HÃY TRẢ THIÊN CHÚA VỀ ĐÚNG CHỖ CỦA NGƯỜI


Cơn dịch bệnh kéo dài cũng đã gần hai tháng và chưa có dấu hiệu nào của sự suy giảm. Trường học đóng cửa; nhà hàng, cửa tiệm giỡ biển vì không làm ăn buôn bán được gì trong thời điểm này; các doanh nghiệp nhỏ điêu đứng, cho nhân viên nghỉ làm; ngay cả đến chủng viện, nhà dòng cũng phải cho chủng sinh, đệ tử về quê, tạm xem như nghỉ hè trước; một số nhà thờ không có Thánh Lễ….Chúng ta không biết cơn khủng hoảng này sẽ kéo dài cho đến bao giờ nhưng có một điều chúng ta không được quên, đó là: mọi điều trong cuộc sống này, dù xấu, dù tốt, dù đau khổ, dù hạnh phúc, dù ốm đau, dù mạnh khỏe, dù sống, dù chết…tất cả vẫn nằm trong bàn tay Chúa, ngay cả khi hàng ngàn anh chị em của chúng ta đã ra đi vì dịch bệnh thì họ vẫn không nằm ngoài bàn tay quan phòng của Chúa Cha.

Tôi là Cây mạ non, tôi xuất thân là một hạt thóc bé nhỏ, được bác kĩ sư nông nghiệp tuyển lựa kĩ càng trong số đông anh em. Tôi biết cuộc đời mình sang trang mới khi được cất nhắc, những bàn tay mềm mại chăm sóc tôi, nâng niu tôi để tôi thật sự khoẻ mạnh mà thi hành nhiệm vụ của mình, nhiệm vụ của một hạt giống.



Sau mỗi mùa gặt, anh em nhà thóc chúng tôi được các bác nông dân đưa vào bồ, vào hòm hay vào kho. Nhưng mỗi hạt thóc là một số phận. Có anh em oằn mình trải qua những đau đớn của những nhịp giã chày, hay những va đập xoay quay quất của máy xay xát để cởi bỏ lớp áo giáp vàng óng, những lớp màng mỏng nhẹ mong manh, trở nên những hạt gạo trắng tinh khiết. Rồi trở thành những hạt cơm thơm phức, dẻo mềm, hoà vị ngọt thanh trong những bữa cơm của từng gia đình. Những người anh em đó của tôi nhanh chóng trở thành lương thực nuôi sống con người. Còn những hạt được chọn như tôi đây là để duy trì nòi giống. Nhận nhiệm vụ cao cả sinh ra những thế hệ hạt thóc mới góp sức cho đời. Mỗi hạt thóc chúng tôi dù ở số phận nào cũng nỗ lực hết mình để dấn thân. Riêng tôi, tôi hạnh phúc khi trở thành hạt giống.

Mỗi vùng quê, mỗi nơi con người sinh sống đều gắn liền với những thứ âm thanh riêng biệt. Nếu thành phố ồn ào với tiếng xe cộ, ngoài biển rì rào tiếng sóng vỗ; Thì nơi tôi sinh ra và lớn lên - một làng Công giáo bình yên là tiếng râm ran đọc kinh của bà, của mẹ và của cả tiếng chuông nhà thờ thân quen.



Koòng... kính koòng, kính koòng... kinh, koòng... kinh... âm thanh nhẹ dần và tắt hẳn. Đúng 4h sáng, tiếng chuông nhà thờ cất lên báo hiệu ngày mới quê tôi bắt đầu. 4h là tiếng chuông báo của Thánh lễ ban sáng lúc 5h. Trong màn đêm hơi se lạnh của những ngày mưa gió, ánh đèn nhà đang lần lượt kéo nhau sáng lên và hắt ra ngoài đường qua khe cửa. Sự bình yên, tĩnh mịch vẫn còn ngoài đường nhưng trong nhà người dân đã dậy chuẩn bị đi lễ và cũng chuẩn bị cho ngày mới bắt đầu. Lác đác vài cụ già, vài ba người đi thành nhóm đến nhà thờ. Họ chào hỏi, trò chuyện, và đôi khi có tiếng hát ngân nga của ai đó vang vọng trong màn đêm. Cảm giác bình yên đến lạ thường. 4h30p tiếng chuông thứ 2 cất lên. Lúc này ngoài đường đã nhiều người hơn, họ cùng nhau rảo bước đến nhà thờ đọc kinh và tham dự thánh lễ.

Các bà, các cô

Trích: Những người xóm đạo

hình minh họa

Ở đâu có các bà thì ở đây lập tức có chuyện thị phi để mà nghe, chả biết nó chính xác đến cỡ nào nhưng nghe cái giọng kể hùng hồn của các bà coi bộ chuyện đó đáng tín lắm. Chả chuyện gì trên đời mà không thành chủ đề bàn tán của các bà, từ chuyện con Tươi với thằng Dũng ăn cơm trước kẻng, bắt tội hai ông bà Năm phải đến lạy lục cha sở làm phép tha cho chúng nó được về ở với nhau, đến chuyện ông cha xứ mình “kẹo” hết sức, con chiên ở mấy xứ kế bên được tiệc này, lễ kia, mùa Giáng Sinh ăn cỗ mệt nghỉ. Thấy mà ham. Còn xứ này, năm thì mười họa mới được ông cha vớt vát cho được bữa trà nước. Hay đơn cử như chuyện ông thầy xứ mới tuần trước trót đứng nói tếu với mấy cô sinh viên đi học trên tỉnh về cũng bị các bà liệt vào chuyện “chẳng tốt lành chi”… Thành thử, ai cũng ngại va chạm với các bà, khi không lại bị mắc tiếng oan, đến cha xứ cũng phải vị nể các bà ấy vài phần.

THẦY GIÁO, THẦY TU, THẦY THUỐC


Nhân Ngày Thầy Thuốc 27 tháng 2, xin kính gửi đến các Thầy Thuốc chân chính một bài viết về Thầy Thuốc. Tác giả cáo lỗi đã quá bận bịu, không viết được bài mới, mà chỉ tìm lại được một bài cũ viết từ năm 2005 cũng vào dịp này...

Nhiều người vẫn bảo trong xã hội Việt Nam, có 3 giới được trân trọng gọi bằng “Thầy”: Thầy Giáo, Thầy Tu và Thầy Thuốc. Tại sao vậy ? Xin thưa ai cũng có thể trả lời ngay được rằng: vì đó là những nghề cao quý, chuyên dạy người, giúp người và cứu người. “Thầy” cũng còn được hiểu là cha, là bố của ta, là đấng sinh thành cho ta làm người.


Như tựa đề bài viết nầy, tôi chỉ mong ghi lại một vài ký ức về Linh Mục PX. Nguyễn Văn Thuận luôn sinh động trong cuộc sống hằng ngày của tôi. Những ngày tháng có nêu lên trong bài có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng chắc chắn sự việc đã xảy ra, nhất là đã thực sự chi phối những bước đi của đời tôi.

Khi đề nghị tôi góp nhặt những bài nói chuyện của ngài tại Strasbourg năm 1998 để thực hiện cuốn “Niềm vui sống đạo”, Ðức Tổng Giám Mục PX. Nguyễn Văn Thuận điện thoại nhắc tôi thế nầy: “Trúc nhớ đề ở đầu sách câu nầy của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II như lời gởi gắm riêng của cha cho người trẻ Việt Nam: Thành công lớn nhất của một cuộc đời là nên thánh”.

Hôm nay, khi ngồi viết lại một vài kỷ niệm gặp gỡ Linh Mục PX. Nguyễn Văn Thuận trong đời mình, tôi thâm tín việc nầy: một người thánh, một cuộc đời đáng gọi là thánh khi ta nghĩ đến người ấy thì tự nhiên ta muốn mình trở nên tốt hơn. Và đó là kinh nghiệm của tôi khi tưởng nhớ về vị Linh Mục nầy.



Tuổi Xuân Thì



Thời gian gần đây, trên mạng xã hội đã xuất hiện một câu nói vô cùng hot, mà giới trẻ thường hay sử dụng, đó là

“Thanh xuân như một ly trà.

Ăn vài miếng bánh hết bà thanh xuân”.

Câu nói này đang dần trở thành trào lưu của cư dân mạng.Nguyên nhân là, trong tập 66 của bộ phim truyền hình “Về nhà đi con”, Ánh Dương (Bảo Hân) đã đùa vui với bố Sơn (TrungAnh) và chị Huệ (Thu Quỳnh) về việc mở một tiệm trà bánh do chị đứng tên làm quản lý. Bất ngờ, Ánh Dương ngẫu hứng nghĩ ra một câu thơ để treo trước cửa tiệm: “Thanh xuân như một ly trà. Ăn vài miếng bánh hết bà thanh xuân”. Câu thơ ấy có phần vừa hài hước, vừa dễ nhớ, khiến cho cư dân mạng một lần nghe đã phải sưu tập ngay về, để đăng tải lên mạng xã hội.

“Thanh xuân như một ly trà” nghĩa là gì?

Người Công giáo và những tập tục ngày Tết


Tin, bài liên quan:  Tết của người Công giáo

Tết là ngày lễ hội truyền thống đã có từ ngàn xưa. Ngày Tết có ý nghĩa thiêng liêng, mang đậm bản sắc dân tộc. Đã là người Việt Nam thì dù sống ở đâu, từ thành thị đến thôn quê, từ vùng đồng bằng đến vùng cao nguyên, dù ở trong nước hay đang sinh sống ở nước ngoài, dù thuộc những thành phần xã hội khác nhau, dù có chính kiến khác nhau, dù theo tín ngưỡng khác nhau… cũng đều coi Tết là một ngày trọng đại, cũng đều có chung một niềm hân hoan đón mừng ngày Tết. Tết đã đi vào tim óc mỗi một người Việt Nam.

Những người tương đối lớn tuổi đã từng sống ở miền Bắc đều rất quen thuộc với câu nói “Ba vua, lễ Nến, Tết đến sau lưng.” Theo thứ tự thời gian, sau lễ Ba vua (tức lễ Hiển Linh) đến lễ Nến (tức là lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh) rồi Tết đến ngay sau đó. Điều này cho thấy người Công giáo gắn bó với văn hoá dân tộc và sự tương quan giữa lịch đạo và lịch đời trong việc tính ngày Tết là điều dễ hiểu.

(Bức thư này được lấy cảm hứng từ Truyện ngắn Ngày mở tay, một tác phẩm của Lm Cao Gia An, S.J)

Thư gửi ba

ảnh minh họa

Ba thân mến!

Ba còn nhớ không?
Ngày xưa, mỗi đêm trước khi ngủ, không bao giờ ba quên kể cho con một câu chuyện. Chẳng phải là chuyện cổ tích, cũng chẳng phải là chuyện người ta, nhưng ba kể cho con về chuyện đời ba. Những câu chuyện đơn sơ, gần gũi, không được tô vẽ, gọt dũa ngôn từ mà hấp dẫn làm sao. Chúng dẫn đưa con vào một miền đất mênh mông của tưởng tượng. Chúng đưa con vào những giấc ngủ say sưa, mơ mộng. Và không ngờ nhất, chúng đã vẽ lên trong con một giấc mơ: giấc mơ viết tiếp giấc mơ còn dang dở!!!

NỒI BÁNH TÉT ĐÊM GIAO THỪA



Tôi sinh ra thôn A Đông, xã Duy Phú, Duy Xuyên, vùng đất sát bên tháp Chàm Mỹ Sơn một trong hai di sản văn hóa của Quảng Nam, đó là miền quê nghèo không có phù sa. Ông tôi kể cụ tiền hiền chọn vùng đất cao này để tránh lụt lội, nhưng không bị lụt lội thì không có phù sa, nên đất đai cằn cỗi. Quê hương chỗ nào đẹp thường nghèo, thiên nhiên trớ trêu như vậy, nên nơi tôi ở rất đẹp nhưng vun vồng khoai lang muốn kiếm cái củ phải tốn cả hai ba gánh bổi. Cũng may là cây năng sầm, sim, mua, đuôi diều mọc đầy dưới chân tháp, chặt về bỏ chuồng trâu rồi mang ra gò trồng khoai, trồng sắn.

Quê nghèo nhưng bù lại được vây bọc vô số huyền thoại và tôi lớn lên trong không gian huyền thoại bên nồi bánh tét. Bây giờ tôi tin một cách chắc chắn rằng “Vùng đất nghèo nhất chính là vùng đất không có một manh huyền thoại, chứ không phải vì thiếu lúa gạo”. Quê nghèo nhưng nhà nào cũng chừa ra mảnh ruộng tốt nhất để trồng vạt nếp kiếm vài ang(*) để dành tết nấu nồi bánh tét. Giá trị của nồi bánh tét không chỉ là những đòn bánh được vớt ra sau khi nấu chín mà giá trị của nó nằm ở chỗ những đứa trẻ ngồi bên ngọn lửa reo vui, mang lại không khí ấm áp của đêm trừ tịch lạnh giá, háo hức không phải chỉ là chờ đợi những đòn bánh nhỏ xíu mà người lớn gói riêng cho mình, mà háo hức bởi những câu chuyện của người lớn bên nồi bánh. Với tôi, ngày ấy, sự háo hức bởi bên ngọn lửa ấy ông tôi kể cho tôi nghe những câu chuyện, những huyền thoại về quê hương.

GIÁNG SINH VỀ TRÊN XỨ NGÀN


Nếu một lần nào đó đôi bàn chân bạn đặt đến vùng xứ ngàn này, chắc có lẽ bạn sẽ đặt câu hỏi? Tại sao được gọi 1 ngàn, rồi 7 ngàn và tận cùng là 14 ngàn. Phải chăng là 7 ngàn sẽ nhiều hơn 1 ngàn, hay 14 ngàn sẽ giàu hơn 7 ngàn. Có người nói đùa ở 7 ngàn mua gì cũng bằng 7 ngàn. Có nhiều giả thuyết nói về xứ ngàn này. Với tôi giả thuyết địa văn hóa hợp lí nhất vì do đặc điểm vùng miền Tây Nam bộ kênh rạch chằng chịt, và kinh tế tại vùng này là nghề nông. Nên việc nguồn nước vô cùng quan, bởi thế các mỗi 1km sẽ có một con kênh để dẫn vào nguồn nước, để thuận tiện cho việc ghi nhớ, người dân bản địa đã ghép từ “ngàn” vào.

Hồi bút:

GỐC HOA SỨ VÀ VỊ ĐAN SĨ GIÀ

Tưởng nhớ Thầy Duy Sinh dịp giỗ giáp năm - 29/12

.
Trong cuộc đời này, có những người bước vào và đi qua đời bạn, rồi họ ghi vào đó những ấn-tượng khiến bạn không bao giờ quên kể cả khi họ đã biệt trùng xa cách.

Hôm nay lễ giỗ một năm của thầy Duy Sinh, có lẽ hình ảnh của thầy nhiều người vẫn còn giữ đậm nét, những kỷ niệm vui buồn vẫn còn đây. Một năm rồi thầy khuất bóng nhưng chắc chắn những gì thầy để lại vẫn nguyên vẹn. Riêng tôi, dù có thêm bao nhiêu năm nữa và suốt cuộc đời vẫn không quên lần đầu tiên tôi gặp thầy. Giỗ của thầy tôi muốn gợi lại những ấn tượng tốt đẹp ấy như một lời cảm ơn chân thành thầm gởi đến vong linh người thầy đã khuất.

ảnh minh họa

Một nhà văn đã từng nói, anh có thể mang nhà thờ ra khỏi vùng đất tôi sống, nhưng không thể mang tôi ra khỏi ánh sáng của nhà thờ đã có trong trái tim tôi.


Đất nước bước vào giai đoạn mới, có những chuyện nhiều người biết, nhưng chỉ có thể nói đến vào những thời điểm thích hợp. Câu chuyện tôi kể cho các bạn đã xảy ra ở nhiều gia đình, nhiều người. Do vậy cách tiếp cận giản dị nhất là hãy bắt đầu từ gia đình tôi, từ mẹ tôi. Đó là một người phụ nữ bình dị như biết bao người phụ nữ khác ở miền Bắc. Bà mang tên thánh là Maria.

CÔ GÁI XÓM ĐẠO ĐI THOÁT LY


Mẹ tôi sinh ra trong gia đình Công giáo ở Hà Nội. Ông ngoại tôi là người Tây học, nói thạo tiếng Pháp và là một trong số những người ít ỏi đầu tiên ở Việt Nam hành nghề nhiếp ảnh. Số phận đưa đẩy ông ngoại tôi phiêu bạt về một tỉnh miền Trung du. Ở đây mẹ tôi gặp cha tôi và từ đó bà bắt đầu một sống thăng trầm theo gia đình nhà chồng.

Cha tôi là con trưởng. Mẹ tôi về làm dâu, ở cùng cha mẹ chồng. Ông nội tôi là một người biết làm ăn nên có chút khá giả. Cũng như những thanh niên khác thời đó, cha mẹ tôi tham gia công việc nhà nước, cha tôi đi bộ đội, mẹ tôi tham gia vào đoàn thể như Hội Phụ nữ xã – huyện, Dân công, Bình dân học vụ.

ĐÔI DÉP CỦA CHA

ảnh minh họa


Trong đời sống gia đình, có những lúc như đi vào ngõ cụt. Nghèo đói khổ cực làm cho con người phải nghi ngờ Thiên Chúa và đôi khi đánh mất niềm tin. Một chút chia sẻ sau đây như một lời mời gọi, nhắc nhở và xác tín hơn vào tình yêu của Thiên Chúa khi phải đối diện với những khó khăn trong cuộc sống.

Nghèo đói cơ cực dường như luôn quanh quẩn trong nhà Mai, từ lúc Mai bắt đầu vào mẫu giáo cái nghèo đã bám chặt lấy Mai. Nhà nghèo, mẹ mất sớm vì căn bệnh ung thư phổi. Một mình gà trống nuôi con, cha quyết định ở vậy để nuôi con khôn lớn nên người. Chiếc xích lô là bạn đồng hành cùng cha mãi sáng sớm đến khi chiều về, lưng cha ước đẫm mồ hôi, cái quần cũ rách với đôi dép lào mẹ mua đã 3 năm giờ chỉ còn hai chiếc quai để làm điểm tựa cho đôi chân, cái nón lá tả tơi che nắng che mưa cho cha giờ cũng chỉ còn cái sườn. Nhìn cha mỗi khi chiều về lòng Mai quặn thắt. 

Đối với cha lúc này Mai là tài sản quý nhất, cha không ngại khó khăn vất vả, ngày đêm luôn kiếm tiền để nuôi Mai ăn học nên người mong sao thoát cảnh cơ cực này. Ngày qua ngày, những tấm giấy khen của cô con gái xinh đẹp đã dán kín cả bức tường bằng vách đất cũ kĩ dưới bàn thờ. Mỗi khi làm về nhìn con ngày càng lớn lên, khôn ngoan, học giỏi, lòng cha tràn ngập niềm vui và hạnh phúc, nước mắt cuộn tròn lăn trên gò má đầy xương sóc ấy.

CHUYỆN XỨ ĐẠO

Giáo xứ tôi có một bà gần 70 tuổi là đạo mới, người chồng tuy chưa học đạo, nhưng thỉnh thoảng cũng đến nhà thờ dự lễ. Gia đình họ có 2 người con, một trai và một gái. Người con trai là kỹ sư điện lạnh, người con gái là giáo viên, cả 2 cùng làm việc, sống xa nhà.

Chuyện vợ chồng thì ở đâu cũng thế, lắm lúc cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt là chuyện bình thường. Bà này có tính cách khác với nhiều phụ nữ Nhật Bản, đó là ít mềm dẻo, ngọt ngào, không nịnh hót và dám nói thẳng, nói thật bất luận người đó là ai.

Khi về hưu rồi, vợ chồng có nhiều thời gian ở bên nhau hơn, nhưng số lần cãi nhau cũng nhiều hơn. Có lúc bà ấy không chịu nỗi, đành ôm tài sản, cuốn gói “đi bụi” coi công viên là nhà. Đến lúc tiêu xài hết tiền, thì xin vào Chùa nấu cơm và mong tìm cuộc sống thanh tịnh. Nhưng vì tính cách thẳng thắn, sau vài lần cãi nhau với Thầy Chùa, bà lại xách gói về nhà ở với chồng.

Đời sống vợ chồng cũng chẳng mặn nồng cho lắm, nên ngoài việc đi mua sắm, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, bà không đến nhà thờ và cũng chẳng đi đâu, ít giao lưu với bạn bè, vì mặc cảm, sợ người ta chê cười, nên lúc nào cũng ủ rũ, buồn phiền, ốm đau triền miên.

NHỮNG NGƯỜI THẦY THỜI ĐẠI NÀY HIẾM CÓ


1. 

Ngày ấy Cha còn là thầy giáo dạy học phổ thông. Cha thương yêu học trò như con cái. Nhưng cha nghèo, nghèo đến nỗi trong túi chẳng bao giờ có tiền. Một hôm, một bạn về quê, chuyển trường, đến chào Cha. Cha chẳng có gì cho bạn ấy. Nhìn quanh một lúc, Cha tháo chiếc đồng hồ đang đeo đưa cho bạn ấy và nói: "Con hãy bán lấy tiền đi xe". Bây giờ Cha là giáo sư Kinh Thánh. Cha giáo của mình và cũng là của nhiều Giáo lý viên học tại cơ sở Tân Hương.

CHUYỆN HỌC TRÒ

Tặng thầy cô giáo nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11.2016



1.”TRƯỜNG SƠN ĐÔNG NẮNG TÂY MƯA…”


Đề thi Tú Tài môn Văn năm ấy có câu hỏi:

“Trường Sơn đông nắng tây mưa
Ai chưa đến đó thì chưa rõ mình”

Hai câu thơ này của ai, trong tập thơ nào?

Cô học trò ngồi cắn bút căng mắt nhìn đề. Trong năm học, cô có nghe thầy nói loáng thoáng, nhưng lơ đễnh không ghi nhớ.

CÂU CHUYỆN TỪ CHIẾC GIỎ TRÊN GÁC ĐÀN (*)



Chúng tôi là ca viên ca đoàn ở một giáo xứ thuộc TGP Sài Gòn, tổ chức đi chơi biển Phan Thiết. Chuyện không vui chẳng ai cầu, ai muốn: trời mưa bão. May mắn, có một người trong chúng tôi quen biết một ca viên ở Giáo xứ nhà quê nọ…cách Phan Thiết hơn 30 cây số.

-Thôi thì mời anh em về nhà mình đi nhé. Khách sạn ngàn sao!

Thế là chúng tôi về đến nhà anh chiều thứ 7. Ăn tối trong mưa nhưng món nào cũng ngon, bởi vui, và căn nhà bống ấm. Hẳn là sức ấm của chúng tôi không đủ làm ngưng gió, làm thôi mưa bão lạnh lùng ngoài kia, nhưng không hiểu sao, mưa bỗng nhẹ dần, gió dịu lại hơn.

Một đêm yên ả sau những ồn ả của chúng tôi ca đoàn thành phố và và một số ca viên thôn quê gặp nhau.

BỐ MARTIN


-------
P/s: Nhân lễ Chúa Chiên Lành - Cầu cho Ơn Thiên Triệu, xin được đăng lại bài viết trước đây gửi đến các bạn đang muốn sống đời dâng hiến. Không phải để khoe khoang bản thân, nhưng hy vọng qua chính những trải nghiệm cá nhân của tôi sẽ góp phần khơi dậy ước mơ sống đời dâng hiến của nhiều bạn trẻ ngày nay.

Tôi sinh ra trong một gia đình có đến 11 người con. Trong đó 10 người là gái, và chỉ có mình tôi là trai. Má tôi kể, ngày đó sau khi đã sinh được 9 cô con gái, má tiếp tục có bầu tôi, đứa thứ 10. Dĩ nhiên ba má tôi rất mong ước sẽ có một thằng con trai, gọi là nối dõi tông đường. Nghe người ta khuyên nhủ, má tôi đến đền thánh Martin – Hố Nai để xin một đứa con trai. Chẳng biết lời cầu nguyện của bà khẩn thiết đến mức nào mà sau bao nhiêu năm chờ đợi và hy vọng, cuối cùng tôi cất tiếng khóc chào đời. Tôi chắc rằng, tiếng khóc của tôi là tiếng cười của ba má và các chị.

Má tôi kể rằng ngày đó bà xin thánh Martin cho một đứa con trai, và bà sẽ nuôi đến năm 18 tuổi sẽ trả nó về lại cho ông vì nó là con của ông. Và nếu ông thương ban cho đứa con thì ông làm dấu trên người để bà biết. Thế là tôi được sinh ra đã có dấu trên người, hai bên dái tai là hai lỗ đã được xỏ từ trong bụng mẹ. Má tôi tin chắc rằng tôi có mặt trên đời là ân ban của thánh Martin.

Bà mua một tượng thánh Martin đặt trên bàn thờ và ngày ngày đọc kinh tạ ơn ông. Thế rồi tôi lớn lên trong tâm thức ấy, tâm thức là con của thánh Martin. Mỗi năm, đến ngày 3/11 má tôi lại làm lễ bổn mạng cho tôi. Cả nhà, không một chị nào được như thế cả.

Thế nhưng, từ nhỏ, lúc nào tôi cũng yếu ớt, xanh xao. Chứng đau đầu luôn hành hạ tôi ngay từ khi còn bé. Chính căn bệnh này mà từ nhỏ đến lớn tôi không bao giờ được khỏe mạnh như bao đứa trẻ khác.

Tôi còn nhớ, từ khi còn rất nhỏ, tôi đã không có bất kỳ một quyến luyến nào với gia đình. Có lần tôi đã trốn bỏ nhà đi. Lúc đó chẳng biết động lực nào xui khiến tôi lại đi lên đền thánh Martin. Chỉ muốn ở lại luôn trên đó. Nhưng vì còn quá nhỏ, đường lại xa, chưa tới nơi tôi đã khóc và quay trở về. Kể từ đó trở đi, gia đình luôn là một điều gì đó xa lạ với tôi. Chẳng bao giờ tôi nói chuyện hay tâm sự chuyện gì cùng cha mẹ và các chị. Sống trong gia đình mà tôi luôn cảm thấy lạc lõng.

Vào dịp lễ thánh Martin năm tôi tròn 18 tuổi, cũng như mọi năm, má tổ chức tiệc bổn mạng cho tôi. Sau khi bạn bè đến chung vui với tôi, má lên nhà trên thì phát hiện tượng thánh Martin mua 18 năm trước đã rơi xuống đất và bể nát tan tành. Bà ngồi xuống và khóc rất nhiều. Bà nói thánh Martin đòi tôi lại…

Thế là chuyện gì đến cũng đến, tình cảm của mọi người trong gia đình không đủ để ngăn cản tôi. Tôi bắt đầu rời gia đình và đi tu từ ngày ấy.

Ngày chia tay ba má để vào Dòng, em gái tôi ôm tôi mà khóc, nói anh đừng đi, còn má thì nép sau cánh cửa nói vọng ra: Con đừng cản, cứ để anh con đi! Tôi biết bà không dám ra tiễn tôi đi, tôi biết bà đã khóc…và bà luôn khóc vì nhớ tôi suốt mười mấy năm qua.

Hơn 15 năm theo ơn gọi dâng hiến, tôi lúc nào cũng yếu ớt, căn bệnh đau đầu tiếp tục hành hạ tôi. Sức khỏe suy kém có những lúc liệt giường cả tháng. Vậy mà chẳng bao giờ các cha đặt vấn đề về ơn gọi của tôi… Càng đi tu, tôi càng khám phá hơn về bản thân mình. Quả thật, cuộc đời tôi luôn có sự can thiệp rất rõ ràng của thánh Martin. Qua từng giai đoạn đào tạo, tôi “trót lọt”. Trước những biến cố lớn nhỏ, tôi thường lên đền Martin Hố Nai để viếng ngài. Tôi gọi ngài bằng bố. Tôi luôn có sự thân thương với ngài. Rồi khóc lóc ỉ ôi. Bố ơi thế này, bố ơi thế kia…

Thế là tôi trở thành linh mục. Nhiều người ngỡ ngàng, bản thân tôi cũng không tin điều đó…Ngày tôi chịu chức, mọi người khen má tôi khéo đẻ con. Có một thằng con trai mà cũng dâng cho Chúa…Nhưng với tôi, được trở thành linh mục là do bố Martin dắt tay tôi, nâng bước tôi lên bàn thánh. Từ ngày chịu chức đến nay, sức khỏe của tôi cải thiện rõ rệt. Ai cũng công nhận điều đó. Nhưng với tôi, tất cả những gì đã, đang và sẽ đến, đều có sự đồng hành của Bố Martin.

Mừng lễ quan thầy năm nay, tôi cảm thấy chưa bao giờ mình hạnh phúc đến thế. Bởi ba má vẫn còn sống để “hưởng hoa trái” mà ông bà đã cầu khẩn mấy chục năm nay. Nhưng xen lẫn niềm vui là nỗi buồn. Sợ rằng, một ngày nào đó, ba má về với Chúa, thì ai sẽ là người kể lại cho tôi nghe những câu chuyện ly kỳ về thánh Martin và cuộc đời tôi, về những ước ao, hy vọng của ba má…

Sáng nay, má gọi điện, bảo ngày 3/11 này con về nhà, mời thêm các cha các thầy về đây, mà muốn tự tay nấu cho con một bữa cơm, mừng bổn mạng con, má sợ năm sau má không còn sống để tổ chức lễ bổn mạng cho con nữa…Đặt điện thoại xuống, mà sao tâm trí tôi bồi hồi…Sóng sánh nụ cười, xốn xang lồng ngực.

Mừng lễ bổn mạng, tạ ơn Chúa đã cho con được làm con Chúa, con của thánh Martin và là con của ba má…

Chiều 2/11/2018
Lm. Mar – Aug Bùi Văn Hồng Phúc, SSS

Tiếng Mỹ và tiếng Việt



Tôi tình cờ quen một anh bạn Mỹ, người Mỹ chính cống, mắt xanh mũi lõ, tên Johnson William, quê ở bang Ohio của xứ Cờ Hoa nhưng Johnson đã hơn 16 năm sinh sống ở Việt Nam, nghiên cứu về dân tộc học Ðông Nam Á, nói tiếng Việt thông thạo, phát âm theo giọng Hà Nội khá rõ, hắn học tiếng ở Ðại học Ngoại ngữ Hà Nội rồi làm Master of Art về văn hóa xã hội Việt Nam ở học Khoa học Tự nhiên Sài gòn, rành lịch sử Việt Nam, thuộc nhiều câu thơ lục bát trong truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Ðồ Chiểu. 
Johnson ăn mặc xuềnh xoàng, cái đầu rối bù, chân mang một đôi giày bata cũ mèm, lưng quảy một ba lô lếch thếch, sẵn sàng ăn uống nhồm nhoàm ngoài vỉa hè. Johnson có thể quanh năm suốt tháng ăn cơm với chuối thay cho bánh mì và phomát, xịt nước tương vào chén rồi cứ thế mà khua đũa lùa cơm vào miệng. Ðối với Johnson, thịt rùa, rắn, ếch, nhái, chuột đồng, … hắn xơi ngon lành. Bún riêu là món khoái khẩu của Johnson, hắn còn biết thèm hột vịt lộn ăn với rau răm chấm muối tiêu chanh. Ai có mời đi chén thịt cầy với mắm tôm, Johnson chẳng ngần ngại mà còn biết vỗ đùi đánh cái phét khen rượu đế mà nhắm với thịt chó ngon “thần sầu quỉ khốc” !!! Chẳng biết Johnson khéo tán tỉnh thế nào (hoặc bị tán) mà vớ được một cô bé Hà thành tóc “đờ-mi gác-xông”, sinh viên ngành văn chương hẳn hoi. Ngày cưới, Johnson vận áo dài khăn đóng, dâng trầu cau và quì lạy bàn thờ tổ tiên nhà gái thành thạo làm đám thanh niên, thiếu nữ, cả lũ con nít và mấy ông cụ ông, cụ bà trong làng suýt xoa, kinh ngạc, xúm đen xúm đỏ coi muốn sập nhà.
Được tạo bởi Blogger.