Hiển thị các bài đăng có nhãn Song-Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Song-Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng

06/07/2021

Tư tưởng nhân văn Công giáo trong tác phẩm của Song Nguyễn- Tác giả: Bùi Công Thuấn

Tư tưởng nhân văn Công giáo trong tác phẩm của Song Nguyễn- Tác giả: Bùi Công Thuấn


(Tác phẩm Đất Mới)

(Đọc truyện dài Đất Mới của Song Nguyễn )

Giá trị của một tác phẩm văn chương trước hết là ở nội dung câu chuyện được kể, ở thái độ diễn ngôn của tác giả, và ở nghệ thuật kiến tạo tác phẩm (sử dụng ngôn ngữ, tổ chức cấu trúc truyện, lựa chọn bút pháp, cách khắc hoạ nhân vật; ở việc đặt ra và giải quyết những vấn đề của thời đại). Nhưng cốt lõi giá trị của tác phẩm là tư tưởng, tác phẩm thể hiện tư tưởng tiến bộ hay suy đồi.. Ngòai Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Cao Bá Quát, ở Việt Nam có rất ít “nhà văn tư tưởng”. Không có tư tưởng thì tác phẩm chỉ là một lớp vỏ chữ.

Những tác phẩm lớn, sống lâu bền trong lòng người đọc là nhờ nó chưá đựng những tư tưởng tiến bộ. Những người khốn khổ của V. Hugo, Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du… là những thí dụ.

Tư tưởng Nhân văn là nền tảng làm nên giá trị nghệ thuật của mọi thời đại.

I. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN TRUYỀN THỐNG

Tư tưởng Nhân văn đã có trong ý thức của dân tộc từ xa xưa, nó thấm nhuần trong mọi ứng xử giữa người với người. Người Việt coi trọng con người: “Người ta là hoa đất”, con người là Cái Đẹp của cuộc đời này. Sự sống là vô giá: ”Người sống hơn đống vàng”. Quan hệ người với người là quan hệ yêu thương: “Thương người như thể thương thân”.

Tư tưởng Nhân văn đặc biệt phát triển thành trào lưu nghệ thuật từ thời Phục Hưng [thế kỷ XV-XVII] ở phương Tây. Ðặc trưng của Chủ nghĩa Nhân văn là sự suy tôn con người, là sự khôi phục lại con người (hay tính người), và con người bao giờ cũng được coi là tốt đẹp (con người chí thiện). Con người được đặt vào trung tâm thế giới, được đặt lên ngôi cao nhất (con người chí tôn)(1).

Văn học và nghệ thuật thời đó đưa “chất người” vào “chất thần thánh”, biến đời sống thần thánh thành đời sống bình thường của con người. “Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài” (Shakespear). Các nhà Nhân văn Chủ nghĩa lấy câu của Terence, một nhà hài kịch La Mã làm phương châm: ”Tôi là một con người, không có cái gì có tính chất người lại xa lạ với tôi” (1b). Con người là một bộ phận của tự nhiên, sống và chết theo quy luật tự nhiên, vì thế phải trả con người về tự nhiên để nó phát triển theo tư nhiên (2). Chiến tranh phong kiến, chủ nghiã khổ hạnh, đàn áp tư tưởng là trái với tự nhiên, là nguồn gốc gây ra bất hạnh, xấu xa, tội lỗi trên thế giới. Chủ nghĩa Nhân Văn sau thời Phục Hưng được làm phong phú hơn bởi tư tưởng dân chủ thời Khai Sáng [Thế kỷ XVII-XVIII], ý thức đấu tranh giải phóng con người cuả chủ nghiã Marx và ý thức về tồn tại của Chủ nghiã Hiện sinh.

Nhưng vượt lên trên tất cả là tư tưởng Nhân văn Công giáo mà cội nguồn là Kinh Thánh. Kinh Thánh đem đến cho nhân loại cái nhìn về bản thể con người, về cõi người, về ý nghiã sự sống của con người. Con người là gì? Con người không chỉ là vật chất thụ tạo, mà con người được nâng lên khỏi mọi loài thụ tạo, mang bản thể cuả Thiên Chuá, được thánh hiến và ở trong Thiên Chuá. Không có cái nhìn nào về con người siêu việt như thế. Đức Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chuá Cha cho con người: “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta(Ga.17.19-21).

Kinh Thánh nói Con người nhưng không phải là “con người” trừu tượng mà là con người cụ thể, đó là những người nghèo khổ.

Mở đầu bài giảng Tám mối phúc, Đức Giêsu dạy rằng: ”Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chuá là của anh em”(Lc 6.20). Trong cuộc phán xét chung, Đức Vua đã thưởng cho những người được chúc phúc, vì “xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”.”Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt.25.35-40). Kinh Thánh đã trân trọng con người ở thân phận bé nhỏ và khốn khổ nhất, lấy hành động vì con người làm thang bậc giá trị để phán xét ở ngày cánh chung.

Từ cái nhìn con người như thế, Kinh Thánh lấy lòng yêu thương con người làm điều răn quan trọng. Khi được hỏi điều răn nào quan trọng nhất, Đức Giêsu trả lời:”Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.(Mt.22.37-39). Đức Giêsu còn dạy: “Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”(Mt. 5:44).

Nhưng yêu thương như thế nào? Dụ ngôn về người Samari tốt lành là một lời giải đáp cụ thể (Lc.10.29-37): Thấy người bị nạn bên đường, thầy Tư Tế bỏ đi, thầy Lêvi cũng tránh xa, còn người Samari lại gần “lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, ông ta lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói:” Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”.

Người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, theo luật Môise thì phải bị ném đá. Thế nhưng Đức Giêsu đã cứu chị và nói với chị: ”tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"(Ga.8.11). Một lần khác, cảm thương tình cảnh cuả chị em Mácta và Maria, Đức Giêsu đã khóc thương Lazarô (Ga.11.33). Người truyền cho Lazarô từ cõi chết sống lại. Lại một lần nữa, Đức Giêsu nói với các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31).

Qua những trường hợp cụ thể ấy, Kinh Thánh đã chỉ ra, tư tưởng nhân văn Công giáo thể hiện ở cái nhìn trân trọng, yêu thương những con người “bé nhỏ nhất” trong cuộc sống, giải thoát họ khỏi đau khổ, tội lỗi và sự chết.

Vấn đề Con Người, giải phóng Con Người, và hạnh phúc của Con Người là vấn đề của muôn thuở. Bi kịch của con người vẫn còn nguyên đó. Đau khổ, thù hận, tội lỗi, cái chết vẫn bao trùm lấy con người. Chỉ tư tưởng Nhân văn Công giáo mới soi rọi ánh sáng hy vọng cho cuộc đời này.
(Hình ảnh do tác giả cung cấp)

II. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN TRONG ĐẤT MỚI

Đất Mới là truyện dài gồm 3 tập, in lần thứ 2, Nxb Hội Nhà văn 2018.

Đất Mới kể chuyện Lm Phương Toàn. Ngài xuất thân là giáo sự Đại Chủng viện. Sau 30/4/1975, Đại Chủng viện đóng cửa, Lm Phương Toàn cùng giáo dân đi xây dựng “kinh tế mới”. Trước đó, nhiều lần được mời gọi đi định cư ở nước ngoài nhưng ngài từ chối. Ở vùng đất kinh tế mới, ngài đã cùng giáo dân chịu đựng bao nhiêu gian khổ, khó khăn, thử thách; bao nhiêu hiểm nguy, nhiều lần kề cận cái chết, tưởng không qua khỏi. Kiên định lý tưởng theo Chúa, sống chết cùng đoàn chiên, và tín thác hết lòng vào thánh ý Chúa, ngài đã vượt qua những bi kịch cá nhân và đưa được đoàn chiên tới đồng cỏ xanh tươi, có suối mát trong ngọt lành. Ngài đã biến đổi thế giới hiện thực (khu kinh tế mới) và thế giới tâm hồn của đoàn chiên thành vùng “đất mới của đức tin và lòng yêu thương”.

Trong Đất Mới, tư tưởng Nhân văn Công Giáo được thể hiện đậm nét ở nhân vật Lm Phương Toàn.

Cái nhìn của Lm Phương Toàn về con người là cái nhìn trân trọng, hiểu biết và cảm thông sâu sắc. Ngài nhìn thấy vẻ đẹp thánh trên khuôn mặt bà Tương Ấn khi bà qua đời, “khuôn mặt gầy gò xanh mét dần dần trở nên đầy đặn hồng hào, với một vẻ bình an lạ lùng” (tập 2, tr.45) Trong bịnh viện, Ngài sống chung với anh thanh niên bịnh nặng nằm bên cạnh mình, và với những bệnh nhân cùi xung quanh như bạn hữu, cùng sẻ chia phận người trong cảnh ngộ ngặt nghèo. Ngài cũng ẩn nhẫn và trân trọng với những người đã gây ra cho mình sự khốn khó trong lúc nằm viện (Chương 4, tập 1) hay lúc bị tạm giam 75 giờ (Chương 11, tập 3) và cả lúc ngài phải hạ mình trước bọn xã hội đen khi đi tìm đòan con bị giữ ở đồi vàng. Trong hoàn cảnh khó khăn và đầy lo âu của những năm tháng sau 1975 (đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng), tương lai chưa biết thế nào, lòng người không nguôi xao xuyến, cái nhìn về con người của Lm Phương Toàn là cái nhìn tỏa sáng tư tưởng Nhân văn. Cái nhìn ấy làm thăng hoa những khó khăn, đau khổ, hoạn nạn, và hóa giải những nghịch cảnh tưởng không thể vượt qua.

Thái độ chọn lựa đứng về phía người nghèo khổ cuả Lm Phương Toàn mới thực sự thể hiện tư tưởng Nhân văn Công giáo. Ngài đi kinh tế mới với giáo dân, cùng lao động, cùng sẻ chia những khó khăn vất vả (bão lụt, cháy nhà, sốt rét, voi rừng về phá rẫy, kẻ xấu phá hoại…). Ngài sống giữa mọi người, như mọi người, nhưng quan tâm đến mọi người, chăm lo cả đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người. Lm Phương Toàn từ chối mọi mời gọi xuất cảnh (để sống một cuộc sống sung sướng), ngài hòa nhập với người nghèo, người đau khổ. Dù là lúc nằm viện hay là lúc được đưa đi chữa bịnh trên đất Mỹ, tiếng gọi của quê hương luôn vang lên trong tâm hồn ngài, lôi kéo ngài trở về với đòan chiên và dấn thân cho họ. Ngài vượt qua mọi điều tiếng dị nghị và làm hết sức mình cho cuộc sống no cơm ấm áo và đời sống tinh thần cuả họ được tốt tươi. Tinh thần nhập thể ấy của Lm Phương Toàn chính là lòng yêu thương nhân loại của Đức Giêsu trong đời thường.

Lý tưởng của Chủ nghĩa Nhân văn là hướng đến sự giải phóng con người khỏi trạng thái nô lệ, khẳng định giá trị làm người, đem đến hạnh phúc cho con người ngay trong cõi đời trần gian này, nhận ra cái đẹp của chính cuộc sống thế tục. Muốn vậy phải hành động để thay đổi những hoàn cảnh làm tha hoá con người. Đất Mới có đạt đến lý tưởng như vậy không?

Lòng yêu thương con người của Lm Phương Toàn đã biến đổi một vùng đất khô cằn sự sống thành một vùng “đất mới” (như Đất hứa trong Cựu Ước). Nơi ấy con người được giải phóng khỏi những hẹp hòi, ích kỷ, thù nghịch. Nơi ấy con người mở lòng ra với nhau để cùng góp sức xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, sẻ chia cơm áo và tình thương. Nơi ấy hóa giải mọi mâu thuẫn để cùng phát huy những nguồn lực vật chất và tinh thần. Nơi ấy cải thiện hoàn cảnh sống để nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp của con người.

Có thể thấy rõ tư tưởng Nhân văn Công giáo trong Đất Mới đã trổ sinh hoa trái trong hiện thực. Những định kiến ban đầu của nhân viên Nhà nước với Lm. Phương Toàn dần dần được thay thế bằng sự hiểu biết và trân trọng lẫn nhau. Những yêu thương vị kỷ của Mỹ Linh, Minh Nguyệt hay ông Trưởng Tuất được thay thế bằng tình yêu thương có tầm vóc xã hội rộng hơn để rồi sau đó chính gia đình Mỹ Linh, Minh Nguyệt đã có những đóng góp quan trọng và có ý nghiã giúp Lm. Phương Toàn hoàn thành ý nguyện của mình ở vùng kinh tế mới. Việc dời ấp Tân Hữu là một nỗ lực làm thay đổi môi trường, làm thăng tiến đời sống giáo dân, ngăn chặn được những yếu tố làm tha hoá con người, mà trực tiếp là nạn nghèo đói. Sự sẻ chia cơm áo cuả giáo dân Tân Hữu cho bà con di dân Tân Thành là hành động cụ thể của yêu thương Công giáo.

Đất Mới là bài ca yêu thương, bài ca ca ngợi Con Người. Ánh sáng tư tưởng Nhân văn Công giáo đem đến một niềm tin thực sự cho người đọc, niềm tin vào Con Người chí thiện, vào sức mạnh của Con Người có thể làm nên Nước Trời ngay trong cõi tại thế này, và hơn hết niềm tin vào người Mục tử “hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29) hết lòng vì đoàn chiên.

Hãy so sánh một chút với một truyện miêu tả con người qua cái nhìn của Chủ nghĩa Hiện sinh. Nhà văn Dương Nghiễm Mậu trong truyện Cũng đành (1958) kể lại cuộc chạy trốn cuả một con người từ Sơn Tây về Hà Nội. Không có giấy tờ tùy thân, anh ta phải trốn trên xe chở củ nâu. Về đến bến xe Kim Mã, trời tối, anh không biết đi đâu, đành chui vào một túp lều sống với lũ chuột… Cuộc sống trôi đi. Anh ta như như con chó ốm ghẻ, lang thang lẩn lút, không chốn nương thân. Không có tiền mua thuốc, anh ta phải nuốt giun để chữa sốt rét. Không có gì để ăn, anh ta phải nhét vào mồm từng chút cặn thịt hộp đã thiu moi trong ống lon ở bãi rác để khỏi chết đói. Rồi cũng tìm được việc làm phụ ở chỗ thổi thuỷ tinh. Lại bỏ việc, đi nhặt mảnh chai. Rồi dun rủi, lại sống chung với gái điếm, và sau cùng bị bắt. Khi bị tra hỏi, anh ta không biết mình là ai, kể cả tên mình. Bị đánh đập tra khảo mãi, anh ta đành chịu vì chẳng biết khai gì. Viên cố đạo đến giúp tù binh, bị anh ta chửi vào mặt. Rồi một hôm bọn lính dồn anh ta lên xe chở ra cánh đồng, bắt đào hố. Anh ta biết sắp được tự chôn mình. Có tiếng lên đạn lách cách, chúng bắt anh quay mặt vào hố. Anh ta nhớ câu hỏi: ”Cha mẹ mày tên gì”. Câu truyện kết thúc ở đó.

Nhà văn Hiện Sinh miêu tả con người như con vật trần trụi, bị săn đuổi, không chốn nương thân. Sống là đi về cái chết như một tất yếu bi đát. Cô đơn trong thân phận con người. Tuyệt vọng đến chối bỏ cả đức tin, và vô nghiã đến độ không còn biết mình là ai. Nhìn con người như thế, nhà văn tỏ ra hoàn toàn bất lực trong nhận thức về con người về sức mạnh vất chất và tâm linh cuả con người. Con người đành bó tay trong cõi chết từng ngày. Nếu nhà văn có yêu thương con người thì tình yêu thương ấy chẳng đem đến cho con người điều gì an ủi ngoài nỗi sợ hãi và tâm trạng bi đát.

Trái lại, tư tưởng Nhân văn trong Đất Mới soi rọi vào bên trong sức mạnh cuả con người, sáng lên những phẩm chất tốt đẹp của con người và đem đến Niềm tin Cứu rỗi cho con người khỏi tăm tối tuyệt vọng.

Tư tưởng Nhân văn Công Giáo cũng kết tinh trong việc xây dựng nhân vật Lm Phương Toàn, một người bình thường nhưng lại đạt đến những phẩm chất lý tưởng. Nhân vật Lm Phương Toàn là tiêu biểu cho vẻ đẹp cuả người sống đời dâng hiến (khác hẳn với sự miêu tả về Linh mục trong các tác phẩm thế tục). Đất Mới khẳng định chính người Mục tử Công Giáo, cùng với giáo dân “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, đang đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng Đất Nước.

Kiểu nhân vật như vậy là kiểu nhân vật mới, đóng góp cho văn chương Việt Nam đương đại. Đó là một công dân của Nước trời, như mọi công dân của đất nước này, nhưng tỏa sáng tư tưởng nhân văn Công giáo giữa đời thường,

III. VỚI VĂN CHƯƠNG VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI

Ngọai trừ một số ít tác phẩm văn chương đích thực (tác phẩm đề tài lịch sử, tác phẩm trong dòng văn chương Nhân văn và Dân chủ), thật khó tìm ra một nhân vật có lý tưởng sống tích cực trong văn chương Việt đương đại. Trái lại, không thiếu những tác phẩm miêu tả những mặt tiêu cực của đời sống, văn chương sex, những truyện ngôn tình…tác giả khắc hoạ những nhân vật tha hóa, thực dụng, vị kỷ, ngụp lặn trong bóng tối, vô vọng…(3). Khó tìm thấy những nhân vật tích cực, tỏa sáng vẻ đẹp Nhân văn, biết sống vì tha nhân, đem tin yêu đến mọi nơi, như nhân vật Lm Phương Toàn trong Đất Mới.

Thực trạng ấy của văn chương đương đại đang được báo động. Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị đã phê phán: ”Một số văn nghệ sĩ còn… chạy theo các đề tài nhỏ nhặt, tầm thường, chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí…Một số sản phẩm văn học, nghệ thuật tầm thường, chất lượng kém được phát hành, truyền bá gây tác hại, ảnh hưởng xấu tới công chúng, nhất là thế hệ trẻ .”

Đất Mới là đời sống thật được chưng cất bởi ánh sáng của tư tưởng Nhân văn Công giáo nên có thể chạm vào được tâm thức sâu xa cuả người đọc, nhất là những ai đã sống qua thời đất nước khủng hoảng (1975-1990), phải di dân đi Kinh tế mới. Đó là khát vọng về một “Đất Mới” trong đời thực, Đất Mới trong tâm hồn và niềm tin vào con người. Hoặc ít ra cũng đem đến cho người đọc cái nhìn nhân ái về cuộc sống, nhận ra sự tốt đẹp của cuộc sống ở cõi tại thế này và khẳng định sức mạnh cuả tình yêu thương có sức giải thoát con người khỏi những thảm cảnh, tội lỗi và sự chết.

Đọc Đất Mới dưới ánh sáng của tư tưởng Nhân văn Công giáo, người đọc sẽ nhận ra giá trị nhiều mặt của tác phẩm này. Cùng với những tác phẩm khác của Song Nguyễn, Đất Mới tạo nên bộ sử thi về đời sống người Công giao đương đại. Đó là những bài học suy nghiệm quý giá mà Song Nguyễn chia sẻ với chúng ta.
_______________________________________________

(1b) Terence [195-159 BC] in his play Heauton Timorumenos, reads: "Homo sum, humani nihil a me alienum puto", or "I am human, and I think nothing human is alien to me." https://en.wikipedia.org/wiki/Terence

(2) Tự điển Văn Học. tr.291

(3) Xin đọc: Bóng Đè, I’m Đàn Bà, Dị Bản, Nháp. Sợi Xích, Dại Tình…

02/07/2021

Song Nguyễn- Nhà văn Công giáo giàu sức sáng tạo- Tác giả: Bùi Công Thuấn

Song Nguyễn- Nhà văn Công giáo giàu sức sáng tạo- Tác giả: Bùi Công Thuấn

(Ảnh do tác giả cung cấp)

Đức Giám mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh là Giám mục giáo phận Xuân Lộc 12 năm (2004-2016). Người được mọi thành phần dân Chúa trong giáo phận rất kính yêu. Ngài cũng là người trực tiếp cùng với giáo phận Xuân Lộc xây dựng Trung tâm Đức Mẹ Bãi Dâu và tượng Chúa Kitô núi Tao Phùng ở Vũng Tàu. Từ 2014 đến nay, ngài phụ trách xây dựng Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Núi Cúi, một công trình lớn của giáo phận Xuân Lộc.

Tôi được gần Đức cha Đaminh từ những năm 1970 khi Ngài còn là Giám học trường Trung học Hòa Bình, Long Khánh. Từ đó đến nay (2019), tôi có nhiều dịp được nghe Đức cha chia sẻ những tâm nguyện văn chương. Đặc biệt là khi biên tập, in ấn 15 tác phẩm văn chương của Ngài, tôi nhận ra Đức Cha còn là một nhà văn Công giáo rất giàu sức sáng tạo.

1. Tác giả Song Nguyễn

Cho đến nay chưa ai rõ do đâu Đức cha Đaminh lại lấy bút danh là Song Nguyễn. Đó là một điều thú vị. Tác giả Song Nguyễn đã in 15 tác phẩm trong đó có 9 truyện dài:

1. Một Đời Dâng Hiến, truyện dài. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2009.

2. Đất Mới, truyện dài 3 tập. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2018.

3. Đồng Hành, truyện dài. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2010.

4. Định Hướng, truyện dài. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2011.

5. Chuyến Xe Về Trời, tập truyện ngắn 1. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2011.

6. Còn Một Niềm Tin, tập truyện ngắn 2. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2011.

7. Suối Nguồn, tập truyện ngắn 3. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2011.

8. Người Cha Hiền, tập truyện ngắn 4. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2012.

9. Mẹ yêu của con, tập truyện ngắn 5. Nhà xuất bản Tôn Giá, 2012.

10. Chỉnh Hướng, truyện dài. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2013.

11. Đồng Cỏ Xanh, truyện dài. Nhà xuất bản Phương Đông, 2013.

12. Vì sao sáng, truyện dài. Nhà xuất bản Tôn giáo, 2015.

13. Tiếng Kêu, truyện dài. Nhà xuất bản Hồng Đức, 2019.

14. Đường lên Núi Cúi. Truyện dài tư liệu. Nxb Hồng Đức, 2019.

15. Hãy ca tụng Chúa (Tự truyện), 2020

Nhìn vào số lượng tác phẩm trên, hẳn chúng ta sẽ ngạc nhiên tự hỏi, Đức cha bận bao nhiêu công việc mục vụ, Người lấy thời gian đâu để viết. Tuổi tác đã khá cao, sao Đức cha có thể kham nổi công việc viết văn nặng nhọc ấy. Nhưng điều quan trọng là, Đức Cha tích lũy vốn sống như thế nào để có thể ghi lại được bao nhiêu cảnh đời, chia sẻ được với bao nhiêu là số phận giáo dân?

Viết văn còn là khám phá những vấn đề, qua đó thể hiện tư tưởng và thái độ trách nhiệm trước cuộc sống. Viết văn đòi hỏi năng lực sáng tạo. Điều này thật không dễ đối với người cầm bút. Nhiều người rất giàu vốn sống, phong phú trải nghiệm, nhưng không sao định hình được chủ đề, không kết tụ được chút ánh sáng tư tưởng nào làm nền, nên đành bất lực trước trang giấy trắng. Song Nguyễn đã viết và in 15 tác phẩm với bút lực dồi dào mà nhà văn Công Giáo chưa ai có được.

Ông Lê Đình Bảng, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Công giáo, trong cuốn Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường, đã nghiên cứu các nguồn mạch văn hoá Công giáo trong suốt 400 năm qua. Ông cho biết, dù đã cố gắng tìm kiếm, nhưng số tác giả Công giáo có tác phẩm truyện cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Lm Philipphê Lê Thiện Bá (1891-1981) in 4 cuốn, Lm Nguyễn Duy Tôn (1919-1976) in được 4 cuốn, Lm Vũ Duy Trác (1927-2003) 1 cuốn, còn lại người in 1 cuốn hoặc 2 cuốn. Những tác giả tác phẩm ấy không gây được tiếng vang nào, ngoài truyện ngắn Truyện Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản. Truyện này được coi là dấu ấn đầu tiên về truyện ngắn viết theo lối phương Tây bằng chữ Quốc Ngữ.

Như vậy xét trên dòng chảy lịch sử của văn chương Công giáo, tác giả Song Nguyễn là người tiếp tục khơi nguồn mạnh mẽ về văn học nghệ thuật của Giáo hội. Hiện Giáo hội đang có những nỗ lực trong hoạt động Mục vụ văn hóa, trong đó có Giải Văn hóa nghệ thuật Đất Mới của Giáo phận Xuân Lộc đã tổ chứ đước 10 năm (2011-2021), Giải Viết văn đường trường của giáo phận Quy Nhơn (6 năm), nỗ lực xây dựng thư viện Công giáo của Hội đồng Giám mục Việt Nam, tủ sách Ra Khơi và Câu lạc bộ thơ văn Công giáo của “nhà đạo Bùi Chu”…Những nỗ lực này đều hướng đến mục đích đem Tin Mừng hội nhập với văn hóa dân tộc. Nhiều Giám mục của Giáo hội Công giáo Việt Nam đã quan tâm sâu sắc đến văn chương nghệ thuật Công giáo (1). Đức Giám mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Sang, Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần đã viết những tác phẩm giá trị…Rồi đây các nhà nghiên cứu văn học Công giáo sẽ tìm thấy nhiều vấn đề lý luận văn chương rất đáng quan tâm từ những tác phẩm của Song Nguyễn.

2. Mục vụ văn hóa

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân nhận xét rằng: “Nhưng vẫn là lạ lùng nếu nghe nói có nhà văn Việt Nam nào có thể được coi là “nhà văn Thiên Chúa giáo”, bởi văn hóa của người Việt dường như xa lạ với tinh thần Thiên Chúa giáo.”(2). Ông nhắc đến ba tên tuổi lớn của văn chương Việt Nam là: Hàn Mặc Tử (1912-1940), Nam Cao (1917-1951), Nguyên Hồng (1918-1982). Ở những nhà văn này, phẩm chất và Đức tin Công giáo đã thấm rất sâu trong trang văn của họ. Nhưng sẽ càng lạ lùng hơn khi nghe nói đến một nhà văn là Giám mục như đức cha Đaminh.

Có thể hiểu được như thế này: Trong nỗ lực dấn thân của người Mục tử, nhiều vị chủ chăn đã viết những bộ sách rất quý để gieo trồng đức tin. Đức cha Phanxiacô Xavie Nguyễn Văn Sang đã viết gần 20 đầu sách. Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần đã viết bộ sách Thao Thức rất nồi tiếng, bộ sách Đường Hy Vọng của Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận đã trở thành ánh sáng tâm linh cho nhiều người, không chỉ ở Việt Nam mà còn ảnh hưởng lớn đến người đọc trên thế giới…

Xin hãy học ở Giáo hội. Tông huấn Ecclesia in Asia (Giáo hội tại Á châu) của Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II dạy rằng: “Việc trình bày Đức Giêsu Kitô là một Đấng Cứu Độ duy nhất, cần phải theo một khoa sư phạm, từng bước dẫn đưa dân chúng đến việc đón nhận trọn vẹn mầu nhiệm… phương pháp kể truyện, quen thuộc với văn hoá Á Châu, thì đáng được dùng ưu tiên. Quả thực, việc rao giảng Đức Giêsu Kitô có thể có hiệu quả nhất bằng cách kể lại câu chuyện về Người, như sách Phúc Âm làm”.(Chương IV, mục 20)

Kinh Thánh là bộ sách được cả nhân loại công nhận như những tác phẩm văn chương - tư tưởng vĩ đại nhất từ xưa đến nay. Chính cuộc đời Đức Giêsu là câu chuyện được kể trong Tân Ước trở thành ánh sáng Cứu Độ. Và hơn bất cứ nhà văn nào, chính Đức Giêsu là bậc thầy của các nhà văn. Trên đường rao giảng, Người đã kể những dụ ngôn tuyệt hay. Đó là những truyện ngắn rất gần gũi, rất hiện thực nhưng lại giàu có về ý nghĩa và tư tưởng; đồng thời có sức khai mở, giác ngộ tâm linh cho nhân loại. Những dụ ngôn như Người cha nhân hậu (Luc 15,1-32), Người Samari nhân lành (Luc 10, 25-37) là những truyện ngắn tư tưởng mẫu mực cho muôn đời.

Văn chương của Song Nguyễn có cội nguồn trong truyền thống quê hương Bùi Chu. Theo Lm. Đaminh Trần Ngọc Đăng (3),”Bùi Chu không chỉ là chiếc nôi của công cuộc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam (1533), mà còn là một trong những chiếc nôi của văn hoá Công giáo nói chung và văn chương, thi ca Công giáo nói riêng.”. Nơi đây có các cơ sở giáo dục rất sớm: các Tiểu chủng viện, Đại Chủng viện, trường Trung học đệ Nhị cấp (trường cấp III), có cơ sở ấn loát đầu tiên tại Đàng Ngoài là nhà in Phú Nhai Đường tại Phú Nhai. Cơ sở này đã ấn loát hàng loạt sách đạo bằng chữ Nôm, chữ Nho và chữ Quốc Ngữ. Nơi đây có Đức cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn. Người đã viết rất nhiều sách về văn hoá, văn học (thí dụ cuốn: "Văn chương thi phú An nam"- Littérature et Prosodie Annamite – HK 1923 và 1933) Ngoài ra, Ngài còn tham gia viết bài trên các báo: Nam Kỳ địa phận, Vì Chúa, Sacerdos Indonensis, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí; lập nhà in Thánh Gia, nhà sách Đa Minh, chủ biên tạp chí Đa Minh bán nguyệt san, Thời Mới... Ngài cũng sáng tác thơ ca giáo lý, như "Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo", "Tu thân huấn đức", "Ca dao về Mẹ", "Bài ca nghĩa binh Thánh Thể".

3. Khắc họa dung mạo Đức Giêsu giữa mọi người.

Tác giả Song Nguyễn không viết văn như nhà văn đời thường. Ngài nói rõ mục đích cầm bút của mình là: ”Viết lại những mảnh đời, những số phận, những trải nghiệm, tác giả chỉ có ý rút ra cho đời mục vụ của mình những bài học từ cuộc sống. Hay nói khác đi, tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này. Mục đích chỉ đơn giản như vậy… Hơn nữa tác phẩm được xem như là những bài huấn đức, những sứ điệp gửi cho nhiều thành phần Dân Chúa”(Lời ngỏ mở đầu các tác phẩm )

Dù mục đích sáng tác văn chương của Song Nguyễn “chỉ đơn giản như vậy”, song tác phẩm văn chương là một thế giới nghệ thuật biệt lập với tác giả. Thế giới này vừa chứa đựng hiện thực được phản ánh, vừa là hình tượng kết tụ từ thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng thẩm mỹ và toàn bộ thế giới tinh thần của nhà văn, vì thế nó đa nghĩa. Những tầng nghĩa của nó xa rộng hơn rất nhiều so với chủ đích của tác giả. Xin hãy đọc lại Tự Thuật Thánh Augustinô (Confessions-Nxb Tôn giáo 2010) và cuốn Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646 của Alexandre de Rhodes .(Nxb Khoa học xã hội, tháng 4. 2016).

Trong Tự Thuật, Thánh Augustino kể lại hành trình tư tưởng suốt đời đi tìm sự thật về Thiên Chúa, về chính mình, về thế giới. Cuốn sách không chỉ là cái nhìn sâu vào nội tâm, vào bản thể của thánh Augustinô, mà còn giúp người đọc khai minh nhiều vấn đề về hiện sinh, về chân lý. Ngược lại sách của Alexandre de Rhodes không chỉ kể lại hành trình truyền giáo của riêng tác giả, mà còn ghi nhận tình hình chính trị, quân sự và xã hội, kinh tế và văn hoá của nước Việt Nam vào đầu thế kỷ 17. Là một nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes quan tâm đặc biệt tới các tôn giáo, các tín ngưỡng cũng như những mê tín dị đoan của người bản xứ. Ông không quên những phong tục và nhất là tiếng nói của người Việt Nam. Nhưng điều ông ghi chép ngày nay trở thành những sử liệu rất quý để tìm hiểu về xã hội Việt Nam thế kỷ XVII. Quyền 2, với 51 chương, Alexandre de Rhodes kể lại tất cả hoạt động của ông và các người kế tiếp ông để đem Tin Mừng của Đức Kitô đến cho Đàng Ngoài. Với người Công giáo, đó sẽ là những kinh nghiệm rất quý báu. Ngoài những giá trị nội dung như vậy, hai cuốn sách này còn cho người đọc thấy sức mạnh của văn chương trong việc phản ánh hiện thực như thế nào.

Tác giả Song Nguyễn “viết lại những mảnh đời, những số phận, những trải nghiệm” của riêng mình, nhưng trong thế giới nghệ thuật, Ngài đặc biết khắc họa diện mạo đức Giêsu qua hình tượng các nhân vật sống đời dâng hiến (linh mục, nữ tu...) đang sống giữa đời thường, đang vật lộn với những cơn sóng dữ của thời đại.

Trong Đồng Hành, ở một xứ đạo nhỏ giữa Đồng Tháp những năm 1960, Cha sở đã sống trong vùng giao tranh, sống chết không biết thế nào. Trong một đêm càn, nhân vật Dì Năm đã bị giết chết, bị vùi ở mé ruộng. Vì sao sáng kể chuyện linh mục Trung Tín trong chuyến nghỉ hè về Đà Lạt trước 1975 đã bị bắt đưa vào rừng. Ở đây Ngài bị thử thách đặc biệt về sự chọn lựa lý tưởng, về lối sống, sức mạnh của đức tin Công giáo khi đối mặt với người cán bộ cách mạng. Đồng cỏ xanh là hành trình Linh mục Phương Tín dẫn đoàn chiên đi tìm đất sống giữa hai lằn đạn chiến tranh. Chỉnh Hướng miêu tả cụ thể sự đối mặt của linh mục Phương Trung ngay trong những ngày biến cố lịch sử 30.04.1975, kể cả việc Ngài bị bắt giam sau đó. Đất Mới (3 tập) có thể coi là một tiểu thuyết sử thi về đời sống của một giáo xứ đi kinh tế mới sau 1975 dưới sự dẫn dắt của linh mục Phương Tòan. Gian nan khổ ải không sao kể xiết... Trong những hoàn cảnh khốc liệt của đời sống như vậy, người đọc sẽ nhận ra khuôn mặt của các nhân vật linh mục cũng chính là khuôn mặt Đức Giêsu, nhận lấy thánh giá để dẫn đưa đoàn chiên đến đồng cỏ xanh và suối nước ngọt lành. Trong hành trình trần gian, các nhân vật linh mục hoàn toàn phó thác nơi Chúa. Song Nguyễn luôn khẳng định niềm xác tín này: “Con cứ trông cậy Chúa. Chúa không bỏ kẻ trông cậy Ngài”;“Việc Chúa muốn, Chúa sẽ làm”.

Có thể nhận thấy niềm xác tín này thể hiện thật rõ ràng nơi đời sống mục vụ của chính tác giả. Cuộc đời của tác giả Song Nguyễn là nhân chứng sống động cho niềm tín thác: “Việc Chúa muốn, Chúa sẽ làm”. Ơn Chúa đổ tràn xuống cho những ai cậy trông Người. Tác giả Song Nguyễn cũng ghi dấu ấn trong hình tượng các nhân vật linh mục. Điều này giúp bồi đắp thêm đức tin cho bạn đọc là giáo dân đang bước theo Chúa.(4)

4. Góc nhìn văn chương

Theo dòng chảy của văn chương Việt Nam, tác phẩm của Song Nguyễn đã có những đóng góp giá trị vào văn chương Công giáo đương đại. Đó là việc khắc họa thành công hình tượng tích cực về các linh mục Công giáo trong một giai đoạn lịch sử dân tộc có những biến cố lớn lao. Tác phẩm của Song Nguyễn cũng phản ánh được nhiều mặt đời sống người Công giáo suốt từ 1945 đến thời kỳ đổi mới (1986). Mai sau, các thế hệ con cháu có thể hiểu được một phần cha ông đã sống đạo như thế nào. Tác giả Song Nguyễn cũng để lại những kinh nghiệm viết quý báu cho nhà văn Công giáo. Đó là mục đích viết văn, về sự chọn lựa những câu truyện “nhà đạo” trong hiện thực để miêu tả và phản ánh, và đặc biệt là tư tưởng Nhân văn Công giáo làm nên những giá trị tác phẩm của Song Nguyễn. (5)

Xin Chúa chúc phúc cho những tác phẩm của Song Nguyễn, để qua đó Tin Mừng được thấm nhuần vào văn hóa dân tộc như lời dạy của Giáo hội trong Tông huấn Giáo hội tại Châu Á: “Trong quá trình gặp gỡ các nền văn hoá khác nhau của thế giới, Giáo hội không những truyền đạt các chân lý và những giá trị của mình và đổi mới các nền văn hoá từ bên trong, nhưng Giáo hội cũng tiếp thu từ các nền văn hoá khác nhau, những yếu tố tích cực có sẵn trong các nền văn hoá đó. Đó là con đường bắt buộc cho những nhà rao giảng Tin Mừng khi trình bày đức tin Kitô giáo và làm cho nó trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc.”

Tháng 9. 2019
__________________________________

Đọc thêm:

(2) Lại Nguyên Ân-Nguồn sáng lạ: http://lainguyenan.free.fr/DLNX/TuNguon.html


(4) Đọc thêm: Bùi Công Thuấn-Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb Hội Nhà Văn 2014.

(5) Đọc thêm: Bùi Công Thuấn-Tư tưởng nhân văn Công giáo trong Đất Mới của Song Nguyễn.







08/08/2017

Người mẹ bán xôi

Người mẹ bán xôi



Còn một chuyện trái ngược khác nữa là cha của Tuấn Đại và Quốc Tuấn là anh Nguyễn Văn Ban đã xin chính quyền cho hai con được mang họ vợ của anh là chị Đào Thanh Nhẫn, để nói lên lòng biết ơn và sự ngưỡng mộ của anh về người vợï tuyệt vời của mình.

Anh Nguyễn Văn Ban là một chiến sĩ đặc công, là một trong ba anh em Công giáo trong tiểu đoàn đặc công. Anh đã từng cứu hàng ngàn người thoát khỏi thủy lôi của “Pôn Pốt” (Polpot). Nếu không nhờ anh kịp khám phá thì nhiều người hôm nay không còn sống. Ngoài ra, hàng trăm người chạy trốn dân Khơme đỏ, nếu không nhờ anh cứu và đưa ra khỏi bãi mìn dày đặc của Khơme, thì bây giờ nhiều người cũng chẳng còn. Bên cạnh đó, còn rất nhiều người khác cũng nhờ anh mà người, vật và nhà cửa được bình an, thoát nạn. Điều đáng nói nhất là trong một lần kia, vì để cứu người mà anh đã bị mìn nổ, khiến anh cụt hai chân và bị mù hai mắt.

Số là một số đông người Việt bị Kh’mer Đỏ “cáp duồn” bỏ chạy trốn. Anh em đặc công đã hướng dẫn đoàn người chạy theo lối để tránh mìn. Vì quá hoảng hốt do số người chen lấn nhau chạy không theo sự hướng dẫn của anh em đặc công, nên anh Ban đã chạy ra để ngăn cản sự nguy hiểm. Nhưng không kịp, một người vì quá sợ hãi đã đạp phải một quả mìn cóc gần chỗ anh Ban, khiến anh Ban chỉ còn kịp cầm tay đẩy người đó vào trong để thoát nạn, còn anh đứng phía ngoài nên đã bị toét hai chân và mù đôi mắt.