Chiếc ghế cuối nhà thờ…


Mình còn nhớ trước ngày chịu chức linh mục, cha linh hướng của mình dạy rằng, “sau khi con chịu chức, con đừng quên chiếc ghế phía cuối nhà thờ mà thỉnh thoảng con vẫn ngồi… hãy quay lại ngồi vào chiếc ghế đó một vài lần trong tháng trước giờ lễ.” Mãi về sau mình mới hiểu sự sâu sắc của lời khuyên đó.

Sau ngày chịu chức, các linh mục của Chúa được ngồi trên cung thánh, mọi người đều hướng về linh mục, và người linh mục trở thành trọng tâm của tất cả sự chú ý. Vị trí ngồi trên cung thánh nói lên vai trò của người linh mục, là người mục tử dẫn dắt cộng đoàn, cử hành phụng vụ dâng lên Chúa.

Tuy nhiên, đó cũng là vị trí ẩn đầy cám dỗ và nguy hiểm. Một khi ngồi ở vị trí trên cùng, người ta dễ xa cách người khác vì vị trí cao trọng của mình, đôi khi người ta làm mọi sự để bám lấy vị trí đó, và nghĩ rằng ở bất cứ nơi đâu mình cũng phải được ngồi trên cùng, phải được chú ý, phải là người quan trọng nhất.

TIẾNG ĐÀN MANG NGỌN LỬA TRÁI TIM

hình minh họa

- Thủy ơi, nhà anh bị cúp điện, trống vắng quá, anh đến nhà Thủy chơi đàn được không?
Đó là cú phone của anh Nghĩa, người bạn khiếm thị cụt một bàn tay mà tôi đã kể trong CHUYỆN NGƯỜI MÙ DẮT NGƯỜI MÙ, tôi trả lời phone:
- Được chứ , em sẵn sàng nghe anh đàn, có người chơi đàn miễn phí cho mình càng vui chứ sao!

Một lát sau, anh đã đến nhà tôi với một cây đàn guitar trên vai. Tôi ngồi nghe anh đàn trong lòng rất cảm động, tiếng đàn của anh còn thô sơ lắm. Tôi chẳng biết gì về nghệ thuật chơi đàn mà vẫn nhận ra được những lỗi nhạc trong tiếng đàn của anh, nhưng tôi thấy trong đó là cả một sự cố gắng vượt bậc. Anh nói:


Em thân mến,

Tôi cảm động và ngững mộ khi nghe công việc em đang làm. Là người nữ mới 17 tuổi, em tình nguyện tham gia nhóm Bảo Vệ Sự Sống tại Giáo Phận Vinh. Cùng với các anh chị lớn, em thu gom các thai nhi từ bệnh viện hoặc những trung tâm phá thai về chôn cất.

Công việc ấy không dễ chút nào. Nó đòi hỏi nơi em tình yêu dành cho những em nhỏ xấu số không được mở mắt chào đời. Ngoài ra, việc thu gom xác thai nhi ấy cũng tốn nhiều thời gian, nhất là khi em đang còn đi học. Bởi đó nhiều lần người thân và bạn bè khuyên em không nên tiếp tục. Tình yêu đã thúc đẩy em dấn thân đến nhặt từng xác thai nhi đưa về nơi an nghỉ cuối cùng.

Em chia sẻ nhóm thường đi thu gom xác vào chiều tối. Có ngày nhóm gom được 20 đến 30 xác tại một bệnh viện. Mỗi người nhận một số xác để lau chùi và cất giữ các thai nhi trong tủ lạnh. Thường cuối tuần nhóm sẽ di chuyển thi hài ấy đến nghĩa trang dành cho các thai nhi. Nơi đây, số ngôi mộ của các thai nhi đã lên tới con số mấy ngàn. Cứ thế, công việc của em ngày này qua tháng nọ thật âm thầm và ý nghĩa.

Cuối Tuần Vụn Vặt Suy Tư:


1. Khu Lương dân có người mới qua đời.

Và theo truyền thống tốt đẹp, cha xứ ban hành giáo, cụ thể ban Loan báo Tin mừng sẽ đến nhà hiếu chia buồn, cúng phiếu, xin thắp nén nhang và cầu nguyện cho người quá cố sớm hưởng cõi phúc vĩnh hằng.

Một người đàn bà nhỏ thó, khắc khổ chừng 60 tuổi có hơn, mặc áo xô… ra tiếp. Chị là con gái người quá cố và cho biết Bà cụ thọ 81 tuổi.


Khi đến trước linh cữu, tớ… sững người một chút: Di ảnh đặt trên quan tài trẻ măng, trông đài các, đẹp (nếu không biết trước người quá cố là Bà cụ 81 tuổi, chắc sẽ lầm một thiếu phụ trẻ đang nằm an nghỉ trong quan tài).

CHA HIỆP


30 năm trước tôi đến gặp Cha để xin theo đạo. Người hỏi: Vì sao con lại muốn trở thành người Công giáo? Tôi thành thật: ”Người yêu con là người Công giáo và con sẽ cưới cô ấy!”

Không như nhiều linh mục khác không mấy thiện cảm với những người theo đạo cưới vợ. Ngài hiền hoà nhìn tôi và nói: “Ai gõ sẽ mở, ai tìm sẽ thấy!” Ngài mời tôi vào phòng và suốt buổi chiều hôm ấy tôi và Ngài đàm đạo về Kinh Thánh, về thơ văn. Tôi khâm phục sự uyên bác của Ngài. Ngài cũng quý mến tình yêu nồng nhiệt của tôi dành cho Thiên Chúa!

CHÚA ĐÃ GỌI TÔI SAU ĐUÔI MỘT ĐÀN BÒ


Tôi nhớ khoảng năm 1990 khi tôi về Quy Nhơn để dự lễ phong chức cho một người bạn, bây giờ người đó là Giám Mục Quy Nhơn, Đức Cha Mátthêô Nguyễn Văn Khôi, cha Gioan Phêrô Võ Tá Khánh đã làm một bài phỏng vấn được ghi băng để tặng cho cha mới.

Cha Võ Tá Khánh hỏi tôi: "Cha Đông làm Linh Mục bao nhiêu năm rồi? Cha có bao giờ hối hận vì cha đã làm Linh Mục không?"
Tôi đã trả lời: "Tôi chưa bao giờ hối hận vì tôi đã là Linh Mục của Chúa Giêsu, nhưng tôi có hối hận một điều là tôi đã làm Linh Mục chưa xứng đáng."

Có một lần tôi về Buôn Ma Thuột dự lễ mừng 25 năm Linh Mục của cha Augustinô Hoàng Đức Toàn. Đầu Thánh Lễ, ngài chia sẻ một câu mà tôi rất tâm đắc: "Hôm nay con dâng lễ tạ ơn Chúa vì Chúa đã kêu gọi con làm Linh Mục được 25 năm, và con cũng xin tạ tội với Chúa vì những thiếu sót của đời con trong 25 năm làm Linh Mục."

Tôi cũng thế, tôi luôn luôn cảm ơn Chúa vì Chúa đã thương cho tôi làm Linh Mục của Ngài. Khi tôi chịu chức Sáu thì lớp tôi (lớp học ở Dòng Phanxicô) chỉ có một mình tôi làm Linh Mục, có một người bạn của tôi tới dự lễ, nói với tôi: "Lớp mình chỉ còn có một mình mày, thôi mày ráng mày tu chớ mày ra nữa là không còn đứa nào..."

Tôi không đồng ý chữ "ráng" đó, tôi mới nói với người bạn: "Đi tu mà ráng? Ráng cả đời làm sao mà ráng được chớ? Vợ mày nó đẻ, mày nói em ráng một chút. ráng một chút thì được chớ làm sao ráng cả đời được?"

DUYÊN PHẬN


Lâu rồi không liên lạc với H, sẵn có chút thời gian, tôi cầm máy Alo cho H...

- H đang ở bệnh viện à, H bệnh gì?
- Không, em không đau bệnh gì cả. Em đang nuôi một sản phụ. 
- Nuôi sản phụ là sao mình không hiểu?

H, không nói gì thêm mà chuyển cho tôi mấy tấm ảnh. Ảnh của một cô bé tên Kim Anh tuổi trạc đôi mươi ngồi cạnh đứa trẻ sơ sinh. Đứa bé kháu khỉnh tròn xoe đôi mắt nhìn mẹ nó thật hạnh phúc. Đứa trẻ vừa ra khỏi cái tăm tối của dạ mẹ hạnh phúc được nâng niu trong vòng tay ấm áp. Không biết nó có nhận ra người cưu mang mình là một thiếu nữ mà theo trực giác qua tấm ảnh tôi cho rằng “Kim Anh là một cô bé không được tinh khôi” như bao thiếu nữ khác.

Tôi lại hỏi H: 
- Sao lại có chuyện này? Cô bé đó là ai và sao H lại nuôi nó?
- Chuyện khá dài chị à!!!

Cha mẹ em mất sớm, em ở với Dì. Nhưng với thời gian không hiểu sao em lại trở thành đứa trẻ lang thang không cửa không nhà, rồi bị người ta gạ tình, bán sang TQ. Sang đó mấy tháng, em không sống được nên đã tìm đường trốn thoát, nhờ mấy công an biên giới giúp em theo đường bộ trở về quê hương. Về đến quê hương VN em lại tìm nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Em mượn mái hiên chợ Ghềnh Ráng làm nhà, kiếm sống hằng ngày nhờ đi nhặt ve chai quanh phố biển.

hình minh họa

Những mái nhà tan nát của những năm chiến tranh xưa rất xưa, thế hệ con cháu hôm nay làm sao hình dung nổi: khi những con đường chỉ là những bờ ruộng lớn, những ngôi nhà tranh vách đất nghiêng ngả; người nông dân bấy giờ một nắng hai sương trong cảnh loạn lạc, vừa làm vừa chạy giặc, làm cật lực mà vẫn không thoát khỏi đói rách. Trong cảnh nghèo khó, có một gia đình đang ấm êm, đói no gian khổ có nhau, thì vào một đêm tối trời, ngọn lửa oan nghiệt đã thiêu rụi căn nhà cùng với vợ con, sót lại mỗi người chồng tay trắng, cô đơn, lang bạt. Thế nhưng khi bước chân con người trở nên vô định thì từ trời cao, Thiên Chúa đã dọn sẵn cho người chốn nương thân. Anh cứ đi, để cuối cùng dừng bước ngay cổng nhà thờ. Nơi đây Hội Thánh dang rộng vòng tay đón anh, cha xứ đã cho anh ở lại nhà thờ để lo kéo chuông và chăm sóc sân vườn.

Bàn tay Chúa hiển hiện khi anh cúi đầu lãnh nhận bí tích rửa tội. Thiên Chúa đã chờ đợi anh ngay nơi dòng nước thanh tẩy để ấp ủ anh trong tình yêu ngàn đời, để từ đây, anh có làm gì hay đi bất cứ nơi đâu, thì cũng không ngoài vòng tay Thiên Chúa.

Thế rồi một ngày, các anh em họ hàng đến bắt anh phải về lại làng để cưới vợ sinh con cho dòng tộc. Và bước chân lưu lạc năm nào nay đã có gia đình, sinh được một cậu con trai và 1 cô con gái. Đây cũng là gia đình công giáo đầu tiên của làng. Lòng tốt bén rễ và lan tỏa, từ mái nhà của anh, ngôi làng lương dân đã trở thành xóm đạo với 40 gia đình. Suốt những năm đói khát, cha xứ Bắc Ninh bấy giờ là cha Tân, người I-Pha-Nho thường cho người đem gạo tới phụ giúp bà con.

ĐỜI NGƯỜI VẮN VỎI
TÔI RONG CHƠI GIỮA ĐỜI BIẾT ĐÂU NGUỒN CỘI – Kỳ 2

Cha Đông trong Lễ ra mắt Ban Bác ái Xã hội - Caritas Giáo phận Kontum

Ở Đà Lạt có hai nhà Chủng Viện Kontum (vì lúc đó tỉnh Kontum bị chiến tranh), một nhà gọi là Chủng Viện Kontum Anh (CVK anh), học cấp III, các chủng sinh đi học ở trường Adran, còn một nhà nữa gọi là Chủng Viện Kontum Em (CVK em) dành cho chủng sinh cấp II. Nhà này Đức Cha mượn của Dòng Chúa Cứu Thế, ở đồi Tùng Lâm, Đà Lạt. Hai ngôi nhà này bây giờ Nhà Nước sử dụng hết rồi. Thế rồi Đức Cha sai tôi qua ở bên nhà CVK anh để dạy học, làm quản lý, làm linh hướng bởi vì trong nhà có mười một giáo sư nhưng chỉ có hai giáo sư là người Việt mà thôi.

Tôi ở đó cho đến năm 1975 thì đất nước xảy ra biến cố lớn, mọi người đều di tản, Chủng Viện của chúng tôi cũng bị giải tán chạy về Sàigòn.

Tháng 5 năm 1975 lúc tôi đang phục vụ ở Giáo Xứ Thị Nghè thì Đức Cha nhắn với tôi: "Cha về ngay Kontum, đừng có ghé Đà Lạt nữa."

Ngày 19 tháng 5 năm 1975 tôi về tới Kontum, Đức Cha rất vui mừng khi gặp tôi và Ngài bảo: "Cha hãy chờ ở đây và chúng ta sẽ tìm cách gom anh em mình lại."

Năm 1972, Chủng Viện Kontum bị hư hại nặng, nhưng trong 3 năm, từ năm 1972-1975, Đức Cha đã cho tu sửa lại rất đẹp như chúng ta thấy bây giờ, Ngài quyết định sẽ mở Đại Chủng Viện tại Kontum.

Khoảng tháng 8 năm 1975, cha Giuse Bùi Đức Vượng lên làm cha Bề Trên của Chủng Viện, còn tôi thì vừa làm quản lý vừa dạy môn Kinh Thánh, có thêm cha Giuse Hiệu, cha Luca Bùi Thủ, cha Phanxicô Phạm Hữu Thế làm giáo sư, dĩ nhiên là có Đức Cha Alexis Phạm Văn Lộc... Chúng tôi cùng làm việc với nhau và rất yêu thương nhau. Tôi biết cái gì tôi dạy cái đó, và các vị khác có lẽ cũng như thế!

Anh em chủng sinh học mỗi ngày một buổi, thời gian còn lại thì đi làm mướn, làm cỏ lúa, làm cỏ đậu phộng và làm bất cứ cái gì có thể làm được...

Tháng 8 năm 1976 thì Chủng Viện bị đóng cửa hoàn toàn nên không còn một chủng sinh nào, và vì thế mà tôi bắt đầu làm quản lý ở Tòa Giám Mục.

Quản lý thời bấy giờ thì chỉ có nuôi heo, nuôi bò bán nghĩa vụ cho Nhà Nước, rồi làm ruộng, làm rẫy... Những năm đó là những năm vất vả, ăn cơm lúc nào cũng có ghé (độn) mì. Cho nên chúng tôi thấy những ngày, những năm tháng đó đúng là: Những ngày buồn nghĩ lại thấy vui vui. Mình thiếu thốn nhưng mình thấy trong lòng rất vui.

Cứ như thế cho đến năm 1983 thì tôi bị kiệt sức. Tôi đã khóc rất nhiều khi có lệnh phải giải tán Chủng Viện Kontum. Trước đó mấy ngày thì Cha giám đốc Chủng Viện bị bắt, tôi có cảm giác chới với, hụt hẫng như mình bị mất đi cái gì quý giá nhất. Trong nhà có 70 chủng sinh, điều làm cho tôi lo lắng là tiền cho các chủng sinh làm lộ phí đi về cũng không có. Tôi tự hỏi: "Không biết ý Chúa như thế nào" ? Anh em chủng sinh đều ở xa, nào là Buôn Ma Thuột, nào là Nha Trang, rồi Sàigòn...

Nhưng bây giờ nghĩ lại thì tôi thấy rằng Chúa đã sắp xếp hết mọi việc: khi Giáo Dân người này dấm dúi cho ít tiền, người khác cũng dấm dúi cho ít tiền, cuối cùng thì cũng giải quyết được việc cho các anh em chủng sinh về. Một số anh em ra nước ngoài và sau này trong số anh em đó, có những người đã trở thành Linh Mục như: cha Tiến ở Đài Loan, cha Lê Văn Thắng ở Hồng Kông, cha Thạch ở Mỹ, cha Giảng và cha Đích ở Singapor, cha Hải ở Australia, cha Thân ở Canada... Một số anh em khác thì về nhập Địa Phận nơi địa phương của mình. Cuối cùng ở lại Chủng Viện có cha Hiệu và tôi, còn có 8 con bò, nhiều con heo, một chuồng thỏ, mấy bầy gà, ngỗng, vịt nữa, rồi lại có một vườn rau xanh... như vậy mới thấy được là các thầy đã làm việc rất siêng năng và giỏi giang.

Địa Phận Kontum chúng tôi không có nhiều ơn gọi như các Địa Phận khác. Lý do: Kontum chúng tôi là một Địa Phận mà đa số Giáo Dân là người thuộc các sắc tộc thiểu số, không có điều kiện học hành như mọi người. Hiện bây giờ thì Địa Phận Kontum có khoảng gần 250.000 Giáo Dân, Linh Mục chúng tôi thì chỉ trên dưới 70 người. Trong khi Địa Phận Huế trên dưới 70.000 Giáo Dân thôi mà đã có cả trăm Linh Mục. Địa Phận Qui Nhơn cũng thế, khoảng 70.000 Giáo Dân mà cũng có cả trăm Linh Mục.

Chúng tôi có gần 250.000 Giáo Dân, và trong 26 Địa Phận ở Việt Nam thì Giáo Dân người dân tộc là đông nhất, với khoảng 150.000 người, lại có 7 thứ tiếng khác nhau, và vì thế mà công việc của các Linh Mục trong Giáo Phận rất vất vả và gặp nhiều khó khăn. Các Linh Mục phải học các thứ tiếng dân tộc, cũng có Linh Mục học được vài thứ tiếng, thế nên việc thuyên chuyển Linh Mục từ vùng này sang vùng khác cũng là một vấn đề không mấy dễ dàng đối với các Linh Mục trong Địa Phận Kontum.
Một thánh lễ của anh em dân tộc Kon Tum

Người Kinh trong Địa Phận chúng tôi có không tới 90.000 người, nhưng mà nói đủ thứ giọng: từ giọng Bắc, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định... trong Nhà Thờ người Kinh không thôi cũng đã khó đọc kinh chung với nhau rồi, nếu người Bắc xướng kinh thì người Quảng Ngãi chịu thua, mà người Quảng Ngãi xướng kinh thì người Bắc cũng không đọc được, cho nên chúng tôi cũng khá vất vả trong vấn đề mục vụ và luôn cả vấn đề Phụng Vụ.

Một cuốn lịch mà đưa về Quy Nhơn thì chỉ việc bán cho Giáo Dân, còn ở Kontum thì chúng tôi phải dịch ra tiếng Bahnar, rồi tiếng Jarai v.v... Đó là cả một sự cố gắng của Địa Phận Kontum. Kể từ năm 1975, thì chúng tôi bắt đầu cảm thấy thật khó khăn, nhưng dần dà thì Nhà Nước cũng có phần nào đổi mới về các chính sách đối với các tôn giáo. Có một Linh Mục đã chia sẻ: "Thời bao cấp thì làm việc khỏe hơn nhiều, bởi vì không được đi làm Lễ và ban các phép Bí Tích!”

Những năm tôi làm quản lý Tòa Giám Mục, ở đây thiếu thốn về mọi mặt. Thời kỳ còn ở Chủng Viện, từ năm 1975-1976, có 70 chủng sinh nhưng lại không có một hột lúa, hay một viên thuốc nào. Mọi người đều phải đi làm thuê làm mướn. Tôi nhớ có một lần chúng tôi đi làm mướn, người ta trả công cho chúng tôi một bao đậu phộng. Số đậu phộng đó nếu như tôi là người biết tính toán một chút – vì tôi là quản lý Chủng Viện mà – thì tôi sẽ bảo đem phơi khô rồi làm muối đậu phộng để dành trong nhà ăn từ từ cho nó đỡ, bởi vì chúng tôi ăn uống rất là thiếu thốn kham khổ, nào là ăn các thứ rau tập tàng, rồi mắm... còn nước mắm thì pha thêm nước muối vào, nếu nhỏ lên bàn một giọt nước mắm đó, đến chiều nó lại thành một giọt muối.

Không hiểu sao hôm đó tôi thèm ăn đậu phộng luộc quá chừng, cho nên tôi nói với thầy quản lý: "Thôi, mình đừng có nấu cơm, mình luộc hết đậu phộng rồi cho mỗi bàn một thố."

Chiều hôm đó chúng tôi ăn toàn là đậu phộng luộc... Trời ơi! Sao mà nó ngon thật là ngon, ai cũng ăn sạch bách luôn. Nhưng tôi lại không biết một điều là: vì lâu ngày (tôi nhớ đó là tháng 9 năm 1975) không có chất béo trong ruột cho nên tối hôm đó tự nhiên tôi cảm thấy đau bụng hết sức, còn muốn đi tiêu nữa... Tôi chạy ngay xuống nhà tiêu thì... Trời ơi! Trong nhà tiêu đầy người, kẻ thì ở trong, người thì ở ngoài chờ, tôi thấy cha giám đốc cũng đau bụng nữa, người ta chọc tôi: "Mê ăn mà ra cả". Tôi bỗng nảy ra một sáng kiến là: "Sao chúng ta phải chờ như vậy? Chúng ta ra vườn đi... vườn chúng ta rộng mà!"

Mọi người đều ra vườn một cách vui vẻ. Tối đó vì chúng tôi không có được một viên thuốc nào, nên các sơ Phaolô mới nghĩ ra một cách là lấy lá ổi đem nấu chín, lá ổi thì có vị chát, mỗi người uống một ly nó cũng đỡ. Sáng bữa sau dậy đi Lễ tôi thấy mắt của cha Bề Trên trỏm lơ, và mắt người nào cũng trỏm lơ hết trơn. Chu cha! Nghĩ mình cũng dại thật, nếu mà mình làm muối đậu phộng ăn thì tốt hơn nhiều.

Cha Đông với mẹ cố linh mục Calistô Bá Năng Lý

Những năm đó thật là vất vả, đi mua một chai thuốc đỏ mà thôi cũng phải chờ đến cả tiếng đồng hồ, khi gần tới phiên mình thì họ kéo cửa cái rụp rồi lạnh lùng nói: "Hết giờ!" Thế là lủi thủi đi về, vừa đi mà trong bụng vừa ấm ức tức tối, miệng thì lẩm bẩm cằn nhằn...

Cũng vào những năm đó vì chúng tôi không có hộ khẩu cho nên không được mua vải, ai có hộ khẩu thì mỗi năm một người được mua 1m vải.

Tới tháng 8 năm 1976 thì có quyết định phải giải tán Chủng Viện, điều này làm chúng tôi nghẹn ngào, đắng lòng và đắng miệng...
- 13.6.1976: Cha giám đốc Chủng Viện bị đưa đi cải tạo.
- 8.8.1976: Có quyết định giải tán Chủng Viện và tôi được chỉ định làm giám đốc Chủng Viện.
- 25.8.1976: Không còn một chủng sinh nào được phép ở lại Chủng Viện.

Đây là những tháng ngày u ám nhất đối với chúng tôi. Tôi cảm thấy rất đau khổ và trong khoảng thời gian này tôi cũng đã khóc rất nhiều.

Kể từ năm 1976 tới năm 1983 tôi làm quản lý cho Tòa Giám Mục.

Trong 7 năm ấy tôi đã làm đủ thứ nghề bất đắc dĩ như: làm lúa, trồng mì, trồng huỳnh tin, trồng gừng, trồng đậu phộng, rồi còn ép dầu đậu phụng mướn để lấy bã đậu nuôi heo, đặc biệt làm món cổ truyền của quê tôi là bánh tráng, rồi đem bánh tráng đổi lấy phân bò của người dân tộc, như thế họ có cái ăn mà mình lại có phân bò để bón cây. Trong chuồng heo không lúc nào là dưới 50 con, toàn là heo thượng, trông tướng mạo của nó thì xấu xí mà thịt lại rất ngon. Trong khuôn viên Tòa Giám Mục có rất nhiều cây me, tới mùa me tôi trở thành “chuyên gia” hái me, rồi đem bán để có thêm tiền mua cái ăn cho Tòa Giám Mục. Người ta gọi đùa tôi là Linh Mục theo "dòng Cây Me", chứ không gọi tôi là Linh Mục của dòng Menkisêđê...

Năm 1983 thì tôi bị kiệt sức và người ta chở tôi đi Bệnh Viện Nguyễn Văn Học ở Sàigòn (bây giờ là Bệnh Viện Ung Bướu, đường Nơ Trang Long). Tôi ở trong bệnh viện 33 ngày để chờ mổ bao tử, nhưng cuối cùng bác sĩ bảo: "Cái vết thương nó lành lại rồi nên khỏi cần phải mổ... Và thế là tôi về lại Kontum."

Đức Giám Mục cho tôi nghỉ, không phải làm quản lý Tòa Giám Mục nữa. Đến tháng 3 năm 1983, ngài nói: "Công việc của cha bây giờ là đi làm cha xứ ở Tân Phú."

Tôi làm cha sở ở Tân Phú được ba năm rưỡi. Tình nghĩa bà con Giáo Dân rất là mặn nồng, tôi cũng đi làm đổi công với Giáo Dân của tôi. Rồi dạy dỗ, tuy cũng có nhiều khó khăn nhưng rồi mọi việc cũng trôi qua tốt đẹp. Tình nghĩa của cha sở với Giáo Dân, của Giáo Dân với cha sở vô cùng đầm ấm.

Năm 1984, Đức Cha giao cho tôi coi thêm xứ Trung Nghĩa có khoảng 2.000 Giáo Dân, thay cho cha Trần Khánh Lê vì ngài bị bệnh nặng.
Tôi rất biết ơn Giáo Dân của hai Giáo Xứ này vì tình cảm chân thành của họ dành cho tôi, cùng với những gương tốt trong đời sống Đức Tin của họ, điều này đã nâng đỡ cho cuộc đời làm Linh Mục của tôi rất nhiều.

Tới một ngày kia, vào khoảng cuối năm 1985 thì Nhà Nước chủ trương là tất cả các Giám Mục Phó phải về Tòa Giám Mục (lúc đó Đức Cha phó là Đức Cha Phêrô Trần Thanh Chung đang ở Đức An, Pleiku, Đức Cha Chính thì đang ở Tòa Giám Mục Kontum, hai nơi cách nhau 50 cây số) cho nên Đức Cha Chung cũng phải về Tòa Giám Mục.

Đức Cha Lộc đề nghị tôi đi làm cha sở Đức An, ngài hỏi tôi: "Cha có bằng lòng đi Đức An không?" Lúc đó tôi đang ở Tân Phú, tôi nói: "Đức Cha sai con đi thì con đi, chớ mà hỏi con có bằng lòng không thì con không bằng lòng." Ngài hỏi: "Tại sao thế?" Tôi nói: "Con không chịu được lạnh, mà Pleiku là xứ lạnh... con thì ở dơ mà bụi bặm của Pleiku là đất đỏ. Con đã ở dơ mà còn làm biếng tắm thì nó dơ lắm. Lại nữa (tôi cũng nói thật với Ngài) con là dân Bình Định, con không hiểu tiếng Quảng Bình cho lắm, dân Đức An là dân Quảng Bình, mà dân Quảng Bình nói giọng trọ trẹ khó nghe."

Thế rồi Đức Cha hỏi tôi: "Như tôi thì sao?" (vì Ngài cũng là dân gốc Quảng Bình). Tôi nói: "Mỗi khi Đức Cha nói giọng đó con cũng khó nghe, khó hiểu nữa."
Đức Cha làm thinh nhưng rồi Ngài bảo tôi: "Khi nào Cha vui lòng thì tôi sai đi, chứ tôi không muốn Cha phải đi một cách miễn cưỡng." Tôi nói: "Con không miễn cưỡng, nếu Đức Cha sai con đi thì con đi... nhưng mà bằng lòng đi thì con không bằng lòng đi."

Tới Mùa Vọng năm 1985, ngài cứ vận động các sơ cầu nguyện cho các cha biết vâng lời. Các sơ cũng có nói với tôi. Tôi bảo: "Không phải là tôi không vâng lời, nhưng tôi không bằng lòng mà thôi, phải phân biệt hai điều đó chớ.

Cuối cùng tôi thấy thương Ngài cho nên tới Chúa Nhật thứ tư mùa Vọng năm 1985, tôi nói với Ngài: "Con bằng lòng đi Đức An." Ngài bảo tôi: "Phải đi sớm trước năm Dương Lịch." Tôi nói: "Thưa Đức Cha, Đức Cha trình với Nhà Nước cho con đi trước năm Âm Lịch thôi."

Tôi cũng định kéo dài thời gian một chút vì tôi có khóa giáo lý rước lễ lần đầu phải lo. Đến gần Tết thì tôi xin Đức Cha: "Xin cho con ăn cái tết này với Giáo Dân của con, qua Tết rồi con sẽ đi."
Sau Tết thì tôi xin Đức Cha: "Cho con... sau Phục Sinh đi."

Đức Cha chấp thuận và Nhà Nước họ cũng đồng ý. Nhưng đến thứ sáu Tuần Thánh thì CA sở (hồi đó Gia Lai và Kontum là một tỉnh) đến gặp tôi; lúc đó tôi đang giải tội Mùa Chay. Họ nói: "Anh Đông chuẩn bị sau lễ (lễ Phục Sinh) thì phải đi Pleiku." Tôi nói: "Cho tôi tới kỳ hè đi, sau tĩnh tâm năm thì tôi đi cũng được." CA họ nói: "Tôi thấy giấy của Chính Quyền quyết định cho anh đi đấy, sau lễ là phải đi." Tôi nói nửa đùa nửa thật: "Chính quyến là mấy ông chớ còn ai nữa đâu..."

Thứ hai sau Lễ Phục Sinh (năm 1986) thì Đức Cha Lộc được gọi tới làm việc với CA, sau đó ngài cầm về một tờ giấy quyết định với nội dung là: "Ông Đông phải đi ngay xuống Đức An". Và ngày 19.4.1986, Đức Cha Alexis chính thức bổ nhiệm tôi làm cha sở Đức An.

Tôi ở Đức An gần 20 năm, kiêm nhiệm luôn kinh tế mới Vườn Mít, kinh tế mới Lò Than, kiêm nhiệm cả xứ La Sơn, xứ Lệ Chí, làng Hà Bàu Jarai (bây giờ là xã Chư Đang Ya, huyện Chư Pah), làng Ya Luh, sắc tộc Sê Đăng, xã Nghĩa Hưng, Chư Pah.

Ngày 27 tháng 7 năm 2005, tôi được bổ nhiệm về làm cha sở Giáo Xứ Thăng Thiên.

Năm 2011 tôi lại bị kiệt sức, rồi bị rối loạn tiền đình. Tôi lại về Sàigòn chữa bệnh. Bác sĩ bảo: "Máy nó chạy đã 70 năm nay rồi nên thứ gì ở trong máy nó cũng bị... rơ... rơ một chút. Vì thế mà cha cần có thời gian nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, cũng như cái ao nước nó đã hết nước rồi, bây giờ phải chờ nước mạch nó lên."

Vậy nên Đức Giám Mục đã sắp xếp cho Giáo Xứ một cha Phó (cha Trí dòng Tên)... vì thế mà tôi được đi nghỉ dưỡng bệnh gần 6 tháng ở Dòng Biển Đức tại Thủ Đức và Lộc Nam, gần Bảo Lộc, Lâm Đồng.

Gia đình tôi có tám anh chị em 5 trai 3 gái, có một người đi tu sơ Dòng Nữ Vương Hòa Bình, còn tôi làm Linh Mục...

Tôi muốn nói những lời tâm tình này: Bởi vì cuộc đời của mình thật là vắn vỏi. Con cháu của tôi đứa nào cũng lo bươn trải làm ăn mà ít khi nghĩ về đời sống đạo đức hay biết lo chuẩn bị về đời sau của mình. Tôi muốn những người thân của tôi được biết: Sức khoẻ thì nó mỏng và dòn, cuộc đời thì vắn vỏi, chúng ta phải sống như thế nào để chúng ta có thể mưu cầu cho đời sống hôm nay của chúng ta, ngoài ra mỗi chúng ta cũng phải có bổn phận phải mưu cầu cho đời sống đời đời của chúng ta.

Sinh ký Tử quy: Cha ông mình đã nói như thế. Cuộc sống chỉ là tạm, khi mình chết thì mình mới đi vào cuộc sống vĩnh cửu của mình.

Tôi luôn nhớ câu nói của Đại Thi Hào Tagore: "Nếu bạn yêu cuộc sống mình thì bạn cũng phải yêu cái chết của mình, bởi vì cái chết chính là cánh cửa mở ra để bạn bước vào cuộc sống đích thực của mình". Tôi không có ý chỉ trích một ai mà đây chỉ là những tâm tình được bộc lộ cho những người mình thương, để làm thế nào khi sống chúng ta biết được mục đích sống của chúng ta là cái gì? Tại sao chúng ta sống? Và khi chết thì chúng ta sẽ đi về đâu?

Người xưa có đặt vấn đề: Nhân sinh hà tại? Tại thế hà như? Hậu thế như hà? Người ta đặt vấn đề mà chưa có câu trả lời. Chính niềm tin của Kitô Giáo đã trả lời được những câu này:
Nhân sinh hà tại? Con người do đâu mà có? Thưa: Thiên Chúa dựng nên mỗi người chúng ta. Ngài yêu thương chúng ta, Ngài ban sự sống cho chúng ta.

Tại thế hà như? Trong cuộc sống này thì phải sống như thế nảo? Cuộc sống này thì phải sống Đạo đức, sống Đạo Đức sẽ làm nên giá trị cuộc sống con người.

Hậu thế như hà? Sau cái chết sẽ ra sao? Thưa là khi chết chúng ta sẽ về Nhà Cha trên Trời: "Thầy đi trước, Thầy dọn chỗ cho chúng con, hễ Thầy ở đâu thì chúng con ở đó với thầy".

Lm. Phêrô NGUYỄN VÂN ĐÔNG


ĐỨA CON LAI… HẢI TẶC

Xong tú tài, tôi vào Sàigòn cư ngụ trong đại học xá Minh Mạng, Chợ Lớn để tiếp tục việc học. Sau này có một anh sinh viên Dự Bị Y Khoa được xếp chung phòng. Khi ra trường phải động viên vào quân đội, tôi nhường anh chân gia sư dạy kèm 2 học sinh trung học, một trai một gái. Họ là con của một ông trung tá Bộ Tổng Tham Mưu và bà chủ một công ty nhập cảng vải lụa.

Cuộc biển dâu xảy ra. Tôi và ông trung tá đều bị nhập trại “tập trung học tập cải tạo”. Tôi “học tập” một thời gian không dài lắm, có lẽ vì cấp bậc nhỏ ít nợ máu. Ông trung tá bị chuyển ra trại tù miền Bắc. Được trả tự do nhưng không việc làm, lê lết ở các quán cà phê vỉa hè, một ngày nọ tôi tình cờ gặp lại bạn. Bấy giờ anh đã là bác sĩ tại một bệnh viện thuộc quận nhất của thành phố.

Và câu chuyện bắt đầu từ đây.

Chuyện kể, khi cô học trò nhỏ không còn nhỏ nữa thì quan hệ giữa cậu cựu gia sư và tiểu thư tân sinh viên văn khoa đã bước vào giai đoạn anh anh-em em (âu cũng là điều dễ hiểu). Gia đình cả hai bên đều hoan hỉ, trông đợi ngày đại đăng khoa và tiểu đăng khoa. Thế nhưng thời cuộc đã đảo lộn tất cả. Ông bố trung tá đi không biết ngày về. Bà mẹ mất cơ sở kinh doanh. Cậu con trai lớn tìm lãng quên trong những con hẻm nhầy nhụa. Tiểu thư tuy vẫn còn đậm nét tiểu thư nhưng chớm trầm cảm vì cuộc sống đã nhuộm đỏ giấc mơ hồng. Cậu bác sĩ chung tình đeo thêm gánh nặng phiền muộn.

ĐỜI NGƯỜI VẮN VỎI
TÔI RONG CHƠI GIỮA ĐỜI BIẾT ĐÂU NGUỒN CỘI – Kỳ 1


Những ngày buồn nghĩ đến thấy vui vui,
Những ngày vui sao lại thấy bùi ngùi...
(Tế Hanh)

« Các con hãy ra đi loan báo tin mừng cho muôn dân »

Năm nay 2011, tôi được tròn 70 tuổi; nếu tính theo kiểu của mẹ tôi thì năm nay tôi 71 tuổi, bởi vì cả 9 tháng ở trong bụng mẹ nữa. Tôi sinh ngày 24 tháng 3 năm 1941 theo giấy rửa tội, nhưng mà nếu đi tu thì bắt đầu từ 12 tuổi; mà lúc đó tôi được 14 tuổi cho nên phải làm giấy khai sinh lại, hạ năm sinh của tôi xuống là 1943 theo giấy tờ.

Tôi tên là Nguyễn Vân Đông, tôi cũng không hiểu tại sao không phải là Nguyễn văn mà là Nguyễn Vân. Có lẽ khi làm lại giấy tờ thì người ta để cái tên như thế, và bây giờ mãi mãi tôi là Nguyễn Vân Đông, những người nào không thân thiết thì người ta đề là Nguyễn Văn Đông, mỗi lần tôi đi bưu điện để nhận tiền thì người ta phải hỏi lại người gởi để sửa cho đúng là Nguyễn Vân Đông, lúc đó người ta mới cho tôi nhận tiền.

Quê tôi ở Bình Định, một xứ Đạo kỳ cựu của Giáo phận Qui Nhơn là xứ Nhà Đá, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Nhà Đá không phải là nhà tù, mà Nhà Đá là một cái Nhà Thờ làm toàn bằng đá ong ở Biên Hòa.

Nhà thờ Nhà Đá ở Bình Định

Tôi lớn lên ở đồng quê, từ nhỏ tôi không được đi học cấp Tiểu Học, học hành ít hơn đi chăn bò. Mỗi khi muốn học thì phải dở cơm (mang cơm theo) tới nhà một người nào đó, như thầy Biên chẳng hạn để mà học cho biết cái chữ, học được biết cộng, trừ, nhân, chia và chưa bao giờ tôi được học cấp một như các em bây giờ.

Khi tôi 14 tuổi thì có một cha của Địa Phận Kontum, quê cũng ở Nhà Đá, chịu chức năm 1953, là khoảng thời gian mà Bình Định nằm trong vùng kháng chiến (1945- 1954) và là vùng Việt Minh, nên cha đó không thể về gia đình để Vinh Quy Bái Tổ được, cho đến khi chính thể Đệ Nhất Cộng Hòa của ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền vào năm 1955 thì ngài mới về. Ngài là Linh Mục Nguyễn Thúc Nên (bây giờ hưu ở Tòa Giám Mục Kontum). Sáng nào tôi cũng đi giúp lễ cho Ngài, hồi đó không có lễ đồng tế cho nên các cha khách tới thì làm lễ ở bàn thờ bên cạnh.

Rồi một ngày nọ ngài hỏi tôi: "Con có muốn đi tu không? Đi tu ở Kontum."

CÁI LON GUIGOZ


I

Ở Mỹ này có nhiều chuyện ngộ: Có nhà giữ trẻ và cũng có nhà giữ người già, mỗi tuần từ thứ hai đến thứ sáu. Thứ bảy và chủ nhật họ ở nhà một mình hoặc có phước có phần ở chung với cháu con!
Tôi nghỉ hưu gần một năm nay, từ Pennsylvania về New Jersey để được gần con cháu. Mấy đứa nhỏ thấy tôi buồn nên xin cho tôi vào nhà giữ người già để gặp gỡ đồng hương cao niên cho vui. Nhưng sau vài tuần tôi muốn “cáo lão quy điền” vì ở đây… chán quá. Ngày nào cũng y chang như vậy: Sáng vô điểm danh, ký tên, ngồi vô bàn của mình ăn sáng, rồi tập thể dục nửa tiếng, rồi chơi đá banh thùng, thảy vòng vịt, chơi bingo, nói chuyện dưới đất trên trời… Khoảng 10 giờ đến 10 giờ rưỡi được cho uống sữa, uống juice, ăn kem… rồi chờ ăn trưa, rồi xếp hàng ra xe bus về nhà.

Chắc tôi phải nói thêm về cách làm việc ở đây. Điều kiện được đưa vào trung tâm này phải trên 65 tuổi và có Medicaid và trong diện nghèo. Có nhà ở thì OK nhưng nếu có xe thì trị giá xe không quá năm ngàn đôla và trong nhà bank không có quá hai ngàn. Trung tâm này ở thành phố Cherry Hill, New Jersey, với cái bảng hiệu “Prestige Adult Medical Daycare”. Như vậy ở đây có bác sĩ trông nom sức khỏe, dĩ nhiên là bệnh tật sơ sài thôi, và sẵn sàng giúp mọi người gọi 911 để vào bệnh viện miễn phí…

Đã gọi là “nơi giữ người già” nên người nào cũng hom hem, lụi đụi, không bệnh ít cũng bệnh nhiều. Ở nhà buồn quá không ai trông nom nên tìm vào đây để giải sầu. Tôi là một trường hợp đó, nhưng tôi không vui mấy vì người Việt Nam ít quá, chỉ chiếm khoảng 10%, số còn lại là Mexico và người Mỹ gốc Phi Châu. Lúc nào họ cũng ồn ào nói cười, kêu gọi nhau hoặc nhảy cà tưng theo nhạc của họ.

MẸ VỀ TRỜI


Năm đó chúng tôi không còn được tiếp tục học, nên phải chọn nghề đi làm về góp tiền để sống chung với nhau. Tôi chọn nghề đi làm chìa sửa khoá ở lề đường. Buổi trưa, mấy anh bạn làm nghề đạp xích lô, đẩy xe ba gác và tôi vào sân nhà thờ chính toà Đà nẵng ngồi ăn trưa và nghỉ ngơi mấy phút. Hôm đó có mấy người khác cũng vào sân nhà thờ, và họ tò mò đứng đọc bảng thông báo, giờ lễ ở cửa nhà thờ. Bỗng một ông trung niên, không có đạo, chỉ cho bạn mình lịch Lễ trong tuần: 15 tháng 8 Lễ trọng kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Ông nói: linh hồn lên Trời thì hiểu được, sao xác lại có thể lên Trời? Rồi cả hai im lặng ra chiều suy nghĩ. Sau này tôi không gặp lại những người đó bao giờ nữa, nhưng câu hỏi ấy tôi vẫn nhớ, và tôi tin rằng Mẹ sẽ có cách dạy bảo cho những người con thiện chí về những mầu nhiệm thiên linh.

Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Đừng nói đến người ngoại giáo, ngay cả anh em Tin Lành cũng không chấp nhận chân lý này được. Thỉnh thoảng tôi đọc các trang web của anh em Tin Lành, thấy họ có vẻ rất bực bội trước những hồng ân Chúa ban cho Mẹ của Người. Vài năm trước, cha Nguyễn Thanh Sơn ở Đà nẵng gọi điện thoại vào nhờ tôi dạy giáo lý cho Oliver Chapman, một giáo viên người Anh đang sinh sống tại Sài gòn. Oliver theo Anh giáo, và lúc đó muốn trở lại Công giáo. Giáo lý Anh giáo và Công giáo không khác nhau nhiều, nên anh chấp nhận mọi vấn đề một cách dễ dàng. Nhưng khi chúng tôi thảo luận về Đức Maria thì anh có vẻ rất thắc mắc. Anh hỏi, như tất cả tín đồ các tôn giáo khác tin Chúa Giêsu: “Sao chúng ta phải tôn kính Bà Mary? Bà chỉ là mẹ sinh ra Chúa Giêsu ở trần gian”. Tôi giải thích cho anh, và đúng lúc đó anh nhận được thư và hình ảnh của mẹ anh từ quê nhà gửi sang. Anh khoe với tôi hình mẹ anh, và anh có vẻ nhớ nhà nhiều lắm. Tôi nói nhỏ: “Oliver này, tôi mến anh, như vậy tôi cũng mến mẹ anh nữa”. Oliver nhìn tôi, gật gù: “Đúng rồi, mình mến ai thì cũng mến người đã sinh ra người ấy”. Tin Mẹ Hồn Xác Lên Trời để yêu mến Đấng Cứu Thế hơn.

THÀNH PHỐ NGÀN HOA


Chiếc phi cơ cất cánh chở tôi rời khỏi thành phố Milpitas của San Jose, nơi mà người ta giới thiệu với tôi tên Milpitas đó có nghĩa là Thành phố Ngàn Hoa. Chiếc phi cơ lượn một vòng như cái vẫy tay chào thành phố có tên đẹp đẽ đó trước khi rời xa.

Từ trên phi cơ nhìn xuống, tôi nhớ lại cảm giác lúc phi cơ hạ cánh đưa tôi đến thành phố nầy. Đó là cảm giác thất vọng khi thấy thành phố như lọt thỏm ở giữa những đồi trọc, không có bóng dáng rừng cây xanh mướt của vùng Greenever ở Portland, Bang Oregon, mà một lần tôi đã có dịp đến và đã kể cho bạn nghe.

Bây giờ, sau một tuần sống nơi thành phố Ngàn Hoa, tôi từ giã với biết bao cảm xúc, cái cảm xúc mà một Nhà thơ diễn tả đầy kinh nghiệm:
Ai ra đi mà không từng bịn rịn,
Rời yêu thương hồ dễ mấy ai quên.

Mà cảm xúc không bộc lộ ra được nó sẽ thành một thứ tâm bịnh khó chữa. Giữa những người trên phi cơ, trên đất Mỹ nầy, tôi biết nói với ai.
Chung quanh tôi là những người Mỹ trắng có, đen có, nâu nâu của dân Mễ có, ngay cả có những người da vàng mũi tẹt như tôi, nhưng nói rặt tiếng Mỹ, là thứ tiếng tôi không đủ từ để diễn tả cảm xúc trong tôi về cái thành phố nầy. Tôi chợt nghĩ đến bạn tôi, dù tôi đã định ý không viết cho bạn ấy nữa, nhưng lúc nầy tôi thèm được nói ra cảm xúc của mình biết bao, và thế là tôi lại nói với bạn tôi – một tri kỷ, một thứ tình bạn mà người xưa nói: Nhân sinh tại thế, đắc nhất tri kỷ, khả dĩ bất hận – sống trên đời được một người biết mình, không còn gì để ân hận.

ÔNG CỐ

hình minh họa

Chẳng biết tự khi nào người ta đã dành cho những người cha có con đi tu một tên gọi chung: “Ông cố”. Người cha cũng có thể trở thành “ông nội” hay “ông ngoại’ lúc gả chồng, dựng vợ cho những đứa con. Nhưng dù ở cương vị nào thì người cha vẫn thật hạnh phúc vì “triều thiên của người già chính là đàn con cháu.” (Cn 17,6) Vào một ngày đẹp trời trong tiết đầu thu, tôi cảm nhận rõ cái phần phúc ấy của một ông cố vừa được Chúa đón về. Ông cố như một gốc cây cổ thụ được bứng đi nơi khác, cho một kế hoạch mới của Thiên Chúa. Người xưa nói: “Sự tử như sự sinh”, và trong đức tin, ông cố thực sự được sinh ra lần thứ hai. Cái chết không chấm dứt sự tồn tại là thế!

Tôi may mắn được gặp ông cố đôi ba lần, dù sức khỏe có dấu hiệu yếu đi, tay chân ông có vẻ chậm chạp và đôi tai luôn phải gắn máy trợ thính. Nhưng trên gương mặt ông cố, đôi mắt vẫn thật tinh anh, đầu óc vẫn sáng suốt minh mẫn. Tôi mỉm cười tự nghĩ “chắc nhờ ông cố đọc nhiều báo công giáo và dân tộc đây mà!”. Và quả thực là ông cố rất ham đọc sách báo để theo dõi tin tức của Giáo Hội. Ông cố luôn trả lời những người đến thăm bằng cách viết lên giấy. Dù không nghe được nhưng dường như không bao giờ thấy ông cố bực bội hay phiền hà vì điều ấy. Hơn nữa ông rất tự tin với cuốn tập và cây bút. Cuộc trò chuyện trên giấy của ông với mọi người không kém phần lịch sự và trân trọng, chẳng thiếu sự đơn sơ và những dí dỏm, hài hước. Lần cuối, lớp chúng tôi đến thăm ông là lúc hay tin ông phải chạy thận. Ông kể về tình hình sức khỏe của mình và luôn xác tín rằng ông còn ngồi tiếp chúng tôi được, đó là một phép lạ của Chúa. Ông cố không ngừng xin chúng tôi cầu nguyện để sẵn sàng đón lấy mọi sự Chúa muốn. Một con người cắm rễ sâu trong đức tin và thuộc về Chúa rồi thì thánh giá bỗng trở nên thật nhẹ nhàng.

NGHĨ VỀ NGÀY QUỐC KHÁNH HOA KỲ

Tân Tổng thống đặt tay trên Kinh Thánh khi tuyên thệ nhậm chức

Có lẽ ngày 4 tháng 7 này hằng năm trên nước Mỹ không có mấy ai buồn vì niềm vui lan toả từ không gian cờ bay nơi nơi tới mặt người hớn hở mà mỗi chúng ta gặp trên đường, trong siêu thị, ngoài phố xá… Đâu đâu cũng tự hào phất phới cùng lá cờ hoa của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Lá cờ lớn ở những toà nhà chính phủ trang trọng, uy nghiêm, thì lá cờ nhỏ trước sân nhà người cựu chiến binh Mỹ càng gợi nhớ về lịch sử một đất nước non trẻ đã hình thành và phát triển tới ngôi vị hàng đầu thế giới hôm nay. Ngày Quốc Khánh của Hoa Kỳ có thể lắng đọng trong tâm thức người bản xứ nhiều ý nghĩa sâu xa về lịch sử đất nước, nguồn gốc của từng gia đình đã rời xa quê hương mấy trăm năm trước để đi tìm đất sống và tự do.

Một người Mỹ hậu duệ có thể không biết, chưa bao giờ trở về đất tổ mãi bên Ái Nhĩ lan, Ba Lan, Đức, hay Pháp… nhưng tên (họ) của anh ta đã nói lên nguồn gốc của tổ tiên họ từ đâu đến đây? Hai trăm nữa, có thể con cháu chúng ta là những Andy Nguyen, Bob Le không biết Việt Nam từng có tên trên bản đồ thế giới trước khi bị Trung Quốc xâm lược, trước khi họ ra đời. Nhưng người Mỹ gốc Việt ấy vẫn biết rõ họ không phải người bản xứ, mà tổ tiên họ đã đến Hợp Chủng Quốc Hoa kỳ này từ quê hương Việt nam. Có lẽ câu hỏi lớn trong tư duy họ là sao đất nước non trẻ Hoa Kỳ ngày càng hùng mạnh để thống trị thế giới và giúp đỡ nhiều quê hương, dân tộc khác; Và tại sao một dân tộc, đất nước có lịch sử lâu đời như tổ tiên, cố thổ của Andy Nguyen, Bob Le lại bỏ nước ra đi, quê hương bị xoá tên trên bản đồ?


Bác Tôma kính mến!

Cứ mỗi độ tháng bảy về, con lại nghe dân tình thế thái truyền miệng nhau về bác, rằng bác là “kẻ cứng lòng tin”. Con thấy thương bác quá vì lẽ không mấy ai chịu đặt mình vào vị thế của bác để hiểu và cảm thông hơn. Biết đâu khi ở trong tình thế của bác, con và họ cũng chẳng hơn chi?

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc bà Maria Mađalêna hớt hải chạy về báo tin theo lời nhắn của Chúa bác đang ở đâu? Vào chiều hôm ấy, lúc Chúa hiện ra với các bác tông đồ khác và nói: “Bình an cho anh em” (Ga 20,19) bác cũng không có mặt luôn… Giả như hai giờ khắc ấy có bác hiện diện thì hẳn sự thể đã khác rồi! Và con tin nếu được thấy Chúa tận mắt, được nghe Chúa tận tai chắc bác cũng chẳng đòi kiểm chứng làm gì? Đằng này, bác mới chỉ được nghe thuật lại từ miệng của những kẻ “chạy trốn” chẳng hơn gì mình thì con thấy những đòi hỏi ấy cũng không có gì là đáng trách. Con vẫn đứng về phía bác cho dẫu câu chuyện năm xưa đã thành một giai thoại, mà xung quanh một giai thoại thì luôn có muôn vàn cách nhìn nhận, có thể là tốt xấu hay dở nhưng con nghĩ điều quan trọng là mỗi người sẽ rút ra được thông điệp gì từ giai thoại ấy để giúp bản thân sống đức tin chân thật và tốt lành hơn?

Bác biết không? Bác được mọi người nhắc đến nhiều lắm, không chỉ trong Tin Mừng thôi đâu nhưng còn đi vào cả thơ ca nhạc đạo nữa kìa! Không phải để châm biếm nhưng là để dạy người, dạy đời bài học về Đức tin. Thay cho mọi người, con muốn cám ơn bác thật nhiều! Dù vẫn có những kẻ khoác cho bác cái biệt danh “Tôma cứng lòng”, “Tôma kém tin” thì bác cũng đừng buồn nhé!

“Anh vào Chủng Viện, em có muốn đi tu giống anh không?”

Ngày nhận được thư mời anh sẽ được lãnh nhận chức Thánh, tôi chia vui với anh bằng một tấm thiệp mừng vì đang ở xa, nhưng không quên nhắc lại câu hỏi năm xưa của anh “Anh vào Chủng Viện, em có muốn đi tu giống anh không?” Giờ anh đã là một linh mục. Tôi cũng là một nữ tu Dòng Nữ Tỳ Thánh Tâm Chúa Giê-su.


Anh hơn tôi một tuổi, học trước tôi một năm. Anh người miền Nam, tôi người miền Trung. Anh hiền lành và là một con chiên ngoan đạo, tôi cứng đầu và cứng tin. Thế nhưng, chúng tôi có cùng một niềm đam mê – làm việc xã hội. Những cơ hội làm việc chung đưa tình bạn của chúng tôi đến gần nhau hơn, dù có nhiều khác biệt.



(chuyện kể về một gia đình Đầu Cầu, phố Nỉ)


Đôi bạn trẻ gặp nhau giữa sông nước : chàng làm chủ tàu chở cát, còn nàng đi làm thuê, họ yêu nhau, xây dựng mái ấm cũng giữa sông nước. cuộc sống chật vật, nhiều khổ ải, phải vưọt qua bao gian nan thử thách, nhưng mái ấm vẫn cứ là mái ấm, vì một tình yêu và một lòng cậy trông không gì lay chuyển nổi.

Gia đình anh bên đạo, theo truyền thống xưa, đã quen với kinh bổn; còn chị theo đạo ông bà, gia đình khá nề nếp, vì thế muốn tiến tới hôn nhân với anh là phải học kinh bổn. Chuyện diễn ra cách đây 21 năm, khi đó ít nơi nào có nhà thờ, linh mục còn ít hơn nữa, vì thế người dự tòng được các ông bà quản chỉ kinh cho học thuộc lòng cùng với các câu bổn hỏi thưa, mà kinh nếu biết đọc theo nhịp thì dễ thuộc, chứ cứ đọc thẳng tuột thì khó lắm đấy.

Tuy nhiên bước đường dẫn tới hôn nhân gặp trắc trở không phải chuyện kinh sách, mà là những nghi ngại bên chàng, và vì thế ngay cả khi anh đưa chị tới nhà thờ Bắc Ninh rồi mà chị vẫn muốn bỏ cuộc. Cũng dễ hiểu thôi, vì chị vốn là con gái “nhà lành”, nghe những điều tiếng, đương nhiên thấy mình bị tổn thương. Nhưng rồi “sự gì Thiên Chúa đã kết hợp” thì ai có thể phân ly, và lời nguyện thề kết ước của đôi trai gái cũng đã được cất lên trước tôn nhan Thiên Chúa và trước mặt Hội Thánh, giữa hai bên cha mẹ, anh em dòng họ.
Được tạo bởi Blogger.