BỐN MƯƠI LĂM - MỘT DÒNG LỆ

(Câu chuyện về phép lạ của Đức Mẹ La Vang!)


LTS: Bà Lê Tín Hương hiện ở California, là nhạc sĩ, cũng là nhà văn, qua cha cố Trọng đang nghỉ hưu tại Orange County, California, gởi cho chúng tôi câu chuyện về Ơn Lạ của Mẹ Lavang ban cho gia đình bà cách đây 40 năm. Xin mời bạn đọc theo dõi. "Về bên Mẹ Lavang" chân thành cám ơn tác giả.

Gia đình Cô ta là Phật Tử thuần thành. Cô kể lại như sau:

Tôi rời nhà lúc sáu giờ sáng Chủ Nhật. Lái xe trong cơn mưa tầm tã, trên con đường dài vẫn còn mù mờ tối của một buổi sáng mùa đông lạnh, đối với tôi là một việc làm gần như rất hiếm hoi.

Ngày cuối tuần, nhất là những sáng trời mưa, tôi vẫn có cái thú rúc trong chăn và nằm nướng. Cây đàn Tây Ban Cầm được gác sẵn bên góc đường để tôi có thể với tay kéo lên bất cứ lúc nào, và ngồi dậy tựa lưng vào thành giường nhã hứng... Những dòng nhạc về mưa, về thân phận lúc đó lại có cơ hội tiếng thăng tiếng trầm đến với cuộc đời...

Khi con không có tóc


1. Từ lúc nào không biết, mẹ rất ghét những thằng con trai không có tóc, nói nôm na bình dân là những thằng đầu trọc. 
Mẹ không cần biết nó đẹp hay xấu, tốt hay không, chỉ nhìn cái đầu không có tóc của nó là ưa không nổi. Ông bà mình nói ghét của nào trời cho của đó, hay mẹ bị quả báo nhãn tiền, hay là mẹ bị Chúa phạt v.v... mà khi học gần xong, sắp sửa nộp hồ sơ xin việc làm bỗng dưng tóc con cứ thưa dần, thưa dần. Bố và mẹ rầu trong bụng lắm mà không dám nói ra, thời gian đó còn làm việc nên mẹ hay trốn để đi lễ kính Lòng Thương xót Chúa mỗi chiều thứ năm trong tuần ở nhà thờ Chí Hòa. Mẹ nhớ mẹ đã cầu nguyện với Chúa hai ơn :
- Ơn thứ nhất : Xin Chúa cho ông ngoại bớt bệnh để đừng bị chích nữa.

Lúc còn sống, ông ngoại bị tiểu đường, mấy năm rồi ngày nào cũng phải chích hai mũi sáng chiều, ngày nào cũng phải thử đường. Cậu tư phụ trách công việc chích cho ông ngoại, chích riết không còn chỗ chích, từ cánh tay, vai, bụng v.v... chỗ nào có thể chích được là cứ cầm kim lủi tới chứ biết sao!

- Ơn thứ hai : Xin cho con đừng bị rụng tóc.


Không biết Kinh thương xót có từ ngày nào, nhưng từ ngày “Đức Bà đi viếng Bà Thánh Isave”, tín hữu Kitô giáo đã biết kêu cứu lòng Chuá thương xót rồi, qua lời kinh bất hủ của Trinh Nữ Thụ Thai cất lên tại Ein Karim, nơi thân mẫu Tiền Hô Tẩy Giả đứng chào đón người chị em họ của mình: “Suscepit Israel puerum suum, recordatus misericordiae, sicut locutus est ad patres nostros, Abraham et semini eius in saecula” (Chúa độ trì Israen, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời).

Và sau đó, trong Tin Mừng về Người Con của Trinh Nữ Thụ Thai, nhiều lần ta được nghe những lời nài van thương xót đầy cảm kích và sự hạ cố nhiệt tình của Người Con này trước những nài van ấy. Chuyện người đàn bà Canaan còn đó nài nỉ Người chữa lành cho đứa con gái: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mt 15:22). Rồi chuyện người đàn ông, sau biến cố hiển dung trên núi Tabo, đến van xin Người chữa lành đứa con trai: “"Thưa Ngài, xin thương xót con trai tôi” (Mt 17:15). Và lời cầu xin thương xót tha tội mà không triều giáo hoàng nào đã phản ảnh rõ nét bằng triều giáo hoàng Phanxicô: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi!” của người thu thuế (Lc 18:13).

Và chính Người Con ấy nói nhiều đến lòng thương xót, liệt kê nó vào một trong các điều chính của Hiến Chương Nước Trời (Các Mối Phúc): “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7).

MỘT NGÀY NGAO DU TRÊN ĐỒNG CỎ


Một ngày với nhiều sự kiện khiến tôi mệt rã rời, nhưng nhiều niềm vui và cảm xúc. Trời đã dần vào đêm, tôi mới có được khoảng không gian yên tĩnh để hồi tưởng lại tất cả.

 Buổi sáng mở mắt ra, uống vội một ly café với bạn, ăn một chút điểm tâm xong thì tất tả chạy lên lầu nhờ em gái trang điểm cho gương mặt đã tàn phai nhan sắc vì uống quá nhiều thuốc, rồi lẽo đẽo theo người bạn độc nhãn đến nhà nguyện Carmelite để tham dự Thánh lễ Chúa nhật, cũng là lễ cưới của một người bạn khuyết tật.
Tiệc cưới đơn sơ nhưng rất vui, vui vì tôi được gặp lại nhiều bạn khuyết tật mà lâu lắm rồi tôi đã không gặp. Người này bắt tay, bên kia gọi, phía sau kéo, đằng trước chào hỏi khiến tôi cảm động vì biết mình được yêu thương... Bàn tiệc nơi tôi ngồi, có mấy thầy Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, các thầy theo cha Chí đến đây để chia sẻ niềm vui của cô dâu chú rể Hai-Linh và cũng là để phục vụ người khuyết tật. Chuyện trò đơn sơ của các thầy, khiến tôi chợt nhớ đến một người bạn ở Canada, anh sắp sửa sang định cư ở Mỹ và sẽ lãnh nhận chức Phó tế vĩnh viễn tại nhà dòng bên đó... Những ca từ của bài hát và những lời giảng của cha Chí hồi nãy chợt trở về trong suy nghĩ của tôi: ngày hôm nay lễ Chúa Chiên Lành. Cha kêu gọi chúng tôi cầu nguyện cho ơn thiên triệu và cho các mục tử... bỗng dưng làm tôi nhớ lại lời lẽ tha thiết trong một email: Thủy cầu nguyện cho anh nhé, anh rất cần những lời cầu nguyện để được bền đỗ đến cùng, các tu sĩ như anh rất cần đến những lời cầu nguyện của giáo dân!...

Trái Tim Chết và Trái Tim Phục Sinh


Xin gởi tặng Père Phạm Minh Tâm đã đặt cho con một câu hỏi về sự chết để suy gẫm. Ðây là lần đầu tiên con mới được thật sự suy gẫm về sự chết.


Các em lớp 10 giáo lý phản ứng inh ỏi sau khi tôi tuyên bố chương trình mà mỗi em phải làm là “Make a Difference in One Person's Life” để làm ích lợi cho người, cho đời. Tôi chỉ là một cô giáo trẻ, ước mong muốn dạy các em yêu thương với con tim không những bằng lý thuyết nhưng bằng hành động. Trong năm học tôi sẽ dẫn các em đi thăm những người già yếu trong viện dưỡng lão, các em nhỏ bệnh tật trong nhà thương, phát cơm cho những người vô gia cư, v.v. Tuy các em phản ứng rất nhiều, tôi vẫn xếp đặt chương trình để tiến tới để cả lớp có thể thực hiện một tháng một lần.

Tôi dẫn các em đi thăm viện dưỡng lão một thứ Bảy kia. Cho tới khi lên xe bắt đầu đi, tôi vẫn phải nghe những tiếng phàn nàn của các em như “I don't want to go” (Cô, em không muốn đi) và “Do I have to go?” (Cô ơi, em có phải đi không?) Ðương nhiên câu trả lời của tôi là “phải” đi, nếu không sẽ được điểm “0”. Tôi biết rằng sự “bắt buộc” học sinh tôi yêu thương, cảm thông những người già yếu, tàn tật, là chuyện không hay, nhưng tôi phải đành chịu để các em có dịp chứng kiến những sự cô đơn và khốn khó của người khác. Và tôi hy vọng sau khi các em có dịp chứng kiến những cảnh các em chưa từng thấy sẽ làm các em mở rộng con tim.

Thú thật, tôi cũng chưa từng đến viện dưỡng lão bao giờ. Cùng với các em, đây là lần đầu tiên tôi đến để chứng kiến môi trường ra sao, cuộc sống những người già như thế nào. Tôi đã từng nghe người ta diễn tả sự đơn độc của những người già, nhưng lần này chính mắt tôi thấy được cuộc sống thực tế của họ.

Trước khi bước vô cánh cửa viện, tôi nhắc các em không được cười chế nhạo hay tỏ thái độ ghê tởm với người già. Có người hướng dẫn viên dẫn tôi và các em đi chung quanh để làm quen với các cụ già và với khung cảnh của nhà viện. Vừa bước đi theo người hướng dẫn, vừa quan sát những ông bà già ngồi trên xe lăn rải rác trong hành lang, tôi vừa ân hận mang đôi guốc thật cao làm cho hành lang trong khung mặt yên tịnh vang tiếng lạch cạch của tôi. Và tôi cảm thấy ngại ngùng và sai lầm khi nhận ra mình mặc quần áo quá sang trọng đối với môi trường này như không phải mình đến để giúp mà đến biểu diễn thời trang.

Có những cụ còn sức thì ngồi trên xe lăn ngồi ở ngoài hành lang, còn những cụ khác thì nằm ở trên giường. Có cụ thì không còn chân vì chắc bị tiểu đường nên bị bác sĩ cắt cụt. Khi tôi tới hỏi thăm một cụ bà, nụ cười tươi của bà làm cho tim tôi mềm ra. Tôi hỏi bà tên gì, nhưng lặp đi lặp lại bà cũng không hiểu tôi. Bà cứ ghé tai vào tôi như tỏ ra bà không nghe rõ, nhưng nói sao bà cũng không hiểu. Dù vậy, trên miệng bà có nụ cười thật vui, như bà rất vui mừng có người đến thăm. Tôi phải đi chỗ khác để làm quen với khu vực của nhà viện, nên bắt tay bà để chào ra đi. Bà gật đầu, cười, nhưng có vẻ không muốn cho tôi đi.

Tôi đi chung quanh. Tâm hồn thấy nặng trĩu vì chứng kiến những người già yếu gần sắp về trời. Tôi tự hỏi, “Một ngày kia tôi cũng sẽ giống như họ hay sao? Chẳng lẽ thân xác tôi đang còn đầy sức sống nhưng một ngày sẽ bị tàn héo?” Tôi cảm thấy cuộc sống sao phũ phàng. Về nhà tôi bắt đầu suy gẫm về sự chết.

Ai sẽ phải chết? Câu này quá dễ trả lời, vì dĩ nhiên ai cũng phải chết. Nhưng không ai tự nhiên thích đau khổ và muốn chết, nên luôn luôn trốn tránh khổ đau và cái chết của mình.

Trong cuốn sách Tuổi Trẻ & Ơn Gọi của Lm. JBM. Trần Anh Thư, có một bài nhạc viết lên câu truyện sau đây:

Một hôm kia tôi chạy trốn loài người.

Một hôm kia tôi chạy trốn nhọc lao.

Một hôm kia tôi chạy trốn khổ đau,

và một hôm kia, tôi chạy trốn Tình Yêu.

Và khi tôi đang chạy trốn

thì tôi gặp Ðức Kitô vác thánh giá đi ngược chiều.

Nên tôi dừng lại, tôi hỏi Ngài: “Lạy Thầy, Thầy đi đâu?”

Rồi Ngài nhìn tôi bằng tia nhìn trách móc, nhưng mến thương chan hòa:

“Ta đi tìm loài người, Ta đi vào cuộc đời,

vì mọi người để chịu chết một lần nữa, một lần nữa, con ơi!”

Tôi đang tìm cách để chạy trốn loài người, còn Chúa lại đi tìm. Tôi chạy trốn khổ đau, thánh giá và cái chết của tôi, nhưng Chúa lại đi vào cuộc đời để vác thánh giá và để chịu chết.

Con người sợ đau khổ vì đau khổ dằn vặt con người. Chết không sợ, nhưng sợ những đau khổ phải chịu dẫn đến cái chết. Chịu đau khổ là phải chịu chết; nghĩ đến chết là nghĩ đến đau khổ phải chịu. Chính vì vậy, nghĩ đến chết là sợ vì không ai muốn chịu đau khổ.

Khi Chúa Giêsu nghĩ đến cái chết của mình thì Ngài đổ mồ hôi máu vì sợ những thương khó Ngài phải chịu dẫn đến cái chết đau đớn của Ngài. Ngài cảm thấy “hãi hùng xao xuyến” và nói, “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mc 14:33-34). Ngài còn khẩn cầu Chúa Cha, “Xin cho con khỏi uống chén này” (Mc 14:36).

Nhưng nếu Chúa Giêsu chỉ nghĩ đến cái chết và những đau khổ Ngài phải chịu, thì chắc chắn Ngài sẽ không chịu chết.

Chúa Giêsu chịu chết vì Ngài biết Ngài sẽ phục sinh trong vinh quang. Chúa thấy cái chết của Chúa có giá trị. Chúa thấy máu của Chúa đổ ra cho loài người để họ được tha tội và để đem tất cả linh hồn sống lại với Ngài về với Chúa Cha. Chúa có con mắt bằng tim nhìn thấy được phục sinh sau những hy sinh, sau cây thánh giá, sau cái chết!

Vì vậy Ngài mới dám chịu chết.

Phục sinh là hy vọng của sự chết. Nếu con người thấy phục sinh thì sẽ dám chết, dám chịu đau khổ.

Chúa đã chết nhưng đã Phục Sinh! Thân Thể Chúa hoàn toàn sống lại. Ðây là tin mừng cho loài người và nhất là Tôi thấy rằng con người phải chịu khổ đau, phải chịu mục nát, chết đi, rồi mới có sống lại.

Thánh Phaolô nói rằng thân thể chúng ta như hạt giống, phải chết mới được sống, vì khi “gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ” và “gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí” (1 Cor 15:36, 42-44).

Ðầy hy vọng cho những khổ đau! Vì khi tập luyện con mắt của trái tim để nhìn thấy phục sinh và để thấy một thân thể sáng láng của chúng ta đời sau như Chúa đã thấy thì mọi đau khổ, mọi mục nát trong thân thể hiện tại cũng sẽ chịu được.

Chúa Giêsu cho chúng ta hy vọng của phục sinh và niềm tin có sự chết và sống lại vì chính Ngài chết đi và sống lại. Phải chịu chết mới có phục sinh. Nếu Chúa không chịu chết, thì Ngài cũng không sống lại, và loài người không có sức sống mới.

Nếu tôi biết tôi sẽ sống lại với Chúa đời sau, thì tôi còn sợ gì vác thánh giá đời này? Tôi còn sợ gì thân xác này mục nát trên thế gian này?

Thánh Phaolô nói rằng quê hương của chúng ta ở trên trời (Phil 3:20), có nghĩa là quốc tịch thật sự của chúng ta là Quốc Tịch Trời.

Tôi còn sợ chi những đau khổ trên thế gian? Tôi còn trốn tránh gì nếu biết rằng khi tôi chết đi tôi sẽ sống lại trong Thần Khí mới?

Khi thấy Phục Sinh, cuối cùng tôi trở thành nhân vật trong bài hát cũng can đảm chịu vác thánh giá, vác cái chết của tôi, và rồi hát lên:

Sau phút giây ngỡ ngàng, thấy tấm thân phũ phàng, tôi vội ôm mặt khóc, vì biết tôi lầm đàng. Sau khi nghe tiếng Ngài, tôi lắng nghe tiếng lòng, ôm chầm cây thập giá, xin chết thay cho Ngài! Ôi Giêsu, xin Ngài đừng chết hơn một lần!

Sông Thanh
http://vietcatholic.net/News/Html/17507.htm

đoản khúc 91

NHẶT CÁ



Trong mẻ lưới cuộc đời, tôi bắt được nhiều thứ cá. Tôi buông lưới kéo lên. Rác rưởi, cá, đất sỏi, vỏ dừa. Người ngư phủ nào cũng cần ngồi nhặt cá. Ðời tôi quá bận rộn, tôi không có giờ. Tôi cần gấp gáp thả lưới. Tôi chỉ muốn kéo lên. Ðổ cá đó, xuống chợ đời tiếp tục thả. Vì đời quá nhiều người thả lưới. Tôi sợ sẽ đi về đâu cuối ngày khi chung quanh tôi có kẻ thả lưới suốt đêm.

Tôi phải hối hả. Tôi cần gấp gáp. Tôi không có giờ ngồi bên bờ nhặt cá. Tôi để đó, lẫn lộn những gì kéo lên từ cuộc đời.

“Con thương, má phải về trễ đêm nay. Thức ăn má để trong tủ. Con hấp nóng rồi mấy chị em ăn trước nhé.”

Tôi vẫn thường để lại những lời yêu thương như thế. Rồi con tôi lớn dần. Chúng lớn không ngờ. Những đêm về trễ, tôi nhìn con ngủ. Cúi xuống hôn con. Mẹ ước ao có giờ cho con, nhưng mẹ quá bận rộn. Lòng tôi chùng xuống một chút se sắt. Con ngủ, con không biết mẹ mình sau một ngày thả lưới quá mệt, đang hôn con trong khoảnh thời gian, mà đối với con chẳng ý nghĩa gì, vì con đang ngủ. Tôi gắn tên cửa tủ lạnh, tôi gài trên tay cầm phôn những lời căn dặn yêu thương. “Con thương, má phải về trễ đêm nay. Thức ăn má để trong tủ. Con hấp nóng rồi mấy chị em ăn trước nhé.”

Rồi con tôi cứ lớn lên, không ngờ.



SÂN SI "TO, NHỎ" ĐỂ LÀM GÌ?


Trong một bài trước (bài "Tôn giáo là để đem lại hòa bình trong công lý"), tôi có nêu lên việc Sư thầy Thích Nhật Từ không ngừng đả kích Công giáo. Tôi thấy việc đả kích là không tốt cho tâm đạo nên không tranh biện, mà viết bài trên để mong cầu hòa ái với nhau.
Ôi trời, nữa rồi, một bạn cho tôi biết về một phát ngôn của sư thầy Thích Nhật Từ, rằng “Đạo Phật là một tôn giáo lớn mà lại đi ăn ké ngày lễ Giáng sinh của một tôn giáo nhỏ hơn mình thì rất là quê”.


[đang tiếp tục viết]

Tôi vẫn còn nhớ mãi cảm xúc về ngày lãnh chức linh mục 7 năm về trước tại quảng trường tòa giám mục Xã Đoài, cùng với 18 anh em chủng sinh khóa VI đại chủng viện Vinh Thanh.

Lúc đó vào khoảng 8:18 ngày 8/8/2006, qua lời nguyện phong chức của đức giám mục Phaolo Cao Đình Thuyên, chúng tôi trở thành thừa tác viên linh mục của Giáo hội.

Đây cũng là dịp tôi nhớ lại những điểm nổi bật trong hành trình ơn gọi của mình. Và tôi sẽ từ từ ghi lại như một hồi ký ơn gọi. Đây là một dự án dài và mất nhiều ngày tháng.

Tôi không có mọi thứ tôi mong ước trong đời, nhưng tôi được ban tặng đầy đủ những thứ tôi cần. Vì điều này, tôi sống trong tâm tình biết ơn Thiên Chúa.

Nhận dịp này, và cám ơn tất cả những ai, kể cả các facebooker, đã giúp đỡ và đồng hành với tôi trong ơn gọi linh mục cũng như cuộc lữ hành đức tin.

PHỤ NỮ Công Giáo VIỆT NAM Ở HỒNG KÔNG - CHUYỆN GIỜ MỚI KỂ


(Bài viết như một lời cảm ơn chân thành của chúng tôi gửi đến cộng đoàn các anh chị em Việt Nam tại Hồng Kông - Cộng đoàn Hy Vọng - cách riêng tất cả các chị em trong cộng đoàn) Tu sĩ John Baptist, SVD.




Thấm thoát cũng đã mười mấy năm sinh sống ở Hồng Kông. Kỷ niệm buồn vui đều có cả. Nhiều khi “tức cảnh” mà “sinh tình” cũng muốn viết mấy dòng cho ra vẻ trí thức, nhưng viết gì mới được chứ? Suy đi nghĩ lại, thôi thì viết về người phụ nữ Công Giáo Việt Nam ở Hồng Kông vậy. Ấy bậy, đi tu mà viết về người phụ nữ à! Không sợ lỗi “đức trong veo” à! Thì cứ viết đại, dẫu sao các chị em cũng là người nhà mình cả, nếu có lỡ lời còn mong được đại xá, viết về người Hồng Kông lỡ lời thì biết phải ăn nói sao với người ta. Nói viết về phụ nữ Công Giáo Việt Nam ở Hồng Kông, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi cũng có đá qua quý “phụ nam” đôi chút.

CON NGƯỜI LÀ BẤT TOÀN


Con người là bất toàn: Man is imperfect. Điều đó ai cũng biết. Chính vì thế, con người rất dễ cảm thông với những lỗi lầm của con người. Nhưng cũng có những lỗi lầm, con người cảm thấy rất khó thông cảm, đó là khi con người không còn biết nhận lỗi mà cứ đi tìm mọi cách thế để né tránh, quanh co, tìm mọi lý do để ngụy biện cho những điều sai lỗi của mình. Và đó chính là lý do đã khiến cho nhiều người không còn sự kính trọng và tin tưởng vào những người mà trước đây họ đã dành một sự quí trọng đặc biệt.

Có lẽ chính địa vị và quyền uy đã khiến cho nhiều người không đủ can đảm để chấp nhận một sự sửa lỗi. Nhưng chúng ta đã lầm, người có địa vị càng cao và quyền uy càng lớn nhưng biết khiêm tốn trong cách sống, càng khiến cho nhiều người khâm phục và quí trọng họ. Và đây là một trường hợp cụ thể: hãy nhìn vua thánh Đavít và hãy học ở đó một bài học quí giá về lỗi lầm. Chính sự khiêm tốn chấp nhận lỗi lầm để sửa đổi đã khiến cho vua Đavít ngày càng trở nên sáng giá. Và bây giờ, chúng ta hãy trở lại với câu chuyện vua thánh Đavit.

Một buổi chiều kia, một buổi chiều đẹp trời, Đavit chổi dậy và đi bách bộ trên sân thượng, ông thấy một người đàn bà đang tắm. Người đàn bà ấy rất đẹp và ông đã bị quyến rũ.

Sau giấc ngủ, Đavit đi bách bộ trên sân thượng nhà vua, việc đó không có gì sai trái cả, nhưng chính sự chán nản, chính khi tâm hồn xuống dốc cho thấy sức mạnh của sự dữ trong mỗi con người chúng ta. Sự dữ là một phần của con người. Nó nằm sẵn trong chúng ta và chỉ cần một sự khơi nhẹ cũng đủ để làm nó lộ diện.

Từ ngày hôm đó, Đavit âm thầm cho người điều tra về người đàn bà ấy và được biết bà ta là Bathseba, con gái Eliam, vợ của Uria. Đavit đã cho người đi đưa bà ta về và Đavit đã ngủ với bà ta.

Lòng thương xót hiểu được hai nghĩa: của Thiên Chúa đối với chúng ta và của chúng ta đối với nhau.

Lòng thương xót là cụm từ rút ra từ Tông Huấn Vultus misericordiae ban hành ngày 11.4.2015 và ấn định ngày 8.12.2015 làm ngày khai mạc Năm Thánh Ngoại Thường cho toàn Hội Thánh. Hội Thánh được kêu mời học hỏi suy nghĩ cầu nguyện để cảm nhận lòng thương xót của Thiên Chúa và thực thi lòng thương xót ấy cho mọi người.



Cụm từ lòng thương xót dịch từ hai tiếng la tinh : miseri và cor ; miseri là thương xót, cor là tấm lòng (cordia, số nhiều) mở rộng ra đối với những người nghèo khổ đáng thương về tinh thần cũng như vật chất. Lòng thương xót hệ tại việc có trái tim biết rúng động trước các nỗi khổ đau của con người.

Phần chúng ta, những người Công Giáo, chúng ta phải hiểu và sống lòng thương xót đó như thế nào. Điều này không có gì khó, vì ở đời ai cũng hiểu thương xót là gì rồi.

Thương và thương xót khác nhau. Thương là thích ai và yêu nguòi đó. Còn thương xót có nghĩa là vừa thương vừa xót. Thương gắn liền với trái tim, còn xót gắn liền với lòng dạ hay ruột gan. Ta thương ai, vì thấy người ấy dễ thương, ngoại hình hấp dẫn, có tài, có tiền v.v… nên trái tim ta cảm kích. Còn thương xót ai là vì thấy người ấy đáng thương, bởi nghèo nàn hoặc ốm đau bệnh tật, hay gặp tai ương hoạn nạn, buồn phiền, đau khổ nên ta xúc động.

Tâm sự của một cành nho lười biếng


Tôi rất yêu mến Chúa, nhưng làm biếng đi nhà thờ, xem lễ… Tuần Thánh vừa qua là lần đầu tiên tôi đến tham dự đầy đủ hết các Thánh Lễ. Một trong những Thánh lễ mà tôi ớn nhất là Lễ rửa chân và Chầu Mình Thánh Chúa ngay sau Thánh lễ. Hàng năm sau lễ là tôi chuồn mất chứ không vô chầu, rồi đợi đến nửa đêm thì đến đón Mẹ tôi về, và cứ như thế cho đến Mủa Phục Sinh vừa qua.

Sau một ngày làm việc ở sở, tôi vội rời nhà sớm hơn một tiếng, nhưng vì kẹt xe, khi đến nhà thờ, đông nghẹt người không có cả chỗ đứng. Thánh Lễ thật lâu. Tôi cảm thấy mặt mày choáng váng và đói bụng. Tôi mong ước cho buổi lễ thật mau, vì Cha xứ có nói “nhìn thấy nhiều người phải đứng, Cha rất đau lòng…” Không biết Cha có đau lòng hật hay không, chứ cái chân của tôi đau quá vì phải đứng lâu. Không những thế, Cha còn từ từ, chậm chậm lau chân từng người làm đôi chân của tôi càng đau nhức hơn nữa….. Cuối cùng rồi Thánh Lễ cũng xong.

THĂM BẠN!



Tin, bài liên quan:


Mái tóc bồng bềnh, mắt long lanh, mũi cao ngát xanh, môi hồng cam rực rỡ…Tất cả chỉ là quá khứ, di ảnh của người phụ nữ nghi ngút khói nhang. Ngôi nhà trùm không khí tang tóc…Thăm anh bạn vợ chết được 5 hôm.

Đội khăn tang, mái đầu đen chớm bạc nhiều. Sau lời thăm hỏi ủi an, anh bạn thủ thỉ tâm sự: “Cô ta chết ở Biên Hòa, nhưng hôm đó nói là đi Đám cưới ở Gia Kiệm, tớ bất ngờ và không tin, rồi cũng phải tin vì hình ảnh lan tràn trên FB. Chết cùng với 1 người đàn ông, không biết là ai, có lẽ là ….nhân tình?”

Chấp nhận sự thật, thiên hạ đàm tiếu đủ điều… thực sự cô ta đã chết 1 năm nay rồi ! Bởi vì cô ta đã sống không còn là vợ tớ nữa, cô ta đã nộp đơn ly dị vì tớ làm ăn chưa gặp thời, để nợ nần, phải bán nhà đi xa….Thẩm phán hòa giải, cô ta rút đơn lại, cô ta chỉ vui vẻ 30%, còn lại là lạnh lùng, thô lỗ, cộc cằn… Tớ đến nhà bạn bè chơi, thấy vợ chồng con cái ăn cơm vui vẻ, lòng tớ chảy nước mắt ngược, vì điều đó quá xa xỉ với tớ, tối tối họ chở nhau đi chơi đó đây, tớ khao khát và thèm muốn….nhưng chỉ là viễn vông…

Chú thích: (*) Tiêu đề do VTCG đặt

hình minh họa

Lão Thiện, cái tên mà em hay gọi anh, mỗi lần chúng ta gặp nhau.

Anh,

Bây giờ em biết anh rất đau đớn bởi căn bệnh quái ác đang gặp cạp thân thể anh...

Anh,

Ngày 5.3.2013, em nhận xứ, anh hiện diện với em. Em thì lo lắng.....trăm bề.....vì em mới là linh mục, nhận một xứ mà 70 năm không có linh mục sao không lo được. Nỗi lo hiện rõ trên khuôn mặt to đen của em......

Còn Anh thì khác - khuôn mặt chữ điền, thân hình anh cao to vạm vỡ; ai cũng nói anh như đang phát khởi của một người vừa có tâm, vừa có tầm. ...đúng như anh.

NÂNG LÊN HÀNG KHANH TƯỚNG?


Những ngày tháng 6 và tháng 7 hằng năm, các Giáo Phận và các Dòng Nam Tu thường có Lễ trao Thánh Chức Linh Mục. Xin chép lại một bài viết cũ 15 năm trước, bởi vẫn còn đây đó, người ta cứ ngỡ làm Linh Mục là… làm khanh làm tướng !

Chỉ cách nhau mấy ngày, Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) chúng tôi vừa có tin vui lại vừa nhận tin buồn. Búp măng trẻ Phaolô Nguyễn Đình Thi được chịu chức Linh Mục tại Buôn Ma Thuột ngày 3 tháng 6, còn cây tre đại thụ Giuse Vũ Ngọc Bích nằm xuống tại Hà Nội ngày 8 tháng 6. Mà thật ra cha già đã nằm một chỗ từ lâu lắm rồi, mắt mù loà, chân tay lập cập, nhưng đầu óc còn minh mẫn lắm, đến Lễ lớn lại gượng dậy ngồi xe lăn ra Nhà Thờ, có khi còn dõng dạc chia sẻ Lời Chúa cho cộng đoàn.

Alelluia!



1. Thứ năm, thứ sáu, thứ bảy tuần thánh, Chúa nhật Phục sinh : tất cả anh chị em chúng tôi tập trung giữ xe.
Nhà thờ nhỏ và nghèo nên không có khoảng đất trống nào dù là một chút, một phần đường hẽm bên hông nhà thờ và buổi chiều khi bãi rác không còn hoạt động thì trở thành chỗ giữ xe cho mọi người tham dự thánh lễ.
Có người vô tư : khi vào gởi xe họ bịt mũi lại, các cháu nhỏ nhăn mặt kêu thúi quá.
Tôi cười : tụi chị đứng đây mấy tiếng đồng hồ đó em.

Tự trong sâu thẳm chính mình, tôi tự nguyện và thấy rằng chỗ dành cho mình là ở đây.
Tôi chỉ xứng đáng ở nơi này.
Chúa hiểu tại sao tôi nói như vậy.
Vì tôi là một người tội lỗi.

NGƯỜI MỤC TỬ ĐÁNG KÍNH TOẢ HƯƠNG THƠM LÀM ĐẸP CHO ĐỜI


Thiên đàng thêm một bông hoa
Toả hương thơm ngát bên Cha Nhân Lành.

Hôm nay là lễ tuần bảy đúng một tuần kể từ ngày Cha vĩnh biệt thế gian về với Chúa. Qua thánh lễ này, con càu xin Chúa thương đón nhận linh hồn Cha Giuse vào hưởng hạnh phúc trong Nước Trời.

Nhớ lại năm 1995 lần đầu tiên con được gặp Cha ở giáo xứ Lãng Điền, Anh Sơn Nghệ An. Nhờ một ân nhân ở Mỹ qua trung gian một cựu đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế ở Sàigon đã gửi một toa hàng ra ga Huế, hầu hết là quần áo mới và đồ dùng gia đình, để giúp người nghèo. Nhân đó, con đã xin họ chia sẻ một phần cho bà con nghèo ở Miền Tây Nghệ An, đặc biệt là bà con dân tộc thiểu số, nơi Cha đang phụ trách.

Nhận được tin Cha mừng lắm và bảo con bắt xe đò chở hàng về ngã 3 Diễn Châu có người đón và phụ áp tải chuyển xe đò về thị trấn Anh Sơn rồi cho người lấy xe máy lần lượt thay nhau chở về nhà xứ. Sáng hôm sau là ngày Chúa nhật bà con dân tộc kéo đến rất đông, Cha bảo con phát quà cho họ và Cha đã cho họ ăn no nê, để trở về bản làng trước khi trời tối. Cha đã “chạnh lòng thương” như Chúa Giêsu: “Ta không muốn cho họ về bụng đói, sợ họ té xỉu dọc đàng". (Mt 15:32).

Trong những dịp lễ phong chức, khi chúc mừng các tân chức, người ta thường hay chúc các Cha mới là “Chúc cho Cha trở nên Linh mục như lòng Chúa ước mong và lòng dân mong đợi”. Mình trộm nghĩ, “trở nên Linh mục như lòng Chúa ước mong” thì cũng dễ hiểu, (dù là rất khó thực hành, mời gọi người Linh mục nỗ lực mỗi ngày) nhưng còn “như lòng dân mong đợi” thì thật là khó.


Lòng dân thì “chín người mười ý”, làm sao mà chiều cho xuể, ý là chưa kể nhiều khi sống “như lòng dân mong đợi” thì lại “không như lòng Chúa ước mong” . Tuy nhiên, mình trộm nghĩ rằng, nếu người Linh mục cứ nỗ lực mỗi ngày miệt mài sống “như lòng Chúa ước mong” thì tự nhiên cũng sẽ sống “như lòng dân mong đợi”. Cứ lo sống đẹp lòng Chúa, còn lại để Chúa lo cho.


Lời người dịch: “Đây là một bài đọc hữu ích để tái lập sự quân bình phần nào so với một sự tấn công dàn dựng của nhiều phương tiện truyền thông. Liệu việc tìm kiếm sự thật không đòi hỏi rằng các thực tại tiêu cực không ngăn cản chúng ta nhìn thấy các thực tại tích cực, khi các thực tại này có thể khuyến khích chúng ta, truyền cảm hứng cho chúng ta làm sự thiện chăng? Nó cũng sẽ là một thuốc chữa cho sự rầu rĩ lan tràn” (www.riposte-catholique.fr).


Nhật báo The New York Times là một tờ báo lâu đời ở Mỹ, nổi tiếng là chống đạo Công giáo một cách có hệ thống. Báo này khai thác, quá nhiều và không công bằng, một vài vụ linh mục ấu dâm ở Mỹ và nơi khác, trong khi không hề đưa tin về tuyệt đại đa số linh mục có tâm huyết với Giáo Hội, hy sinh cuộc đời vì Chúa và vì tha nhân. Do đó linh mục Martín Lasarte, người Uruguay, Dòng Don Bosco (SDB), một nhà truyền giáo ở Angola từ 20 năm qua, đã viết bài dưới đây gửi nhật báo The New York Times ngày 6-4-2010. Dễ hiểu là nhật báo không hề trả lời lá thư của cha. Vài ngày sau, lá thư được đăng trên trang mạng Enfoques Positivos ở Argentina, và phát tán nhanh trên các trang mạng bằng tiếng Tây Ban Nha. Sau đó, bản dịch tiếng Anh được phổ biến ở nhiều nước nói tiếng Anh. Mới đây, bản dịch tiếng Pháp được trang www.riposte-catholique.fr đăng ngày 22-3-2013.

Xin được giới thiệu bài viết đầy tính thời sự này.

Tôi gặp được Giáo huấn Xã hội Công giáo

hình minh họa: Thánh lễ cầu nguyện cho các thai nhi bị chối bỏ của một nhóm Bảo vệ sự sống

Mùa Vọng năm 2010 tôi có những thay đổi trong công việc, chính tại thời điểm này, tôi mới nhẫn nại hay nói cách khác là tôi bị hút vào những suy tư, và đặc biệt lần này những suy tư đó trở thành một sức mạnh buộc tôi phải luôn suy nghĩ về nó.

Tôi miên man nghĩ về những người tôi quen, cả Công giáo và không Công giáo:

Với những người rất thành đạt theo tiêu chuẩn mặc định của xã hội ngày nay, họ có đủ các điều kiện vật chất mà nhiều người mơ ước, có địa vị xã hội, con cái học thành tài ở Mỹ, gia đình không xào xáo, thậm chí có cả nhà riêng tại Mỹ. Nhưng tôi vẫn thấy ở họ sự băn khoăn, hối tiếc và bất an.

Họ chợt nhận ra rằng những tiêu chuẩn thành đạt mà xã hội hiện nay mặc định cho con người là những điểm giới hạn của chính họ. Họ không biết có thật sự sống vì những tiêu chuẩn đó hay không, hay những tiêu chuẩn đó đang biến họ thành ‘người chết khi đang sống’.
Được tạo bởi Blogger.