nhận ra sự tốt đẹp của cuộc sống ở cõi tại thế này và khẳng định sức mạnh cuả tình yêu thương có sức giải thoát con người khỏi những thảm cảnh, tội lỗi và sự chết.

Đọc Đất Mới dưới ánh sáng của tư tưởng Nhân văn Công giáo, người đọc sẽ nhận ra giá trị nhiều mặt của tác phẩm này. Cùng với những tác phẩm khác của Song Nguyễn, Đất Mới tạo nên bộ sử thi về đời sống người Công giao đương đại. Đó là những bài học suy nghiệm quý giá mà Song Nguyễn chia sẻ với chúng ta.
_______________________________________________

(1b) Terence [195-159 BC] in his play Heauton Timorumenos, reads: "Homo sum, humani nihil a me alienum puto", or "I am human, and I think nothing human is alien to me." https://en.wikipedia.org/wiki/Terence

(2) Tự điển Văn Học. tr.291

(3) Xin đọc: Bóng Đè, I’m Đàn Bà, Dị Bản, Nháp. Sợi Xích, Dại Tình…




I. NHÀ VĂN THỤY AN [*]

Nhà văn Thụy An tên thật là Lưu Thị Yến (1916-1989), quê ở Hà Nội.

Năm 13 tuổi, bà đã có thơ đăng trên báo Nam Phong (1929).

Năm 1934, cùng chồng lập tuần báo Đàn Bà Mới ở Sàigòn.

Năm 1937, chủ trương tờ Đàn Bà ở Hà Nội.

Năm 1939, làm chủ nhiệm báo Phụ Nữ Tân Văn ở Sài gòn,

Năm 1954, bà giữ chức quyền giám đốc Việt Tấn Xã

Năm 1987, bà quy y ở chùa Quảng Hương Già Lam, pháp danh: Nguyên Quy.

Một linh hồn là tiểu thuyết đầu tay của Thụy An, in năm 1941-Nhà xuất bản Đàn Bà (76 pho Wiélé Hà Nội). Theo Bùi Thụy Băng (con Thụy An), Một linh hồn in năm 1943 (1). Cuốn sách này được Vũ Ngọc Phan đánh giá cao:

“Một linh hồn cũng đáng kể là một tiểu thuyết xuất sắc của phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay: tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn”. Ông cũng định vị Thụy An trong tư cách nhà văn: “Hàn Mặc Tử đã đem vào thi ca Việt Nam lòng tin tưởng ở đạo Gia-Tô với một giọng say sưa đầm ấm. Thụy An cũng xây dựng cho tiểu thuyết của bà có những nhân vật tin cậy ở đẳng cấp Đấng Cứu Thế ở Đức Mẹ Đồng Trinh và sẵn lòng nhịn nhục, hi sinh”.



II. TÓM TẮT “MỘT LINH HỒN”

Tiểu thuyết Một linh hồn gồm 3 phần: Phần I, phần II và Đoạn kết.
Trang bìa lót Thụy An đề: “Tác giả kính tặng “Cha R. Séminel…”

        PHẦN I

Mở đầu là những trang nhật ký ngày 19 Juin 1933, ngày 20 Juin 1933; ngày 21-6-33; và trên tàu đêm 22-6-33. Tường Vân ghi lại cảm nghĩ của mình trên chuyến tàu về Hà Nội. Ở ga xe lửa, đưa tiễn Vân có bà Thérèsa và bà Maria, chị Bảy. Vân gặp Di cùng đi tàu về quê. 4 năm trước ở Cap-Saint Jacque, hai người đã quen biết nhau. Hai năm nay họ chỉ thư từ cho nhau. Di mới tốt nghiệp Cử nhân Luật ở Pháp về. Trên tàu, Vân thú nhận với Di: “Em yêu anh, quý anh vô ngần” (tr.12).

Trong lúc đó, ở biệt thự Hoa hồng đỏ thắm (Villa des Roses rouges), một biệt thự có tiếng trong làng ăn chơi ở Hà Thành, Bảy Thanh (mẹ Vân) đang tiếp Phủ Tịch, một “người tình” (làng chơi) và giới thiệu ảnh Tường Vân cho Phủ Tịch xem. Ả định “bán” Vân cho Tịch lấy tiền trả nợ. Phủ Tịch ngây người vì vẻ đẹp của Vân.

Nhìn ảnh Vân, Thanh nhớ lại cuộc tình 20 năm trước với Châu. Hai người yêu nhau, nhưng không được gia đình Châu chấp nhận. Cậu theo đạo Thiên Chúa, bên cô thì không. Cậu là nhà bạch đinh nghèo, Cô là danh gia vọng tộc, có Ông là quan Thượng, cha là Tuần Phủ. Hai người bỏ trốn vào Sài Gòn (năm ấy cậu 23 còn cô 18, đã có thai). Họ sống cực khổ lay lắt. Cha Robert đã tìm việc làm cho Châu và giúp Châu tiền thuê nhà ở. Lúc Thanh gần sinh con, Châu kết hôn với một cô gái con điền chủ và sang Tây học, để lại một lá thư và 100 đồng bạc. Biết tin, Thanh định tự tử. Cha Robert tìm đến (Châu đã thú nhận với cha và nhờ cha giúp). Ngài đã khuyên nhủ Thanh. Sau khi Thanh sinh con, cha Robert xin việc cho Thanh đứng bán ở một hãng buôn lớn.

Hai năm sau, Thanh đem con về ở với Vĩnh (cô bỏ ngoài tai những lời khuyên của cha Robert). Vĩnh là một thằng sống nhờ gái. Hắn hành hạ Thanh. Nhưng Thanh chỉ oán hận Châu. “…Thiên công chẳng biết có phải ông đã sắp đặt cho người đàn bà ấy cuộc đời phóng đãng giang hồ chăng” (tr.20).

Một lần, Thanh và Vĩnh vô tình gặp lại Châu. Thanh bị Châu khinh bỉ. Cô bỏ về, ôm con sang nhà cha Robert gửi rồi bỏ đi. Cha Robert gửi đứa bé sang Nhà Trắng nhờ bà phước trông nom. Thanh đi tìm công tử Bắc Liêu, sau đó nổi tiếng trong làng ăn chơi ở Sài Gòn. Đứa bé Thanh gửi cha Robert là Tường Vân. Bảy Thanh ở Sàigòn dạo ấy và Bảy Thanh ở Villa des Roses rouges (Hà Nội) hôm nay là một. Cái chết của kẻ phụ bạc 13 năm nay và hơn 15 năm đày đọa phong trần đã làm cho lòng Thanh trơ ra. Thanh đọc lại tất cả những lá thư của Tường Vân đã gửi (Vân thật ngây thơ trong sáng). Vân hứa sẽ sống bên Thanh và chăm sóc cô suốt đời. Thanh suýt “trở thành thiên thần bởi những lời ngây thơ cảm động của một trinh nữ ngây thơ”(tr. 26)

Bảy Thanh đón Vân ở ga Hà Nội. Vân giới thịêu Di với mẹ. Về nhà, Vân ngỡ ngàng trước sự xa hoa của nhà Bảy Thanh. Thanh nói đó toàn là vật kỷ vật của cha Vân. Chiều thứ Bảy, Thanh tổ chức tiệc to giới thiệu Vân với mọi người (dân làng chơi của Thanh). Tiệc rất đông và ồn ào. Trong bộ đồ màu hồng nhạt, Vân xuất hiện “như một sự hiển hiện của một nữ thần”. Vân buồn vì mẹ không mời Di. Thanh sắp xếp để Vân ngồi cạnh Phủ Tịch. Có tiếng một mụ đàn bà nói với Vân về Phủ Tịch: “Nó là một con quỷ đấy cô ạ. Nó chỉ bắt đàn bà làm nô lệ cho nó thôi. Bây giờ cô hãy bắt nó làm nô lệ cho cô, cô ạ!”(tr.34). Vân kinh hoàng.

Hôm sau, Di đến. Di nói với Vân anh có chuyện buồn. Một người anh của Di là Huyện Hà vì mê một người đàn bà mà phạm tội, bị cách chức và bị tù. Con đàn bà ấy còn làm hại nhiều người. Bảy Thanh hỏi Di: Cậu đã đỗ cử nhân Luật sao không xuất chính mà lại đi buôn… Nếu cậu muốn tôi sẽ giúp, không mất đồng xu nào đâu, chỉ vài tháng cậu được đi tri huyện ngay (tr.43). Lúc về, Di tự hỏi không biết mẹ Vân là người thế nào.

Một hôm, Bảy Thanh đi từ sớm mãi đêm mới về. Vân và Di đi ra vùng ngoại ô chơi. Họ nhớ lại kỷ niệm ở Cap-Saint Jacque 4 năm về trước. Vân và Di nghĩ đến tương lai tốt đẹp ở đồng quê.

Phủ Tịch đón hai mẹ con Vân ra Sầm Sơn tắm để có dịp gần gũi Vân. Dù bị mẹ ép, nhưng Vân vẫn từ chối Phủ Tịch. Thanh đòi Phủ Tịch phải đưa cho mình tấm địa đồ nhà và bức văn tự. Văn tự ghi: “Tôi là Nguyễn Tịch, Tri phủ Bình Lang và vợ là thị Kiến có bán cho bà Nguyễn Thị Thanh và con gái bà là Nguyễn Thị Tường Vân một cái nhà hai tầng ở phố Gambetta diện tích ba trăm thước vuông giá là tám nghìn đồng vân vân…”(văn tự chưa có chữ ký của vợ Tịch). Thanh dặn Tịch li dị vợ và đưa cho Thanh ba ngàn để lo đám cưới. Về phòng, Thanh coi lại giấy tờ. Ả nói thầm: “Mày chết Phủ Tịch ạ. Cơ nghiệp mày có chừng mươi lăm vạn chỉ một hai năm tao sẽ bảo con Vân phá hết” (tr. 60). Vui nhất là Thanh có tiền trả nợ thua bạc. Ả tính kế gả ngay Vân cho Phủ Tịch. Sau đó sẽ gả Vân cho lão thầu khoán và những thằng khác.

Di và Vân đi thả diều. Họ cảm nhận hạnh phúc yêu đương. Về nhà, Vân thú thực với mẹ. Vân nói, ngày mai mẹ Di sẽ lên thưa chuyện hôn nhân. Bảy Thanh nói với Vân, ả đã hứa gả Vân cho một người. Vân đã có hôn phu. Nàng ngỡ ngàng. Thanh dùng lời ngọt để dụ Vân.

Hôm sau, Di dẫn chị dâu lên nhà Bảy Thanh để lo chuyện hôn sự. Gặp Bảy Thanh, người chị dâu nhận ra ngay người đã hại chồng mình. Thanh cũng nhận ra vợ Huyện Hà. Người chị dâu tố cáo bộ mặt giang hồ hiểm ác của Thanh. Bị xúc phạm, Bảy Thanh định cho người đánh vợ Huyện Hà nhưng lại thôi. Ả đuổi chị em Di về. Di muốn điên lên trước sự thật mẹ Vân là Bảy Thanh, một con đĩ đã hại đời anh trai mình là Huyện Hà.

Vân bị sốt và ốm liệt giường. Phủ Tịch đến chăm sóc hàng ngày. Lại thuê cô điều dưỡng tên Hạnh giúp việc. Một lần Phủ Tịch đến và bắt gặp Vân đọc thư của Di. Hắn ghen tỵ và gây sự với Bảy Thanh. Thanh phải dụ Vân đốt hết thư của Dị đi.

Di đau xót sau vụ “đám hỏi” thất bại phải chia tay với Vân. Hai tuần lễ Di lang thang như một thằng điên ở Hà Nội. “Thỉnh thoảng chàng lại tìm đến sự an ủi trong nhà thờ và chàng thầm ước sự tình cờ sẽ để cho chàng gặp được người yêu ở chốn linh thiêng ấy”(tr.95). “Có lẽ lòng thành của chàng đã được cảm ứng rồi chăng, nên một buổi chiều đầu đông”. “Ngờ đâu đôi bạn trẻ đau khổ ấy lại được gặp nhau trước trái tim nhân ái vô cùng của đấng Cứu Thế” (tr.96). Khi Vân đi khỏi, có một ông cố (Linh mục) nói với Di: “Con ơi, con hãy vào đây than thở với Đấng đã từng chịu khổ hơn con!”. Sau đó Di và Vân thư từ qua lại, nhờ Hạnh chuyển.

Phủ Tịch cho xe chở mẹ con Vân lên coi cái đồn điền mà hắn hứa cho Vân.

Di viết thư cho Vân nói rõ thân phận giang hồ của Bảy Thanh và âm mưu bán Vân cho Phủ Tịch. Di rủ Vân đi trốn. Biết rõ lòng dạ của Bảy Thanh, Vân đau khổ, bỏ về Hà Nội. Nàng vào nhà thờ. Cảm giác cô độc tột cùng. Vân ngả đầu vào tường mà ngỡ đang ngả vào lòng Đức Bà. Người nói: “Hỡi con! Hãy đem nỗi đau khổ gửi vào lòng ta đây!”

Thanh lại đấu dịu với Vân (vì sắp đến hạn trả nợ), nhưng Vân nhất định không lấy Phủ Tịch vì hắn đã có vợ ba con. Thanh liền kể tội phản bội của cha Vân khiến lòng Vân đau như dao cắt. Ả nói, ả chịu nhơ nhuốc là vì Vân. Ả thú nhận đã lấy hết chồng này đến chồng khác để nuôi con. “Thanh chỉ dùng toàn chữ hy sinh để lung lạc lòng đa cảm của Vân” (tr.119). Ả còn nói dối về gia đình mình: bác của Vân là ông Tuần, dì là bác sĩ. Vân tưởng thật, nàng nghĩ mẹ đã phải chịu khổ là vì mình và nàng quyết chuộc lỗi của cha. Nàng coi Má là một vị thần. Thanh nói dứt khoát Vân phải lấy Phủ Tịch.

Vân bỏ lên phòng và không chịu ăn cơm. Nàng nghĩ, tất cả những gì mình có đều là thứ nhơ nhớp của mẹ. Thanh lên gặp Vân, ả nói rằng tất cả của cải trong nhà không đủ trả nợ. Thanh đã quen ăn xài và cờ bạc. Đời ả là làm đĩ, rồi bị tù. Nghĩ đến cảnh má bị tù, Vân đồng ý lấy Phủ Tịch. Thanh vội báo tin cho Phủ Tịch. Ả Cầm tiền của Tịch rồi đi thẳng đến sòng bạc. Ả hẹn Chủ nhật sau cho Tịch cưới Vân. Tịch đắc ý (tr.127).

Từ khi nhận lời mẹ lấy Tịch, Vân sống như vô tri giác. Nhưng ban đêm Vân lại sống hết tâm hồn với Di. Một đêm, Vân gặp Di. Hai người níu kéo nhau ở hàng rào. Vân khóc nức nở: “Em khổ lắm. Nhưng em không nghe anh được. Thôi anh đi đi, anh đi đi”. Khi Di quay gót, Vân gào lên. Thanh nghe tiếng Vân gào, sợ Vân điên. Ả nghĩ, còn hai ngày nữa, “Thôi có điên nữa thì để cưới xong hãy điên”(tr.132).

Phủ Tịch định tổ chức đám cưới rực rỡ ở nhà thờ nhưng sợ vợ biết, hắn giảm hết mọi nghi thức. Ngay khi đoàn rước dâu vào trong nhà Tịch thì vợ Tịch đến cùng với mấy tay đàn ông. Thị xỉ nhục mẹ con Thanh. Phủ Tịch đã đánh thị hết sức vũ phu. Vân xin lỗi vợ Tịch vì không biết. Vân hứa với mụ không bao giờ lấy Tịch nữa.

Thanh lôi Vân về. Dọc đường ả đánh Vân. Ả nhốt Vân vào phòng, quyết hành hạ Vân và bắt Vân lấy Tịch cho bằng được (vì hạn trả nợ còn 3 ngày). Vân hết sức ê chề và hiểu rõ bản chất của người mà cô gọi là má.

Thanh vẫn tin Tịch sẽ trở lại. Nhưng ả không ngờ. Khi Thanh ra khỏi nhà Tịch thì cha Tịch đến. Ông cụ khóc, bắt anh ta từ quan và lên coi đồn điền ở Yên Bái. Nếu không ông cụ sẽ đăng báo từ con và giao tất cả tài sản cho Nhà Nước, không giao tài sản cho con. Tịch còn biết sợ bố. Hắn nhận lỗi và nghe lời ông cụ viết đơn từ quan để lên Yên Bái. Hắn quên mẹ con Thanh.

Ngày mai nhà cửa Thanh sẽ bị tịch biên. Ả cầu cứu lão thầu khoán Bảo nhưng bị từ chối thẳng. Suốt đêm không ngủ, Thanh ê chề nhục nhã và lo sợ ngày mai, Thanh chỉ còn là một ả giang hồ hết thời. Ả cần một người đàn ông, một chỗ dựa. Ả nghĩ đến những gia đình đã bị ả phá nát.

Sáng ra, Thanh trả công cho những người giúp việc rồi bảo họ về quê hoặc đi làm chỗ khác. Vân thu xếp quần áo. Hai mẹ con ra khỏi nhà, nhưng không biết đi đâu. Thanh muốn đi trước khi tòa đến tịch biên. Đứng chờ xe, Thanh nghĩ nên đến một cái chùa gửi đồ đạc và tá túc vài ngày.

        PHẨN II

Gửi đồ đạc trong chùa rồi Thanh đi tìm thuê một căn nhà ở chỗ vắng giá 3 đồng một tháng. Thanh dọn đến ở ngay. Vân thao thức về trách nhiệm với mẹ. Nàng lấy vải ra cắt mấy cáo áo đầm trẻ con và nghĩ rằng sẽ sống bằng cách này.

Ngồi trước bữa ăn, Thanh nghĩ mình không bằng mấy đứa giúp việc ở nhà. Ở đây, mẹ con Vân bị hàng xóm dòm nó, dị nghị. Sau Vân làm quen được với bé Quế và dạy học cho bọn trẻ trong xóm, họ mới có cảm tình với Vân.

Thanh bị sốt. Nửa tháng trời thuốc thang chăm sóc mẹ, tiền dành dụm đã hao hụt nhiều, Vân lo lắng không biết rồi đây làm gì để sống. Cô đem mấy cái áo con ra Hà Nội bán. Các cửa hiệu đều làm khó, ép giá mua rẻ. Về nhà Vân chưa biết tính sao.

Thanh nghĩ, ả không thể sống nghèo khổ thế này được. Thanh viết thư cho Mr. Huyến, chủ hãng buôn Thế Lạc vay 100 đồng. Huyến là đàn em chịu ơn Thanh. Vân đem thư đến nhà Huyến, không ngờ bị Huyến sàm sỡ và đem việc Phủ Tịch ra xúc phạm Vân. Cô tát hắn một cái rồi bỏ về khóc lóc trách mẹ. Vân đi nhà thờ Chúa Cứu Thế. Hai mẹ con nhìn nhau cười. Thanh không biết mình đang khổ hay đang hạnh phúc (tr.206).

Ở nhà thờ, đột nhiên Vân bị bịnh và được người ta đưa về.

Những lời của Vân hồi chiều khiến Thanh có cảm giác mình vừa lột bỏ con người cũ. Nhưng cái xác cũ cứ bắt Thanh cúi nhìn nó: Đoạn phim cuộc đời Thanh quay lại. Từ chuyện Huyện Hà đến chuyện Phủ Tịch, chuyện lừa dối Vân. Thanh kêu lên: “Trời ơi! Tôi đã khốn nạn đến thế này sao”! Suốt đêm Thanh bị dày vò của lương tâm, “Nhưng một tâm hồn mới nảy nở trong tấm thân điêu tàn ấy. Thanh cũng như con rắn đã lột xác xong, mang một hình thể mới”(tr.212).

Vân trở bịnh nặng. Nếu không có thuốc thì không cứu được Vân. Tiền dành dụm không còn. Thanh trở lại nghề cũ. Ả nhờ lão Bộ tìm khách giúp. Hôm ấy, ả đến chỗ hẹn ở bờ sông. Vân lén đi theo phía sau. Khi người thanh niên định ôm Thanh thì Vân kêu lên: Má ơi! anh Di đấy. Cả ba đứng sững. Di nói một câu mỉa mai rồi bỏ chạy. Vân đau đớn nhìn xuống dòng sông. Thanh khuyên, “Đừng con ạ. Con phải đi gặp Di để thân oan đã”. Hai mẹ con thất thểu đi trên đường đê vắng.

        ĐOẠN KẾT

Bảy Thanh tìm đến nhà Di. Mặc dù bị vợ Huyện Hà xua đuổi, Thanh năn nỉ cầu xin Di đến an ủi Vân. Ả nói Vân sắp chết và rất yêu Di. Di lái xe đi. Anh chạy với tốc độ cao trên đường đêm. Thanh kể lể việc Di ngộ nhận hôm ở bờ sông. Di khóc. Ngoài trời mưa.

Di nhận lỗi với Linh mục. Vì Di mà Vân chết. Rằng, nàng đã quá yêu Di hơn cả yêu Chúa. Di yêu cầu vị linh mục giải thích tại sao một người con gái tốt như nàng mà suốt đời khổ. Linh mục trả lời. Di hãy nhìn lên Câu Rút (Thánh giá) và học theo nàng. Mọi việc hy sinh tốt đẹp của nàng đều theo ý cầu nguyện: “Lạy trời, xin theo ý trời định”. Di gục đầu khóc tấm tức: “Xin theo ý trời!”. (Hết)

III. TIỂU THUYẾT MỘT LINH HỒN VÀ TÔN GIÁO

1. Về kiểu truyện tâm lý tình cảm xã hội.

Tiểu thuyết “Một linh hồn” là một truyện tâm lý tình cảm xã hội, mô-tip “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”. Những tình huống truyện được sáng tạo (tưởng tượng ra) và đẩy lên thành cao trào chỉ là để tạo ra sự “lâm ly bi đát”, mua lấy một chút mủi lòng của người đọc. Tác phẩm không hề đặt ra một vấn đề xã hội nào. Trong Một linh hồn, không có bối cảnh hiện thực xã hội Việt Nam những năm 1930-1945.

Vân và Di yêu nhau, yêu điên dại (Cả Vân và Di đều “điên”). Họ say đắm bên nhau và vẽ ra tương lai hạnh phúc. Những tưởng ước nguyện của họ sẽ thành, vì cả hai đều được học hành, có ý thức về quyền cá nhân; cả hai đều có đời sống đạo hạnh. Nhưng Bảy Thanh (mẹ Vân), một “con đĩ hết thời” đã phá nát tình yêu ấy. Sau cùng Vân chết (không rõ bịnh gì) và Di tự nhận lỗi về mình. Anh cúi đầu “Xin theo ý trời!”.

Lẽ ra, sau cái chết của Vân, Thanh phải nhận ra tội lỗi của mình và hoàn lương để an ủi linh hồn Vân (bút pháp hiện thực). Nhưng tác giả đã kết thúc truyện theo kiểu truyện tình lãng mạn đương thời. Mô-típ truyện tình dang dở và hình ảnh gái giang hồ đã có trong văn học Lãng mạn trước Một linh hồn (Đời mưa gió của Nhất Linh-Khái Hưng in năm 1934; và những truyện tâm lý tình cảm của Lê Văn Trương). Thụy An chỉ nối dài thêm kiểu truyện này khi văn chương Lãng mạn đã đi vào thoái trào.

Nhân vật Bảy Thanh (một ả giang hồ hết thời) vẫn còn đó. Sau khi Vân chết, ả vẫn sống trụy lạc, cờ bạc và nhẫn tâm (như Tuyết, lại băng mình vào đời mưa gió). Sự hy sinh, tình thương yêu, lòng bao dung của Vân, kể cả cái chết của Vân không làm Thanh thay đổi. Sự giúp đỡ của cha Robert, của ông cố trong nhà thờ ở Hà Nội không cứu được tình yêu Di và Vân trước những thủ đoạn tàn nhẫn của Bảy Thanh.

Việc Thanh bị bịnh, hai mẹ con cạn tiền; sau đó Vân bị bịnh đột ngột ở nhà thờ, thuốc thang rồi chết chỉ là giải pháp (tưởng tượng) tác giả đẩy Thanh đến đường cùng, buộc cô ả trở lại con đường làm đĩ như một số phận đã an bài. Tác giả bình luận: “…Thiên công chẳng biết có phải ông đã sắp đặt cho người đàn bà ấy cuộc đời phóng đãng giang hồ chăng” (tr.20).

Đó là sự áp đặt (khá lộ liễu) của tác giả. Trên cõi đời này, làm gì có người đàn bà nào sinh ra mà trời sắp đặt cho số phận “làm đĩ”!

Nói những điều ấy để xác định rằng, Một Linh hồn không phải là kiểu truyện tư tưởng như tiểu thuyết luận đề của Tự Lực Văn Đoàn (Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân…). Một Linh hồn chỉ là một tiểu thuyết lãng mạn trong dòng văn chương thị trường lúc ấy (1941)

Một linh hồn có sự khác biệt với Tắt lửa lòng (Nguyễn Công Hoan. 1933); Hồn bướm mơ tiên (Khái Hưng. 1933) ở chỗ, các tác giả đi trước miêu tả bối cảnh chùa chiền, và nhân vật vào chùa tu, còn trong Một linh hồn, Thụy An miêu tả cảnh nhà thờ và nhiều nhân vật là người theo đạo Thiên Chúa (Châu, Tường Vân, gia đình Di, Phủ Tịch, cha Robert, ông cố các bà phước Thérèsa và bà Maria). Đó chỉ là những yếu tố hình thức kiến tạo tác phẩm.

2. Vấn đề tư tưởng và tôn giáo trong Một linh hồn.

Kết thúc tác phẩm, Thụy An đặt ra một vấn đề tư tưởng. Di hỏi ông cố đạo (linh mục):

“Cha hãy giảng cho con, lòng con đang bất bình sôi nổi lên đây. Một người con gái trong trắng vô tội đến thế mà sao suốt đời khổ não, đắng cay gặp toàn những nghịch cảnh. Con thương nàng cha ơi!” (tr.228).

Nói dễ hiểu, Di đặt vấn đề: Vân trong trắng, thánh thiện, giàu lòng thương yêu, giàu đức hy sinh, tại sao cuộc đời nàng lại đầy đau khổ và chết trong đau khổ.

Câu hỏi này đã vang lên trong tác phẩm của Nguyễn Du (Đoạn trường tân thanh, Văn tế thập loại chúng sinh). Tại sao người phụ nữ từ xưa đến nay đều bạc mệnh:

“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Vị linh mục đã trả lời Di:

“Con hãy bắt chước nàng. Con không thấy tất cả những sự hy sinh tốt đẹp của nàng đều chan chứa một lời cầu nguyện phục tòng: “Lạy trời, xin theo ý trời định” đó sao”.

Lời khuyên này lấy ý từ lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu (Lc 22,42): ”Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén nầy đi khỏi con ! Nhưng xin đừng theo ý con, một xin theo ý Cha” (bản dịch của Hồng y Trịnh văn Căn)

Đức Giêsu đã vâng phục Chúa Cha hiến mạng sống mình trên Thập giá để Cứu Rỗi nhân loại. Người Công giáo học theo Đức Giêsu, nhận lấy mọi đau khổ trong đời như vác Thánh giá theo Đức Giêsu trong hành trình trần gian đón nhận Ơn Cứu Rỗi. Cho nên, trong con mắt người đời, những đau khổ ấy là bất hạnh, nhưng trong niềm tin Kitô giáo, những đau khổ ấy lại là con đường nên Thánh, con đường Phục sinh.

Đây là một điểm son của Thụy An trong việc giải quyết vấn đề tư tưởng. Thụy An đem vào tác phẩm cách kiến giải mới, khác hẳn với Nguyễn Du. Nguyễn Du dựa vào Thiên Mệnh (Trời- Nho giáo) và giáo lý giải thoát của Phật giáo (Thân, Nghiệp, Tâm) để giải quyết vấn đề đau khổ của Thúy Kiều.

Gẫm hay muôn sự tại trời
Trới kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao…
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
(Đoạn trường tân thanh)
Khi đã dựa trên tư tưởng Kitô giáo, Thụy An xây dựng được nhiều nhân vật đẹp. Cha Robert, người đã giúp Châu và Thanh. Tường Vân “trong như pha lê, trắng như cánh huệ”(tr.34), thánh thiện, có lòng đạo rất sâu, giàu đức hy sinh, sống giản dị chan hòa với mọi người. Mỗi khi buồn, nàng lại tìm sự an ủi trong Thánh Kinh. “Nàng giở đoạn Chúa Cứu Thế vác cây Thánh Giá lên chỗ tử hình. Chưa bao giờ cái đoạn thảm sầu ấy lại làm cho nàng xúc động đến thế. Vân thấy lòng dìu dịu…” (tr. 81).

Trong chuyến theo mẹ đi coi cái đồn điền Phủ Tịch nói là cho Vân, cô đọc thư của Di và biết mọi sa đọa của mẹ mình. Quá đau đớn, Vân bỏ về Hà Nội và vào nhà thờ, để hết tâm hồn vào Đức Bà: “Trên bàn thờ Chúa và những bàn thờ nhỏ chung quanh, vài ngọn nến le lói trong bóng nửa tối nửa sáng. Ánh nến rập rờn làm linh động những pho tượng, những bức tranh. Mặt Đức Bà như càng lúc càng rầu rỉ thêm và cứ dần dần sát xuống mặt Vân và hai bàn tay mềm dẻo của người thường chấp lại, nay từ từ rời ra và đang xoa trên cái trán rạo rực nóng bừng của Vân. Vân tưởng hít thấy cái hơi thở thiêng liêng của Người và nghe Người thì thào như một làn hơi gió: Hỡi con! hãy đem nỗi đau khổ gửi vào lòng ta đây!”/ “Vân ngã đầu tựa vào bức tường mà lúc bây giờ Vân mơ màng thấy ấm ấm như tựa vào ngực Đức Bà. Một câu chuyện bắt đầu giữa nguồn an ủi muôn năm và nỗi đau đớn cực điểm./ Vân ngồi như thế không biết bao lâu, nỗi đau khổ ngùn ngụt ở trong lòng dìu dịu dần…” (tr.108).

Chính tư tưởng Kitô giáo đã tạo nên vẻ đẹp mới của nhân vật Tường Vân.

Tuy vậy, trong việc xây dựng những nhân vật “có đạo” khác, Thụy An đã không theo những chuẩn mực luân lý Kitô giáo. Châu là con trong gia đình có đạo, nhưng anh ta lại bỏ Thanh lúc cô sắp sinh con để lấy cô gái con chủ đồn điền rồi đi học ở Pháp. Phủ Tịch có vợ ba con, vậy mà hắn định làm lễ cưới với Vân trong nhà thờ một cách rực rỡ. Di cũng là con nhà có đạo, “Thỉnh thoảng chàng lại tìm đến sự an ủi trong nhà thờ” (tr. 95), nhưng lại đi tìm gái lén lút ở bờ sông, và vô phúc cho Di, anh đã gặp mẹ con Vân. Riêng với Vân, trong lúc đau khổ, nàng hai lần định trầm mình dưới sông tự tử (tr.105 và 221). Những hành vi như thế người theo Chúa không được phép làm.

Hơn nữa, tác giả có những bình luận ngoại đề, như một người không tôn giáo, nhìn sự đau khổ của người Công giáo, mà bảy tỏ sự hoài nghi về đức tin:

“Than ôi! Sự mầu nhiệm của tôn giáo tuy có sâu xa, nhưng đối với một vết thương đang trào máu thì sự an ủi ấy chỉ ví như một lượt thuốc bột mà một dòng máu vọt mạnh làm trôi băng ngay. Lúc Vân tỉnh dậy thì sự an ủi cũng mất (tr. 82)

Vân đến nhà thờ: “Vân, mình lại lắng tai nghe tiếng trống ngực rõ mồn một của mình, tự nhiên đâm ra sợ hãi cái quạnh quẽ thâm u trong nhà thờ. Nàng giờn giợn cất tiếng hỏi: “Chỉ có mình tôi ở trong này thôi ư(tr.107).

“Thuyết “Hối quá là rửa sạch tội lỗi” của giáo Gia tô đã ăn sâu trong trí Vân. Nàng cố tin rằng mẹ nàng đã hối quá mặc dầu nàng vẫn vẩn vơ e ngại (tr.176).

Có thể hiểu được rằng Thụy An không xây dựng một tác phẩm Công giáo (theo tư tưởng thần học, Mỹ học và giáo luật Kitô giáo, để hường đến mục đích rao truyền Tin Mừng). Các nhân vật “có đạo” trong truyện chỉ là một kiểu nhân vật (cho khác với các kiểu nhân vật trong văn học trước đó), họ không phải là những tín hữu Kitô giáo đích thực. Cũng có thể Thụy An quan niệm việc theo một tôn giáo nào đó chỉ là sự chọn lựa riêng của cá nhân, không bó buộc (“Đạo tại tâm”). Cho nên trong đời thường, Thụy An đã li thân với chồng và sống với người tình một thời gian. Tuổi trẻ của bà theo đạo Thiên Chúa, về già bà quy y Phật với pháp danh Nguyên Quy.

Thực ra trong Một linh hồn, Thụy An còn pha tạp những tư tưởng khác. Xin hãy trở lại lời khuyên của cố đạo (trong tang lễ Vân) với Di:“Con hãy bắt chước nàng. Con không thấy tất cả những sự hy sinh tốt đẹp của nàng đều chan chứa một lời cầu nguyện phục tòng: “Lạy trời, xin theo ý trời định” đó sao”.

Với một linh mục Công giáo, không ai nói “Lạy trời, xin theo ý trời định”, mà nói đúng nguyên văn Kinh Thánh: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén nầy đi khỏi con ! Nhưng xin đừng theo ý con, một xin theo ý Cha”. Thụy An đã có sự mập mờ giữa tư tưởng Kitô giáo và Thiên mệnh (Mệnh trời-Nho giáo). “Trời”, “ý trời” là Thiên mệnh. Trời không phải là Thiên Chúa, không phải là Chúa Cha của Kitô giáo.

Ở chỗ khác, Thụy An gọi “Trời”“Thiên Công”(Ông Trời). Sau khi gửi thư cho Vân tố cáo bộ mặt thật của Bảy Thanh mà không có kết quả, Di đành buông tay. “Chàng đành phận, phó mặc cho Thiên Công xoay sở” (tr. 128). Thụy An bình luận về số phận của Bảy Thanh: “…Thiên công chẳng biết có phải ông đã sắp đặt cho người đàn bà ấy cuộc đời phóng đãng giang hồ chăng” (tr.20). Nghĩa là số phận Bảy Thanh sinh ra để làm gái giang hồ, không thể khác được. Và Thụy An đã để Bảy Thanh trở lại làm gái : “Có lẽ trời đã dành sẵn cho Thanh cái số phận phải làm kẻ trụy lạc, trước trụy lạc vì chồng, nay trụy lạc vì con. Hay trời muốn Thanh phải trả xứng đáng những tội lỗi đã làm: Bắt lấy sự trụy lạc chuộc lại lỗi của sự trụy lạc? (tr.215); dù rằng trước đó, Thuỵ An đã miêu tả sự “lột xác” mạnh mẽ của Thanh: “Nhưng một tâm hồn mới nảy nở trong tấm thân điêu tàn ấy. Thanh cũng như con rắn đã lột xác xong, mang một hình thể mới”(tr.212)

Từ tư tưởng phong kiến (Thiên Mệnh): Vân hiếu thảo, thủy chung, coi trọng Hiếu hơn tình), Thụy An còn pha trộn tư tưởng nhân-quả của Phật. Bảy Thanh cho rằng những khốn nạn nàng phải chịu là có nhân quả. “Thật cay đắng cho Thanh, trước kia chỉ ngồi trong gấm lụa đợi kẻ si đến dâng tận chân tim và tiền, bây giờ thì chính Thanh phải đem thân đi bán…Âu đó cũng là quả báo. Thanh tự an ủi với cái thuyết quả báo ấy (tr.218).

Nhân vật Tường Vân đã có lúc ánh lên vẻ đẹp của một “cô gái mới”, tự do yêu đương, quyết liệt không lấy Phủ Tịch, như nhân vật Loan trong Đọan tuyệt (1934) của Nhất Linh (tư tưởng Nữ quyền luận). Nhưng nhân vật Vân của Thụy An là nhân vật nửa vời. Khi Thanh đánh vào lòng thương cha, vào đức hy sinh của mẹ, Vân lại ngoan ngoãn nghe lời Bảy Thanh như một cô gái nết na, hiếu thảo, tôn kính cha mẹ, đủ cả “tam tòng, tứ đức” phong kiến (kiểu như nhân vật Mai trong Nửa Chừng Xuân-Khái Hưng. 1934).

Tất cả những phân tích trên làm lộ ra rằng, Thụy An không trình bày bất cứ tư tưởng tôn giáo, triết học hay tư tưởng xã hội nào trong tiểu thuyết Một linh hồn. Trái lại, Thụy An chịu ảnh hưởng cách xây dựng tiểu thuyết của những tác giả đi trước, dù rằng Thụy An có đóng góp mới. Ngòi bút Thụy An trôi theo quán tính vô thức (tức là viết theo bản năng, chịu ảnh hưởng những người đi trước mà không tự biết), và tác phẩm chỉ là một truyện tình cảm tâm lý nằm trong dòng văn chương giải trí đương thời.

3. Phải công nhận Thụy An là nhà văn có tài kiến tạo tác phẩm. Đó là tài kể chuyện hấp dẫn, tài phân tích tâm lý nhân vật thấu đáo. Thụy An tạo ra nhiều tình huống bất ngờ, căng thẳng và giải quyết hợp lý. Không khí truyện được thay đổi liên tục tạo nên nhiều cảm xúc thẩm mỹ (như chuyển cảnh trong phim). Những cảnh đông người được dàn dựng vô cùng sống động, ngôn ngữ nhân vật góc cạnh (Buổi tiệc Thanh tổ chức để giới thiệu Tường Vân, cảnh vợ Phủ Tịch đánh ghen…)

Thụy An xứng đáng với lời khen của Vũ Ngọc Phan: “Một linh hồn cũng đáng kể là một tiểu thuyết xuất sắc của phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay: tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn”.

Tháng 6/ 2021
_________________________

[*] Phần tiểu sử chính thức của Thụy An (Lưu Thị Yến) xin đọc trên trang Lưu tộc (Gia tộc họ Lưu).


[1] http://motgoctroi.com/Tho/ThoThuyAn.htm

(Đọc tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang. 2014)

Văn hóa là một đề tài rộng. Ở Việt Nam về địa lý, có 7 vùng văn hóa với những đặc điểm khác nhau: văn hóa đồng bằng sông Hồng, văn hóa Tây Bắc, văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam bộ…; có những tiểu vùng văn hóa như văn hóa Huế, văn hóa Kh’mer Nam Bộ. Ngoài ra còn có sự giao lưu văn hóa như văn hóa Phật giáo, văn hóa Công giáo, văn hóa Pháp, văn hóa Chăm…

Những vấn đề rộng của Văn hóa xin không bàn đến trong bài viết này. Chỉ xin giới hạn trong một số thành tố văn hóa để xem xét đặc điểm thơ Lê Đình Bảng trong tập Ơn dời một cõi mênh mang.

VẺ ĐẸP NGÔN NGỮ

Ngôn ngữ là thành tố quan trọng bậc nhất của văn hóa. Bởi có ngôn ngữ mới có tư tưởng, thi ca, nghệ thuật, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống (là những thành tố khác của văn hóa). Ngôn ngữ không chỉ là ký hiệu (Ký hiệu học), cũng không chỉ là Cái Biểu đạt và Cái được biểu đạt (Ferdinand de Saussure)…Ngôn ngữ chứa đựng trong nó tư tưởng, lịch sử, nghệ thuật và thế giới tinh thần (của một dân tộc, một thời đại) và nhiều thành tố văn hóa khác. Nếu chỉ dùng Ký hiệu học hay lý thuyết ngôn ngữ cùa Saussure thì không thể nào đọc được kinh vô ngôn của Phật giáo (giống như thầy trò Tam Tạng thỉnh được bộ kinh không có chữ).

Khi Đức Giêsu nói: ”Lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mt 8, 18-26), thì câu nói ấy không chỉ có nghĩa thông tin, không chỉ là ký hiệu chữ, mà Lời của Chúa chứa đựng một tín niệm căn cốt của Kitô giáo, đó là Đức tin.

Nguyễn Du viết: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Đoạn trường tân thanh). “Chữ tâm” không chỉ là ký hiệu chữ, mà chứa đựng toàn bộ Lý giải thoát và con đường tu tập Phật giáo, bởi “Tâm tức Phật/ Phật tức tâm/ Tức tâm tức Phật/ Thời thời như vậy”(Kệ)

Ngôn ngữ có nhiều chức năng: vừa là công cụ giao tiếp, công cụ tư duy. Ngôn ngữ còn có chức năng hành động và là phương tiện sáng tạo nghệ thuật.

Trong sáng tác thơ ca, ngôn ngữ là yếu tố quyết định giá trị thơ và năng lực thi nhân. Phong cách của một tác giả trước hết được xác lập bởi việc sử dụng lời.

Lời thơ Lê Đình Bảng có những đặc điểm gì?

Thơ Lê Đình Bảng có nhiều lớp ngôn ngữ. Trước hết là khẩu ngữ dân gian vùng đồng bằng Bắc bộ (Thái Bình), đan xen với vốn từ của văn chương cổ điển (điển tích trong thơ văn cổ Trung quốc). Đặc biệt là lớp từ vựng mới là những điển ngữ Kinh thánh được Việt hóa. Từ đó Lê đình Bảng sáng tạo một kho từ vựng cho riêng mình.

Đây là ngôn ngữ cổ điển
“Thế sự thăng trầm quân mạc vấn
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu” (tr.30).
(Trong bài thơ Uống rượu tiêu sầu II của Cao Bá Quát)

“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”(tr.57).
(Đoạn trường tân thanh-Nguyễn Du)

Xót cho những Kinh Kha chí lớn
Ở bên kia ngọn sóng tràng giang (tr.59)
(Điển: Năm 227 trước Công Nguyên, Kinh Kha sang Tần hành thích Tần Thủy Hoàng nhưng bị thất bại. Xin đọc bài thơ Dịch Thủy ca của Kinh Kha và Dịch Thủy tống biệt của Lạc Tân Vương)

Đây là ngôn ngữ dân gian kết hợp với điển ngữ Kinh Thánh:

Mẹ đã dạy con học ăn học nói
Làm dấu, dâng mình sớm tối, chiều trưa
Một chữ cắn đôi, Mẹ có đi học bao giờ
Sao, kinh sách lẽ đời, trong lời ru văng vẳng
Nào hạnh tích, sấm truyền, nào ca dao vè vãn
Lần chuỗi đưa con, nhịp võng sau hè
Con lớn dần và chợt hiểu khi nghe
Cám ơn Mẹ, mỗi sớm tinh mơ gọi con đi lễ
Quãng lội, đường mưa, lạnh cắt thịt da
Mau đến nhà thờ, kịp lúc cha ra
Hôm nay lễ kính Đức Bà dâng Con, làm phép nến
Cảm ơn Mẹ đã dạy con cầu nguyện
Phó thác đời con làm của lễ thiêng liêng
Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi
Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá
(Cám ơn mẹ)
Chỉ một đoạn thơ ngắn của Lê Đình Bảng cũng hội tụ nhiều lớp ngôn ngữ.

Lớp từ ngữ: “học ăn học nói”, “Một chữ cắn đôi”, “lạnh cắt thịt da” là thành ngữ dân gian. Hình ảnh mẹ dạy con lẽ đời, ru con bằng ca dao theo “nhịp võng sau hè” là những hình ảnh dân dã đậm Việt tính của mọi bà mẹ Việt Nam. Chất dân dã trong thơ Lê Đình Bảng còn bao trùm vũ trụ thơ Lê Đình Bảng ở những bài ông viết theo “thể hứng” của ca dao.

Lớp từ ngữ: “Làm dấu, dâng mình sớm tối; kinh sách, hạnh tích, sấm truyền, vãn, lần chuỗi,” lúc cha ra”,“lễ kính Đức Bà dâng Con, làm phép nến”, “Phó thác đời con làm của lễ thiêng liêng”; Con chỉ là hạt bụi … Rơi xuống đất “ là ngôn ngữ “nhà đạo” (ngôn ngữ hàng ngày của người Công giáo).

Những từ ngữ đó gợi ra một nền giáo dục Công giáo, một nét sinh hoạt gia đình ở nhà người có đạo. Làm việc gì, người theo Chúa cũng “lần chuỗi” cầu nguyện với tâm tình “phó thác”. Ru con, thay vì kể chuyện cổ tích cho con nghe, người mẹ quê đã kể hạnh tích, sấm truyền, tức là chuyện về đời sống đạo hạnh của các vị thánh (gọi là Hạnh các thánh), và các truyện tích trong Kinh thánh (Sấm truyền). Mỗi sáng sớm, dù đường từ nhà đến nhà thờ phải qua “Quãng lội, đường mưa, lạnh cắt thịt da”, mẹ cũng gọi con dậy đi dự thánh lễ cho kịp “lúc cha ra” (không được đi trễ). Con lớn lên trong bầu khí ngôn ngữ, đạo hạnh, nề nếp sinh hoạt thánh thiện ấy.

“Ngôn ngữ nhà đạo” chiếm một lượng lớn trong vốn từ của Lê Đình Bảng. Người đọc lần đầu tiếp cận thơ Lê Đình Bảng sẽ ngỡ ngàng về vốn từ giàu có, mới mẻ ấy. Về phương diện này, Lê Đình Bảng đã góp phần làm mới, làm giàu ngôn ngữ thi ca Việt đương đại. Điều đặc biệt là, ngôn ngữ nhà đạo, vẫn tự nhiên, nhuần nhuyễn và gần gũi với người đọc, không gây trở ngại gì cho việc tiếp nhận. Tôi cho đó là tài năng ngôn ngữ mà Lê Đình Bảng kế thừa được từ kinh nghiệm sử dụng và sáng tạo từ của dân tộc.

Xin đọc lại tứ thơ

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi
Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá
Về ngữ nghĩa, câu thơ này không có gí khó hiểu, người đọc bình thường có thể tiếp nhận một cách tự nhiên.

Đặc sắc sáng tạo là ở chỗ, Lê Đình Bảng kết hợp hai điển ngữ Kinh Thánh:

Thứ nhất, Sáng Thế Ký viết “Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật”.”Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất." (St 2,7 và St 3, 19).

Thứ hai: dụ ngôn Người gieo giống (Lc 8, 5-8). Đức Giê su nói với đám đông dụ ngôn này: "Người gieo giống đi ra gieo hạt giống của mình. Trong khi người ấy gieo, thì có hạt rơi xuống vệ đường, người ta giẫm lên và chim trời ăn mất. Hạt khác rơi trên đá, và khi mọc lên, lại héo đi vì thiếu ẩm ướt. Có hạt rơi vào giữa bụi gai, gai cùng mọc lên, làm nó chết nghẹt. Có hạt lại rơi nhằm đất tốt, và khi mọc lên, nó sinh hoa kết quả gấp trăm".
Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi
Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá
Câu thơ ánh lên một tư tưởng mới. Hạt bụi không trở về cát bụi mà trở thành cây xanh tốt. Trịnh Công Sơn viết: “Hạt bụi nào hóa kiếp nên tôi/ Để một mai tôi trở về cát bụi” hàm chứa cái bi đát của đời người. Trái lại, Lê Đình Bảng hướng về phía sự sống, sinh sôi tốt tươi: “Hạt bụi…rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá”.

Cái nhìn của người theo Chúa luôn là vậy, luôn nhìn về phía sự sống. Đức Giêsu nói: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6).

Trong thí dụ trên, Lê Đình Bảng có cách dùng diển ngữ Kinh thánh rất hay. Hai điển ngữ với ý nghĩa tương phản lại dệt được một tứ thơ tư tưởng đặc sắc, mới mẻ; đồng thời nhà thơ nói với người đọc trải nghiệm tâm linh của mình, rằng, từ những lời đạo hạnh mẹ dạy, con đã trưởng thành lên xanh tốt trong đời.

Tôi đã gặp được những từ ngữ này của nhà đạo trong thơ Lê Đình Bảng (xin chỉ nêu thí dụ): Của lễ trên bàn thánh, của lễ thiêng liêng, quê trời muôn phúc thật, dư đầy ơn thiêng, lời kinh sốt mến (tr. 28), tràn trề ân sủng (tr.97). Lời hằng sống. Giọt máu cuối cùng trên thánh giá; về Emmaus, lễ mở tay, tiến lên bàn thánh; Hoa Mân côi nở bốn bề dậy hương (tr.90), Phiên chầu lượt (tr.83); Như men, muối (tr.62); mặc áo tân nương/ tiệc cưới / về đồng cỏ / Con nguyện tin, yêu, phó thác / thông công, Hôm qua, hôm nay, mãi mãi / ở trong nhà Chúa (tr.63), hạt mầm gieo vãi (tr.107). Đỗ cụ, làm cha.(tr.66)… Hầu hết những từ này hàm nghĩa của Kinh Thánh.

Tôi đặc biệt chú ý đến lớp từ Lê Đình Bảng sáng tạo riêng. Nó là dấu ấn phong cách của thơ ông. Lê Đình Bảng dùng nhiều hình ảnh của đồng bằng Bắc bộ. Thơ của ông ở bái nào cũng là hình ảnh thiên nhiên cao rộng khoáng đạt (trời cao xanh, núi non mây ngàn, sông nước tràng giang, trùng dương mênh mang…)
Biển trời, mây nước mênh mông
Một đi, chín nhớ, mười mong nỗi nhà
(Con là khách ở quê ra)

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật
150 năm canh thức dầu đèn (tr.44)

Mau chân với, về thông công đại lễ
Cứ lung linh xiêm áo mới dầu đèn
(Trẩy hội lên đền)

Lạy trời, đổ xuống sương mưa
Chân mây mặt đất lưng bờ tràng giang
(Lạy trời đổ sương mưa)

Có lẽ nhà thơ tâm đắc hai chữ “sương mưa”“bờ xôi ruộng mật”. Ông dùng hai từ này nhiều lần ở nhiều bài thơ khác nhau.

Hai từ này được Lê Đình Bảng sáng tạo từ kho từ vựng Kinh thánh. Sách Asaia (Is 45, 8) viết: “Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hạy đổ mưa, mưa đức công chính; đất mở ra đi cho nẩu mầm ơn cứu độ, đồng thời chính trực sẽ vươn lên…”

Sách Xuất hành (3, 1-8) kể lại cuộc gặp gỡ của Môise với Chúa ở núi Horeb. Chúa hứa với ông: “Ta xuống giải thoát chúng (dân Do Thái khỏi tay người Ai Cập), và đưa đến miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật”.

Lê Đình Bảng là dân Thái Bình nông nghiệp, đồng chiêm, đồng trũng; đắp đập, be bờ; lúa mùa tốt tươi. Ông đem hình ảnh này tháp nhập vào “miền đất tràn trề sữa và mật” của Kinh thánh, thành một từ vừa quen, vừa mới: “bờ xôi ruộng mật”.

“Bờ xôi ruộng mật” là hình ảnh một miền quê ruộng đồng màu mỡ trù phú. Lúa nếp vàng ươm, thơm tho bao nhiêu là sôi. Cánh đồng mía tốt tươi, ngọt ngào bao nhiêu là mật: “Xem mía trổ cờ, rươi chín đỏ/ Thuyền qua sông Hóa, trắng mây bay” (tr. 69); vừa là miền “đất hứa” trong Kinh Thánh.

Những sáng tạo ngôn ngữ mới lạ như vậy tạo nên phong cách nghệ thuật của thơ Lê Đình Bảng.

Lê Đình Bảng còn đưa vào thơ rất nhiều địa danh, tạo nên tính hiện thực và tính hiện đại trong thơ (điều này ca dao đã có). Đoạn thơ sau đây dày đặc những địa danh ghi dấu chân Lê Đình Bảng, cũng đồng thời bày tỏ nồng nàn một tấm lòng với quê hương của nhà thơ.
Tôi về quê mẹ-Thái Bình đây
Cờ bay hay tóc em bay, nhỉ
Thơm ngát đường thôn lúa gặt đầy

Lấn biển, quai đê, Tiền Hải đấy
Kiến Xương, Thái Thụy, Vũ Thư này
Hưng Hà nhãn tiến vua sai trái
Chén rượu Đồng Châu ai tỉnh say

Xem mía trổ cờ, rươi chín đỏ
Thuyền qua sông Hóa, trắng mây bay
Ai về An Vỹ sang Lương Đống
Làng Thọ, làng Vân tay nắm tay
(Thái Bình ca)
Sự pha trộn ngôn ngữ đồng bằng Bắc bộ với điển ngữ Kinh thánh đem đến một vẻ đẹp mới cho ngôn ngữ thi ca. Những nội dung, tư tưởng Kinh Thánh trở nên gần gũi quen thuộc, và ngược lại ngôn ngữ dân dã chứa đựng hàm nghĩa mới từ Kinh Thánh. Đấy chính là vẻ đẹp của ngôn ngữ thi ca Công giáo (một mặt rất quan trọng của văn hóa Công giáo) trong tiến trình hội nhập với văn hóa dân tộc.

Về hành động ngôn ngữ, với vốn từ phong phú từ Kinh thánh, Lê Đình Bảng đã dẫn người đọc rời bỏ bầu khi văn hóa cổ điển Trung quốc (những Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Lạc Tân Vương…) mà tiến vào thế giới tinh thần phương Tây (Cựu Ước và Tân Ước), vào bầu trời thần học Kitô giáo, khác hẳn với vũ trụ Thiên Mệnh của Nho giáo, Đạo “vô vi” của Lão giáo và Bát chánh đạo của Phật giáo.

Cũng bằng hành động ngôn ngữ, nhà thơ đã “sống đạo”, đã “loan báo Tin Mừng” theo cách của người nghệ sĩ. Vốn điển ngữ Kinh thánh của Lê Đình Bảng giúp người đọc hiểu được lý tưởng thẩm mỹ, ý thức sáng tạo của nhà thơ. Điều này giúp định vị thơ Lê Đình Bảng, một tiếng thơ khác biệt với thơ thế tục.

NÉT ĐẸP NGƯỜI CÔNG GIÁO

Nói văn hóa là nói đến con người. Loài vật chỉ có bản năng, không có văn hóa. Sự trỗi dậy của bản năng nơi con người chính là sự tha hóa, suy đồi. Người ta đánh giá một con người bằng những ứng xử văn hóa của người ấy.

Cho nên, nói về vẻ đẹp văn hóa Công Giáo, trước hết hãy quan sát những chân dung, những hình tượng người Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng.

Trong thơ lê Đình Bảng, hình tượng người mẹ Công giáo khá đậm nét.
Trên bến vắng đò khuya lau lách
Tiếng đàn ai dặm khách trăng soi
Đêm nay bếp lửa ai ngồi
Hắt hiu đường vắng bóng người về thôn

Súng nổ vang phía đồn Kha-Lý
Từ Vân Am, Xá Thị, Quỳnh Côi
Đêm đêm mưa đạn tơi bời
Dưới hiên thềm đá mẹ ngồi cầu kinh
Rồi lửa ngút giặc tràn quê nội
Mẹ con mình khăn gói đi mô
“Hoạt Thành, Tiên Lãng ra tro
Thụy Anh, Vĩnh Bảo ăn no kẹo đồng”

Mẹ ơi, sao mẹ không than thở
Dù đói no, sầu khổ, buồn vui
Chúng con vẫn nhớ nụ cuời…
(Khóc mẹ)

Nhớ ngày rày năm xưa
Mẹ ngồi lần tràng hạt
Đợi con dưới phương đình
Rưa hè vẳng lời kinh
Nghe ca vè Cụ Sáu
(Về quê nhà Phát Diệm)

Nhân vật người mẹ Công giáo có những phẩm chất của người mẹ Việt Nam (cần cù, chịu thương chịu khó, giàu đức hy sinh, thương chồng thương con,..), nhưng Lê Đình Bảng tô đậm hình ảnh mẹ ngồi lần tràng hạt, mẹ ngồi cầu kinh, dù trong hoàn cảnh gian khổ hay trong bom rơi đạn nổ. Hình như tất cả những gian nan hiểm nguy đối với mẹ, không gây ra sự lo sợ, thảng thốt, bi đát nào, mặc dù có những nỗi buồn được chôn kín trong lòng, và những nỗi truân chuyên không tỏ lộ. Do đâu người mẹ Công giáo có sự bình tâm ấy? Là do mẹ cầu nguyện phó thác mọi sự trong tay Chúa với một lòng tin kiên vững, dẫu có sóng gió ba đào thì Chúa luôn che chở giữ gìn. Đức Giê su nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14, 27). Như vậy vẻ đẹp văn hóa Công giáo ở người mẹ chính là vẻ đẹp đức tin trong mọi cảnh đời, sống tinh thần phó thác.

Vẻ đẹp người công giáo cũng đậm nét trong bài thơ Những người anh em tôi

Anh em tôi
Có những người lên non xuống bể
Ngước nhìn trời, gối sóng mà bơi
Giữa trầm luân, giữa tục lụy phần đời
Vẫn yêu lấy chiếc áo dòng ngày xưa mẹ sắm

Anh em tôi
Có những người ở tận vùng sâu, xa lắm
Xứ đạo nghèo, bốn mùa cây lúa chẳng ra bông
Lũ trẻ thơ bỏ học, mò cua bắt ốc ngoài đồng
Của lễ mọn là chục trứng gà, một hai nải chuối
Có những lứa đôi yêu nhau, chẳng đủ tiền cheo cưới
Hoa mẫu đơn vẫn đỏ thắm vườn nhà
Cố quên đi những tháng ngày lầm than, cơ nhỡ
Anh em tôi
Có những người nông dân chân đất
Cũng lên bờ xuống ruộng như ai
Cũng tro phân, chèo chống, cấy cày
Để lời Chúa mọc lên từ biển phèn mặn chát
Họ thủy chung như tấm lòng của đất
Họ bồng bềnh như con nước, tuần trăn
Chẳng bao giờ tham đó bỏ đăng
Vui lúa mới, buồn mùa màng thất bát

Nhà thơ ghi nhận nhiều cảnh đời gian nan, vất vả, khốn khó trăm điều, “bồng bềnh như con nước” của những người anh em (cần hiểu người anh em trong Kinh thánh), song tất cả đều không thở than. Họ vẫn vui sống và bằng lòng mang lấy phận người để “Hoa mẫu đơn vẫn đỏ thắm vườn nhà”, “Để lời Chúa mọc lên từ biển phèn mặn chát”. Tất cả những người Công giáo ấy, dù là tu sĩ hay giáo dân nghèo khổ, họ đều là con dân Việt, đậm phẩm tính Việt. Nhưng họ còn có thêm vẻ đẹp mới. Họ giữ gìn phẩm hạnh và sống Lời Chúa giữa mọi người, họ bình tâm gieo trồng Lời Chúa giữa biển đời mặn chát. Họ không coi kiếp người là kiếp khổ (“Đời là bể khổ”). Họ không cho rằng những khổ lụy phải chịu là do nghiệp quả. Không oán trời, không trách người như văn thơ cổ:

Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
(Văn tế thập loại chúng sinh-Nguyễn Du)

Cả Truyện Kiều (Đọan trường tân thanh) và Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn du đều là tiếng kêu thương bi đát, bế tắc về phận người. Trái lại, Lê Đình Bảng đã ghi được vẻ đẹp văn hóa Công giáo nơi những người sống đức tin ở giữa cộng đồng. Họ vác thập giá và đi trong sự bình an của Đấng Phục sinh. Nét đẹp ấy khác hẳn những triết lý thế tục về con người trước kia.

GIA ĐÌNH, LÀNG QUÊ CÔNG GIÁO
(Nhà thờ đá Phát Diệm)
Thơ Lê Đình Bảng không phải là thơ “phản ánh hiện thực”. Hơn nữa, bút pháp của ông là bút pháp của thơ Lãng mạn (1930-1940), dùng nhiều hình ảnh tượng trưng. Thơ phát triển theo mạch cảm xúc dào dạt của tâm trạng nhà thơ; vì thế nếu muốn tìm hiểu hiện thực gia đình, làng quê Việt Nam trong thơ ông, thì đó là điều bất khả.

Lê Đình Bảng không miệu tả những cảnh sưu thuế phi nhân như trong Tắt Đèn (Ngô Tất Tố), không có những phận người chết đói và cả chết no trong nỗi nhục (truyện Nam Cao), cũng không lên tiếng về những điều chà đạp lên nhân phẩm như trong Thời xa Vắng (Lê lựu)…

Mặc dù cũng chịu đau thương bởi chiến tranh, bởi đói nghèo nhưng Gia đình, làng quê Việt Nam trong thơ Lê Đình Bảng thấm đẫm vẻ đẹp văn hóa Công giáo. Vẻ đẹp ấy tỏa sáng từ mẫu gương Thánh gia (Chúa Giêsu - Đức Mẹ và Thánh Giuse). Trong gia đình này cả ba vị đều là đấng thánh. Gia đình Công giáo Việt Nam và sống ơn gọi nên thánh. Làng quê Việt Nam nhộn nhịp tươi vui trong mùa Nô-en, rộn ràng lễ hội 40 ngày Chay thánh và Phục Sinh. Khác hẳn với làng quê trong thơ thế tục lặng lẽ bầu khí tâm linh Phật, tiếng chuông chùa tiễn ngày tàn vào hư vô…
Sớm chiều ba cứ đinh ninh
Mỗi khi lần hạt, đọc kinh, nguyện cầu
Ngủ đi con, ngủ thật lâu
Đã nghe sương xuống mái đầu bạc phơ
(Ru con)

Đây, trọn vẹn một niềm thuận thảo
Làm lễ dâng, lòng đạo, đức tin
Chắp tray, miệng hát muôn kinh
Chúa thương, phù hộ, giữ gìn Mẹ luôn
(Mẹ là bóng cả cây cao)

Vẫn cái gốc chân quê mình mãi mãi
Vẫn một sương hai nắng mẹ ra đồng
Vẫn thân cò lặn lội ở bờ sông
Cha cày ải trên cánh đồng chiêm trũng

Em hái đầy thuyền hoa sen hoa súng
Chở hết chiêm bao dâng trước bàn thờ
Ôi đức tin đã vàng óng chanh mơ
Và lòng đạo đã chín mùi thơm thảo

Mấy trăm năm là mấy mùa giông bão
Mỗi bước ta đi chân cứng đá mềm
Cứ mơ hoài được trong ấm ngoài êm
Vì nước mắt đã trào ra từ đấy
(Trên đỉnh Trường Sơn)

Xin cứ hái những nhành hương vừa ý
Bồ câu ơi, bay lên, rợp ngoài đồng
Em có về quê lúa của nhau không
Vẫn đỏ thắm hoa vông, vào vụ gặt
Từ những buổi hừng đông đi vỡ đất
Đồng trũng, đồng chiêm, mùa gạo tám thơm
Tháng Giêng này, bông trĩu hạt, vườn ươm
Rộn ràng làng quê, chiếu chèo mở hội
Những cô tấm vừa lớn không như thổi
Rủ nhau đi, xiêm áo mới, dầu đèn
Cứ như thuyền ra nước lớn, triều lên
Mắt sáng, môi tươi, đàn ca nhã nhạc
(Khi trăm họ một nhà)

Nửa thế kỷ, tôi lìa xa quê mẹ
Nay trở về, đôi mắt cứ rưng rưng
Qua những cánh đồng nhòa nhạt hơi sương
Qua những đường thôn rạ rơm sũng ướt

Về Trà Vy đúng vào phiên chầu lượt
Giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ
Hình như là ai giữ bước chân đi
Thiêng liêng quá, đất và người yêu dấu

Ở đâu đó những lũy tre, hàng dậu
Ôi dạt dào, những cảm xúc, tôi nghe…
Lời mẹ ru hay nhịp võng sau hè
Ai vẫn đợi ngoài bến sông xưa cũ

Chùm mẫu đơn nở trong vườn nhà xứ
Em kết thành đôi hoa đỏ hồng hồng
Để hôm nào, ra đầu ngõ ngóng trông
Ai cuối bãi, ai đầu ghềnh xa lắc

Đã lâu lắm, tôi xa quê bằn bặt
Nhớ ngày xưa còn cắt cỏ, chăn trâu
Đâu những bến bờ trong, đục, nông, sâu
Đâu những chân đê, bếp chiều lên khói

Tôi nghe rõ mỗi gập ghềnh trôi nổi
Mấy mươi năm dài hơn cả đời người
Nghe tiếng chuông chiều, ra ngắm mây trôi
Đứng trước hàng hiên, gửi hương cho gió
(Nhớ Trà Vy)

Những trích đọan thơ trên đủ vẽ ra bức tranh làng quê Công giáo đẹp, êm ả với nhiều nét đẹp văn hóa mới. Vẫn là một vùng quê nghèo, người dân lam lũ “một nắng hai sương”, vẫn những “thân cò lặn lội bờ sông”. “Mấy trăm năm là mấy mùa giông bão”, những cánh đồng nhòa sương, những đường thôn ướt sũng rơm rạ, tiếng mẹ ru võng sau hè, bếp chiều lên khói cùng với tiếng chuông chiều đưa hồn ta lên trời; nhưng nhà thơ lắng nghe được những dạt dào cảm xúc sau lũy tre, hàng dậu, trong những phiên chầu lượt, làng quê giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ…thật thiêng liêng, thật thắm thiết nghĩa tình.
Về Trà Vy đúng vào phiên chầu lượt
Giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ
Hình như là ai giữ bước chân đi
Thiêng liêng quá, đất và người yêu dấu
Tứ thơ này thật mới lạ và quyến rũ
Em hái đầy thuyền hoa sen hoa súng
Chở hết chiêm bao dâng trước bàn thờ
Ôi đức tin đã vàng óng chanh mơ
Và lòng đạo đã chín mùi thơm thảo
Nét đẹp văn hóa làng quê Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng là nét đẹp của “đức tin vàng óng chanh mơ”, là “lòng đạo thơm thảo” trong cả một “thuyền đầy hoa sen hoa súng dâng trước bàn thơ”. Một làng quê bình an, vừa sôi nổi sức sống lại vừa lắng đọng niềm tin yêu. Điều này khác hẳn với thơ hiện thực về làng quê. Có nỗi xót xa, hiu hắt.
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá…

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay…

Áo anh rách vai
Quần tôi có vài miếng vá..
(Đồng chí-Chính Hữu)
Tôi thấm thía cái tình làng nghĩa xóm của người nhà quê khi một người trong làng qua đời:
Trải qua một cuộc bể dâu
(Những điều trông thấy mà đau đớn lòng)

Trời mênh mông đất mênh mông
Nghìn thu cách mặt xa lòng từ đây
Hôm nay có một người nằm ngủ
Dưới tàn cây cổ thụ xanh tươi
Máu ngừng reo, tắt nụ cười
Mà xe thiên cổ đưa người về đâu
Chúng tôi xin được giã từ
Người đi đi mãi tít mù tăm hơi
Đau thương chẳng nói lên lời
Nguyện xin được hưởng quê trời, Amen
(Nhớ ông giáo Hà Nam)

‘TRẨY HỘI LÊN ĐỀN”

Ở Việt Nam có nhiều lễ hội. Có những lễ hội lịch sử: Giỗ tổ Hùng Vương, Lễ Hội Gióng, Lễ hội đền Hai Bà Trung, Lễ hội Gò Đống Đa. Có lễ hội tâm linh: Trẩy hội Chùa Hương, Hội Lim, Lễ hội Katê của người Chăm ở Ninh Thuận, Lễ hội Cầu Ngư (Huế), lễ hội Tháp Bà Ponagar ở Khánh Hòa, Lễ hội Căm Mường ở Lai Châu, Lễ hội Bà Đen, lễ hội vía Bà Chúa xứ…

Các lễ hội là dịp để con dân Việt trở về lịch sử, cội nguồn, gắn kết cộng đồng, hun đúc tính yêu quê hương đất nước. Lễ hội cũng thể hiện những khát vọng tâm linh. Người ta cầu cho quốc thái dân an…

Trong tập Ơn đời một cõi mênh mang có nhiều bài “Trẩy hội”, gắn liền với những sự kiện lớn của Giáo hội Công giáo Việt Nam: Về Sở Kiện về Thăng Long hội ngộ (Khai mạc Năm Thánh 2010), Về phương Nam trẩy hội (Đại hội Dân Chúa 2010), Về La Vang trăm họ một nhà (Bế mạc Năm Thánh 2011), Khi trăm họ một nhà, Cho trần gian được sống dồi dào (Kỷ niệm 150 năm thành lập GP Huế)…

Mặc dù cũng là “trẩy hội” song lễ hội Công giáo hoàn toàn khác với lễ hội dân gian cả về nội dung và hình thức tổ chức. Lệ hội Công giáo có phần lễ là chính. Phần này theo đúng nghi thức của Roma trong việc cử hành các phụng vụ tế lễ tôn vinh Thiên Chúa. Phần “hội” thường chỉ là dịp để muôn dân khắp bốn phương trời hội ngộ, có dịp đến thánh địa kín múc ơn thiêng. Không có các nghi thức, các “trò” như trong lễ hội dân gian.

Nhà thơ Lê Đình Bảng không viết về phần phần “Lễ” mà tập trung miêu tả tâm trạng của người dự “hội” khi được gặp mặt người anh em khắp Trung, Nam, Bắc.

Trong các tập thơ của Lê Đình Bảng, những bài thơ về lễ hội có một mạch cảm xúc đặc biệt dào dạt phơi phời, cảm xúc của người đi dự lễ hội với một tâm hồn bay bổng như cánh hồng ngàn khơi. Những tay bắt mặt mừng, những gọi nhau ơi ới, những chuyện trò miên man, những níu kéo không dứt ra được. Muôn người cùng hòa một nhịp trái tim, cùng hát một khúc hoan ca của một đức tin trào dâng như sóng muôn trùng, của lòng mến rực sáng như lửa cháy.

Có lẽ đây là những bài thơ đúng với tầm vóc của hồn thơ Lê Đình Bảng. Một Cái Ta quảng giao, Cái Ta nhập vào cộng đoàn lễ hội, Cái Ta bay bổng non ngàn, trùng khơi khắp ba miền. Mạch thơ cuồn cuộn dào dạt cùng với đoàn người trẩy hội. Ông hay dùng từ “trẩy hội lên đền”. Từ này bao hàm nghĩa của Kinh thánh.
Ơi những liển-em liền – chị Kinh Bắc
Đã xôn xao lời biển gọi trào dâng
Từ buổi truyền tin Mẹ nói “xin vâng”
Mau chân nhé, bởi hồn đương thổn thức
Hôm nay trời và đất đã gồm thâu…
Ngày hội trùng dương tay bắt mặt mừng
Ngồi cùng bàn, góp gạo thổi cơm chung
Để chia sẻ những buồn vui, đắp đổi
Ba miền đất ba dòng sông vời vợi
Một trái tim sôi tràn lửa Đa Minh
Giữ gìn nhau bền đỗ để làm tin
Như men, muối giữa trần gian giông gió
(Khi trăm họ một nhà)

Nay, trăm họ một nhà, vui hội ngộ
Tiệc đoàn viên, mừng lịch sử sang trang
Cao vút mây xanh, rực rỡ đền vàng
Nhà Chúa ngự đẫm mùi hương trầm quế

Mau chân với, về thông công đại lễ
Cứ lung linh xiêm áo mới dầu đèn
Người bên người, như lớp lớp triều lên
Chung tiếng hát lời kinh mừng năm thánh
(Trẩy hội lên đền)

Tay bắt mặt mừng vui trẩy hội
Người đi như nước mấy hôm liền
Hôm nay, mở cửa Thiên Đàng đấy
Để thấy từ Tiên Tri, Sấm Truyền
Lời Chúa đã đi vào cuộc sống
Nảy ngành xanh ngọn, trái nhiều thêm
(Vườn Xoài ơi vỗ tay reo)

Về Trà Kiệu, về quê hương, nhà Mẹ
Ghé Hội An, ra phường phố đông ken
Trong đêm giã hoa, Ngũ Xã đỏ đèn
Cờ xí rợp trời đức tin vàng đá
(Tháng 5 về quê Mẹ Trà Kiệu)

Mau lên nhé, rủ nhau về đi lễ
Về La Vang, để cầm trí cầm lòng
Nơi bến bờ gặp gỡ những dòng sông
Con cái Mẹ từ muôn phương hội ngộ

Đêm nay, La Vang pháo hoa rực rỡ
Mắt lệ trào dâng, òa vỡ trong mưa
Ơn nhiệm màu đẫm vào nhạc vào thơ
Sao, ngây ngất bởi lời kinh sốt mến
Mau lên nhé quỳ bên nhau cầu nguyện
Vì đêm nay, đêm nhật nguyệt ra đời
Bốn phương trời, mười phương đất xa khơi
Đêm trừm tịch, đêm bồi hồi chờ sáng
Mau lên nhé, kẻo núi mòn sông cạn
(Về La Vang trăm họ một nhà)

Nét đẹp của văn hóa Công giáo trong các lễ hội là tinh thần của người đi dự lễ. Lòng chung lòng, nghiêm trang cầu nguyện. Họ đắm mình trong câu kinh tiếng hát và mở lòng ra hướng về Thiên Đàng.

Người gọi người, “mau lên nhé”.”Bốn phương trời, mười phương đất xa khơi” cùng về đây, “Tay bắt mặt mừng vui trẩy hội/ Người đi như nước mấy hôm liền”; “Người bên người, như lớp lớp triều lên/ Chung tiếng hát lời kinh mừng năm thánh”; “Mau lên nhé quỳ bên nhau cầu nguyện”; “Hôm nay, mở cửa Thiên Đàng đấy”.

Ôi thật là linh thiêng, thật là xúc động: “Mắt lệ trào dâng, òa vỡ trong mưa/ Ơn nhiệm màu đẫm vào nhạc vào thơ/ Sao, ngây ngất bởi lời kinh sốt mến”. Triệu triệu con tim, triệu triệu tấm lòng cùng cất lời ca tụng Thiên Chúa và chia sẻ niềm hân hoan như ngày xưa Phêrô được Chúa đưa lên núi thánh (Mt 17, 1-9). Mỗi cử chỉ mỗi, mỗi hành vi đều hết sức giữ gìn trang nghiêm. Tình hiệp thông, sự gắn bó khắp muôn phương chưa bao giờ đẹp như thế.

Tất cả tinh thần thánh thiện ấy, thái độ tham gia lễ hội thành tín, trang nghiêm của mỗi giáo dân chính là nét đẹp văn hóa Công giáo trong đời sống cộng đồng mà các lễ hội dân gian không có được.

Tài năng của nhà thơ Lê Đình Bảng là vừa chụp ảnh được toàn cảnh “trăm họ một nhà, vui hội ngộ”, “Ngồi cùng bàn, góp gạo thổi cơm chung/ Để chia sẻ những buồn vui, đắp đổi”; vừa ghi được ánh hào quang tinh thần của “đêm nhật nguyệt ra đời”, và kìa! “Cao vút mây xanh, rực rỡ đền vàng/ Nhà Chúa ngự đẫm mùi hương trầm quế”.

Thơ ca Việt Nam có rất ít những bài thơ về lễ hội miêu tả cái tinh thần chung của “trăm họ một nhà, vui hội ngộ”. Có chăng chỉ là những tâm tình riêng, chuyện tình riêng đôi lứ khi đi dự lễ hội. Bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp có cái hay tả cảnh, tả tình từ góc nhìn cá nhân một cô gái 15 tuổi, nhưng có cái xô bồ, trần tục của bối cảnh.
Sau núi Oản, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi.
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây.
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.
(Chùa Hương-Nguyễn Nhược Pháp)

Thơ Lê Đình Bảng ghi được nét đẹp văn hóa lễ hội Công giáo. Đó là đóng góp riêng của nhà thơ vào thơ ca Việt đương đại. Mảng thơ này của Lê Đình Bảng bộc lộ rõ nhất sự tài hoa, phóng khoáng của thi nhân. Thơ mở rộng biên độ không gian, thời gian. Cái Tôi được giải phóng để hội nhập với cộng đồng. Vì thế, dù Thơ Lê Đình Bảng nằm trong thi pháp thơ thơ Lãng mạn (1930-1945) với rất nhiều hình ảnh tượng trưng, nhưng đã có những bước phát triển mới mẻ.

CÁCH NHÌN LỊCH SỬ

Tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang còn có những bài thơ thể hiện cái nhìn lịch sử dân tộc và lịch sử Giáo hội Việt Nam. Nhà thơ giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp văn hóa của một dân tộc trong tiến trình lịch sử, nhận ra vẻ đẹp của Giáo hội giữa những thăng trầm thế tục. Sự hội nhập văn hóa này xóa đi những định kiến lịch sử về đạo Công giáo ở Việt Nam một thời bị ngộ nhận.

Lê Đình Bảng viết về Xóm Chiếu (thành lập năm1856), nhân dịp kỷ niệm 150 năm thành lập giáo xứ:
Trăm năm trước có ai về Xóm Chiếu
Ngút ngàn bên kia, kinh rạch chập chùng
Ngập mặn rừng chàm, bần đước, khe truông
Cá sấu, cọp, beo, muỗi mòng ve vắt

Và bao nỗi đau lặng thầm giấu mặt
Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin
Của những lưu dân từ Nghệ, Tĩnh, Bình
Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội An, Nam Ngãi
Từ phương Bắc người tay bồng tay bế
Lại những lưu dân trốn chạy cùng đường
Ở Sài Gòn nên đồng khói đồng hương
Ở Xóm Chiếu nên đất lành chim đậu
Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật
150 năm canh thức dầu đèn
150 năm làm muối làm men
Một thời vỡ hoang một thời bão tố
Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ
(Hát bài trường ca Xóm Chiếu )

Nhà thơ nhìn những “nỗi đau lặng thầm giấu mặt/ Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin” của giáo dân lưu tán từ Nghệ, Tĩnh, Bình/ Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội An, Nam Ngãi và cả những dân di cư từ miền bắc vào Xóm Chiếu bằng cái nhìn Đức tin.
Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật
150 năm canh thức dầu đèn
150 năm làm muối làm men
Một thời vỡ hoang một thời bão tố
Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ
Dưới ánh sáng đức tin, người Công giáo nhìn những đau khổ, gian nan “Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin” (trải qua nhiều thời kì cấm đạo từ chúa Nguyễn đến thời Quang Trung, các vua nhà Nguyễn, phong trào “Bình Tây sát tả” của Văn Thân, những khó khăn trong chiến tranh, khó khăn khi đất nước bị chia cắt…). “Một thời vỡ hoang một thời bão tố” ấy là “bờ xôi ruộng mật”, là thời gian để giáo dân ”canh thức dầu đèn”, “làm muối làm men” để rồi “Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ” (Ba tứ thơ này hàm nghĩa Kinh thánh)

Một cái nhìn như thế về lịch sử, về giáo hội thể hiện nét đẹp văn hóa Công giáo, nét đẹp của sự nhận thức những chân lý lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng.
Và đây là nhận thức về lịch sử dân tộc:
Đây, hoa gấm thành đô Tổ quốc
Đây, uy linh cương vực giống nòi
Dặm dài bờ cõi xa khơi
Đông Sơn còn vọng tiếng người nghìn xưa

Ai cưỡi sóng mở cờ báo tiệp
Đuổi kình ngư, dựng nghiệp trong ngoài
Nỗi nhà, vận nước hai vai
Quyết đem chí lớn xây đài vinh quang

Bạch Đằng Giang sấm vang chớp giật
Ngập xác thù trôi dạt mênh mông
Biển-trời-mây-nước Tây Đông
Sơn hà xã tắc con Rồng cháu Tiên

Khi quốc biến côn quyền hơn sức
Thuở binh đao thao lược đua tài
Bình Ngô Đại cáo giương oai
Thù trong mất vía, giặc ngoài khiếp run

Cha dong ruổi mài son đánh giặc
Mẹ tảo tần mài mực ru con
Hàm Rồng đứng giữa mưa bom
Trơ trơ dạ sắt, gan đồng Lam Kinh

Trước Tổ quốc anh linh tiên tổ
Chúng con nay làm giỗ lập đàn
Nguyện cầu Quốc thái dân an
Non sông mở mặt Việt Nam lẫy lừng

Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế
Người với người, mở huệ tình thương
Lòng thành nguyện với hoa hương
Trăm muôn vạn lạy mười phương đất trời
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi vinh hiển
Lạy Nữ Vương Vô Nhiễm từ bi
Khi buồn vui lúc an nguy
Công cha nghĩa mẹ phú trì, ủi an
Chúng con nguyện chắp đôi tay
Chúa ban phần phúc dư đầy, Amen
(Bồi hồi bên sông Mã)
Bài thơ ghi: “Kính dâng tiền nhân tiên tổ xứ Thanh”, gợi cho người đọc một bề dày lịch sử của đất Lam Kinh, Thanh Hóa (Lam Kinh được nhà Lê xây dựng năm 1433). Trước Công nguyên, vùng đất Thanh Hóa nằm gọn trong quận Cửu Chân nước Âu Lạc (năm 111 trước CN). Nơi đây từng có cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu chống quân Đông Ngô (năm 248), nơi đây Hồ Quý Ly từng xây dựng Tây Đô (Thành nhà Hồ) và đóng đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Sau nhà Hồ, Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa và hoạt động 6 năm ở đây (1418-1424). Xứ Thanh cũng là nguồn gốc của các triều đại lớn: Họ Lê, họ Trịnh và họ Nguyễn. Nhắc lại sơ lược một vài sự kiện lịch sử để thấy Xứ Thanh có vị trí quan trong trong lịch sử Việt, nơi anh linh tổ quốc hội tụ.

Lê Đình Bảng nhắc lại thời Văn hóa Đông Sơn (Làng Đông Sơn, Thanh Hóa là nơi có di chỉ khảo cổ nổi tiếng thế giới được phát hiện năm 1924) …Nhắc tới Lam Kinh, Bình Ngô Đại cáo là ghi nhớ công ơn khởi nghĩa Lam Sơn (Lê Lợi). Hàm Rồng là khu di tích lịch sử. Nhắc tới Hàm Rồng là nhắc đến những sự tích anh hùng của dân xứ Thanh. Núi Rồng, sông Mã, động Long Quang là nơi ghi dấu nhiều danh nhân. Năm 1972, Mỹ dùng bom đánh phá cầu Hàm Rồng. Cầu do ngưới Pháp xây dựng năm 1904…

Cái nhìn của nhà thơ Công giáo Lê Đình Bảng về lịch sử dân tộc mình là cái nhìn thế nào?
Trước Tổ quốc anh linh tiên tổ
Chúng con nay làm giỗ lập đàn
Nguyện cầu Quốc thái dân an
Non sông mở mặt Việt Nam lẫy lừng

Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế
Người với người, mở huệ tình thương

Đấy là cái nhìn về một đất nước “Địa linh nhân kiệt” (Đất linh thiêng sinh người hào kiệt) với lòng tự hào và biết ơn. Nguyễn Trãi đã khẳng định: “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có” (Bình Ngô Đại Cáo). Lê Đình Bảng nhận ra một đặc điểm ưu việt của tổ tiên là: “Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế/ Người với người, mở huệ tình thương” nên con cháu mới được hưởng phần phúc. Là một nhà thơ Công giáo, Lê Đình Bảng không chỉ biết ơn tổ tiên mà còn nguyện xin Thiên Chúa cho “quốc thái dân an, non sông mở mặt…”. Nhà thơ đã hòa nhập vào tinh thần chung của dân tộc này.

THAY LỜI BẠT

Bài viết đã hơi dài, tôi không dám nhiều lời hơn. Chỉ xin chia sẻ điều này. Tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang và những tập thơ khác cùa nhà thơ Lê Đình Bảng có một giá trị đặc biệt là thể hiện những nét đẹp văn hóa Công giáo trong sự hội nhập với lịch sử văn hóa dân tộc. Ông không chỉ giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp thơ ca mà còn giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp người Công giáo, vẻ đẹp một gia đình Công giáo, làng quê Công giáo, lễ hội Công giáo và vẻ đẹp lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng.

Nhà thơ Lê Đình Bảng, từ khuôn mặt một thi nhân tài hoa lãng tử đã hiện lên những góc cạnh của một khuôn mặt văn hóa Công giao đương đại. Chất tài hoa kết hợp với sự uyên bác cùng với lòng nhiệt thành của một trái tim đầy ân sủng, Lê Đình Bảng đã góp cho văn học Công giáo những trang thơ văn độc đáo và giá trị.

Ông hiểu tất cả những điều ấy là do Trời, do đời cho ông.
Cảm ơn, Trời vẫn sương sa
Đã cho đất nở thành hoa, thành người…
Cảm ơn đòi đọan trăm điều
Nuôi ta đẫy sức nâng niu cuộc đời
Ngày mai tàn cuộc rong chơi
Ta xin làm đóa trăng soi bên Người
(Ơn đời một cõi mênh mang)
Tháng 6/2021
Được tạo bởi Blogger.