Người Công giáo và những tập tục ngày Tết


Tin, bài liên quan:  Tết của người Công giáo

Tết là ngày lễ hội truyền thống đã có từ ngàn xưa. Ngày Tết có ý nghĩa thiêng liêng, mang đậm bản sắc dân tộc. Đã là người Việt Nam thì dù sống ở đâu, từ thành thị đến thôn quê, từ vùng đồng bằng đến vùng cao nguyên, dù ở trong nước hay đang sinh sống ở nước ngoài, dù thuộc những thành phần xã hội khác nhau, dù có chính kiến khác nhau, dù theo tín ngưỡng khác nhau… cũng đều coi Tết là một ngày trọng đại, cũng đều có chung một niềm hân hoan đón mừng ngày Tết. Tết đã đi vào tim óc mỗi một người Việt Nam.

Những người tương đối lớn tuổi đã từng sống ở miền Bắc đều rất quen thuộc với câu nói “Ba vua, lễ Nến, Tết đến sau lưng.” Theo thứ tự thời gian, sau lễ Ba vua (tức lễ Hiển Linh) đến lễ Nến (tức là lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh) rồi Tết đến ngay sau đó. Điều này cho thấy người Công giáo gắn bó với văn hoá dân tộc và sự tương quan giữa lịch đạo và lịch đời trong việc tính ngày Tết là điều dễ hiểu.

(Bức thư này được lấy cảm hứng từ Truyện ngắn Ngày mở tay, một tác phẩm của Lm Cao Gia An, S.J)

Thư gửi ba

ảnh minh họa

Ba thân mến!

Ba còn nhớ không?
Ngày xưa, mỗi đêm trước khi ngủ, không bao giờ ba quên kể cho con một câu chuyện. Chẳng phải là chuyện cổ tích, cũng chẳng phải là chuyện người ta, nhưng ba kể cho con về chuyện đời ba. Những câu chuyện đơn sơ, gần gũi, không được tô vẽ, gọt dũa ngôn từ mà hấp dẫn làm sao. Chúng dẫn đưa con vào một miền đất mênh mông của tưởng tượng. Chúng đưa con vào những giấc ngủ say sưa, mơ mộng. Và không ngờ nhất, chúng đã vẽ lên trong con một giấc mơ: giấc mơ viết tiếp giấc mơ còn dang dở!!!

NỒI BÁNH TÉT ĐÊM GIAO THỪA



Tôi sinh ra thôn A Đông, xã Duy Phú, Duy Xuyên, vùng đất sát bên tháp Chàm Mỹ Sơn một trong hai di sản văn hóa của Quảng Nam, đó là miền quê nghèo không có phù sa. Ông tôi kể cụ tiền hiền chọn vùng đất cao này để tránh lụt lội, nhưng không bị lụt lội thì không có phù sa, nên đất đai cằn cỗi. Quê hương chỗ nào đẹp thường nghèo, thiên nhiên trớ trêu như vậy, nên nơi tôi ở rất đẹp nhưng vun vồng khoai lang muốn kiếm cái củ phải tốn cả hai ba gánh bổi. Cũng may là cây năng sầm, sim, mua, đuôi diều mọc đầy dưới chân tháp, chặt về bỏ chuồng trâu rồi mang ra gò trồng khoai, trồng sắn.

Quê nghèo nhưng bù lại được vây bọc vô số huyền thoại và tôi lớn lên trong không gian huyền thoại bên nồi bánh tét. Bây giờ tôi tin một cách chắc chắn rằng “Vùng đất nghèo nhất chính là vùng đất không có một manh huyền thoại, chứ không phải vì thiếu lúa gạo”. Quê nghèo nhưng nhà nào cũng chừa ra mảnh ruộng tốt nhất để trồng vạt nếp kiếm vài ang(*) để dành tết nấu nồi bánh tét. Giá trị của nồi bánh tét không chỉ là những đòn bánh được vớt ra sau khi nấu chín mà giá trị của nó nằm ở chỗ những đứa trẻ ngồi bên ngọn lửa reo vui, mang lại không khí ấm áp của đêm trừ tịch lạnh giá, háo hức không phải chỉ là chờ đợi những đòn bánh nhỏ xíu mà người lớn gói riêng cho mình, mà háo hức bởi những câu chuyện của người lớn bên nồi bánh. Với tôi, ngày ấy, sự háo hức bởi bên ngọn lửa ấy ông tôi kể cho tôi nghe những câu chuyện, những huyền thoại về quê hương.

GIÁNG SINH VỀ TRÊN XỨ NGÀN


Nếu một lần nào đó đôi bàn chân bạn đặt đến vùng xứ ngàn này, chắc có lẽ bạn sẽ đặt câu hỏi? Tại sao được gọi 1 ngàn, rồi 7 ngàn và tận cùng là 14 ngàn. Phải chăng là 7 ngàn sẽ nhiều hơn 1 ngàn, hay 14 ngàn sẽ giàu hơn 7 ngàn. Có người nói đùa ở 7 ngàn mua gì cũng bằng 7 ngàn. Có nhiều giả thuyết nói về xứ ngàn này. Với tôi giả thuyết địa văn hóa hợp lí nhất vì do đặc điểm vùng miền Tây Nam bộ kênh rạch chằng chịt, và kinh tế tại vùng này là nghề nông. Nên việc nguồn nước vô cùng quan, bởi thế các mỗi 1km sẽ có một con kênh để dẫn vào nguồn nước, để thuận tiện cho việc ghi nhớ, người dân bản địa đã ghép từ “ngàn” vào.

Hồi bút:

GỐC HOA SỨ VÀ VỊ ĐAN SĨ GIÀ

Tưởng nhớ Thầy Duy Sinh dịp giỗ giáp năm - 29/12

.
Trong cuộc đời này, có những người bước vào và đi qua đời bạn, rồi họ ghi vào đó những ấn-tượng khiến bạn không bao giờ quên kể cả khi họ đã biệt trùng xa cách.

Hôm nay lễ giỗ một năm của thầy Duy Sinh, có lẽ hình ảnh của thầy nhiều người vẫn còn giữ đậm nét, những kỷ niệm vui buồn vẫn còn đây. Một năm rồi thầy khuất bóng nhưng chắc chắn những gì thầy để lại vẫn nguyên vẹn. Riêng tôi, dù có thêm bao nhiêu năm nữa và suốt cuộc đời vẫn không quên lần đầu tiên tôi gặp thầy. Giỗ của thầy tôi muốn gợi lại những ấn tượng tốt đẹp ấy như một lời cảm ơn chân thành thầm gởi đến vong linh người thầy đã khuất.

ảnh minh họa

Một nhà văn đã từng nói, anh có thể mang nhà thờ ra khỏi vùng đất tôi sống, nhưng không thể mang tôi ra khỏi ánh sáng của nhà thờ đã có trong trái tim tôi.


Đất nước bước vào giai đoạn mới, có những chuyện nhiều người biết, nhưng chỉ có thể nói đến vào những thời điểm thích hợp. Câu chuyện tôi kể cho các bạn đã xảy ra ở nhiều gia đình, nhiều người. Do vậy cách tiếp cận giản dị nhất là hãy bắt đầu từ gia đình tôi, từ mẹ tôi. Đó là một người phụ nữ bình dị như biết bao người phụ nữ khác ở miền Bắc. Bà mang tên thánh là Maria.

CÔ GÁI XÓM ĐẠO ĐI THOÁT LY


Mẹ tôi sinh ra trong gia đình Công giáo ở Hà Nội. Ông ngoại tôi là người Tây học, nói thạo tiếng Pháp và là một trong số những người ít ỏi đầu tiên ở Việt Nam hành nghề nhiếp ảnh. Số phận đưa đẩy ông ngoại tôi phiêu bạt về một tỉnh miền Trung du. Ở đây mẹ tôi gặp cha tôi và từ đó bà bắt đầu một sống thăng trầm theo gia đình nhà chồng.

Cha tôi là con trưởng. Mẹ tôi về làm dâu, ở cùng cha mẹ chồng. Ông nội tôi là một người biết làm ăn nên có chút khá giả. Cũng như những thanh niên khác thời đó, cha mẹ tôi tham gia công việc nhà nước, cha tôi đi bộ đội, mẹ tôi tham gia vào đoàn thể như Hội Phụ nữ xã – huyện, Dân công, Bình dân học vụ.

ĐÔI DÉP CỦA CHA

ảnh minh họa


Trong đời sống gia đình, có những lúc như đi vào ngõ cụt. Nghèo đói khổ cực làm cho con người phải nghi ngờ Thiên Chúa và đôi khi đánh mất niềm tin. Một chút chia sẻ sau đây như một lời mời gọi, nhắc nhở và xác tín hơn vào tình yêu của Thiên Chúa khi phải đối diện với những khó khăn trong cuộc sống.

Nghèo đói cơ cực dường như luôn quanh quẩn trong nhà Mai, từ lúc Mai bắt đầu vào mẫu giáo cái nghèo đã bám chặt lấy Mai. Nhà nghèo, mẹ mất sớm vì căn bệnh ung thư phổi. Một mình gà trống nuôi con, cha quyết định ở vậy để nuôi con khôn lớn nên người. Chiếc xích lô là bạn đồng hành cùng cha mãi sáng sớm đến khi chiều về, lưng cha ước đẫm mồ hôi, cái quần cũ rách với đôi dép lào mẹ mua đã 3 năm giờ chỉ còn hai chiếc quai để làm điểm tựa cho đôi chân, cái nón lá tả tơi che nắng che mưa cho cha giờ cũng chỉ còn cái sườn. Nhìn cha mỗi khi chiều về lòng Mai quặn thắt. 

Đối với cha lúc này Mai là tài sản quý nhất, cha không ngại khó khăn vất vả, ngày đêm luôn kiếm tiền để nuôi Mai ăn học nên người mong sao thoát cảnh cơ cực này. Ngày qua ngày, những tấm giấy khen của cô con gái xinh đẹp đã dán kín cả bức tường bằng vách đất cũ kĩ dưới bàn thờ. Mỗi khi làm về nhìn con ngày càng lớn lên, khôn ngoan, học giỏi, lòng cha tràn ngập niềm vui và hạnh phúc, nước mắt cuộn tròn lăn trên gò má đầy xương sóc ấy.

CHUYỆN XỨ ĐẠO

Giáo xứ tôi có một bà gần 70 tuổi là đạo mới, người chồng tuy chưa học đạo, nhưng thỉnh thoảng cũng đến nhà thờ dự lễ. Gia đình họ có 2 người con, một trai và một gái. Người con trai là kỹ sư điện lạnh, người con gái là giáo viên, cả 2 cùng làm việc, sống xa nhà.

Chuyện vợ chồng thì ở đâu cũng thế, lắm lúc cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt là chuyện bình thường. Bà này có tính cách khác với nhiều phụ nữ Nhật Bản, đó là ít mềm dẻo, ngọt ngào, không nịnh hót và dám nói thẳng, nói thật bất luận người đó là ai.

Khi về hưu rồi, vợ chồng có nhiều thời gian ở bên nhau hơn, nhưng số lần cãi nhau cũng nhiều hơn. Có lúc bà ấy không chịu nỗi, đành ôm tài sản, cuốn gói “đi bụi” coi công viên là nhà. Đến lúc tiêu xài hết tiền, thì xin vào Chùa nấu cơm và mong tìm cuộc sống thanh tịnh. Nhưng vì tính cách thẳng thắn, sau vài lần cãi nhau với Thầy Chùa, bà lại xách gói về nhà ở với chồng.

Đời sống vợ chồng cũng chẳng mặn nồng cho lắm, nên ngoài việc đi mua sắm, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, bà không đến nhà thờ và cũng chẳng đi đâu, ít giao lưu với bạn bè, vì mặc cảm, sợ người ta chê cười, nên lúc nào cũng ủ rũ, buồn phiền, ốm đau triền miên.

NHỮNG NGƯỜI THẦY THỜI ĐẠI NÀY HIẾM CÓ


1. 

Ngày ấy Cha còn là thầy giáo dạy học phổ thông. Cha thương yêu học trò như con cái. Nhưng cha nghèo, nghèo đến nỗi trong túi chẳng bao giờ có tiền. Một hôm, một bạn về quê, chuyển trường, đến chào Cha. Cha chẳng có gì cho bạn ấy. Nhìn quanh một lúc, Cha tháo chiếc đồng hồ đang đeo đưa cho bạn ấy và nói: "Con hãy bán lấy tiền đi xe". Bây giờ Cha là giáo sư Kinh Thánh. Cha giáo của mình và cũng là của nhiều Giáo lý viên học tại cơ sở Tân Hương.

CHUYỆN HỌC TRÒ

Tặng thầy cô giáo nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11.2016



1.”TRƯỜNG SƠN ĐÔNG NẮNG TÂY MƯA…”


Đề thi Tú Tài môn Văn năm ấy có câu hỏi:

“Trường Sơn đông nắng tây mưa
Ai chưa đến đó thì chưa rõ mình”

Hai câu thơ này của ai, trong tập thơ nào?

Cô học trò ngồi cắn bút căng mắt nhìn đề. Trong năm học, cô có nghe thầy nói loáng thoáng, nhưng lơ đễnh không ghi nhớ.

CÂU CHUYỆN TỪ CHIẾC GIỎ TRÊN GÁC ĐÀN (*)



Chúng tôi là ca viên ca đoàn ở một giáo xứ thuộc TGP Sài Gòn, tổ chức đi chơi biển Phan Thiết. Chuyện không vui chẳng ai cầu, ai muốn: trời mưa bão. May mắn, có một người trong chúng tôi quen biết một ca viên ở Giáo xứ nhà quê nọ…cách Phan Thiết hơn 30 cây số.

-Thôi thì mời anh em về nhà mình đi nhé. Khách sạn ngàn sao!

Thế là chúng tôi về đến nhà anh chiều thứ 7. Ăn tối trong mưa nhưng món nào cũng ngon, bởi vui, và căn nhà bống ấm. Hẳn là sức ấm của chúng tôi không đủ làm ngưng gió, làm thôi mưa bão lạnh lùng ngoài kia, nhưng không hiểu sao, mưa bỗng nhẹ dần, gió dịu lại hơn.

Một đêm yên ả sau những ồn ả của chúng tôi ca đoàn thành phố và và một số ca viên thôn quê gặp nhau.

BỐ MARTIN


-------
P/s: Nhân lễ Chúa Chiên Lành - Cầu cho Ơn Thiên Triệu, xin được đăng lại bài viết trước đây gửi đến các bạn đang muốn sống đời dâng hiến. Không phải để khoe khoang bản thân, nhưng hy vọng qua chính những trải nghiệm cá nhân của tôi sẽ góp phần khơi dậy ước mơ sống đời dâng hiến của nhiều bạn trẻ ngày nay.

Tôi sinh ra trong một gia đình có đến 11 người con. Trong đó 10 người là gái, và chỉ có mình tôi là trai. Má tôi kể, ngày đó sau khi đã sinh được 9 cô con gái, má tiếp tục có bầu tôi, đứa thứ 10. Dĩ nhiên ba má tôi rất mong ước sẽ có một thằng con trai, gọi là nối dõi tông đường. Nghe người ta khuyên nhủ, má tôi đến đền thánh Martin – Hố Nai để xin một đứa con trai. Chẳng biết lời cầu nguyện của bà khẩn thiết đến mức nào mà sau bao nhiêu năm chờ đợi và hy vọng, cuối cùng tôi cất tiếng khóc chào đời. Tôi chắc rằng, tiếng khóc của tôi là tiếng cười của ba má và các chị.

Má tôi kể rằng ngày đó bà xin thánh Martin cho một đứa con trai, và bà sẽ nuôi đến năm 18 tuổi sẽ trả nó về lại cho ông vì nó là con của ông. Và nếu ông thương ban cho đứa con thì ông làm dấu trên người để bà biết. Thế là tôi được sinh ra đã có dấu trên người, hai bên dái tai là hai lỗ đã được xỏ từ trong bụng mẹ. Má tôi tin chắc rằng tôi có mặt trên đời là ân ban của thánh Martin.

Bà mua một tượng thánh Martin đặt trên bàn thờ và ngày ngày đọc kinh tạ ơn ông. Thế rồi tôi lớn lên trong tâm thức ấy, tâm thức là con của thánh Martin. Mỗi năm, đến ngày 3/11 má tôi lại làm lễ bổn mạng cho tôi. Cả nhà, không một chị nào được như thế cả.

Thế nhưng, từ nhỏ, lúc nào tôi cũng yếu ớt, xanh xao. Chứng đau đầu luôn hành hạ tôi ngay từ khi còn bé. Chính căn bệnh này mà từ nhỏ đến lớn tôi không bao giờ được khỏe mạnh như bao đứa trẻ khác.

Tôi còn nhớ, từ khi còn rất nhỏ, tôi đã không có bất kỳ một quyến luyến nào với gia đình. Có lần tôi đã trốn bỏ nhà đi. Lúc đó chẳng biết động lực nào xui khiến tôi lại đi lên đền thánh Martin. Chỉ muốn ở lại luôn trên đó. Nhưng vì còn quá nhỏ, đường lại xa, chưa tới nơi tôi đã khóc và quay trở về. Kể từ đó trở đi, gia đình luôn là một điều gì đó xa lạ với tôi. Chẳng bao giờ tôi nói chuyện hay tâm sự chuyện gì cùng cha mẹ và các chị. Sống trong gia đình mà tôi luôn cảm thấy lạc lõng.

Vào dịp lễ thánh Martin năm tôi tròn 18 tuổi, cũng như mọi năm, má tổ chức tiệc bổn mạng cho tôi. Sau khi bạn bè đến chung vui với tôi, má lên nhà trên thì phát hiện tượng thánh Martin mua 18 năm trước đã rơi xuống đất và bể nát tan tành. Bà ngồi xuống và khóc rất nhiều. Bà nói thánh Martin đòi tôi lại…

Thế là chuyện gì đến cũng đến, tình cảm của mọi người trong gia đình không đủ để ngăn cản tôi. Tôi bắt đầu rời gia đình và đi tu từ ngày ấy.

Ngày chia tay ba má để vào Dòng, em gái tôi ôm tôi mà khóc, nói anh đừng đi, còn má thì nép sau cánh cửa nói vọng ra: Con đừng cản, cứ để anh con đi! Tôi biết bà không dám ra tiễn tôi đi, tôi biết bà đã khóc…và bà luôn khóc vì nhớ tôi suốt mười mấy năm qua.

Hơn 15 năm theo ơn gọi dâng hiến, tôi lúc nào cũng yếu ớt, căn bệnh đau đầu tiếp tục hành hạ tôi. Sức khỏe suy kém có những lúc liệt giường cả tháng. Vậy mà chẳng bao giờ các cha đặt vấn đề về ơn gọi của tôi… Càng đi tu, tôi càng khám phá hơn về bản thân mình. Quả thật, cuộc đời tôi luôn có sự can thiệp rất rõ ràng của thánh Martin. Qua từng giai đoạn đào tạo, tôi “trót lọt”. Trước những biến cố lớn nhỏ, tôi thường lên đền Martin Hố Nai để viếng ngài. Tôi gọi ngài bằng bố. Tôi luôn có sự thân thương với ngài. Rồi khóc lóc ỉ ôi. Bố ơi thế này, bố ơi thế kia…

Thế là tôi trở thành linh mục. Nhiều người ngỡ ngàng, bản thân tôi cũng không tin điều đó…Ngày tôi chịu chức, mọi người khen má tôi khéo đẻ con. Có một thằng con trai mà cũng dâng cho Chúa…Nhưng với tôi, được trở thành linh mục là do bố Martin dắt tay tôi, nâng bước tôi lên bàn thánh. Từ ngày chịu chức đến nay, sức khỏe của tôi cải thiện rõ rệt. Ai cũng công nhận điều đó. Nhưng với tôi, tất cả những gì đã, đang và sẽ đến, đều có sự đồng hành của Bố Martin.

Mừng lễ quan thầy năm nay, tôi cảm thấy chưa bao giờ mình hạnh phúc đến thế. Bởi ba má vẫn còn sống để “hưởng hoa trái” mà ông bà đã cầu khẩn mấy chục năm nay. Nhưng xen lẫn niềm vui là nỗi buồn. Sợ rằng, một ngày nào đó, ba má về với Chúa, thì ai sẽ là người kể lại cho tôi nghe những câu chuyện ly kỳ về thánh Martin và cuộc đời tôi, về những ước ao, hy vọng của ba má…

Sáng nay, má gọi điện, bảo ngày 3/11 này con về nhà, mời thêm các cha các thầy về đây, mà muốn tự tay nấu cho con một bữa cơm, mừng bổn mạng con, má sợ năm sau má không còn sống để tổ chức lễ bổn mạng cho con nữa…Đặt điện thoại xuống, mà sao tâm trí tôi bồi hồi…Sóng sánh nụ cười, xốn xang lồng ngực.

Mừng lễ bổn mạng, tạ ơn Chúa đã cho con được làm con Chúa, con của thánh Martin và là con của ba má…

Chiều 2/11/2018
Lm. Mar – Aug Bùi Văn Hồng Phúc, SSS

Tiếng Mỹ và tiếng Việt



Tôi tình cờ quen một anh bạn Mỹ, người Mỹ chính cống, mắt xanh mũi lõ, tên Johnson William, quê ở bang Ohio của xứ Cờ Hoa nhưng Johnson đã hơn 16 năm sinh sống ở Việt Nam, nghiên cứu về dân tộc học Ðông Nam Á, nói tiếng Việt thông thạo, phát âm theo giọng Hà Nội khá rõ, hắn học tiếng ở Ðại học Ngoại ngữ Hà Nội rồi làm Master of Art về văn hóa xã hội Việt Nam ở học Khoa học Tự nhiên Sài gòn, rành lịch sử Việt Nam, thuộc nhiều câu thơ lục bát trong truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Ðồ Chiểu. 
Johnson ăn mặc xuềnh xoàng, cái đầu rối bù, chân mang một đôi giày bata cũ mèm, lưng quảy một ba lô lếch thếch, sẵn sàng ăn uống nhồm nhoàm ngoài vỉa hè. Johnson có thể quanh năm suốt tháng ăn cơm với chuối thay cho bánh mì và phomát, xịt nước tương vào chén rồi cứ thế mà khua đũa lùa cơm vào miệng. Ðối với Johnson, thịt rùa, rắn, ếch, nhái, chuột đồng, … hắn xơi ngon lành. Bún riêu là món khoái khẩu của Johnson, hắn còn biết thèm hột vịt lộn ăn với rau răm chấm muối tiêu chanh. Ai có mời đi chén thịt cầy với mắm tôm, Johnson chẳng ngần ngại mà còn biết vỗ đùi đánh cái phét khen rượu đế mà nhắm với thịt chó ngon “thần sầu quỉ khốc” !!! Chẳng biết Johnson khéo tán tỉnh thế nào (hoặc bị tán) mà vớ được một cô bé Hà thành tóc “đờ-mi gác-xông”, sinh viên ngành văn chương hẳn hoi. Ngày cưới, Johnson vận áo dài khăn đóng, dâng trầu cau và quì lạy bàn thờ tổ tiên nhà gái thành thạo làm đám thanh niên, thiếu nữ, cả lũ con nít và mấy ông cụ ông, cụ bà trong làng suýt xoa, kinh ngạc, xúm đen xúm đỏ coi muốn sập nhà.

Tùy bút:

CÂY GIỮA TRỜI - ƠN GỌI CUỘC ĐỜI

.

"...em vô tu 7 tháng hơn, tuần trước em nói: “Em về, hết nổi rồi anh!”
.
Tháng 4 rồi! Cái nóng mùa khô như đã lên đỉnh điểm, hơi nóng cứ táp vào mặt, nóng dễ sợ! Hơn 5 tháng không mưa, đất khô, không khí khô và cây cối cũng héo hắt vì khô.

Một buổi chiều nóng bức, nắng đã nhạt nhưng đất trời cứ như viên gạch trong cái lò nung vũ trụ. Thầy sải bước ở hiên kiệu trước giờ tập hát, 18h10, trời chạng vạng, chỗ sáng úa, chỗ tù mù. Một cơn gió mát thình lình ùa tới, áo dòng bay phùng phình, Thầy khoái chí buộc miệng thì thào một mình: “Ồ! Mát thiệt!”. Lá cây xà cừ xào xạc đổ xuống, thật nhiều, thật nhiều, lá bay, lá rụng rào rào, lá lăn loạn xạ, vung tứ tung trên nền sân xi măng khô khốc. Trên mái ngói lá rơi nghe lóc cóc như tiếng càm ràm: “Gió ơi! Cây đã khô quá, còn ít lá thôi mà gió cũng đùa giỡn làm rơi rụng lá rồi!”.

Nhìn ngọn cây cao ngút, thật cao, hàng cây xà cừ này là “bậc cao niên” trong số cây cối trong đất đan viện. Những gốc cây xù xì to tướng phải hai ba vòng tay mới ôm giáp gốc. Những nhánh cây thưa thớt lá đang lủng lẳng phất phơ trong gió tháng ba, tụi nó chờ đến lúc hết bám nổi, chờ rụng. Mấy cụm lá dày hơn còn kiên cường víu lấy cành thì cũng đã vàng vọt, rồi cũng cuốn theo chiều gió thôi!

MÁ ƠI MÁ…

----------
Viết để dành tặng cho những ai đang còn mẹ…


Có một điều mà cho đến bây giờ má tôi vẫn còn chưa an lòng cho dù tôi đã là linh mục. Đó là má không thể đứng ra tổ chức Lễ Tạ Ơn Tân Linh Mục cho tôi. Má nói má đã đứng ra lo 10 cái đám cưới cho các chị và em con, chỉ có một mình con là con trai, mà con lại đi tu, má hi vọng một ngày nào đó má cũng đứng ra tổ chức Lễ Tạ Ơn Tân Linh Mục cho con, như má đã lo cho các chị.

***

Vậy là má bắt đầu chắt chiu dành dụm tiền bạc với ước vọng ấy.

***

Bữa được cha giám đốc cho về nhà, tôi gọi mãi, không thấy má ra mở cổng, linh tính báo cho tôi biết má có việc chẳng lành. Người ta báo má bị tai biến mạch máu não, đã được cấp cứu kịp thời, má đang nằm ở bệnh viện. Tôi vội vã đến thăm, vừa thấy tôi má đã khóc. Má nói con là hi vọng duy nhất của cuộc đời má.

***

Rồi tôi lại đi.

***

Má gọi điện bảo tôi về gấp, má có chuyện muốn nói với con. Tôi càu nhàu nói con đi tu đâu dễ về nhà đâu má. Sắp xếp công việc ôn thỏa, xin cha bề trên, tôi mới về thăm má. Bước vô nhà, nhìn thấy má nằm trên võng bõm bẽm nhai trầu, tôi đến bên úp mặt vào ngực má, rồi nín thinh không nói gì. Má ôm tôi khóc. Má nói má nhớ con. Má sợ Chúa cất má về lúc nào không hay. Má có để dành tiền cho con ngày con chịu chức, giờ má đưa cho con, con giữ đi. Chẳng may má chết, các chị tìm thấy tiền này, lại dùng vô việc khác không đúng với nguyện vọng của má.

Thế là má lục lọi ngóc ngách trong canh phòng mãi mới lấy ra được mấy phân vàng. Cái này là tiền mấy chị và người này người kia cho má để má chữa bệnh ngày má nằm viện, má để dành đây cho con, mai mốt con làm linh mục có tiền mà tổ chức lễ. Còn bệnh của má, má xin người ta trợ cấp cho người cao tuổi và lấy thuốc bảo hiểm, con đừng có lo. Tôi nín thinh không nói nên lời. Nghĩ bụng thôi thì cứ giữ cho má vui.

***

Rồi tôi lại trở về Dòng, tiếp tục công việc học tập. Chiếc xe hon-da cũ rích của tôi đến ngày đến tháng, tôi không có tiền để sửa chữa, mà nếu có sửa cũng không chạy được bao lâu. Tôi rất cần một chiếc xe mới để đi học. Má nói con lấy tiền đó để mua xe đi học, nhưng đừng nói má mua. Cứ nói là ân nhân cho con, má sợ mấy chị con lại tưởng má có nhiều tiền đến mượn má. Các chị con cũng nghèo! Mua xe mới đi học, tôi vui lắm. Xe của má mà. Nhưng với các chị, tôi phải nói là ân nhân cho. Nhiều chị nói đi tu sao mà sướng ghê, cái gì cũng có ân nhân cho.

***

Rồi thời gian trôi qua, tôi tiếp tục tu tập. Má lại tiếp tục dành dụm. Ai cho gì cũng cất đó, tằng tiện không dám ăn, không dám uống thuốc chỉ để dành cho tôi.

***

Thế là cũng gần đến ngày tôi chịu chức, má vui lắm.

***

Nhưng trước ngày tôi chịu chức, gia đình của một chị gặp chuyện chẳng lành. Nguy cơ bị siết nhà rất lớn, má đành lấy số tiền dành dụm đó mà dàn xếp công việc. Chị của con cũng là con của má!

***

Ngày Lễ Tạ Ơn của tôi diễn ra suôn sẻ, ai cũng vui cười, chúc mừng. Má khóc thật nhiều khi thấy tôi đứng trên gian cung thánh. Má nói má vui lắm, nhưng đâu đó trong ánh mắt, tôi biết má buồn. Buồn vì không thể tổ chức Lễ Tạ Ơn cho tôi như đã tổ chức lễ cưới cho các chị. Để an ủi, tôi nói, má ơi đừng buồn nữa, con là con của Chúa, Chúa lo, chứ má lo làm gì. Thì má biết thế, nhưng má vẫn áy náy vì không lo được cho con như các chị.

***

Tôi lại về Dòng, thực hiện sứ mạng của một linh mục. Giờ làm cha rồi, có tiền người ta xin lễ, cũng có đồng ra đồng vào, thỉnh thoảng về thăm, mua cho má hộp sữa. Mua đâu được vài lần, má nói con đừng mua sữa cho má nữa, má uống sữa má lại nhớ con.

Nếu má không chịu uống sữa, tôi nghĩ mỗi tháng sẽ về cho má một ít tiền để má ăn trầu. Nghĩ vậy mà từ ngày chịu chức đến nay đã gần hai năm, có khi nào tôi cho má tiền đâu. Bữa nay được nghỉ về thăm má, tôi dành dụm được chút ít, rồi nhét vào tay má một triệu rồi nói, con cho má, má mua trầu ăn. Má không chịu lấy, nói con đi tu sao có tiền. Tôi không dám nhìn ánh mắt của má, nói bữa nay lễ Phục Sinh con có tiền mà.

Má ơi, cả cuộc đời má cho con, mà từ ngày con làm “cha thiên hạ” đến nay, con có thể cho ai đó rất nhiều, nhưng con chưa bao giờ cho má điều gì mà.

***

Chúa nhật Ngày Của Mẹ, tôi chạy về thăm má. Về đến cổng, gọi to: Má ơi, má ơi…, mãi mới thấy má chân thấp chân cao cố đẩy cái xe lăn ra mở cổng cho tôi. Tự nhiên tôi rơi nước mắt, một nỗi sợ tràn ngập trong tâm hồn, sợ một ngày nào đó tôi về nhà mà không thấy má ra mở cổng cho tôi vào.

Má ơi, nếu má không cầm tiền con cho má, nếu mà không uống sữa con mua , thì con để dành tiền, con chắt chiu không hoang phí nữa đâu, con để dành tiền để chuẩn bị cho ngày má được Chúa đưa về trời. Má đã dành cả cuộc đời để cho con, không lẽ con làm cha rồi mà không thể lo cho má một cái đám tang đàng hoàng hay sao?

Tự nhiên tôi muốn hét thật lớn: MÁ ƠI MÁ...

Ngày Của Mẹ 12/5/2019

QUÀ SINH NHẬT CỦA MẸ


Sắp tới ngày sinh nhật Mẹ Maria, tôi rất muốn viết một bài thơ dâng tặng Mẹ, nhưng vì công việc ngập đầu ngập cổ nên trí óc tôi chẳng thể tập trung mà làm thơ cho được. Đã thế, mấy ngày nay tôi còn phải theo học một khóa ngắn ngày tại học viện tin học trực thuộc chi nhánh Đại học Bách khoa Hà nội (ở Sài Gòn). Tôi tham gia khóa học này do sự đề nghị của Hội người mù Tân Bình, để chuẩn bị cho vòng sơ khảo của cuộc thi Tin Học Dành Cho Người Khiếm Thị Toàn Quốc, được dự tính sẽ diễn ra vào Chủ nhật 14/9. Thật ra, tôi đi thi ủng hộ phong trào của Hội, chứ nào dám mơ đạt giải, bởi trong số những người sẽ dự thi, tôi là thí sinh già nhất. Không ngờ, cuối buổi học chiều hôm qua, “học viên già” tôi đã làm cho mọi người phải một phen kinh hồn bạt vía. Và cũng không ngờ, đó lại trở nên như món quà sinh nhật của Mẹ Maria đã dành tặng tôi, tôi cho là vậy! Các bạn sẽ khó hiểu, tại sao sinh nhật Mẹ mà tôi lại được quà, món quà đó ra sao, nó có liên quan gì tới việc tôi đi học?

HÃY NÂNG TÂM TRÍ LÊN CAO!



Muà Xuân năm 1995, lúc còn ở trong trại tù Z30D ở Hàm Tân Phan Thiết, tôi có làm được một bài thơ song ngữ Việt - Anh nhan đề  “Nói với Bạn Trẻ “ (A Message to Youth). Bài thơ gồm 4 đoạn. Xin được trích một đoạn như sau:

Bạn trẻ cuả tôi ơi!
Hãy nâng tâm trí lên cao
Để tạo cho cuộc sống thêm ý nghiã
Hãy chịu trả đắt giá
Để có được sự cao cả nơi tâm hồn.

(Toàn văn bài thơ xin được ghi nơi phần Phụ Lục kèm theo bài viết này.)

GIÁO QUYỀN


Trong bài TRỐN QUÂN DỊCH, tui đã chia bố cục làm hai: Trốn quân dịch và Giáo quyền. Không ngờ nổi hứng viết đến 5686 chữ mà vẫn chưa hết phần một, chưa đụng gì đến phần Giáo Quyền. Đành tắt điện, chớ sẵn trớn viết luôn phần Giáo quyền, thì người viết chắc chết, và người đọc cũng ấn nút biến. Dưỡng sức xong, giờ viết tiếp phần hai, Giáo Quyền. Ai chưa đọc chuyện Trốn quân dịch (#chuyentaolao31), cứ quay đầu xe lại đọc, vì có liên quan đến phần hai này.

Cũng là chuyện tào lao thôi, biết cái gì viết cái nấy, chẳng bài bản chi cả. Ai muốn biết thêm về đạo Công Giáo, thì ghé vô đọc chơi. Người tín hữu quanh năm chỉ lo đọc kinh cầu nguyện, không để ý gì đến tổ chức của Giáo Hội, cũng đọc chơi cho biết. Bảo đảm không chết thằng tây nào! Rồi! Chuẩn bị ly cà phê “cái nồi ngồi trên cái cốc”, vừa nhâm nhi, vừa đọc nhe. Chán cứ nghỉ. Tui viết tới mệt thì cũng nghỉ. Đề tài hôm nay là chuyện tổ chức trong đạo, nói nôm na là giáo quyền.

Nói về mặt hành chánh, thì toà thánh Vatican (Va-ti-căn) ở Rome (La mã), nước Italy (Ý), được tổ chức như một quốc gia: Có lãnh thổ là Thành Vatican, dù bé tí tẹo. Có thủ đô là Toà Thánh Vatican. Có công dân hơn một tỷ tín hữu ở khắp thế giới. Có Tổng Thống là Đức Giáo Tông (Đức Giáo Hoàng). Có các Bộ gọi là Thánh Bộ. Có Hiến Pháp là Giáo Lý và Giáo Luật. Có Toà Đại Sứ là các Toà Khâm Sứ khắp nơi,… Người ta ví von: Vatican là một quốc gia trong một quốc gia, cũng có phần đúng về phương diện này. Tuy nhiên, Vatican là tiêu biểu của giáo quyền nhiều hơn thế quyền, và Đức Giáo Tông là vị thủ lãnh tối cao, có quyền uy tuyệt đối, mà tất cả giáo sĩ và mọi tín hữu khắp thế giới luôn tôn kính, tuân phục.

Sám Hối Phía Bên Kia Đồi


Lái xe ra khỏi cổng nhà tù, hình ảnh những giọt nước mắt sám hối của anh chị em tù nhân làm thức tỉnh lương tâm. Tôi bắt đầu những ngày mục vụ ở trại tù sau ngày chịu chức. Lòng hăng say trong những tháng ngày đầu của đời linh mục thôi thúc lên đường. Đoạn kinh thánh của Isaiah mà Chúa Giêsu cảm nhận “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” ( Luca, 4:18-19) như nói với riêng mình hôm nay để hăng say lên đường. Trong niềm hăng say, dường như có xen lẫn cả men kiêu hãnh. Tôi đến với anh chị em tù nhân với tâm tình yêu thương pha trộn thái độ của người ban ơn.

Nhà tù nằm ở một góc xa vắng, cuối bên kia chân đồi. Cây cỏ xơ xác, ngoại trừ những cách xương rồng trơ trụi. Dưới chân đồi là dãy kẽm gai lạnh buốt, sắc bén hơn cả gai xương rồng, gợi cho con người cái cảm giác của niềm đau, phân cách, và lạnh lùng. Đã nhiều năm tôi do dự không muốn đến nơi đó. Tôi thích ở gần bàn thờ có hoa, có nến, có bước chân người quen rộn rã chào đón. Rồi một chiều trời thu, tôi rời bàn thờ hoa nến và rộn rã phố phường để đi về nơi phía chân đồi ảm đạm ấy.
Thế giới của nhà tù thì nhiều người biết đến: khắc nghiệt, hung bạo, thiếu tình người, có lúc mất cả niềm hy vọng. Còn thế giới tâm hồn của những tù nhân, thì ít ai biết đến và ít ai hiểu được. Nó là khoảng riêng tư khép kín, có lỗi lầm, có nỗi buồn, có mặc cảm, và có cả nhiều giọt nước mắt sám hối.


TRỐN QUÂN DỊCH

Tui có thằng bạn thân, rất thân, nó kể chuyện trước 75: vì muốn trốn quân dịch nên nó vô chùa giả làm sư. Trong chùa, thằng “sư giả” này vì sợ ngài trụ trì, nên phải ăn lạt như mọi người, nhưng về nhà là “sư giả” quất bánh mì thịt, lấy năng lượng để đi… cua gái! Nó tu giả, chớ có tu thiệt đâu mà hỏng ăn mặn, hỏng mê gái! Tui nghĩ trong bụng: “Mày mà vô tu chỗ của tao tu, bên đạo Công Giáo (CG), mày sẽ bị đá đít ra khỏi nhà tu trong nửa nốt nhạc!”

Đây không phải là lần đầu tui nghe kể chuyện trốn quân dịch bằng cách này. Khoảng năm 1971, lớp tui có tổ chức du ngoạn, đi Bến Tre, thăm ông Đạo Dừa, ở Cồn Phụng. Ông Nguyễn Thành Nam, là giáo chủ của một tôn giáo mới, do ông thành lập. Tên chính thức của tôn giáo này khá dài, tui quên rồi. Người ta thường gọi là Đạo Dừa. Bỏ hết râu ria của chuyến đi đó, tui chỉ viết gọn câu chuyện trong vài hàng.

Có một anh “sư giả”, trẻ tuổi, làm hướng dẫn viên cho khách thập phương, giải thích đủ thứ chuyện về Đạo Dừa, về tiểu sử của giáo chủ, về chiếc phi thuyền do ông sáng chế. Đêm đêm ông “ngự” trên đó, bấm nút điện đưa ông lên cao khỏi mặt đất chừng vài chục trượng, để thiền hay cầu nguyện chi đó. Ông là dân trí thức, kỹ sư điện, tốt nghiệp từ Pháp.

Được tạo bởi Blogger.