Nhân ngày Nhà Giáo 21/11: Chút tâm tình gửi vào bụi phấn


Lại một ngày nhà giáo nữa đi qua. Những cánh thiệp. Những đoá hoa. Và những gói quà đủ kích cỡ đủ màu sắc. Tôi nhìn thấy những gương mặt hân hoan, của học trò, của thầy cô giáo và những nét âu lo của cả phụ huynh. Khi em gửi cho thầy cô một món quà, em gói trong ấy bao là tình cảm dễ thương và đáng quí. Chính những tình cảm ấy, chứ không phải tự những món quà, là sự khích lệ quí báu để thầy cô còn đủ can đảm đứng trên bục giảng. Hãy thử tưởng tượng, một ngày kia khi không còn tình nghĩa thầy trò, thì có ai còn can đảm chọn nghề giáo ?

Nhưng em ơi, cho tôi xin lỗi vì hôm nay khi tôi đã từ chối không nhận món quà của lớp em và lúc đó em có vẻ không vui. Đối với tôi, món quà vẫn là cái gì tốt đẹp bởi vì trong đó có cả một tấm lòng. Nhưng hãy cho phép tôi từ chối, bởi vì tôi đã nhìn thấy nhiều quá, thấy những vất vả nhọc nhằn của bạn bè em, thấy những ánh mắt rụt rè e ngại khi không biết còn đủ tiền đóng vào quỹ lớp hay không. Và tôi cũng thấy những nét âu lo trên vầng trán và trong mắt em, khi mà học phí kỳ một chưa đóng, khi mà chủ nhà trọ đang hỏi tiền nhà, khi chỗ dạy kèm tháng này không có. 
Vâng, cuộc sống bao giờ cũng đẹp nhưng quả thật cuộc sống không bao giờ là dễ dàng cho những con người đang cố gắng bước đi trong đó. Và tôi, ước mong giúp em tránh đi một chút nhọc nhằn. Và đâu nhất thiết là cứ ngày nhà giáo là phải tặng quà ?

Bàn thờ ở các gia đình Công giáo


Tôi có nhiều dịp thăm các gia đình người công giáo Châu Âu. Điều khiến tôi ngạc nhiên là nhà họ không có bàn thờ như ở các gia đình Việt Nam. Với họ, bàn thờ chỉ có ở những nơi thờ phượng như nhà thờ hoặc nhà nguyện. Và họ cũng không cầu nguyện tại tư gia như các gia đình Việt Nam, đọc kinh sớm tối.

Tuy nhiên, khi đạo Công giáo từ Châu Âu đến Việt Nam (khoảng 1615), các nhà truyền giáo đã rất khéo léo hội nhập và “rửa tội” cho những truyền thống con rồng cháu tiên. Một trong những nét đẹp ấy phải kể đến: bàn thờ ở mỗi gia đình.


Bà Năm ơi!

.
Vừa mở điện thoại lên thì mẹ nhắn tin báo: ‘ba nam mat roi, Teresa’. Lật đật gọi lại cho mẹ ngay hỏi về cái tin buồn bã đó. Thế là người cao niên nhất xóm tôi đã qua đời, người bà lớn nhất của dòng họ nội đã ra đi, người chăm nom đức tin cho tôi đã về với Chúa.

8 năm đi tu, những lần được về quê thật hiếm hoi, nhưng lần nào về, dù bận thế nào tôi cũng phải chạy qua thăm Bà Năm một chút. Trong thâm tâm, Bà Năm không chỉ là người trong dòng họ nhưng trên hết BÀ LÀ NGƯỜI CHĂM NOM ĐỨC TIN CỦA TÔI TỪ THUỞ BÉ. Tôi có thể nói như thế bởi vì Bà Năm hơn cả một cha xứ, hơn cả một giáo lý viên, bà là người cho tôi BIẾT GIỮ ĐẠO.

NHÂN NGÀY LỄ TẠ ƠN LINH MỤC

ảnh minh họa


Có một người hỏi: “Ông cha ấy hôm nay mới tạ ơn Chúa? Thế lâu nay không có tạ ơn sao cha?”

Lời ông thánh Phaolô vẫn luôn vang lên với hết mọi người chúng ta: Có điều gì nơi anh em mà anh em đã không nhận lãnh?... Anh em có được là gì thì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa. Thành ra, tạ ơn phải là tâm tình luôn phải có trong đời sống con người. Và tâm tình đó phải có một cách thường xuyên và liên tục, bởi trong từng giây phút của cuộc sống, ân huệ Thiên Chúa vẫn tuôn trào không ngơi nghỉ.

Nhưng trong những chuỗi ân huệ đó, có những lúc người ta đón nhận những ân huệ đặc biệt, niềm vui quá lớn, hạnh phúc ngập tràn, một mình tạ ơn không thể thỏa lòng. Tôi muốn mời anh em chị, bà con xóm giềng, bạn bè thân hữu … cùng với tôi để hát to lên, cùng nhảy múa để tạ ơn Chúa vì ân huệ tôi được đón nhận. Giống như ông Đavít ngày xưa, cảm nhận tình thương của Chúa, ông nhảy múa như thằng điên … Tân Linh mục hôm nay cũng thế, ngài muốn mời tất cả mọi người thân thích, ruột thịt đến để cùng chia sẻ, hát to lên với nhau để tạ ơn Thiên Chúa vì thiên chức linh mục đã nhận được.

"TỬ ĐẠO" TRONG ĐỜI TU

ảnh minh họa

Chỉ hơn một tuần nay, tin tức bên nhà tập cứ vọng qua nhà khấn của anh thầy: “T về hôm qua”, “H bị đuổi rồi anh ơi!”, “T vừa về khi sáng anh ạ”, “L đã xin về đời”, “Em đang dàn xếp với mẹ”,…Những tâm sự nặng nề, những tin tức bùi ngùi tiếc nuối,…Đi tu chẳng bao giờ là dễ cả, đúng không em?

***

Hôm nay lễ nhớ thánh Micael Hy, vì là lễ nhớ tự do nên không nêu lên trong thánh lễ, ít ai biết đến ngài. Nhưng mình thì nhớ, vì gần 10 năm nay tôi đều gọi ngài là Bác Hy. Chiều chiều trước giờ nguyện gẫm tối tôi hay đi dạo ở hiên kiệu và đi ngang tượng của ngài. Hiên kiệu là nơi tịch mịch linh thiêng mà tôi thường đến, và ở đó, tượng Thánh Tâm, tượng thánh Hy đã ghi dấu những tâm trạng khó quên cũng những chặng đường ơn gọi của tôi.

Giữa biết bao con đường có thể chọn, tại sao phải là đi tu? Tại sao không phải là đi vào đại học Sư phạm văn mà mình từng ao ước? Tại sao không phải là ngành nhiếp ảnh mà mình đã gởi hồ sơ đăng ký? Phân vân về chính chọn lựa của mình là một tâm trạng ngột ngạt, thật đấy! Đời tu bắt đầu từ những ước muốn nhưng lại tiếp diễn bằng những niềm tin. Ước muốn tu không đủ để ta bền đổ, cảm tính sẽ thay đổi nhưng ơn gọi thì không thể đổi thay theo cảm tính. Vì thế thời gian qua đi là lúc tôi luyện ước muốn và củng cố niềm tin để đi đến xác tín về ơn gọi.

“Chú” T tu gần 2 năm trong bậc Thỉnh sinh, rồi trước khi mặt áo dòng chú em xin về. Thời gian Thỉnh sinh thật đơn giản trong nếp sống, chỉ gọi là làm quen với đời tu mà thôi, nhưng tinh thần của giai đoạn Thỉnh sinh lại không đơn giản chút nào, đó là khoảng thời gian nhiều băn khoăn về ơn gọi, nhiều giằng co chọn lựa khi thấy mấy đứa bạn cùng tuổi đang tung tăng giữa đời với thời sinh viện đại học.

Thời Tập sinh, ôi cái thời hay được gọi là Thiên Thần Áo Trắng, áo dòng khoác vào mình và lên bậc Tập sinh, áo dòng trắng tinh nhưng cũng thấm đầy “máu”. Máu của chiến đấu thiêng liêng, máu của hiến tế linh hồn…Chủ chốt của giai đoạn tập sinh là đời sống thiêng liêng, ở đó em tập sinh phải dùng các phương pháp tu luyện để gột rửa bản thân và tìm sự tương giao với Thiên Chúa. Giai đoạn Tập sinh đặt nền tảng cho cuộc đời dâng hiến, dường như mọi trải nghiệm tâm linh nền tảng đều diễn ra trong giai đoạn này. Ấy thế mà H được chuyển hướng ơn gọi…vì không phù hợp. Đời tu không chỉ là tâm linh, nó còn là đời sống cộng tu giữa mọi người, vì thế đời sống thiêng liêng không phải là lý chứng duy nhất để biện giải cho ơn gọi. Tất yếu, đời sống thiêng liêng phải được biểu lộ ra cuộc sống bằng sự vâng phục, hy sinh, bác ái,…H được cho về vì những lý do cộng đoàn mà xem ra em chưa đáp ứng đủ.

Mình đã suy nghĩ bao nhiêu đó dưới những vòng cung hiên kiệu, Thỉnh sinh và Tập sinh trôi qua trong những suy nghĩ ngập tràn và hàng ngàn những giằng co dao động…Các em Thỉnh sinh và Tập sinh bây giờ cũng sẽ phải qua những suy nghĩ đó và mỗi người lại có những chiến đấu riêng, họ đang tử đạo hằng ngày, sự tử đạo không đổ máu…tử đạo trắng đấy bạn à!

Khấn lần đầu, gọi là Khấn tạm, gọi là “tạm” nên có người lại nghĩ chỉ cần sống tạm tạm thôi! Ồ, không đâu! Khấn tạm là giai đoạn cực kỳ năng động, năng động của tuổi trẻ, lúc ấy mình chỉ mới 22 tuổi! Năng động của giai đoạn khấn tạm là năng động thực hành lời khấn! Tuyên khấn là lúc chính thức mang vào mình trọng trách, phải họa lại cuộc đời Chúa Giesu trong cuộc sống của mình bằng những thực hành lời khấn… Cũng giai đoạn khấn tạm này nhà dòng để cho tu sĩ trẻ tiếp xúc với nhiều thử thách nhằm rèn luyện và thanh lọc ơn gọi. Rất nhiều ơn gọi ra đi trong giai đoạn khấn tạm này. Nếu tập sinh là giai đoạn tập dợt thì khấn tạm là lúc thực tập. Những gì được học sẽ được thực hành…ra chiến trường nào tu sĩ trẻ! Tu sĩ sẽ thực hành sự chiêm niệm ngay giữa hoạt động, tu sĩ sẽ tìm cách trưởng thành và bồi đắp cho bản thân từ tri thức đến nhân cách và tâm linh. Cái cam go của tu sĩ giai đoạn khấn tạm là chiến đấu với tình cảm của mình, vừa là những tình cảm cũ và những tình cảm mới phát sinh. Nhiều tu sĩ trẻ bắt đầu ra trận và không bao giờ trở lại, chiếc tàu ơn gọi được chuyển đường ray và đi sang con đường khác…Có quá nhiều chọn lựa và xem ra tận hiến trong ơn gọi lại là con đường không mấy khôn ngoan! Các em khấn tạm ra rất nhiều…

Còn có thể trở về dòng sau 2 năm học ở Sài Gòn hoa lệ, tôi xem đó là ngày mới bắt đầu tu. Tôi từng nghĩ mình sẽ không thể trở về nữa, tôi từng nghĩ đan viện không còn là nơi tuyệt vời nhất của mình, tôi từng nghĩ đi tu chỉ là giai đoạn tạm thời và tôi phải đi tới trên con đường khác. Những ngày đầu tháng 6, sáu anh em chúng tôi đùm túm từ trụ sở về nhà dòng, tôi cười tủm tỉm và nhớ lại ngày đầu tiên vào Tập viện…À, thì còn tu nữa…Mấy “anh bạn” khấn tạm của tôi, “tụi nó” bằng tuổi hoặc nhỏ hơn tôi vài tuổi thôi, tụi nó đang gánh gồng và chiến đấu nhiều lắm: tiếng gọi của tình cảm, mặc cảm với bạn bè, ray rứt với gia đình, chán chường kinh phụng vụ,…có hàng trăm lý do làm nền cho chọn lựa ơn gọi…Chúng nó đang tử đạo kia kìa…

Thánh Athanasius có thuật ngữ “tử đạo hằng ngày” để diễn tả những chiến đấu thiêng liêng, thánh Cypriano thì có từ “tử đạo trắng” để nói đến gian khó của cuộc sống tu trì, tựu trung là những “tử đạo tinh thần” (martyrium spirituale)…Bao nhiêu em đã ra về, bao nhiêu em còn ở lại, các em tiếp tục chiến đấu bằng hùng tâm dũng chí của mình để làm gì? Mục đích của chúng ta là đi tìm Thiên Chúa. Chúng ta chiến đấu với chính mình, chúng ta giáp mặt tất cả những yếu đuối của bản thân, và chính chúng ta phải hạ gục chính mình. Chúng ta chiến đấu để thanh luyện bản thân và xây dựng con người mới trong Chúa Giesu. Đổ máu, đau đớn, vô cùng đau đớn và mệt nhọc…đó là cuộc chiến của chúng ta…Cuộc sống không bao giờ là dễ dàng và đời tu cũng không nhẹ nhàng như người khác nghĩ…nhưng trong thử thách chúng ta vẫn luôn có những niềm vui, vì “vị thánh buồn là vị thánh đáng buồn”, đúng vậy á. Chúng ta vui vì những cố gắng của mình, đôi khi chỉ đơn giản là có thể kiên trì tiếp tục.

Em thấy rồi đó, bao nhiêu người trước em và ngay trong lớp em, họ đã bỏ cuộc. Có thể đó là đúng đắng, có thể đó là ơn gọi thật sự của họ, nhưng suy cho cùng thì từ bỏ ơn gọi, từ bỏ những xác tín của mình,…là sự thất bại em à. Ơn gọi chỉ thật sự là ơn gọi khi đã qua những thử thách, ơn gọi phải chứng minh được hiệu quả sau những bảo tố kinh hoàng. Nếu đời tu chỉ là an phận và bập bềnh trôi lững lờ qua ngày thì đó không phải con đường hẹp Nước Trời. Nếu đời tu chỉ hoàn toàn là êm dịu thì xem ra đó không phải con đường lên Calve mà Chúa Giesu đã từng đi. Và chắc hẳn “Một bước nhỏ giữa những giới hạn lớn của con người, làm đẹp lòng Chúa hơn là một cuộc sống đúng đắn bên ngoài êm ả trôi qua từng ngày mà không phải đối mặt với những khó khăn đáng kể nào”, như Đức thánh cha Phanxico nói.

***

Từng viên gạch, từng gốc cây, ghế đá ở hiên kiệu thấm đẫm những suy nghĩ và tâm tình của tôi…Tôi tiếp tục đi dưới hiên kiệu, đi ngang tượng Thánh Tâm và Thánh Hy cúi đầu kính bái: “Bác Hy cầu cho con…con cũng tử đạo hằng ngày, cuộc tử đạo trắng mà đời con đã tình nguyện bước vào”.

Martin OCist 

Chiều mưa đan viện 22.05.2019


“Tôi phải xưng gì? Tôi phải chính xác hơn? Tôi phải trung thực hơn?”

Tôi đã xưng tội từ rất nhiều năm, nhưng tôi vẫn có cảm tưởng tôi chưa biết xưng như thế nào cho đúng. Đôi khi sau khi xưng tội, tôi tự hỏi: “Tôi phải xưng gì? Tôi phải chính xác hơn? Tôi phải trung thực hơn?”

Cách đây vài ngày, tôi quyết định đi hỏi các linh mục giải tội cho chúng tôi! Và đây là câu trả lời của họ:

1: Khi mình nhìn mình, thì mình đối diện với tội của mình. Nhưng khi mình đi xưng tội thì mình đối diện với Tình yêu, với Lòng thương xót và với sự Tha thứ của Chúa.

2: Sau khi nói từ bao lâu mình chưa xưng tội thì nên nói một ít về tình trạng của mình (độc thân, hứa hôn, lập gia đình và nghề của mình). Linh mục giải tội sẽ khuyên bạn dễ hơn khi cha biết hoàn cảnh của bạn.

ĐỂ TẠ ƠN CHÚA, HAY LÀ ĐỂ CHÚA TẠ ƠN CON?



Chuyện hai bà góa

Lời Chúa hôm nay nhắc đến hai bà góa có lòng tin cậy mến Chúa tuyệt đối.

Bà góa thứ nhất, trong bài đọc 1, sách Các Vua:

Bà góa Sarépta chỉ còn một nắm bột trong hũ với một ít dầu trong bình. Thế nhưng, bà vẫn lo đầy đủ cái ăn cho bà, cho con trai bà, và cho Ngôn Sứ Elia, suốt thời gian ông thi hành sứ vụ, bởi vì bà đã vững tin vào Thiên Chúa qua câu nói của tiên tri: “Hũ bột sẽ không cạn và bình dầu sẽ không vơi đi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên mặt đất”

“PHẢI TẮM ĐỨC MẸ BẰNG RƯỢU THÔI EM À”

hình minh họa

Cha mất vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975, Hùng mới lên hai, Kiều còn trong bụng mẹ. Kiều vừa lên hai, năm 1978, thì Mẹ mất vì sốt rét rừng. Hai anh em mồ côi cha mẹ, phải sống nương nhờ ông bà ngoại những năm mất trắng mùa lúa lịch sử ở đất Bình Tuy này. Hoa cỏ le bỗng dưng nở rộ. Cả làng đi tuốt hạt le về làm gạo ăn qua ngày. Cả củ nần, củ chuối với chút muối hầm cũng bỗng ngon ra.

Kỷ niệm lớn nhất trong tuổi ấu thơ của Hùng Kiều là chuyện ông ngoại thất chí tang bồng, co ro ngồi trong góc nhà tăm tối, lần chuỗi thâu đêm. Nhà có cái đèn hột vịt nhưng chỉ thắp được một lúc rồi tắt đi, để dành cho ngày mai thắp tiếp. “Dầu lửa quý lắm, không dễ gì mua được một lít mà để dành. Mà cũng không có tiền để mua hẳn một lít đâu con ạ”. Ông Ngoại nói.

Ngày có trí khôn, ông ngoại bảo Hùng Kiều lần chuỗi với ông trước khi ngủ. Tượng Đức Mẹ để trên đầu giường. Lần chuỗi xong, hai đứa đi ngủ, ông ngoại ôm tượng Đức Mẹ để nằm một bên gối, lấy tấm khăn phủ lại. Hùng nhớ ông ngoại thường nói: “đã Ngụy rồi mà còn Có Đạo nữa, khó lắm con. Thôi thì cất giấu đi để mai sau sẽ trưng bày…” (một câu kinh cũ trong sách mục lục giáo phận Quy Nhơn)

Nghe Hùng kể đến đây, tôi bỗng liên tưởng đến một mùa chay không chỉ của gia đình ông ngoại Hùng Kiều mà còn là mùa chay của đất nước… Và còn hơn thế nữa một Mùa Chịu Nạn chẳng khác gì Tuần Thương Khó của Chúa Giê-su. Nhà thờ không có Linh Mục, không có Thánh Lễ. Con chiên nươm nướp lo sợ đến toát mồ hôi máu như đêm trong vườn dầu…

VÔ CẢM
---//---
(suy niệm Tin Mừng Chúa nhật XXVI Thường niên năm C)


Có một bà mẹ trẻ, bế theo đứa bé đến cổng nhà Dòng than thở nghèo khổ và xin cho tiền xe về miền trung. Thấy chị ta đáng thương, lại có con thơ, nên một cha quản lý đã cho chị số tiền về xe và còn cho thêm đồ ăn cũng như sữa cho chị và cháu bé. Thế nhưng xui cho chị ta, ngay chiều ngày hôm đó cha quản lý lại chạy qua xứ khác để dâng lễ, nào ngờ cha thấy chị ta cũng đang xin tiền cha xứ bên đó và cũng với câu chuyện xin đủ tiền xe về quê. Đến lúc này cha mới biết mình bị lợi dụng lòng tốt, bị lừa đảo.

Vâng thưa cộng đoàn! Những chuyện như thế xảy ra rất nhiều và các cha thường khuyên phải cẩn thận để không bị lừa như thế nữa.

Thật vậy, trong đời sống thường ngày, rất nhiều người trong chúng ta bị lợi dụng lòng tốt. Vì thế, chúng ta thường chọn phương án làm như không nghe, không thấy những hoàn cảnh khó khăn mỗi khi ra đường. Chính vì thế, chẳng biết khi nào mà con người trở nên vô cảm với nhau.


Chỉ còn vài ngày nữa là mỗ tôi kỉ niệm tròn 5 năm, ngày đánh dấu bước thay đổi ngoạn mục trong cuộc đời.

Năm năm trải nghiệm đèn sách là 5 năm của biết bao dấu ấn buồn vui lẫn lộn. Nhưng đúc rút lại, mình cũng đã trưởng thành lên nhiều, bớt ngu hơn, trầm tư hơn, suy nghiệm mỗi ngày và nhận thấy cuộc sống thật đáng trân quý biết bao.


Đúc rút từ việc đọc sách, tôi thấy có mấy cái lợi muốn chia sẻ với các Quý hiền hữu:

ĐAU ĐẦU


------

...đừng sợ khó khăn, thử thách, hãy cứ bám vào Chúa và quan trọng, “ĐỪNG BAO GIỜ CÓ Ý ĐỊNH TỪ BỎ ƠN GỌI CỦA MÌNH” cho dù chúng ta đang phải đối đầu với đêm đen và bế tắc...


P/s: Gửi các bạn đang ao ước sống đời dâng hiến mà không đủ tự tin vào bản thân.


Có một điều mà không bao giờ tôi dám mơ mình có được, đó là sức khỏe. Sau 15 năm phát bệnh, và sống chung với bệnh tật, trải qua biết bao cơn bĩ cực, đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần, khám rất nhiều bệnh viện lớn nhỏ, uống thuốc không biết bao nhiêu là thuốc, tôi mới biết mình mắc bệnh Thalassemia (còn gọi là bệnh tan máu bẩm sinh). Vì là bệnh đột biến gen máu nên cơ thể tôi luôn trong tình trạng thiếu máu, yếu nhược, xanh xao, không thể làm việc nặng được, não bộ thiếu o-xi trầm trọng. Cộng với thời gian dài tập tu, tập trung tối đa cho học tập, và vì não thiếu o-xi nên dẫn đến động mạch não bị phình, dị dạng mạch máu não. Chính vì thế tôi luôn bị những cơn đau đầu hành hạ.

Những bữa ăn chậm...

ảnh minh họa

Con hỏi mẹ : Sao người ta lại rời bỏ nơi yêu thương để yêu thương những người xa la ?
Mẹ trả lời : Mỗi khi con nhận thực phẩm là con đã nhận được yêu thương dành cho những người xa lạ, mà con là một trong những người xa lạ đó...

Một tháng sau ngày con đi, mẹ nhận được bài viết của con.


Nhìn chung, kẻ tu hành không phải làm kinh tế (ngoại trừ một số ít dòng tu).

Nên họ có nhiều thời gian mà tập trung cho việc học hành, chiêm niệm, và cảm nhận cuộc sống. Và do đó, họ phải tu tâm tốt hơn, phải chiêm niệm được nhiều hơn, phải cảm nhận được nhiều hơn về những sự kỳ diệu của cuộc sống này; để còn cho những người xung quanh biết nữa.

Một người giáo dân hoặc phật tử bình thường thì làm gì có thời gian mà cảm với chẳng nhận, mà chiêm với chẳng niệm. Họ phải ăn thật nhanh, uống thật nhanh, tắm thật nhanh, làm gì cũng phải thật nhanh để có dư được thật nhiều thời gian đặng mà kiếm tiền nữa. Cho nên các giác quan của họ ít nhiều mất đi sự nhạy cảm tuyệt diệu mà Chúa trời đã ban. Lưu ý sự nhạy cảm ở đây không phải là độ nhạy. Mũi họ vẫn có thể nhạy đó, ngửi ngay một cái là biết mùi gì. Lưỡi họ có thể nhạy đó, nếm một cái là biết thiếu vị gì trong món ăn. Nhưng tôi đang nói đến một thứ nhạy cảm khác. Một thứ nhạy cảm mà chỉ có được khi chúng ta làm một thước phim chiếu chậm.

BỐN MƯƠI LĂM - MỘT DÒNG LỆ

(Câu chuyện về phép lạ của Đức Mẹ La Vang!)


LTS: Bà Lê Tín Hương hiện ở California, là nhạc sĩ, cũng là nhà văn, qua cha cố Trọng đang nghỉ hưu tại Orange County, California, gởi cho chúng tôi câu chuyện về Ơn Lạ của Mẹ Lavang ban cho gia đình bà cách đây 40 năm. Xin mời bạn đọc theo dõi. "Về bên Mẹ Lavang" chân thành cám ơn tác giả.

Gia đình Cô ta là Phật Tử thuần thành. Cô kể lại như sau:

Tôi rời nhà lúc sáu giờ sáng Chủ Nhật. Lái xe trong cơn mưa tầm tã, trên con đường dài vẫn còn mù mờ tối của một buổi sáng mùa đông lạnh, đối với tôi là một việc làm gần như rất hiếm hoi.

Ngày cuối tuần, nhất là những sáng trời mưa, tôi vẫn có cái thú rúc trong chăn và nằm nướng. Cây đàn Tây Ban Cầm được gác sẵn bên góc đường để tôi có thể với tay kéo lên bất cứ lúc nào, và ngồi dậy tựa lưng vào thành giường nhã hứng... Những dòng nhạc về mưa, về thân phận lúc đó lại có cơ hội tiếng thăng tiếng trầm đến với cuộc đời...

Khi con không có tóc


1. Từ lúc nào không biết, mẹ rất ghét những thằng con trai không có tóc, nói nôm na bình dân là những thằng đầu trọc. 
Mẹ không cần biết nó đẹp hay xấu, tốt hay không, chỉ nhìn cái đầu không có tóc của nó là ưa không nổi. Ông bà mình nói ghét của nào trời cho của đó, hay mẹ bị quả báo nhãn tiền, hay là mẹ bị Chúa phạt v.v... mà khi học gần xong, sắp sửa nộp hồ sơ xin việc làm bỗng dưng tóc con cứ thưa dần, thưa dần. Bố và mẹ rầu trong bụng lắm mà không dám nói ra, thời gian đó còn làm việc nên mẹ hay trốn để đi lễ kính Lòng Thương xót Chúa mỗi chiều thứ năm trong tuần ở nhà thờ Chí Hòa. Mẹ nhớ mẹ đã cầu nguyện với Chúa hai ơn :
- Ơn thứ nhất : Xin Chúa cho ông ngoại bớt bệnh để đừng bị chích nữa.

Lúc còn sống, ông ngoại bị tiểu đường, mấy năm rồi ngày nào cũng phải chích hai mũi sáng chiều, ngày nào cũng phải thử đường. Cậu tư phụ trách công việc chích cho ông ngoại, chích riết không còn chỗ chích, từ cánh tay, vai, bụng v.v... chỗ nào có thể chích được là cứ cầm kim lủi tới chứ biết sao!

- Ơn thứ hai : Xin cho con đừng bị rụng tóc.


Không biết Kinh thương xót có từ ngày nào, nhưng từ ngày “Đức Bà đi viếng Bà Thánh Isave”, tín hữu Kitô giáo đã biết kêu cứu lòng Chuá thương xót rồi, qua lời kinh bất hủ của Trinh Nữ Thụ Thai cất lên tại Ein Karim, nơi thân mẫu Tiền Hô Tẩy Giả đứng chào đón người chị em họ của mình: “Suscepit Israel puerum suum, recordatus misericordiae, sicut locutus est ad patres nostros, Abraham et semini eius in saecula” (Chúa độ trì Israen, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời).

Và sau đó, trong Tin Mừng về Người Con của Trinh Nữ Thụ Thai, nhiều lần ta được nghe những lời nài van thương xót đầy cảm kích và sự hạ cố nhiệt tình của Người Con này trước những nài van ấy. Chuyện người đàn bà Canaan còn đó nài nỉ Người chữa lành cho đứa con gái: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mt 15:22). Rồi chuyện người đàn ông, sau biến cố hiển dung trên núi Tabo, đến van xin Người chữa lành đứa con trai: “"Thưa Ngài, xin thương xót con trai tôi” (Mt 17:15). Và lời cầu xin thương xót tha tội mà không triều giáo hoàng nào đã phản ảnh rõ nét bằng triều giáo hoàng Phanxicô: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi!” của người thu thuế (Lc 18:13).

Và chính Người Con ấy nói nhiều đến lòng thương xót, liệt kê nó vào một trong các điều chính của Hiến Chương Nước Trời (Các Mối Phúc): “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7).

MỘT NGÀY NGAO DU TRÊN ĐỒNG CỎ


Một ngày với nhiều sự kiện khiến tôi mệt rã rời, nhưng nhiều niềm vui và cảm xúc. Trời đã dần vào đêm, tôi mới có được khoảng không gian yên tĩnh để hồi tưởng lại tất cả.

 Buổi sáng mở mắt ra, uống vội một ly café với bạn, ăn một chút điểm tâm xong thì tất tả chạy lên lầu nhờ em gái trang điểm cho gương mặt đã tàn phai nhan sắc vì uống quá nhiều thuốc, rồi lẽo đẽo theo người bạn độc nhãn đến nhà nguyện Carmelite để tham dự Thánh lễ Chúa nhật, cũng là lễ cưới của một người bạn khuyết tật.
Tiệc cưới đơn sơ nhưng rất vui, vui vì tôi được gặp lại nhiều bạn khuyết tật mà lâu lắm rồi tôi đã không gặp. Người này bắt tay, bên kia gọi, phía sau kéo, đằng trước chào hỏi khiến tôi cảm động vì biết mình được yêu thương... Bàn tiệc nơi tôi ngồi, có mấy thầy Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, các thầy theo cha Chí đến đây để chia sẻ niềm vui của cô dâu chú rể Hai-Linh và cũng là để phục vụ người khuyết tật. Chuyện trò đơn sơ của các thầy, khiến tôi chợt nhớ đến một người bạn ở Canada, anh sắp sửa sang định cư ở Mỹ và sẽ lãnh nhận chức Phó tế vĩnh viễn tại nhà dòng bên đó... Những ca từ của bài hát và những lời giảng của cha Chí hồi nãy chợt trở về trong suy nghĩ của tôi: ngày hôm nay lễ Chúa Chiên Lành. Cha kêu gọi chúng tôi cầu nguyện cho ơn thiên triệu và cho các mục tử... bỗng dưng làm tôi nhớ lại lời lẽ tha thiết trong một email: Thủy cầu nguyện cho anh nhé, anh rất cần những lời cầu nguyện để được bền đỗ đến cùng, các tu sĩ như anh rất cần đến những lời cầu nguyện của giáo dân!...

Trái Tim Chết và Trái Tim Phục Sinh


Xin gởi tặng Père Phạm Minh Tâm đã đặt cho con một câu hỏi về sự chết để suy gẫm. Ðây là lần đầu tiên con mới được thật sự suy gẫm về sự chết.


Các em lớp 10 giáo lý phản ứng inh ỏi sau khi tôi tuyên bố chương trình mà mỗi em phải làm là “Make a Difference in One Person's Life” để làm ích lợi cho người, cho đời. Tôi chỉ là một cô giáo trẻ, ước mong muốn dạy các em yêu thương với con tim không những bằng lý thuyết nhưng bằng hành động. Trong năm học tôi sẽ dẫn các em đi thăm những người già yếu trong viện dưỡng lão, các em nhỏ bệnh tật trong nhà thương, phát cơm cho những người vô gia cư, v.v. Tuy các em phản ứng rất nhiều, tôi vẫn xếp đặt chương trình để tiến tới để cả lớp có thể thực hiện một tháng một lần.

Tôi dẫn các em đi thăm viện dưỡng lão một thứ Bảy kia. Cho tới khi lên xe bắt đầu đi, tôi vẫn phải nghe những tiếng phàn nàn của các em như “I don't want to go” (Cô, em không muốn đi) và “Do I have to go?” (Cô ơi, em có phải đi không?) Ðương nhiên câu trả lời của tôi là “phải” đi, nếu không sẽ được điểm “0”. Tôi biết rằng sự “bắt buộc” học sinh tôi yêu thương, cảm thông những người già yếu, tàn tật, là chuyện không hay, nhưng tôi phải đành chịu để các em có dịp chứng kiến những sự cô đơn và khốn khó của người khác. Và tôi hy vọng sau khi các em có dịp chứng kiến những cảnh các em chưa từng thấy sẽ làm các em mở rộng con tim.

Thú thật, tôi cũng chưa từng đến viện dưỡng lão bao giờ. Cùng với các em, đây là lần đầu tiên tôi đến để chứng kiến môi trường ra sao, cuộc sống những người già như thế nào. Tôi đã từng nghe người ta diễn tả sự đơn độc của những người già, nhưng lần này chính mắt tôi thấy được cuộc sống thực tế của họ.

Trước khi bước vô cánh cửa viện, tôi nhắc các em không được cười chế nhạo hay tỏ thái độ ghê tởm với người già. Có người hướng dẫn viên dẫn tôi và các em đi chung quanh để làm quen với các cụ già và với khung cảnh của nhà viện. Vừa bước đi theo người hướng dẫn, vừa quan sát những ông bà già ngồi trên xe lăn rải rác trong hành lang, tôi vừa ân hận mang đôi guốc thật cao làm cho hành lang trong khung mặt yên tịnh vang tiếng lạch cạch của tôi. Và tôi cảm thấy ngại ngùng và sai lầm khi nhận ra mình mặc quần áo quá sang trọng đối với môi trường này như không phải mình đến để giúp mà đến biểu diễn thời trang.

Có những cụ còn sức thì ngồi trên xe lăn ngồi ở ngoài hành lang, còn những cụ khác thì nằm ở trên giường. Có cụ thì không còn chân vì chắc bị tiểu đường nên bị bác sĩ cắt cụt. Khi tôi tới hỏi thăm một cụ bà, nụ cười tươi của bà làm cho tim tôi mềm ra. Tôi hỏi bà tên gì, nhưng lặp đi lặp lại bà cũng không hiểu tôi. Bà cứ ghé tai vào tôi như tỏ ra bà không nghe rõ, nhưng nói sao bà cũng không hiểu. Dù vậy, trên miệng bà có nụ cười thật vui, như bà rất vui mừng có người đến thăm. Tôi phải đi chỗ khác để làm quen với khu vực của nhà viện, nên bắt tay bà để chào ra đi. Bà gật đầu, cười, nhưng có vẻ không muốn cho tôi đi.

Tôi đi chung quanh. Tâm hồn thấy nặng trĩu vì chứng kiến những người già yếu gần sắp về trời. Tôi tự hỏi, “Một ngày kia tôi cũng sẽ giống như họ hay sao? Chẳng lẽ thân xác tôi đang còn đầy sức sống nhưng một ngày sẽ bị tàn héo?” Tôi cảm thấy cuộc sống sao phũ phàng. Về nhà tôi bắt đầu suy gẫm về sự chết.

Ai sẽ phải chết? Câu này quá dễ trả lời, vì dĩ nhiên ai cũng phải chết. Nhưng không ai tự nhiên thích đau khổ và muốn chết, nên luôn luôn trốn tránh khổ đau và cái chết của mình.

Trong cuốn sách Tuổi Trẻ & Ơn Gọi của Lm. JBM. Trần Anh Thư, có một bài nhạc viết lên câu truyện sau đây:

Một hôm kia tôi chạy trốn loài người.

Một hôm kia tôi chạy trốn nhọc lao.

Một hôm kia tôi chạy trốn khổ đau,

và một hôm kia, tôi chạy trốn Tình Yêu.

Và khi tôi đang chạy trốn

thì tôi gặp Ðức Kitô vác thánh giá đi ngược chiều.

Nên tôi dừng lại, tôi hỏi Ngài: “Lạy Thầy, Thầy đi đâu?”

Rồi Ngài nhìn tôi bằng tia nhìn trách móc, nhưng mến thương chan hòa:

“Ta đi tìm loài người, Ta đi vào cuộc đời,

vì mọi người để chịu chết một lần nữa, một lần nữa, con ơi!”

Tôi đang tìm cách để chạy trốn loài người, còn Chúa lại đi tìm. Tôi chạy trốn khổ đau, thánh giá và cái chết của tôi, nhưng Chúa lại đi vào cuộc đời để vác thánh giá và để chịu chết.

Con người sợ đau khổ vì đau khổ dằn vặt con người. Chết không sợ, nhưng sợ những đau khổ phải chịu dẫn đến cái chết. Chịu đau khổ là phải chịu chết; nghĩ đến chết là nghĩ đến đau khổ phải chịu. Chính vì vậy, nghĩ đến chết là sợ vì không ai muốn chịu đau khổ.

Khi Chúa Giêsu nghĩ đến cái chết của mình thì Ngài đổ mồ hôi máu vì sợ những thương khó Ngài phải chịu dẫn đến cái chết đau đớn của Ngài. Ngài cảm thấy “hãi hùng xao xuyến” và nói, “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mc 14:33-34). Ngài còn khẩn cầu Chúa Cha, “Xin cho con khỏi uống chén này” (Mc 14:36).

Nhưng nếu Chúa Giêsu chỉ nghĩ đến cái chết và những đau khổ Ngài phải chịu, thì chắc chắn Ngài sẽ không chịu chết.

Chúa Giêsu chịu chết vì Ngài biết Ngài sẽ phục sinh trong vinh quang. Chúa thấy cái chết của Chúa có giá trị. Chúa thấy máu của Chúa đổ ra cho loài người để họ được tha tội và để đem tất cả linh hồn sống lại với Ngài về với Chúa Cha. Chúa có con mắt bằng tim nhìn thấy được phục sinh sau những hy sinh, sau cây thánh giá, sau cái chết!

Vì vậy Ngài mới dám chịu chết.

Phục sinh là hy vọng của sự chết. Nếu con người thấy phục sinh thì sẽ dám chết, dám chịu đau khổ.

Chúa đã chết nhưng đã Phục Sinh! Thân Thể Chúa hoàn toàn sống lại. Ðây là tin mừng cho loài người và nhất là Tôi thấy rằng con người phải chịu khổ đau, phải chịu mục nát, chết đi, rồi mới có sống lại.

Thánh Phaolô nói rằng thân thể chúng ta như hạt giống, phải chết mới được sống, vì khi “gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ” và “gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí” (1 Cor 15:36, 42-44).

Ðầy hy vọng cho những khổ đau! Vì khi tập luyện con mắt của trái tim để nhìn thấy phục sinh và để thấy một thân thể sáng láng của chúng ta đời sau như Chúa đã thấy thì mọi đau khổ, mọi mục nát trong thân thể hiện tại cũng sẽ chịu được.

Chúa Giêsu cho chúng ta hy vọng của phục sinh và niềm tin có sự chết và sống lại vì chính Ngài chết đi và sống lại. Phải chịu chết mới có phục sinh. Nếu Chúa không chịu chết, thì Ngài cũng không sống lại, và loài người không có sức sống mới.

Nếu tôi biết tôi sẽ sống lại với Chúa đời sau, thì tôi còn sợ gì vác thánh giá đời này? Tôi còn sợ gì thân xác này mục nát trên thế gian này?

Thánh Phaolô nói rằng quê hương của chúng ta ở trên trời (Phil 3:20), có nghĩa là quốc tịch thật sự của chúng ta là Quốc Tịch Trời.

Tôi còn sợ chi những đau khổ trên thế gian? Tôi còn trốn tránh gì nếu biết rằng khi tôi chết đi tôi sẽ sống lại trong Thần Khí mới?

Khi thấy Phục Sinh, cuối cùng tôi trở thành nhân vật trong bài hát cũng can đảm chịu vác thánh giá, vác cái chết của tôi, và rồi hát lên:

Sau phút giây ngỡ ngàng, thấy tấm thân phũ phàng, tôi vội ôm mặt khóc, vì biết tôi lầm đàng. Sau khi nghe tiếng Ngài, tôi lắng nghe tiếng lòng, ôm chầm cây thập giá, xin chết thay cho Ngài! Ôi Giêsu, xin Ngài đừng chết hơn một lần!

Sông Thanh
http://vietcatholic.net/News/Html/17507.htm

đoản khúc 91

NHẶT CÁ



Trong mẻ lưới cuộc đời, tôi bắt được nhiều thứ cá. Tôi buông lưới kéo lên. Rác rưởi, cá, đất sỏi, vỏ dừa. Người ngư phủ nào cũng cần ngồi nhặt cá. Ðời tôi quá bận rộn, tôi không có giờ. Tôi cần gấp gáp thả lưới. Tôi chỉ muốn kéo lên. Ðổ cá đó, xuống chợ đời tiếp tục thả. Vì đời quá nhiều người thả lưới. Tôi sợ sẽ đi về đâu cuối ngày khi chung quanh tôi có kẻ thả lưới suốt đêm.

Tôi phải hối hả. Tôi cần gấp gáp. Tôi không có giờ ngồi bên bờ nhặt cá. Tôi để đó, lẫn lộn những gì kéo lên từ cuộc đời.

“Con thương, má phải về trễ đêm nay. Thức ăn má để trong tủ. Con hấp nóng rồi mấy chị em ăn trước nhé.”

Tôi vẫn thường để lại những lời yêu thương như thế. Rồi con tôi lớn dần. Chúng lớn không ngờ. Những đêm về trễ, tôi nhìn con ngủ. Cúi xuống hôn con. Mẹ ước ao có giờ cho con, nhưng mẹ quá bận rộn. Lòng tôi chùng xuống một chút se sắt. Con ngủ, con không biết mẹ mình sau một ngày thả lưới quá mệt, đang hôn con trong khoảnh thời gian, mà đối với con chẳng ý nghĩa gì, vì con đang ngủ. Tôi gắn tên cửa tủ lạnh, tôi gài trên tay cầm phôn những lời căn dặn yêu thương. “Con thương, má phải về trễ đêm nay. Thức ăn má để trong tủ. Con hấp nóng rồi mấy chị em ăn trước nhé.”

Rồi con tôi cứ lớn lên, không ngờ.



SÂN SI "TO, NHỎ" ĐỂ LÀM GÌ?


Trong một bài trước (bài "Tôn giáo là để đem lại hòa bình trong công lý"), tôi có nêu lên việc Sư thầy Thích Nhật Từ không ngừng đả kích Công giáo. Tôi thấy việc đả kích là không tốt cho tâm đạo nên không tranh biện, mà viết bài trên để mong cầu hòa ái với nhau.
Ôi trời, nữa rồi, một bạn cho tôi biết về một phát ngôn của sư thầy Thích Nhật Từ, rằng “Đạo Phật là một tôn giáo lớn mà lại đi ăn ké ngày lễ Giáng sinh của một tôn giáo nhỏ hơn mình thì rất là quê”.
Được tạo bởi Blogger.