Nguyễn Trường Tộ - người Công giáo yêu nước xứ Nghệ với tư tưởng vượt thời đại


Ông là nhà tư tưởng, nhà cải cách lớn của đất nước ta cuối thế kỷ XIX trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quân sự... Đến nay, nhiều tư tưởng đổi mới của ông vẫn còn nguyên giá trị.

Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828, trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa tại làng Bùi Chu, nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

Sinh ra ở làng quê nghèo, là người thông minh từ nhỏ và ông cũng nhận được nền giáo dục tiên tiến từ rất sớm. Nhờ học thông Tứ thư, Ngũ kinh của Nho giáo, năm 27 tuổi, ông được giám mục Gauthier đưa vào chủng viện Tân Ấp thuộc xứ đạo Xã Đoài để dạy chữ Hán cho giám mục và được giám mục dạy lại cho chữ Pháp cũng như tri thức khoa học châu Âu.

Năm 1858, giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang học tập, nâng cao kiến thức nhiều mặt tại Pháp. Hơn 2 năm ở Paris, chẳng những ông hiểu biết nhiều về khoa học, kỹ thuật, nhất là về kiến trúc, khai mỏ, mà còn đọc rộng về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật… và tìm hiểu được một số thành tựu công nghệ của phương Tây nhất là Pháp.

VĂN HOÁ CÔNG GIÁO TRONG LÒNG VĂN HOÁ DÂN TỘC

Nhà thờ Phát Diệm-ảnh trên internet

***

Bùi Công Thuấn

Đã có quá nhiều định nghĩa về “văn hoá”, song mỗi định nghĩa chỉ là một góc nhìn về văn hoá, không thể bao quát chính xác ý nghĩa của thuật ngữ. Theo tôi, Văn hoá là toàn bộ đời sống tinh thần, biểu hiện bằng tất cả những gì con người làm đẹp cuộc sống (hoá là trở thành-Văn là đẹp), tức là sự thể ra bên ngoài, bằng hành động, bằng vật thể, vằng lối sống cái đẹp của đời sống tinh thần. Cái đẹp của văn hoá (khác với mỹ thuật) là cái đẹp nhân văn, là sự tôn trọng con người, là tôn vinh những giá trị Người. Vì thế chiến tranh, xung đột không bao giờ là văn hoá, vì nó tàn sát con người. Những sự đối xử thô bạo với con người đều là vô văn hoá.

Văn hoá giúp phân biệt con người và thú hoang. Phải nhiều ngàn năm con người mới đạt tới trình độ văn hoá hiện nay, trong khi loài vật vẫn sống theo bản năng. Bất cứ hành động nào đem con người trở lại tình trạng bản năng đều là suy đồi. Con người đã nâng hành vi bản năng lên thành ứng xử văn hoá. Chẳng hạn, tính dục là một bản năng, loài vật sinh hoạt tính dục theo mùa, và chúng có thể giao cấu ở bất cứ chỗ nào, lúc nào mà bản năng đòi hỏi. Trái lại, con người có văn hoá, không hành xử như loài vật mà nâng tính dục lên thành giá trị, thành đạo đức, thậm chí thành những điều linh thiêng. Tín ngưỡng phồn thực tôn thờ bộ phận sinh dục nam và nữ và hành vi tính dục nam nữ. Trên trống đồng có những hình ảnh nam nữ đang giao cấu. Trong lễ hội Trò Trám ở Tứ Xã huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, (còn gọi là lễ hội “Linh tinh tình phộc”) đêm 11 tháng Giêng âm lịch, người ta vẫn cử hành nghi thức giao hoan. Tùy theo kết quả cuộc giao hoan ấy mà người ta tin rằng làng được mùa hay kém mùa. Ở Nhật cũng có lễ hội thờ “sinh thực khí”.

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO VỚI VĂN HOÁ VIỆT



Đạo Công giáo du nhập vào nước ta từ đầu thế kỷ XVI. Các sử gia Công giáo lấy mốc năm 1533 vì có ghi trong Khâm định sử thông giám cương mục. Nhưng tư liệu này không chắc chắn vì ghi theo “ dã sử”. Hơn nữa, giáo sĩ Inikhu nói ở sách này, cho đến nay vẫn không ai rõ tung tích. Đồng thời cả trong phần “ cương” và “mục” của sách trên cũng nói rằng, “ trước đã có lệnh cấm rồi”. Chứng tỏ tôn giáo này có trước cả thời điểm 1533. Tuy nhiên, có thể khẳng định chắc chắn, đạo Công giáo đã có nhiều đóng góp với văn hoá Việt.

Bài huấn luyện hàng tháng của Ủy ban Giáo Dân - Tháng 09.2019 - PHẦN MỤC VỤ
Bia vinh danh những đóng góp trong việc hình thành chữ Quốc ngữ của cha Đắc Lộ.

Lời mở

Sống trong thời đại tin học, nhiều người ít quan tâm đến chữ viết tay và chỉ cần gõ trên bàn phím của chiếc điện thoại hay máy vi tính là có thể gửi thư cho nhau rồi [1], hoặc chỉ cần ra lệnh cho máy in bàn là người ta có một văn bản đẹp với đủ loại kiểu dáng chữ in. Hơn nữa, vì cuộc sống vội vã, nên những gì cần viết tay, người ta thường viết rất nhanh, đường nét không chuẩn, dấu chữ đặt sai vị trí, nhưng vẫn có thể đọc được vì đã quen với chữ Việt và tiếng mẹ đẻ của mình. Trầm trọng hơn cả là người ta coi thường văn phạm trong những văn bản trên sách báo, truyền hình, dùng những từ thông tục và thường đánh dấu các từ không chính xác theo ngôn ngữ học. Quả thật nhiều người Việt hiện nay ít quan tâm đến văn hoá chữ viết! Nhưng người Công giáo chúng ta lại có trách nhiệm lớn đối với chữ Việt vì tổ tiên chúng ta đã sáng tạo ra thứ chữ này.

SÁNG TÁC CHO LỨA TUỔI NHỎ

Các tác giả cuộc thi Sáng Tác Cho Tuổi Thơ 2019 chụp ảnh lưu niệm tại mộ thi sĩ Hàn Mạc Tử

Tuần trước, tôi có cuộc trò chuyện với Lm.Trăng Thập Tự xung quanh vấn đề sáng tác cho thiếu nhi. Trong câu chuyện, ông lộ chút băn khoăn khi BTC cuộc thi “Sáng tác cho tuổi thơ” lần này chưa kêu gọi được tác phẩm dành cho lứa tuổi nhỏ. Ông mong muốn thời gian tới đây, Tập san Mục Đồng sẽ nhận được sự cộng tác của nhiều tác giả với tinh thần chú trọng hơn tới sáng tác cho các độc giả nhí. Là người nghiên cứu và giảng dạy văn học thiếu nhi, tôi ủng hộ mong ước này của Lm. Trăng Thập Tự.

Bài viết này của tôi được thực hiện theo đề nghị của Lm. Trăng Thập Tự. Qua nội dung trình bày, chúng tôi hi vọng sẽ đem tới cho quý vị một vài thông tin hữu ích về vấn đề sáng tác cho lứa tuổi nhỏ, góp phần phát triển chuyên mục “Văn học thiếu nhi” của Tập san Mục Đồng.

1. Viết cho lứa tuổi nhỏ là một công việc đầy khó khăn

1.1. “Lứa tuổi nhỏ” mà chúng tôi nói tới ở đây bao gồm các độc giả thuộc độ tuổi mầm non và tiểu học, tức từ 0 đến 11 tuổi.

Chuyên đề

THI SĨ HÀN MẶC TỬ - TÁC GIA, TÁC PHẨM VÀ TIẾP NHẬN

(Quy Nhơn, ngày 21/9/2019)


PGS.TS. NGUYỄN HỮU SƠN
(Viện Văn học)
20 Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Tel: 04.38259006; 0913031635

Chuyên đề gồm ba nội dung chính: Tình hình văn bản - Quá trình tiếp nhận Hàn Mặc Tử qua các thời kỳ - Tiếp nhận Hàn Mặc Tử sau Đổi mới (1986) và định hướng nghiên cứu hiện nay…

I. TÌNH HÌNH VĂN BẢN THƠ VĂN HÀN MẶC TỬ

1. Về nguồn thơ Hàn Mặc Tử trên báo Công luận

Thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912-1940), còn có các bút danh Hàn Mạc Tử, Minh Duệ Thị, P.T, Phong Trần, L.T, Lệ Thanh, Lệ Thanh nữ sĩ, Lệ Giang, Sông Lệ, Mộng Cầm, Trật Sên, Cụt Hứng, Foong Tchan, Mlle Phương Liên, Anh Hoa, Cô Đài Trang, Cô Bạch Bình Giang…; từng cộng tác với các báo Tiếng dân, Phụ nữ tân văn, Thực nghiệp dân báo, Sài Gòn, Tân thời, Người mới, Ngày nay, Tin tức, Công luận, Trong khuê phòng, Đông Á tân văn, Impartial, Opinion, La Lutte… Theo quan sát của chúng tôi, công trình sưu tập văn bản học tốt nhất về Hàn tính đến nay chính là Hàn Mặc Tử - Tác phẩm, phê bình và tưởng niệm (Tái bản. NXB Văn học, H., 2002; 528 trang) của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ (PCĐ, 1933-2007). Trong sách Thơ Hàn Mặc Tử (NXB Văn hóa – Thông tin, H., 2001; 342 trang), soạn giả Mã Giang Lân (MGL) dựa vào thống kê của Phạm Đán Bình (Tin nhà, Paris, số 2-1991) cho biết thêm nhan đề 18 mục bài viết của Hàn, đồng thời xác định “thơ Hàn chúng ta mới được đọc chừng 150 bài, còn thất lạc đâu đó” và kỳ vọng: “Cái phần chìm khuất kia hy vọng sẽ dần dần được kiếm tìm, bồi đắp, sung mãn”…



BẢO TỒN VĂN HÓA VẬT THỂ CÔNG GIÁO - BÀI 1

LTS: Trong những ngày này, dư luận đang nóng từ chuyện Nhà thờ Đức Bà Paris bị cháy, đến việc trùng tu Nhà thờ Chính tòa Bùi Chu. Đây không phải lần đầu tiên dư luận xã hội quan tâm về vấn đề bảo tồn văn hóa vật thể Công giáo. Cách đây hai năm, khi hình ảnh nhà thờ Trà Cổ bị đập phá xây mới, dư luận cũng đã rất quan tâm. Trong dòng sự kiện, ĐỒNG HÀNH xin đăng lại chuyên đề đề BẢO TỒN VĂN HÓA VẬT THỂ CÔNG GIÁO để quý độc giả có cái nhìn đa chiều hơn.

-------------

Hình ảnh ngôi nhà thờ Trà Cổ (Giáo phận Hải Phòng) bị đập phá gần đây lan truyền với tốc độ chóng mặt trên mạng xã hội. Cho dù lý do đập đi xây nhà thờ mới là chính đáng và không còn giải pháp nào thay thế thì những người quan tâm đến di sản Công giáo cũng không khỏi ngậm ngùi, xót xa khi nghĩ đến cảnh những ngôi nhà thờ cổ kính, những đồ thờ tự hàng trăm năm tuổi đang dần biết mất…

Những nhà thờ cổ có khá nhiều ở ngoài Bắc thuộc các giáo phận như Bùi Chu, Phát Diệm, Hà Nội, Thái Bình, Hải Phòng... Chúng mang dấu ấn lịch sử và giá trị nghệ thuật không thể chối cãi. Nhưng tiếc thay, một số trong những nhà thờ đó đang có nguy cơ bị biến mất.

CHÚT CHỮ XƯA TRONG ĐẠO CÔNG GIÁO


Tín hữu Công giáo Việt Nam ngày nay vẫn gặp những chữ xưa, nhất là trong nhiều bản kinh cổ hiện vẫn còn được sử dụng trong các sinh hoạt đạo đức bình dân.

Ví dụ, trong kinh "Đền Tạ Trái Tim Chúa":

Lạy Đức Chúa Giêsu rất nhân lành, Chúa đã yêu dấu loài người quá bội, mà loài người vô tình tệ bạc, lại còn khinh mạn DỂ DUÔI. Nay chúng con sấp mình xuống trước bàn thờ Chúa, hết lòng thờ phượng cung kính, cho được đền vì những sự vô nhân bất nghĩa, khắp thiên hạ hằng làm sỉ nhục Trái Tim Chúa hay thương dường ấy.

SONG LE chúng con nhớ lại, xưa nay chúng con cũng đã lỗi nghĩa cùng Chúa như vậy, thì chúng con hết lòng ăn năn đau đớn, xin Chúa thương xót thứ tha. Chúng con sẵn lòng đền tội chúng con, cùng xin đền tội những kẻ LẠC XA ĐÀNG RỖI, hoặc bởi cố tình chẳng tin phục nhận biết Chúa là Đấng chăn chiên dẫn đàng chính thật, hoặc khinh dể những điều đã khấn nguyện khi chịu phép Rửa Tội, mà dẫy bỏ giới răn Chúa là ách êm ái dịu dàng…


Ngôn ngữ là “phương tiện” truyền tải ý tưởng. Trước đây, giới chuyên môn đã đúc kết: Tỉ lệ sinh tử của từ ngữ là 2% từ vựng (vốn từ, quỹ từ) trong một thế kỷ, nghĩa là ta không hiểu được 2% từ ngữ cách đây 100 năm vì nó đã “chết”, hoặc những người sống trước ta 100 năm có sống lại thì cũng không hiểu được 2% từ ngữ thời ta, vì nó mới “sinh”. Hình như “phương tiện” này luôn được cải tiến, khác gì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (còn gọi là “Bốn chấm không – 4.0”) đang diễn ra trong xã hội, nên tỉ lệ sinh tử của từ ngữ ngày nay có lẽ còn cao hơn!

Đọc lại “Mân Côi Thập Ngũ Sự Thi Ca” của tác giả Phạm Trạch Thiện, viết bằng chữ nôm, thời thịnh Hán - Việt, ta nên đặt mình vào thời đó mới có thể hiểu thấu.

Cha ông ta dạy: “Khẩu tụng tâm suy – Miệng đọc lòng suy”, nhất là tránh được câu Chúa dùng ngôn sứ Isaia mà trách yêu: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta”.

Xin chia sẻ cùng cả nhà bài thuyết trình với chủ đề "Thi Ca và Cầu Nguyện " tại TTMV/TGP/Sài Gòn. sáng thứ Bảy ngày 6/4/2019.


THI CA và CẦU NGUYỆN


Như lời thánh Gioan vianney đã nói.”Lời Cầu nguyện cần cho hồn ta như mưa cần cho mặt đất” và Thánh Augustino cũng nói về Cầu Nguyện như là một nhu cầu cần thiết của con tim..”Sự khát khao đến với Thiên Chúa đã là một lời cầu nguyện…”

Vâng ! Những cơn mưa ấy, những nỗi khát khao ấy đã biến lời cầu nguyện trở thành thơ kinh đầy ắp nhịp rung của trái tim và thơm hương thanh khiết của Lòng Mến.

1. CẦU NGUYỆN THÀNH NHỮNG VẦN THƠ TỪ TRÁI TIM – CẦU NGUYỆN LÀ LÀM THƠ

Cầu nguyện là một sự liên lạc sống động giữa cá nhân mỗi người với Thiên Chúa hằng sống... mối tương quan sống động của con cái Thiên Chúa với Cha trên trời. Chúng ta phải tin, cử hành và sống mầu nhiệm đức tin trong tương quan sống động và thân tình với Thiên Chúa hằng sống và chân thật. Cầu nguyện giúp chúng ta sống mối tương quan này (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 2558, 2565).

Như vậy, cầu nguyện trước hết là cách sống niềm tin mãnh liệt và tròn đầy nhất; nhưng trên hết, cầu nguyện là một tâm tình. Thật vậy, bất cứ mối tương quan nào không có tâm tình, không có tình yêu, mối tương quan đó sẽ trở nên mờ nhạt và không bền chặt. Cầu nguyện phát xuất từ trái tim và chúng ta cầu nguyện với cả tấm lòng. Nếu lòng ta xa cách Thiên Chúa thì cầu nguyện cũng vô ích (GKHTCG, số 2562)

Vâng đúng vậy, trái tim là trung tâm hiện hữu của con người. Trái tim là nơi thầm kín của riêng ta; lý trí hay người ngoài không dò thấu được; chỉ có Thánh Thần Thiên Chúa mới có thể thăm dò và thấu suốt được. Vượt trên mọi khuynh hướng tâm lý, trái tim vẫn là nơi quyết định. Trái tim là nơi con người chân thật với mình nhất, để chọn lựa sự sống hay sự chết. Ðó cũng là nơi gặp gỡ để sống các mối tương giao, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa: Trái tim là nơi sống giao ước (GKHTCG, số 2563).

Như thế khi cầu nguyện, nhịp tim ta rung lên với Đấng Hằng Hữu từ trong sâu thẳm nội tại. Mỗi nhịp rung đều là những nhịp kỳ lạ đầy sáng tạo trong hơi thở Thần Khí, vì chính Thần Khí sẽ dạy cho ta cách rung nhịp để hòa điệu trong Tình Yêu Vĩnh Hằng. (Rm 8, 26-27)

Cứ thế, nhịp rung trong Thần Khí sẽ tràn ra đầy ý thơ thanh khiết, những cung bậc diễm tuyệt để chúc tụng, thờ lạy, để cầu xin, chuyển cầu, để cảm tạ và ngợi khen.




CATHOLIC VIỆT - DÒNG VĂN HÓA ĐƠN CÔI (6)


Khi tôi dẫn lại lời của một người bạn ở Huế, khẳng định "tất cả các tôn giáo đều lấy con người làm trung tâm", một vài bạn thảo luận, cho rằng "Trong Công giáo, Thiên Chúa mới là trung tâm". Các bạn không hoàn toàn sai, nhưng chỉ đúng một cách nửa vời.
Đúng. Trong Đức Tin Công giáo, Thiên Chúa là trung tâm. Ngài hiển linh qua 3 thân vị: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Linh. Nhưng trong cuộc sống trên trái đất, Thánh ý luôn khẳng định: con người mới là trung tâm. Có thể nhận thấy điều này qua các luận cứ:
(i) Đức Chúa Cha là Đấng Tạo hóa, là nguồn gốc của muôn loài. Khi Người nhận thấy, các con chiên của mình đang phải chịu nhiều đau khổ, liền phái Đức Chúa Con hóa thân sống đời trái đất để chịu nạn và cứu rỗi thế giới;
(ii) Trong 3 thân vị Thiên Chúa, Đức Chúa Thánh Linh luôn ngự trong lòng tín hữu, xem họ là đền thờ của Ngài. Ngài ban cho con người các loại khả năng (ân tứ) khác nhau, dẫn dắt họ đến với Đức Tin và thực hiện các Thánh ý. Mỗi sứ vụ mà một tín hữu thực hiện vị tha đều là một biểu hiện cụ thể của Thánh ý;
(iii) Theo Phúc Âm, mỗi con người cá nhân luôn nằm giữa một tam giác quyền năng - Thiên Chúa, tín hữu đồng đạo, và thế giới thụ tạo. Và họ luôn phải hiệp thông với cả 3 quyền năng đó;
(iv) Khi các chức vị trong hàng Giáo phẩm được trao các sứ vụ mục tử, là họ đang thực hiện Thánh ý nhằm dẫn dắt đàn chiên khỏi lạc lối. Mà trong việc chăn chiên, thì tất nhiên đàn chiên phải là trung tâm;
(v) Tất cả các dòng tu trên thế giới được lập ra đều có sứ mạng hàng đầu, theo Thánh ý, là loan truyền Tin Mừng/mở rộng nước Chúa; ngoài ra, mỗi dòng tu đều có những sứ mạng cụ thể khác. Nhưng tất cả các sứ vụ mà mỗi dòng tu thực hiện đều hướng đến mục đích chính là tạo cho con người cuộc sống tốt hơn. Vậy con người không phải là trung tâm thì là gì?





VTCG xin giới thiệu đến độc giả loạt bài viết công phu về Công giáo của tác giả Mai Thanh Sơn, một người ngoại đạo.

CATHOLIC VIỆT - DÒNG VĂN HÓA ĐƠN CÔI (1)



Đạo Công giáo bắt đầu được du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ XVI. Đến nay, cả nước có khoảng gần chục triệu giáo dân, chiếm khoảng 10% dân số. Họ là người Việt. Đương nhiên. Và cũng đương nhiên họ có nền tảng (yếu tố gốc rễ, bền vững) của văn hóa Việt, nhưng cơ tầng (các biểu hiện bề nổi, khả biến) đã có nhiều điểm khác biệt so với bộ phận còn lại của người Việt. Sự khác biệt đó, được quy định bởi sự khác biệt về đức tin, về thế giới quan và nhân sinh quan. Cộng đoàn giáo dân đã sáng tạo nên một dòng văn hóa mới trong lòng cộng đồng dân tộc/quốc gia Việt Nam. Đáng tiếc, từ bao năm nay, dòng văn hóa này hầu như không được quan tâm nghiên cứu và quảng bá đúng mức.

Nói như thế, không có nghĩa là Công giáo Việt Nam không được nghiên cứu. Ngược lại, Việt Nam có hẳn một Ban Tôn giáo Chính phủ, hai Viện Nghiên cứu Tôn giáo, và nhiều Trung tâm có chức năng nghiên cứu tôn giáo. Các đơn vị này đều có bộ phận nghiên cứu về Catholic Việt với nhiều cấp độ đề tài khác nhau (đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, cấp cơ sở). Nhiều công trình nghiên cứu về Công giáo Việt Nam đã được công bố. Nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học về Công giáo Việt Nam đã được bảo vệ. Một số nhà nghiên cứu cũng quan tâm nghiên cứu, giới thiệu các giá trị trong kiến trúc Công giáo Việt Nam. Thế nhưng, trên thực tế, văn hóa của cộng đoàn giáo dân Việt Nam vẫn còn tương đối xa lạ với đa số công chúng Việt. Vì sao vậy?

Ở đây tôi nói ngay nếu ai đó học tiếng Tàu để giao dịch, cũng như học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga..., thảy là chuyện bình thường của mỗi cá nhân.

nguồn ảnh

ĐÂU LÀ CÁI BẪY ĐỂ SAU NÀY PHẢI HỌC TIẾNG TÀU ?

Stt này được viết là nhằm khuyến cáo chúng ta hãy lưu ý về một vấn đề HỆ TRỌNG TRONG KHO TÀNG NGÔN NGỮ của NGƯỜI VIỆT - nếu sa vào cái "bẫy" bài bác việc học/đọc/viết Hán-Việt (tôi ưng gọi là "Việt-Hán" hơn, để nhấn mạnh chúng ta đọc âm Việt khi mượn vỏ văn tự chữ Hán).

Cái bẫy đó như thế nào?

CHUYỂN NGỮ TÊN QUỐC GIA, CÒN TÊN CÁC THÀNH PHỐ?


Sức sống ngôn ngữ của mỗi dân tộc nằm ở đâu? Nằm ở việc gieo được lòng tự trọng về ngôn ngữ trong người dân tới đâu, và nằm ở năng lực chuyển ngữ!

(mời đọc bài "Hãy cùng nhau yêu tiếng Việt hơn"). Trong đó tôi có nêu về năng lực chuyển ngữ của tiếng Việt đối với tên các nước: hãy hãnh diện vì tiếng Việt của chúng ta chuyển ngữ được hết. Coi đi, Tây Tạng (Tibet), Đài Loan (Taiwan), Hương Cảng (Hongkong), Tân Gia Ba (Singapore), Đại Hàn (South Korea), Đức (German), Ý (Italy), Pháp (France), Nga (Russia), Nhựt Bổn (Japan), Gia Nã Đại (Canada), Bồ Đào Nha (Portugal), Ba Tây (Brazil), Mễ Tây Cơ (Mexico), Ấn Độ (India)...

Còn tên các thành phố? Có thể mượn cách của người Pháp để tham chiếu.

a/ Trước hết, về cách gọi TÊN CÁC QUỐC GIA: 

Người Pháp họ đầy đủ năng lực chuyển ngữ thành tiếng Pháp mà không việc gì phải dùng "nguyên ngữ" của người bổn xứ, cũng không việc gì phải dùng tiếng Anh (cho dù tiếng Anh là ngôn ngữ phổ dụng nhứt hiện nay).

Chẳng hạn, tên nước "Thụy Điển" - người Pháp không bê nguyên xi tiếng người Thụy Điển gọi tên nước họ là "Sverige", cũng không mắc gì phải xài tiếng Anh là "Sweden" => Mà người Pháp dùng tiếng Pháp để chuyển ngữ là: "Suède".


Trương Vĩnh Ký – Nhà Giáo Dục Yêu Nước Của Việt Nam


Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường.

Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.


Sau 30/4/1975, khi ngôi trường trung học Petrus Trương vĩnh Ký bị đổi tên và bức tượng bán thân giữa sân trường bị dời đi, học sinh chúng tôi thường tranh luận về “công và tội” của Petrus Ký khi mượn tay người Pháp giúp nền văn học nước nhà.


HÃY CÙNG NHAU YÊU TIẾNG VIỆT HƠN

(xin mượn chuyện trong nhà tôi để nói lai rai nhiều thứ khác)


* Con gái tôi năm nay cháu 26 tuổi, trước đây cháu theo học trường RMIT (The Royal Melbourne Institute of Technology), điểm IELTS 7.5, ghi vậy để biết cháu không xa lạ gì với việc nói năng bằng tiếng Anh. Một lần, cách đây mấy năm, khi tôi hỏi: "Con học ngành design thấy sao...", chưa hỏi dứt câu thì nó nói ngay: "Ba, nói tiếng Việt đi ba! Sao ba không nói "thiết kế" mà phải chêm tiếng Anh "design" vô làm gì?". May là bị con gái mình sửa lưng, chớ không phải người ngoài, nên tôi cũng đỡ "quê".
Nhưng kể từ đó trở đi, tôi ráng rèn giũa ý thức về tiếng Việt, người Việt thì dùng tiếng Việt.

Ngôn ngữ Sài Gòn: những từ vay mượn từ tiếng Pháp


Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội của người Việt. Tiếng Pháp được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Chính phủ Bảo hộ và trong giảng dạy ở nhà trường, bên cạnh đó là các loại sách báo thâm nhập đời sống thường ngày của người dân.

Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.

Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.

"KHI NÚI KHÔNG LÀ NÚI, SÔNG KHÔNG LÀ SÔNG"


Đức Giáo tông Francis gặp gỡ cố GS Stephen Hawking tại Tòa thánh Vatican

Bạn từng nghe cố GS Stephen Hawking cho rằng "không cần thiết có Thiên Chúa trong sự tạo dựng vũ trụ"? Và bạn sẽ suy nghĩ gì, nếu biết rằng GS Stephen Hawking là thành viên thuộc Hàn lâm viện Giáo tông về Khoa học (từ năm 1968), được trao "Huy chương vàng Pius XI" vào năm 1975 do Tòa thánh Vatican tặng thưởng?

&1&


Tôi còn nhớ trên VTV từng đưa bản tin nói rằng: "Stephen Hawking khám phá ra thuyết Big Bang". Trên facebook của Thích Nhật Từ, một vị sư thuộc hàng chức sắc cao cấp của "Giáo hội Phật giáo VN" (tổ chức này thành lập vào năm 1981, tạm gọi tắt là "Phật giáo 81" - để không nhầm lẫn với giáo thuyết của Đức Phật đã có mặt ở nước Việt hơn ngàn năm) cũng viết y chang: "Stephen Hawking khám phá thuyết Big Bang".

KHO TỪ VỰNG THẾ KỶ 17 TRONG "TRUYỆN ÔNG THÁNH INAXU"




Truyện ông Thánh Inaxu, bản lưu tại Thư viện Quốc gia Pháp.

NGUỒN TƯ LIỆU TỪ VỰNG THẾ KỈ 17 - QUA KHẢO SÁT
TRUYỆN ÔNG THÁNH INAXU


Lã Minh Hằng*
Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Linh mục J.Maiorica đã sử dụng chữ Nôm để truyền giáo. Từ năm 1632 đến năm 1656 ông đã viết đến 45 tác phẩm bằng chữ Nôm; hiện chỉ còn lại 15 tác phẩm với 4.200 trang, tổng cộng 1.200.000 chữ Nôm. Các tài liệu này là kho tư liệu vô giá về Ngôn ngữ học - là cứ liệu quan trọng để nghiên cứu chữ Nôm, nghiên cứu phương ngữ, từ vựng lịch sử và ngữ âm lịch sử tiếng Việt.

Ông thánh Inaxu là một trong hai ông tổ dòng Tên (Thường được gọi là thánh Inhaxiô hay thánh I Nhã - VTCG). Cùng với Truyện ông thánh Phanxicô Xavie, Truyện ông thánh Inaxu đã được giáo hữu Việt Nam biết đến rất nhiều. Truyện được viết bằng chữ Nôm, do cha Maiorica viết từ rất sớm. Trong bài tham luận này, chúng tôi sẽ khảo sát nguồn trữ lượng từ vựng cổ trong Truyện ông thánh Inaxu.

Thập giá – một biểu tượng dễ sợ?

(Trích Muối Cho Đời của Joseph Ratzinger)


Ở một khía-cạnh nào đó thập-giá quả thực là cái gì dễ sợ, ta không nên phủ-nhận chuyện này. Đó là một lối hành-hình man-rợ nhất trong Thời-cổ mà người ta đã không được phép áp-dụng cho dân Rôma, vì họ coi hình phạt đó bôi nhọ danh-dự dân-tộc này. Thoạt tiên chúng ta khiếp-hãi khi thấy một con người tinh-tuyền nhất trong nhân-loại, một kẻ vừa là người vừa là Chúa đã phải chịu nhục-hình đó. Nhưng chúng ta cũng cần phải sợ cho chính chúng ta và về cuộc sống quá dễ-dãi của ta. Tôi nghĩ Luther* đã nói đúng khi ông bảo rằng con người trước hết phải biết hoảng-sợ cho chính mình để từ đó nó mới có thể quay trở về đường ngay nẻo chính.

Nhưng ta đừng dừng lại ở cái kinh-hoàng đó. Đó không phải chỉ là nỗi kinh-sợ, bởi vì kẻ bị treo trên thập giá đang nhìn xuống chúng ta kia không phải là một người thất-bại, không phải là một kẻ cùng đường, không phải là một trong những nạn-nhân hãi-hùng của nhân-loại; bởi vì kẻ bị đóng đinh đó đang nói với ta một điều gì khác hơn Spartakus* và các thủ-hạ xấu-số của ông; bởi vì từ thập giá lòng nhân-từ đang toả xuống trên chúng ta, từ kinh-hoàng thập giá một sự sống mới đang bắt đầu. Chính lòng từ-nhân Chúa đang nhìn ta, Ngài tự phó mình trong tay ta, tự trao thân cho ta và như đang cùng ta vác hết cái gánh kinh-hoàng của lịch-sử. Nhìn sâu hơn, thập giá kia một mặt phơi-bày cho ta thấy những nguy-hiểm và kinh-tởm có thể có của con người, mặt khác nói lên sức-mạnh trong sự yếu-đuối của Chúa và cái đáng yêu của Ngài. Như vậy thập giá là dấu-chỉ của thứ-tha, của hoa hi-vọng nở ra từ đáy thẳm lịch-sử.
Được tạo bởi Blogger.