https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg


HÃY CÙNG NHAU YÊU TIẾNG VIỆT HƠN

(xin mượn chuyện trong nhà tôi để nói lai rai nhiều thứ khác)


* Con gái tôi năm nay cháu 26 tuổi, trước đây cháu theo học trường RMIT (The Royal Melbourne Institute of Technology), điểm IELTS 7.5, ghi vậy để biết cháu không xa lạ gì với việc nói năng bằng tiếng Anh. Một lần, cách đây mấy năm, khi tôi hỏi: "Con học ngành design thấy sao...", chưa hỏi dứt câu thì nó nói ngay: "Ba, nói tiếng Việt đi ba! Sao ba không nói "thiết kế" mà phải chêm tiếng Anh "design" vô làm gì?". May là bị con gái mình sửa lưng, chớ không phải người ngoài, nên tôi cũng đỡ "quê".
Nhưng kể từ đó trở đi, tôi ráng rèn giũa ý thức về tiếng Việt, người Việt thì dùng tiếng Việt.

Ngôn ngữ Sài Gòn: những từ vay mượn từ tiếng Pháp


Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội của người Việt. Tiếng Pháp được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Chính phủ Bảo hộ và trong giảng dạy ở nhà trường, bên cạnh đó là các loại sách báo thâm nhập đời sống thường ngày của người dân.

Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.

Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.

"KHI NÚI KHÔNG LÀ NÚI, SÔNG KHÔNG LÀ SÔNG"


Đức Giáo tông Francis gặp gỡ cố GS Stephen Hawking tại Tòa thánh Vatican

Bạn từng nghe cố GS Stephen Hawking cho rằng "không cần thiết có Thiên Chúa trong sự tạo dựng vũ trụ"? Và bạn sẽ suy nghĩ gì, nếu biết rằng GS Stephen Hawking là thành viên thuộc Hàn lâm viện Giáo tông về Khoa học (từ năm 1968), được trao "Huy chương vàng Pius XI" vào năm 1975 do Tòa thánh Vatican tặng thưởng?

&1&


Tôi còn nhớ trên VTV từng đưa bản tin nói rằng: "Stephen Hawking khám phá ra thuyết Big Bang". Trên facebook của Thích Nhật Từ, một vị sư thuộc hàng chức sắc cao cấp của "Giáo hội Phật giáo VN" (tổ chức này thành lập vào năm 1981, tạm gọi tắt là "Phật giáo 81" - để không nhầm lẫn với giáo thuyết của Đức Phật đã có mặt ở nước Việt hơn ngàn năm) cũng viết y chang: "Stephen Hawking khám phá thuyết Big Bang".

KHO TỪ VỰNG THẾ KỶ 17 TRONG "TRUYỆN ÔNG THÁNH INAXU"




Truyện ông Thánh Inaxu, bản lưu tại Thư viện Quốc gia Pháp.

NGUỒN TƯ LIỆU TỪ VỰNG THẾ KỈ 17 - QUA KHẢO SÁT
TRUYỆN ÔNG THÁNH INAXU


Lã Minh Hằng*
Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Linh mục J.Maiorica đã sử dụng chữ Nôm để truyền giáo. Từ năm 1632 đến năm 1656 ông đã viết đến 45 tác phẩm bằng chữ Nôm; hiện chỉ còn lại 15 tác phẩm với 4.200 trang, tổng cộng 1.200.000 chữ Nôm. Các tài liệu này là kho tư liệu vô giá về Ngôn ngữ học - là cứ liệu quan trọng để nghiên cứu chữ Nôm, nghiên cứu phương ngữ, từ vựng lịch sử và ngữ âm lịch sử tiếng Việt.

Ông thánh Inaxu là một trong hai ông tổ dòng Tên (Thường được gọi là thánh Inhaxiô hay thánh I Nhã - VTCG). Cùng với Truyện ông thánh Phanxicô Xavie, Truyện ông thánh Inaxu đã được giáo hữu Việt Nam biết đến rất nhiều. Truyện được viết bằng chữ Nôm, do cha Maiorica viết từ rất sớm. Trong bài tham luận này, chúng tôi sẽ khảo sát nguồn trữ lượng từ vựng cổ trong Truyện ông thánh Inaxu.

Thập giá – một biểu tượng dễ sợ?

(Trích Muối Cho Đời của Joseph Ratzinger)


Ở một khía-cạnh nào đó thập-giá quả thực là cái gì dễ sợ, ta không nên phủ-nhận chuyện này. Đó là một lối hành-hình man-rợ nhất trong Thời-cổ mà người ta đã không được phép áp-dụng cho dân Rôma, vì họ coi hình phạt đó bôi nhọ danh-dự dân-tộc này. Thoạt tiên chúng ta khiếp-hãi khi thấy một con người tinh-tuyền nhất trong nhân-loại, một kẻ vừa là người vừa là Chúa đã phải chịu nhục-hình đó. Nhưng chúng ta cũng cần phải sợ cho chính chúng ta và về cuộc sống quá dễ-dãi của ta. Tôi nghĩ Luther* đã nói đúng khi ông bảo rằng con người trước hết phải biết hoảng-sợ cho chính mình để từ đó nó mới có thể quay trở về đường ngay nẻo chính.

Nhưng ta đừng dừng lại ở cái kinh-hoàng đó. Đó không phải chỉ là nỗi kinh-sợ, bởi vì kẻ bị treo trên thập giá đang nhìn xuống chúng ta kia không phải là một người thất-bại, không phải là một kẻ cùng đường, không phải là một trong những nạn-nhân hãi-hùng của nhân-loại; bởi vì kẻ bị đóng đinh đó đang nói với ta một điều gì khác hơn Spartakus* và các thủ-hạ xấu-số của ông; bởi vì từ thập giá lòng nhân-từ đang toả xuống trên chúng ta, từ kinh-hoàng thập giá một sự sống mới đang bắt đầu. Chính lòng từ-nhân Chúa đang nhìn ta, Ngài tự phó mình trong tay ta, tự trao thân cho ta và như đang cùng ta vác hết cái gánh kinh-hoàng của lịch-sử. Nhìn sâu hơn, thập giá kia một mặt phơi-bày cho ta thấy những nguy-hiểm và kinh-tởm có thể có của con người, mặt khác nói lên sức-mạnh trong sự yếu-đuối của Chúa và cái đáng yêu của Ngài. Như vậy thập giá là dấu-chỉ của thứ-tha, của hoa hi-vọng nở ra từ đáy thẳm lịch-sử.



CHƯA CHUẨN XÁC, BAO GIỜ MỚI CHỊU SỬA?


* Thêm dẫn chứng để hiểu về "âm Việt-Hán" của tổ tiên chúng ta, mượn chữ Hán để viết nhưng phát âm bằng tiếng Việt (không nói bằng tiếng Tàu).
* Bạn có ngờ rằng "nuclear" đem dịch thành "hạt nhân", chẳng khác nào... người Tàu mới biết tiếng Việt, tập tành dịch tiếng Việt hay không?

1/ Trước hết nhắc lại một chuyện mà nay ai cũng biết. Là chữ "(máy bay) trực thăng" dùng để chuyển ngữ từ tiếng Anh "helicopter". Chữ "trực thăng" là cách gọi ở miền Nam VN trước đây. Đùng một cái, sau tháng 4/1975, gọi bằng "(máy bay) lên thẳng", nghe buồn cười hết sức.

Nếu gọi "(máy bay) lên thẳng" thì lấy gì phân biệt giữa "helicopter" với "spaceship"? Cả hai cũng đều "lên thẳng" hết ráo! Không lẽ phải dịch dài dòng: "helicopter" là lên thẳng bằng cánh quạt, còn "spaceship" là lên thẳng bằng động cơ phản lực?




Trong văn-học Công-giáo Việt Nam, chúng ta đã quen biết những bài Vãn, Kinh Sách, Truyện và Tuồng là những thể-loại đã xuất hiện từ thời mới có chữ quốc-ngữ từ những thế-kỷ XVIII, XIX. Thời trước 1975, các linh-mục Đỗ Bá Ái, Hồng Phúc, Vũ Minh Nghiễm, v.v. đã để lại nhiều bài viết và sách rao giảng Tin Mừng và truyện các Thánh; rồi sau 1975, các hồng y Nguyễn Văn Thuận, giám mục Bùi Tuần, v.v. đã có những tác-phẩm suy niệm, chia sẻ về đức tin, giảng về Tin Mừng, về sống đạo, linh-mục Chu Quang Minh với bộ sách tâm lý về hôn nhân và gia đình, LM Trần Cao Tường với nhiều bộ sách về nguồn đạo và Tin Mừng, v.v.

LM Nguyễn Tầm Thường xuất hiện cùng thời hoặc sau các vị vừa kể, nhưng đã đem lại một phấn khởi mới về học hỏi Tin Mừng, đã sử-dụng những hình thức hiện đại hơn: truyện ngắn, thơ, bút ký, nhật ký, suy niệm, và bài giảng trên mặt nhựa CD. Thi ca mảnh đất của tâm hồn, với hai tuyển tập Tình Thơ Thập Giá, Mùa Hoa Trên Thánh Giá Gỗ. Truyện ngắn với bố cục tinh tế để lý trí giải bày có hai tập Đường Về Thượng Trí 1995 và Tiếng Gọi Phiá Bên Trong 1999. Suy niệm và cẩu nguyện để tâm linh siêu thoát: hình thức đề tài có Nước Mắt Và Hạnh Phúc 1989, Con Biết Con Cần Chúa 1994; hình thức đoản khúc gồm 100 đề tài suy niệm và cầu nguyện: Viết Trong Tâm Hồn 1996, Mùa Chay Và Con Sâu Bướm 1997, Cô Đơn Và Sự Tự Do 2001, Đưòng Đi Một Mình 2005. Thể bút ký đã xuất bản Những Trang Nhật Ký Của Một Linh Mục 2002. CD có các bộ Tỉnh Thức, Thánh Thể, Bí Tích Hòa Giải, Tôi Là Ai; Đường Vào Tâm Linh với 15 đề tài suy niệm và cầu nguyện, v.v.

Có lần mình kể chuyện Đức Giám Mục Bùi Chu Giuse Phạm Năng Tĩnh được tấn phong bí mật, dựa theo Hồi Ký của Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng.

Nay xin post bài viết này (của Cha Jos Thanh Bình). Bài viết rất hay, cảm động và hấp dẫn như một câu chuyện ly kỳ. Xin mời đọc để thấy Giáo Hội tại Miền Bắc Việt Nam đã từng chịu đau khổ như thế nào.

LỄ TẤN PHONG GIÁM MỤC CHỈ CÓ 4 NGƯỜI

hình ảnh của một lễ tấn phong giám mục

Hồi đầu tháng 11 năm 1960, sau một ngày Chúa nhật, Đức Giám (Khi đó Đức Cha Tĩnh mới chỉ làm Giám Quản Tông toà) kêu mệt, và thầy phòng bộ nói là Đức Giám ốm nặng. Ngài bỏ cả lễ, cả dậy học và cũng không tiếp khách. Mọi người đều rõ là Đức Giám vốn khoẻ, nhưng người ta lại bảo: Ai vốn khoẻ không mấy khi ốm thì lúc ốm lại hay ốm nặng. Tin Đức Giám ốm nặng truyền đi rất nhanh, đặc biệt là các Dòng nữ tu. Mọi người nghe tin đều sốt sắng cầu nguyện cho Đức Giám. Thầy phòng bộ cũng chuyển lời Đức Giám dậy các nhà chung nhà dòng phải làm tuần 9 ngày cầu xin Đức Mẹ cho Ngài.

SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI CẦM BÚT 

THEO LINH MỤC THANH LÃNG


Linh mục Thanh Lãng là một nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã dìu dắt nhiều thế hệ sinh viên. Ông để lại nhiều công trình nghiên cứu, phần đóng góp của ông vào chữ quốc ngữ, văn học Thiên Chúa giáo và văn học sử Việt Nam rất lớn lao.

Năm 1967, nhân mừng sinh nhật năm thứ mười của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, linh mục Thanh Lãng đã phát biểu ý kiến về sứ mạng người cầm bút. Trước khi nghe linh mục nói về đề tài này, thiết tưởng chúng ta cũng cần biết qua Trung Tâm Văn Bút.

Trung Tâm Văn Bút Việt Nam thời đó là một chi nhánh của Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế gọi là PEN Club International do bà Catherine Amy Dawson Scott thành lập năm 1921. Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế là một hiệp hội tập hợp những nhà văn của tất cả các nước, những nhà văn tha thiết với những giá trị hòa bình, bao dung và tự do, thiếu những giá trị đó không thể có sáng tạo được.

BẢN THÂN CHỮ QUỐC NGỮ “CÓ TỘI”
VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM KHÔNG?


Sáng thứ bảy, ngày 3/10/2015 tại khu VietStar Resort, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia TP. HCM phối hợp với Trường Đại học Phú Yên và Viện Nghiên cứu Phát triển Phương Đông tổ chức Hội thảo Khoa học cấp quốc gia về “Chữ Quốc ngữ: Sự hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hóa Việt Nam”.



Hội thảo có sự tham gia của hơn 100 nhà khoa học, nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên, hội ngôn ngữ và các trường cao đẳng, đại học trong cả nước. Hội thảo ghi nhận công lao của các giáo sĩ phương Tây trong việc hình thành chữ Quốc ngữ: trong đó quyển Từ điển Việt- Bồ- La là thành quả của một tập thể các giáo sĩ người Bồ đào nha như Francisco de Pina, Gaspar de Amaral, Antonio Barbosa và người có công tập hợp, hệ thống lại để quy tụ thành cuốn từ điển nói trên là giáo sĩ Alexandre de Rhodes.

TIẾNG VIỆT, đó là di sản duy nhứt mà mỗi chúng ta hiện nay còn được quyền sở hữu & sử dụng mỗi ngày. Bà mẹ Tiếng Việt của chúng ta có hai người con: một người từng mượn cái vỏ Hán tự để nói tiếng Việt ("âm Việt-Hán"), một người không xài vỏ Hán tự ("âm Việt"). Đừng giở thói phụ bạc bất cứ người con nào của mẹ, mà nói luôn, cũng không tài nào ruồng rẫy được hết bởi vì đã thấm vô huyết quản mỗi chúng ta rồi (tôi sẽ diễn giải, dẫn chứng dưới đây).


HIỂU SAI BÉT VỀ "SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT"


&1&

Nhớ lại cái gọi là phong trào "giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt" từng phát động mấy chục năm về trước, với những ví dụ "điển hình" trời ơi (thời may, hiện nay chẳng còn mấy ai bắt chước những "điển hình" đó nữa).

CHUỖI NGÔN NGỮ: "YỊT" / "YIỆT" / "VIỆT"


Theo phép chánh tả, viết "Việt", nhưng lạ thay rất đông cư dân Nam Kỳ và một số tỉnh Trung Kỳ như "xứ Nẫu" Bình Định, Phú Yên... vẫn giữ cách phát âm là "Yiệt", hay chính xác hơn nữa là "Byiệt" (không phải "biệt", mà là mím môi lại [b] rồi bật ra phát âm [yiệt], nghe vội thì hao hao mà không hẳn là âm [diệt]).

"Yiệt" là cách phát âm xưa trong tiếng nói của tổ tiên chúng ta, trước khi xuất hiện âm [v] trong "Việt"! - theo một khảo cứu của Trần Thị Vĩnh Tường. Mời đọc đầy đủ các luận cứ của bài này theo đường link ghi cuối stt (*). Ở đây tôi ghi chú ngắn gọn một số điểm, và có dẫn giải thêm đôi phần.

Đón xuân

“Vì chính mắt con được thấy Ơn Cứu Độ” (Lc 2, 30)

A! A! A! Nàng Xuân đến khơi lên bao thi tứ
Reo hồn thơ rộn rã đón Nắng-Mây
Hoa xinh, Nguyệt mộng, nghe Gió mơn say
Duyên Nụ Biếc tỏa hương từ Nguồn Suối.

Thơ ướm hỏi Dáng Xuân nay bao tuổi
Mà Nụ Mơ tỏa ánh khiết mượt mà
Rung tim thơ bật muôn khúc thi ca
Từng giai điệu xôn xao cung ngà ngọc. 

A! A! A! Tình Xuân rộ ánh huyền lên Suối Tóc
Đẹp hơn trăng óng mượt những đường tơ
Thơ muốn ôm muốn siết cả ước mơ
Và muốn thơm Nụ Duyên trong Vầng Nguyệt.

Ơi Hương Xuân khơi tứ thơ trác tuyệt
Hồn say sưa hớp trọn lấy Nguồn Thơm
Nuốt vào tim cơn rạo rực đang mơm
Say ngọt lịm thỏa khát hồn lãng tử.

Trên dương thế giữa cuộc đời lữ thứ
Gặp Nàng Xuân, thơ như thể gặp tiên
Ôi khát khao chiêm ngưỡng phúc đào nguyên
Giờ thỏa ước chẳng buồn về lối cũ.

Ơi Nàng Xuân tỏa hương yêu quyến rũ
Luyến hồn thơ buông hết chuyện trần đời
Vui ngày ngày theo Xuân đến Nguồn Khơi
Lên cung quảng lắng hồn trong Nguyệt Điện.

Đón Xuân trong tâm tình
Mừng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh
02/02/2019 (28 tết)
Song Lam


Truyện nhi đồng Tuổi Hoa phát hành ở Sài Gòn, số đầu tiên vào tháng 06-1962 và phát hành mỗi tháng 1 kỳ (nguyệt san). Sau 8 số thì đổi tên thành Tạp chí thiếu nhi Tuổi Hoa (nguyệt san). Từ số 36 trở đi phát hành ½ tháng một kỳ (Bán nguyệt san). Đến số 74 thì chính thức đổi tên thành Bán nguyệt san Tuổi Hoa. Những truyện dài đăng trên Bán nguyên san Tuổi Hoa được nhà xuất bản Tuổi Hoa in thành sách gọi là tủ sách Tuổi Hoa (1969). Tủ sách Tuổi Hoa gồm: Hoa Đỏ (trinh thám – phiêu lưu mạo hiểm), Hoa Xanh (tình cảm gia đình bè bạn), Hoa Tím (tình cảm nam nữ trong sáng tuổi mới lớn) [1].

Nhà văn Nguyễn Thái Hải xuất hiện trên Tuổi Hoa từ tháng 6/1968 với truyện ngắn nhi đồng “Nốt ruồi”. “Màu xanh học trò” (1969) là truyện thứ 12 và là truyện đầu tiên của Nguyễn Thái Hải được in liên tiếp 5 kỳ trên báo Tuổi Hoa. Nguyễn Thái Hải có 8 cuốn sách in trong tủ sách Tuổi Hoa và 50 truyện ngắn in 1 kỳ hoặc nhiều kỳ trên báo Tuổi Hoa.

Sau 1975, ông lấy bút danh Khôi Vũ khi viết cho người lớn. Đến nay (2018) ông đã in khoảng 60 tác phẩm thuộc đủ các thể loại. Riêng sách viết cho thiếu nhi, ông in 31 cuốn (tính đến năm 2019) [2].

Tháng 7.2017 NXB Phương Đông và Phương Nam Books đã tái bản 8 cuốn sách của tủ sách Tuổi Hoa trong đó có Chiếc lá thuộc bài của Nguyễn Thái Hải, điều ấy khẳng định giá trị sách của tác giả Nguyễn Thái Hải trẻ với bạn đọc hôm nay.

Người Mẹ chứng nhân thế kỷ
Bà Cố Elizabeth Ngô Ðình Thị Hiệp


Người Mẹ chứng nhân thế kỷ: Bà Cố Elizabeth Ngô Ðình Thị Hiệp (1903-2005). Ảnh chụp bà năm 1965 tại Sài Gòn

Santa Ana - Ngày 27/01/2005, chúng tôi đang theo dõi tin tức về lễ mai táng Cô Anna Hàm Tiếu, bào muội của Ðức Hồng y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, thì lại nhận được tin Cụ Cố Elisabeth Nguyễn Văn Ấm, nhũ danh Ngô Ðình Thị Hiệp, thân mẫu của Ðức Hồng Y, cũng vừa được Chúa gọi lên đường về nhà Cha, sau khi đã hoàn tất cuộc lữ hành dài hơn trăm năm (102 năm) trên cõi trần gian này, Chúng tôi xin chuyển bài này với lòng thành tâm cầu nguyện cho linh hồn Elizabeth sớm được Chúa đưa về nơi Thiên quốc cùng với linh hồn Phanxicô Xavie, linh hồn Anna cùng các linh hồn khác.

Gia Ðình Lễ Giáo

Elisabeth Ngô Ðình Thị Hiệp sinh ngày 05-5-1903 tại làng Ðại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình vọng tộc đạo đức trải qua nhiều thế hệ trung thành với Ðức Tin Công Giáo, đã từng "hy sinh trong thời kỳ bắt đạo và đã chịu khổ vì Chúa, đã chịu lưu đày xa xôi và đã bị cầm tù vì Chúa", một dòng tộc nổi danh kiên trung bất khuất chẳng những về mặt đức tin mà còn cả về mặt xã hội. Thân phụ là ông Ngô Ðình Khả, một quan phụ chính đại thần thanh liêm và cương trực dưới triều vua Thành Thái. Ông đã khẳng khái chống lại việc Pháp âm mưu đày ải Vua, khiến thời bấy giờ trong dân gian Huế có câu ca:

Ðày vua không Khả, (1)
Ðào mả không Bài (2)

Do làm quan trong triều, thường xuyên phải có mặt tại kinh đô, ông Ngô Ðình Khả đã dời gia đình từ làng Ðại Phong, tỉnh Quảng Bình vào định cư tại Phủ Cam, thuộc thành phố Huế. Ngô Ðình Thị Hiệp có hai người anh là ông Ngô Ðình Khôi và Ðức Tổng Giám Mục Ngô Ðình Thục, một người chị, Ngô Ðình Thị Giao, một em gái kề là Ngô Ðình Thị Hoàng và bốn em trai gồm quý ông Ngô Ðình Diệm, Ngô Ðình Nhu, Ngô Ðình Luyện và Ngô Ðình Cẩn.

VIẾT SỬ, TRƯỚC HẾT, PHẢI TÔN TRỌNG DỮ KIỆN THỰC TẾ


1/ 

Từ thời phân tranh Đàng Trong/Đàng Ngoài, mở cõi về phương nam, tiếng Việt ngày càng đa dạng. Tỉ dụ, "chánh / chính", "nhứt / nhất", "hường / hồng", "châu / chu", "võ / vũ", "phước / phúc", "thới / thái"..., từng cặp chữ đều đồng nghĩa nhưng phát âm khác nhau tùy vùng miền, có lúc từng cặp chữ này có thể hoán đổi. Tiếng Việt nhờ vậy thêm phong phú. .

Riêng TÊN NGƯỜI (và cả tên địa danh) không được tùy tiện "hoán đổi", mà phải tôn trọng, giữ nguyên cách gọi của cư dân vùng miền.

Thử coi nè, tên gọi thuở lọt lòng của bạn tỉ dụ là "Châu Phước" (淍 福), bỗng dưng có kẻ dựa trên tự dạng này rồi nói phải gọi thành "Chu Phúc" mới đúng âm. Bạn nghĩ gì về kẻ sửa tên?


NHỚ NHÀ THƠ PAUL THÉRÈSE HỒ DZẾNH,
NỤ TẦM XUÂN VÀ HOA MẪU ĐƠN

Nhà thơ - nhà văn Hồ Dzếnh (Hà Triệu Anh, Hà Anh)

1. Chuyện đời nhiều lúc gẫm lại, thấy ngồ ngộ, hay hay. Quẩn quanh mãi ở làng quê với lũy tre xanh, với con trâu cái cày, chắc chả bao giờ có tí chữ nghĩa mà đọc, mà yêu lấy những tác giả – tác phẩm văn học. Làm sao mở lòng ra với đất nước con người Việt Nam và thế giới? Không khéo, bây giờ đã yên phận anh nông dân chân đất, ông trùm, ông quản, với việc thờ thánh, ruộng đồng, vườn tược gì đây?
Cũng may, chiến tranh giặc giã tuy có nghiệt ngã thật đấy, nhưng nó lại là một trong những động cơ thúc đẩy -sau nhiều cuộc chuyển biến di dời- biết bao số phận đến với những cơ may đổi đời. Mấy năm sống nghèo kiết ở huyện Thuỵ Anh và thị xã Thái Bình, nhờ vào đồng lương lính và gánh hàng xén của thày của mẹ, lần đầu tiên tôi là thằng-bé-ở-quê-ra, tập tễnh làm quen, riết rồi mê mẩn bài tập đọc, bài chính tả, bài học thuộc lòng của những ông nhà thơ nhà văn như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Thanh Tịnh, Tế Hanh và Hồ Dzếnh… Thêm vài ba món tiếng Tây lớp đồng ấu (cours enfantin) nữa, tâm hồn tôi như được thoáng đãng hơn khi mò mẫm đọc những trích đoạn quá ư là mượt mà dễ thương của Anatole France, Alphonse Daudet và De Amicis, v.v..

 Đến khi theo cha mẹ “hành phương Nam” thì tôi đã to đầu lớn xác lắm rồi. Sàigòn làm gì có cái lành lạnh “vào Thu, tiễn Thu” như trong thơ của ông Tản Đà. Nam Bộ thiếu vắng hẳn những chiều mưa bụi heo may của năm cửa ô Hà Nội để mà ngâm ngợi chùm thơ tình Hồ Dzếnh gửi gắm người yêu ở một ngõ phố nào đó:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân,
Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần…
Tôi nói khẽ: Gớm, làm sao nhớ thế?
………………………………………………

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề,
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở.

(Ngập ngừng)


Bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ mà Cộng Ðồng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam hiện đang sử dụng đã được dịch sang tiếng Việt cách đây hơn 70 năm. Mặc dù được dịch đã khá lâu, nhưng đây là bản Kinh Thánh Việt Ngữ được tin cậy và sử dụng phổ biến nhất hiện nay.

Phan Khôi là một trong những người đã góp phần trong việc thực hiện bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành



Nhân dịp Mùa Chay, nhiều giáo xứ tổ chức nghi lễ Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu, chúng tôi viết bài này nhằm mục đích giúp các bạn trẻ, nhất là những người ở hải ngoại, biết về một nghi thức phụng vụ đã được Việt hóa ngay từ thời cha Đắc Lộ. Nội dung bài này sẽ tìm hiểu Ngắm là gì? Có bao nhiêu loại Ngắm ? Và cuối cùng là phần nhận xét về phong tục Ngắm.


I. Định Nghiã Từ Ngắm 吟: 

Ngắm là từ Nôm lấy dạng từ Ngâm 吟 trong Hán Việt, có nghĩa là nhìn kỹ, gẫm suy. Ngắm cũng có âm khác là Ngẫm. Miền Bắc dùng từ Ngắm, miền Nam dùng từ Ngẫm hay Gẫm. Tất cả đều có nghĩa là suy nghĩ kỹ
Từ Ngâm trong Hán Việt có nghĩa là đọc chậm, giọng ngân nga như ngâm thơ, ngâm vịnh. Do vậy từ Ngắm xuất phát từ từ Ngâm cũng có nghĩa là vừa ngắm nhìn vừa ngân nga.
Ý nghiã này thể hiện rất rõ nét trong trong các nghi thức Ngắm của người Công Giáo Việt Nam.

II. Các Loại Ngắm: 

Kinh sách Công Giáo Việt Nam dùng nhiều từ Ngắm: Nguyện Ngắm, Ngắm Bẩy Sự, Ngắm Đàng Thánh Giá, Ngắm Lễ, Ngắm Đứng, Ngắm 15 Sự Thương Khó, Ngắm Nhân Sao, Ngắm Nhân Tài. Ngắm Đàng Thánh Giá. Tuy nhiên có ba loại ngắm chính là Ngắm Lễ, Ngắm 15 Sự Thương Khó và Ngắm Đàng Thánh Giá.


Ngày 5 tháng 1 năm 2019 vừa qua, tại San Jose, California, có một sự kiện: đó là lần đầu tiên tại hải ngoại, một pho tượng đồng của Petrus Trương Vĩnh Ký đã được dựng lên.

Nhân dịp này, tôi chợt nhớ tới pho tượng toàn thân bằng đồng của Petrus Ký được đúc tại Pháp và dựng lên tại trước dinh Độc Lập Sài Gòn vào năm 1927. Tượng này đã được để nguyên chỗ cũ qua những biến cố năm 1945 và sau khi Pháp rút đi. Nhưng cho đến năm 1975 thì lại được đem … cất vào một chỗ khác!

Và chính pho tượng này đã là đề tài cho một chương trong cuốn sách “Trương Vĩnh Ký, Nhà Văn Hóa” của giáo sư Nguyễn Văn Trung. Giáo sư Trung từng là người lên án Petrus Ký rất gắt gao trước 1975. Nhưng sau đó, ông thẳng thắn nhìn nhận là sai, và như ông cho biết, một trong những lý do chính khiến ông thay đổi ý kiến là vì ông đã nhìn ra rằng: muốn đánh giá Petrus Ký thì phải nhìn lại xem người đương thời nghĩ gì về Petrus Ký. Dưới đây là những gì ông nhìn ra, qua vụ dựng tượng Petrus Ký:
Được tạo bởi Blogger.