Là người Công giáo, hẳn ai cũng biết câu Kinh thánh này, song kiên trì cầu nguyện liên lỉ mãi mà chẳng được, thì có khi cũng ngã lòng à nha!

Thánh Bổn mạng của tôi là Giu-se, nhưng tính tôi chẳng hiền lành như ngài, ngược lại còn ngổ ngáo nữa là đằng khác. Thuở bé tôi cứ bực dọc vì sao chẳng được đặt tên thánh Phaolo, có phải là đã nam tính, mạnh mẽ và uy dũng biết bao. Đã vậy lớn lên tôi sẽ làm “Tông đồ dân Ngoại” như “idol” vậy.

Việc đầu tiên tôi nghĩ đến khi trưởng thành là sẽ cưới một cô gái Ngoại đạo và đưa cổ về với Chúa, vừa mở rộng Nước Chúa, lại vừa đỡ phải đi tìm mấy cô gái Công giáo hiền hiền mà kiêu kiêu. Nhưng thực tế là tôi bị…ngã ngựa như Phaolo, và tôi cũng “quay đầu” như ngài. Người yêu tôi nhất quyết không theo đạo, dù rằng cổ và gia đình không ở “phe đối lập”, cũng chẳng theo đạo Phật, đạo Cao Đài hay bất cứ đạo nào mà vô thần hoàn toàn. Lý do: Cổ thích tự do, theo cổ, tính “bất khả phân ly” trong Công giáo là “không thể chấp nhận được”, ngoài ra việc cấm phá thai cũng là một điều khiên cưỡng, bởi vì đôi khi để đứa bé không được sinh ra còn hơn là để nó sinh ra trong khổ cực, thiếu thốn hay đau yếu, tật nguyền,… và một số lý do khác.

Cú ngã ngựa đó làm tôi đau đớn, tôi lại về với Nhà thờ, để tìm “nửa của mình”, nhưng nào đâu có dễ!

Một năm sau, tôi đi lễ Quan Thầy ở Xứ Bạn và crush một em gái lên đọc “Bài đọc 1”. Tan lễ tôi lén theo em về để “xin infor”, ngờ đâu đến đoạn ngõ nhỏ, ẻm la ầm lên: “Các anh ơi, kíu em, có thằng biến thái nó theo em”. Thế là tôi chẳng kịp chạy, không rõ thanh niên ở đâu mà đông thế! Tôi bị “thập diện mai phục”, sau đó phải nằm viện mất một tháng. Thằng em cùng khu trọ tôi nói, thanh niên có đạo nó hiền, nó “nhẹ tay”, chứ phải dân Ngoại thì chắc anh “đứt cước” rồi, bởi vì ở cái khu vực này, tư tưởng “trâu ta ăn cỏ đồng nhà” nó vẫn còn gơ gớm lắm! Tôi thì nghĩ chắc là từ bé tôi ngổ ngáo, bị “tẩn” cũng nhiều nên “lì đòn” lắm, bằng không có khi nằm viện cả năm ấy chứ. Thôi thì theo nó đến Cộng đoàn Sinh viên Xa Quê cho “lành” vậy.

Tưởng “lành” nhưng cũng chẳng “lành” đâu!

Tôi vẫn “có duyên” với “ca đòn”, lại crush thêm một em lên đọc bài đọc 2. Khổ cái tôi lại chẳng biết hát nên tiếp cận em khá khó khăn, đến khi làm quen được, tính “tấn công” mới hay em ấy đã “đổ” thằng em kia mất rồi, đau thế! Mặc dù nếu “đấu tay đôi” chắc gì tôi đã thua, song tôi không thể “trọng sắc khinh bạn” được, đành ngậm ngùi gạt nước mắt chúc phúc cho hai đứa.

Lúc này tôi bắt đầu thấy nhức đầu mỏi chân mỗi khi thời tiết thay đổi. Tuổi già ập đến thật nhanh, mới đó mà đã suýt soát 30, bố mẹ “thúc sau đít” ầm ầm. Tết về ai cũng hỏi… à mà thôi, “Ăn tết văn minh, ai lại hỏi… chuyện ấy bao giờ”. Thay vì đi chơi, tôi ở nhà “bế quan…cầu nguyện” tới ngày trở lại Hà Nội luôn.

Cầu được ước thấy, vừa ra lễ Mừng Xuân của Cộng đoàn Sinh viên Xa Quê, tôi “crush” ngay một cô gái có đôi mắt bồ câu xinh đẹp. Là trong lúc lễ ở Nguyện đường, tôi có cảm giác bị “đốt cháy” ở sau gáy, quay lại mấy lần thì thấy có cô gái có đôi mắt tròn xoe cứ nhìn chằm chằm vào mình, sợ chết khiếp. Đến khi không chịu nổi, tôi bực dọc quay lại nhìn chằm chằm lại, nhưng rồi vẫn chịu thua ả ta. Con gái đâu mà lì, trong giờ lễ nhìn giai không chớp mắt, thật là…

Là…bị lác chứ sao nữa, hic hic. Nàng bị “lơ” mạnh chứ không phải “lơ gió” đâu, nên nhìn lên Cung thánh mà tôi bị nhầm nhọt sang trồng trọt ấy chứ! Đến khi tan lễ tôi mới hay là đôi mắt bồ câu ấy thực ra là…con đậu con bay, hầyza… Nhưng không sao cả, vì nàng rất dễ thương, tính lại hiền và nấu ăn tuyệt cú mèo. Thôi thì mỗi lần đi chơi hay đi café, thay vì ngồi đối diện tôi cứ ngồi vuông góc với nàng cũng đâu có sao, chỉ có điều chẳng bao giờ tôi được nhìn thẳng vào mắt nàng, thành thử thời gian vèo trôi mà tôi vẫn chưa kịp nói lời yêu. Thế rồi nàng đi Pháp để chữa mắt theo chương trình hỗ trợ của một Tu viện bên ấy. Ngày chia tay, tôi nghẹn ngào không nói nên lời. Em hôn lên trán tôi (vì em cao hơn tôi chừng 5cm, còn đi giày cao gót), nói là đợi em về hẵng nói, vội gì. Nhưng rồi không rõ các Sr bên ấy dụ hoặc kiểu gì mà chữa mắt xong em ở lại Tu viện luôn, bỏ lại tôi khắc khoải đợi chờ với những email không bao giờ được hồi âm cho đến ngày Cha Linh hướng của Cộng đoàn báo em sắp…tiên khấn.

Lúc này tôi thực sự sốc. Tôi đã cầu nguyện bao nhiêu, sao Chúa lại lấy đi cả người yêu tôi? Tôi thất vọng lắm, tôi không muốn quay lại Cộng đoàn Sinh viên Xa quê nữa. Tôi đi sang Nhóm Sinh viên Công giáo Tổng giáo phận cho vơi bớt nỗi buồn.

…Và ở nơi đó, một năm sau, tôi lại “crush” một em Sinh viên năm cuối. Em và tôi nói chuyện “hợp gu” lắm, từ chuyện học hành cho tới chuyện công việc, từ chuyện thể thao cho đến âm nhạc, kể cả chuyện…uống rượu em cũng “chén chú chén anh” với tôi không hề e ngại. Thu hết can đảm, mượn rượu, tôi nhìn sâu vào mắt em, và nói: “X này…”, bất ngờ em nói: “Đợi em tí, em đi vệ sinh”. Ặc ôi, “thời khắc lịch sử” thế này mà em đi “giải quyết nỗi buồn” thì đến lạy. Xong em ra, bảo luôn: “Thôi em mệt rồi, anh em mình về đi”. Tôi vừa về đến nhà đã nhận tin nhắn của em: “Em biết anh sắp nói gì, thôi khỏi cần nói, anh zai yêu quý, bạn tri kỷ của em ạ”. Tôi ngã vật ra giường đau đớn. Chả phải đã có lần em nói giữa đám bạn bè: “Ai zai và số 0 là như nhau”…

Nhưng đó chưa phải là đích điểm nỗi đau thất tình này. Sau đó ít lâu, có người bạn giới thiệu tôi với một em Công giáo khác. Quen nhau chưa được bao lâu thì nghe nói em này đã hỏi X về tôi và X đã bô bô: “Anh Vinh Kiu ấy à, bữa trước mới tán em mà em không yêu”. Thôi xong! Tôi trở nên “nổi tiếng” trong toàn Nhóm Sinh viên Công giáo Tổng giáo phận, rằng đã từng “cưa” em X nhưng không “đổ”. “Con gà tức nhau ở tiếng gáy”, tôi “hết cửa” cưa gái nhóm này luôn.

Ba năm trôi qua, tôi hờ hững khi nhận tin NYC của mình khấn trọn. Thật nhanh, thật bất ngờ với ai đó, nhưng chẳng phải với tôi. Các em NYC khác cũng đã lấy chồng. Mặc dù vẫn liên lỉ cầu nguyện, song tôi đã chán ngán chuyện tìm vợ người Công giáo lắm rồi. Mấy đứa “bạn già” của tôi đã vợ con đề huề, mỗi lúc nhậu chúng thường đùa tôi: “Nghe nói bên Nhóm Cựu sinh viên có mấy em ế, mày đi giúp tán các em đi, bởi nếu mày nhảy vào cưa thì em ấy hoặc lấy chồng ngay hoặc sẽ đi tu, hêhêhê…”. Tôi “cay” lắm nhưng chẳng làm gì được, đơn giản vì tụi nó…nói đúng.

Hôm nay, tôi lại đến Nhà thờ. Chúa nhật Tuần 27 Thường niên, Tin Mừng theo Thánh Lu ca, chương 11, câu 5-13, “hãy xin thì sẽ được”, tôi cười buồn, “Lạy Chúa, con đã cầu xin lần thứ 7x70 rồi đấy ạ, sao Người vẫn bắt con mang tên thánh Francisco Assi (FA) L, con cầu xin nốt lần thứ 491 nữa thôi đấy ạ, hãy cho con trở về với thánh Bổn mạng Giuse”. Cầu nguyện thế thôi, vì tôi đã ngã lòng lắm rồi, nhưng tôi cũng không tin đây là lần cuối tôi cầu xin Chúa, bởi vì tất cả đều đã bỏ tôi mà đi, chỉ có Người vẫn còn đó.

Đang miên man suy nghĩ khi đi ra lấy xe thì “rầm” một phát, tôi ngã lăn quay ra. Người đâm sầm vào tôi là một cô nàng “Ninja Lead”…

Cô ấy hiện nay là vợ tôi. Tên thánh của nàng là Maria.

Amen.


(Ảnh: Sưu tầm)

- Ê, tên thánh mày là Têrêsa à?

- Ừh, mà sao mày?

- Bố mẹ mày hay thật đấy, sao đặt mày là Têrêsa, người mang tên thánh này hay chết sớm lắm!

Đó là câu nói của đứa bạn lúc nó chín tuổi, chuẩn bị lớp học giáo lý xưng tội lần đầu, cũng là khi nó bắt đầu có “khái niệm” về thánh Quan thầy. Nó nghe, ngạc nhiên rồi…khóc. Không phải mỗi đứa bạn đó nói thế, mà mấy đứa khác cũng bảo “mang tên thánh Têrêsa hay chết trẻ lắm” khiến nó vô cùng hoang mang. Thực ra nó chưa hề biết đến thánh Quan thầy của mình, bảo Têrêsa thì biết là Têrêsa thôi, mặc dù tên thánh này với nó cũng…lạ, thậm chí chưa từng nghe cha xứ giảng về vị thánh nữ này. Xung quanh nó thì chủ yếu là “Maria”, nó thích tên thánh này lắm. Ấm ức vì không được mang tên thánh Đức Mẹ, nay lại bị bạn bè hù dọa, nó vừa giận vừa sợ, chạy thục mạng về nhà hổn hển “chất vấn” mẹ:

- Sao bố mẹ đặt tên thánh của con là Têrêsa, người mang tên thánh này hay chết sớm lắm!

- Kỳ vậy, ai nói với con thế? Thánh Têrêsa là bông hoa nhỏ của Chúa, một trong những bông hoa đẹp nhất thế gian con ạ. Tuy Chị mất sớm nhưng Chị vẫn sống mãi trong lòng mọi người, con phải tự hào khi được Chị Thánh làm Quan thầy chứ?

- Không chịu đâu, con muốn là Maria như mẹ cơ. Con cũng không muốn chết sớm…

- Thế này nhé, bà ngoại con cũng là Têrêsa.

- Bà ngoại vẫn trẻ mà - nó ngừng khóc dù vẫn còn nghi hoặc.

- Cố ngoại con cũng Têrêsa thì sao nhỉ - Mẹ nó cười cười…

Lúc này nó mới thôi khóc. Ờ ờ, mình quên mất, nhà mình nhiều Têrêsa chứ có ít đâu nhỉ, ai cũng sống thọ cả mà. Bà cố đã ngoài tám mươi, tóc bạc trắng nhưng vẫn khỏe lắm, thi thoảng nó còn bắt bà cố cõng đi chơi nữa cơ. Xem ra mấy đứa bạn nói bậy rồi!

***

Chín năm trôi đi, nó đã là Sinh viên năm nhất. Cơ duyên thế nào nó lại là thành viên của Cộng đoàn sinh viên Giáo phận Vinh tại Hà Nội, nhận thánh Têrêsa làm Quan thầy. Ngày Lễ Thánh, nó nhận được quà “tân sinh viên” của cộng đoàn thật sung sướng biết bao. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, lúc ra về nó gặp mưa, ốm lăn quay ra. Lần đầu xa nhà bị ốm, ở trọ một mình, không biết tự chăm sóc lại ngại đi khám, nó tự đi mua thuốc, uống chẳng đúng giờ giấc nên bệnh càng thêm nặng, mới hơn chục ngày mà đã gầy tọp. Ký ức xưa hiện về, bản tính nhát gan khiến nó lại sởn gai ốc: “mang tên thánh Têrêsa hay chết trẻ lắm”! Tay run run không biết vì sốt cao hay vì sợ hãi, nó cầm điện thoại gọi về nhà để “bắt đền” mẹ…

Nhưng người bắt máy lại là bà ngoại…

Mới “alô”, nó đã nghe tiếng bà cười vui:

- A, Thảo hả, con bé này lớn thật rồi, còn biết gọi điện về chúc mừng Quan thầy của bà cơ đấy. Bà cũng chúc mừng Quan thầy của cháu nhé!

Nó ngẩn người ra:

- Ơ, lễ Quan thầy thánh Têrêsa qua hai tuần rồi mà bà…

- Bậy nào - Bà ngắt lời nó - Hôm nay chứ, thế mày không đi lễ à, còn ê a gọi về nhà làm chi?!

- Cháu đi lễ rồi, nhưng lễ thánh Têrêsa hôm 1/10 mà, cháu đi lễ Cộng đoàn Vinh vui lắm, còn nhận được quà “tân sinh viên” đây này, sao lại là hôm nay được.

- Chết thật cái con bé này, cháu với bà là Têrêsa Chúa Giêsu, Têrêsa thành Ávila thế kỷ 16 chứ đâu phải Têrêsa Hài đồng Giêsu thế kỷ 19 đâu. Thế mày nhầm từ bé đến giờ hả cháu…

Nó giật mình, ơ hay nó nhầm (?), thế hóa ra mấy chục năm nay mẹ nó cũng nhầm à?! Cơ nhưng mà nó tưởng chỉ có mỗi Chị Thánh Têrêsa xinh đẹp thường được đặt tượng bên tả, bên hữu các nhà thờ thôi chứ, sao lại có thánh Têrêsa khác nữa. Nó vội chào bà và bật internet, “sớt” chữ “Tê rê sa” hỏi ông “Gu-gồ” ngay. Ấy, kỳ thật, cả cái ông “Gu-gồ” này cũng nhầm lẫn hay sao mà toàn đăng bài về thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu thôi!? Nó đọc mãi mới ngớ ra Chị là “Têrêsa thành Lisieux”, trong khi bà nói rõ “Têrêsa thành Ávila” thế kỷ 16 cơ mà! Nó lại “sớt” chữ “Têrêsa thành Ávila”, lúc đó mới hiện ra một số lượng khiêm tốn bài viết về Ngài. Hóa ra Ngài cũng là Tiến sĩ Hội thánh, còn là “tiền bối” của thánh Têrêsa thành Lisieux. Nó lại đọc, đọc hết những gì người ta viết về thánh Quan thầy của mình. Nó thấy sự khác biệt lớn nhất với thánh Têrêsa thành Lisieux là thánh Têrêsa thành Ávila vượt qua được bạo bệnh của mình lúc còn trẻ và sống thọ, gần tới “thất thập cổ lai hy”. Song nó thấy hai thánh nhân gần như giống nhau tuyệt đối ở tình yêu Chúa Giê-su và dường như thời gian, tuổi tác không còn là yếu tố quan trọng. Ngẫm kỹ người ta chẳng cần phải sống thọ hay không, chỉ cần mỗi ngày sống đẹp, sống trong tình yêu chúa Giêsu là đủ rồi…

***

Bên ngoài trời vẫn mưa, những cơn mưa dầm đề, dai dẳng đáng ghét của tháng Mười nhưng nó chẳng còn sức quan tâm. Mệt mỏi, nó mê man thiếp đi. Trong giấc mơ nó thấy những giọt mưa rơi, rơi, rơi xuống mặt đất bỗng nở thành những bông hoa hồng tươi thắm. Rồi những bông hoa được kết thành đôi bàn tay giang ra từ trời cao, trên đám mây ẩn hiện hình ảnh Chị Thánh xinh đẹp tươi cười như đón đợi nó, bỗng chốc Chị Thánh già đi hay thay bằng hình ảnh thánh Têrêsa thành Ávila, nó cũng không biết nữa, nó muốn cất bước lên với Chị nhưng không nhấc chân nổi, chỉ hai cánh tay giơ lên đón lấy đôi tay được dệt bằng hoa hồng đang từ từ hạ xuống….

…Cốc cốc cốc, thùm thùm thụp…

…Nó bị sốt virus chứ không phải cảm lạnh, căn bệnh chẳng liên quan gì đến việc ướt mưa hôm đi lễ về. Nhưng nó lại uống quá nhiều thuốc cảm nên người đơ ra, cơ thể mất nhiều nước và suy nhược, hôm nay bị sốt lại mà nó không biết. May cho nó là mấy anh chị trong Cộng đoàn thấy nó bỏ lễ, bỏ sinh hoạt, hỏi ra biết nó ốm nên bất chấp trời mưa to gió lớn đến thăm và cứu nó kịp thời, bằng không có khi Chị đã đưa nó về Trời rồi cũng nên. Mà không đúng! Lần này là Chị cứu nó chứ, bằng cánh tay của Cộng đoàn…

Lơ mơ chưa tỉnh hẳn nó đã nghe tiếng kinh cầu nguyện. Nó sợ hãi tưởng mình đã về với Chúa, một lúc sau mới nhận ra mình đang ở Bệnh viện Đống Đa cạnh Nhà thờ, ngồi bên giường bệnh là một chị “Têrêsa” của Cộng đoàn đang ngủ gà ngủ gật. Bên ngoài trời vẫn rả rích mưa, “mưa hồng ân” hay “mưa hoa hồng” (?), nó tự hỏi rồi tự tìm ra câu trả lời cho mình: “hưởng dương 24 tuổi và thọ 67 tuổi có khác nhau nhiều không”…

(Ảnh: Sưu tầm)

“Lâu quá, đề nghị cho sinh mổ đi”.

Em kêu lên khá to lúc xem diễn nguyện Chúa Giáng Sinh khiến tôi giật nảy mình, một phần vì âm thanh nhưng phần lớn vì nội dung của câu nói. Bao người quay lại tròn xoe đôi mắt nhìn hai đứa như “người ngoài hành tinh”. Quả thật dù em là “Y khoa con nhà nòi” nhưng tôi không thể tưởng tượng nổi em lại phán một câu phản cảm đến vậy trong giờ phút trang nghiêm của Đêm Thánh.

Em là người Ngoại giáo nhưng biết tôi theo đạo nên cứ nhờ tôi đưa đến Nhà thờ, bảo rằng thấy đạo hay muốn khám phá cho biết. Tôi cả nể và thấy dường như em cũng yêu mến Nhà Chúa nên đêm Giáng Sinh em muốn đi theo tôi cũng không nỡ từ chối. Tôi chạy xe đạp hơn bảy cây số lên tận trường cao đẳng Y tế rồi lại chở em chạy ngược về Giáo xứ Kẻ Sét của tôi, nơi người ta thường quen gọi là Làng Tám. Sở dĩ tôi muốn em tới Giáo xứ nơi tôi sinh sống và học tập là vì tôi muốn ngầm nói với em chuyện tương lai, tôi cũng muốn “khoe” Thánh đường nơi tôi thường lui tới, năm nay lóng lánh ánh đèn màu và được “đầu tư” khá kỹ lưỡng về Diễn nguyện cũng như thuê hẳn MC nổi tiếng về dẫn chương trình…

Ấy vậy mà…

Hay tại em vừa trải qua một cú sốc?!

Trong lúc chờ diễn văn nghệ, em ngồi bên cạnh tôi kể về gia đình “Y khoa con nhà nòi” của mình. Gia đình em vừa có chuyện buồn - chị gái em li dị chồng vì bất hòa sau hơn một năm cưới nhau. Anh chị đổ lỗi cho nhau bởi cái chết của đứa con vừa tròn nửa tuổi. Năm xưa vì “ăn cơm trước kẻng” mà phải cưới, lấy nhau về không hợp cãi nhau suốt ngày, thậm chí lắm lúc chị còn bị chồng “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”, đứa bé sinh non lại bị bỏ bê nên ốm yếu không qua khỏi. Cả nhà làm nghề Y mà cũng phải “bó tay” với ông anh rể ngang ngược nên đành để “đường ai nấy đi”, đau một lần cho xong…

Em trầm ngâm, “đi Noel cho khuây anh ạ”, tôi bùi ngùi, chỉ biết an ủi “thời gian sẽ chữa mọi vết thương, em ạ”.

Nhưng tôi biết, có những vết thương mà thời gian không thể chữa được…

Và tôi cũng biết chỉ có thể chữa lành bằng Đức Tin…

Em bất ngờ bị ung thư gan, ở cái tuổi phát triển rực rỡ nhất của người con gái nên bệnh tình nhanh chóng tăng nặng, thời gian không còn được bao nhiêu dù cố công chạy chữa. Người sốc nhất chính là bố em, qua một đêm tóc ông đã bạc trắng, lúc nào cũng day dứt vì không phát hiện bệnh của con gái sớm hơn. Tôi ngồi cạnh em bên giường bệnh không giấu được nước mắt. Em an ủi tôi: “Thời gian sẽ chữa mọi vết thương mà, một ngày kia anh sẽ không còn nhớ đến em nữa, thế là xong phải không anh”.

Em chợt hỏi:

- Hay là em phạm thượng nên bị Chúa phạt?!

Tôi vội vã ngắt lời:

- Không đâu, Chúa nhân từ và em thì còn trẻ khỏe thế này, còn sống lâu chán, đừng nói gở.

Em trầm tư:

- Chắc đêm Noel anh giận em lắm, không thấy anh nói gì, giờ nghĩ lại em cũng thấy mình thật tệ, đêm đó em cũng tính nói với anh là em không thích lời giảng của Cha Xứ nữa kia!

Tôi ngạc nhiên:

- Không thích điều gì cơ?

Em trả lời:

- Cha nói phải luôn tỉnh thức bởi Chúa đến bất thình lình như kẻ trộm. Em không thích cái ví von đó vì em nghĩ Chúa đến là mang lại niềm vui chứ! Giáng Sinh là lễ vui, người người nắm tay vui cười mà?! Em cũng nghĩ rằng cha cứ nói thế thôi chứ muốn chết có dễ đâu, trẻ khỏe cứ vô tư đi, già mới phải lo chứ, sắp chết thể nào chả có biểu hiện, thế mà giờ em lại rơi vào hoàn cảnh này!

Tôi giải thích: “Chúa không nói Chúa là kẻ trộm nhưng Chúa nói ngày Chúa trở lại giống như kẻ trộm và điểm nhấn mạnh là thái độ thức tỉnh của ta để tránh hiểm nguy, mất mát. Thái độ trông chờ ngày Chúa trở lại của ta phải giống như thái độ của người sợ ăn trộm tức là phải đề cao cảnh giác, thức tỉnh, nếu không, hiểm nguy và mất mát lớn sẽ xảy ra”.

Em thở dài:

- Em biết. Em cũng đã ngẫm ra rồi. Nếu chị gái em biết tỉnh thức thì đã không rơi vào hoàn cảnh bi đát như bây giờ. Nếu bố em không chủ quan với những xét nghiệm trước đây của em thì đã không bị nhầm với bệnh sán lá gan phải không anh?

Rồi em buông thõng tay:

- Nhưng em thì không kịp tỉnh thức nữa rồi…

Em đã ra đi mà không kịp đón Giáng Sinh năm nay, ước muốn được tạ lỗi cùng Chúa bên Hang Đá đã không thành hiện thực, nhưng tôi tin rằng tỉnh thức thì không bao giờ là quá muộn và biết đâu Chúa đã tha thứ cho em mọi lỗi lầm…

Giáng Sinh năm nay hãy là ánh sao tỉnh thức anh nhé, em yêu quý…


(Thánh lễ khấn dòng của sơ Maria Lê Thị Mến (cựu thành viên cộng đoàn Vinh - Hà Tĩnh)-  Thuộc Hội Dòng Chị Em Bác Ái Thánh Nữ Gioanna Antida Thouret)

Hải Nguyệt vẫn đứng lặng trước Hang Đá ngắm nhìn gia đình Thánh Gia, khuôn mặt đầy xúc cảm. Thật là một gia đình đầm ấm hạnh phúc! Dù trong hang đá Bêlem lạnh lẽo, lúc phiêu dạt tận Ai Cập nơi đất khách quê người hay khi an nhiên nghèo hèn trên quê hương Nazarét, ba người vẫn luôn ở bên nhau, phải chăng vì thế mỗi khi thấy Thánh Gia là thấy sự ấm áp. Khi phải chạy trốn truy sát của vua Hêrôđê, khi lạc nhau ở Đền thánh hay ở lúc thiếu rượu ở tiệc cưới Cana, các Ngài vẫn lạc quan và tin tưởng nương tựa vào nhau, phải chăng vì thế mỗi khi nhìn thấy Thánh Gia là cảm giác hạnh phúc lại ngập tràn. Bất giác Hải Nguyệt nhớ nhà da diết. Khoảng thời gian ba tháng tĩnh tâm trước ngày Khấn Dòng đã trôi qua hai phần ba, chỉ còn đúng một tháng nữa là cô đã được đội lên đầu tấm khăn của nữ tu rồi, thốt nhiên cô bỗng có một ước muốn kỳ lạ: “Giá như có thể đổi ít ngày tĩnh tâm này để được về thăm gia đình, Gia đình của bố mẹ và một ‘Gia đình’ rất đặc biệt nữa”…

***

Hải Nguyệt, cái tên mới nghe qua cũng đã biết là dân miền biển rồi. Trăng trên mặt biển thật nhỏ nhưng đủ làm thủy triều dâng cao. Ánh trăng trước biển mờ mờ vẫn đủ cho ngư dân những thuyền câu đầy mực. Nhưng có một điều rất đặc biệt: cả bố và mẹ cô đều không phải là ngư dân. Mẹ là cô nuôi dạy trẻ trong khi bố là thầy lang bốc thuốc cứu người. Bố cô vẫn thường nói đùa: “Mẹ thì mong lúc nào cũng có việc, còn bố chỉ ước mình thất nghiệp thôi”. Quả thế, nếu tất cả trẻ con đều được đi học và không một ai có bệnh tật trong người thì cuộc sống sẽ tốt đẹp biết bao. Vì thế ngay từ nhỏ Hải Nguyệt đã có ước muốn khi lớn lên sẽ làm được việc gì đó vừa có thể giúp đỡ trẻ em lại vừa có thể bốc thuốc cứu người và hình ảnh các nữ tu đã đi vào tiềm thức của cô khi nào không hay. Nhưng đôi lúc Hải Nguyệt cũng khao khát được làm mẹ, mơ ước xây nên một gia đình hạnh phúc như mẹ mình. Con người Hải Nguyệt là thế, luôn chứa đầy mâu thuẫn trong suy nghĩ, nhưng thật may luôn quyết đoán trong hành động, nếu không chắc đã không kiên vững trên con đường tu trì đến bây giờ.

Mười tám tuổi, Hải Nguyệt thi đỗ một trường đại học danh tiếng tại Thủ đô. Ngày ra Hà Nội nhập học, bố đưa cô đến một ngôi trường nhỏ bé khiến cô rất đỗi ngạc nhiên: “Đại học danh tiếng mà bé thế này sao”, bố chỉ cười: “Ở Thủ đô mà có được một mảnh đất thế này để xây trường là tốt lắm rồi”. Rồi bố thuê cho cô một căn phòng nhỏ, bố bảo “không tiện nghi nhưng gần cả Nhà thờ và trường”. Lúc đó cô mới giật mình, hóa ra đây không phải lần đầu bố ra Hà Nội…

Buổi tối, bố dẫn cô đến nhà thờ, ngôi Thánh đường thật nhỏ bé, khuôn viên quá hẹp chưa bằng một nửa nhà thờ xứ của cô! Thoáng thấy ánh nhìn dò xét của cô, bố lại mỉm cười: “Ở Thủ đô mà có được một mảnh đất thế này…”, chỉ khác là sau câu nói đó bố còn thở dài: “nhẽ ra…”

Thế đó, khái niệm ban đầu của cô là ở Hà Nội này cái gì cũng bé tin hin cả.

Sáng hôm sau, ngày Chúa nhật, trước khi về quê bố lại đưa cô đến nhà thờ nhưng lần này thật ngạc nhiên là chỗ hai bố con tới không phải là khuôn viên nhà thờ mà là chỗ gửi xe, nơi có một nguyện đường be bé mà rất đông thanh niên tụ tập. Lò dò lại gần cô càng ngạc nhiên hơn: Toàn là “giọng quê choa” cả! Thì ra đó là Cộng đoàn sinh viên Giáo phận Vinh, tiền thân là “Nhóm que diêm” mà bố cô sinh hoạt Công giáo những năm cuối thập niên chín mươi thế kỷ trước trong lần ra Hà Nội học thêm Y học Cổ truyền.

Và cô đã là thành viên của Cộng đoàn từ ngày đó…

Tham dự thánh lễ Cộng Đoàn, sinh hoạt nhóm, đi dã ngoại,… cứ thế đến với cô một cách tự nhiên như “chuyện thường ngày ở phố huyện”. Lúc đó cô mới biết rằng ở phố Chùa Láng - cái tên đầy tính Phật giáo - lại quy tụ một số lượng lớn sinh viên Công giáo mà người của Cộng đoàn chiếm phần đông.

Anh Trưởng Cộng đoàn nhỏ của cô có giọng ca ngọt ngào, cậu phụ trách ca đoàn với “tiếng đàn át tiếng ô tô” làm bao người say đắm. Những giờ sinh hoạt chung, những buổi giao lưu cô được các chị “khéo tay hay làm, đá bóng cũng giỏi” trong Cộng đoàn tận tình hướng dẫn làm cái này cái nọ thật thích. Nếu giờ lễ thay đổi là có tin nhắn báo ngay nên không bao giờ lo bị mất lễ.

Những năm tiếp theo còn sôi động hơn bởi những hoạt động cô tham gia không còn chỉ giới hạn ở Cộng đoàn nhỏ mà đã tiến ra Cộng đoàn lớn. Sau những chuyến đi cứu trợ lũ lụt Miền Trung, tham gia diễn nguyện khắp Hà Thành, cùng nhau dựng Hang Đá to như Hang Đá Bêlem thật,… cô đã hiểu ra: Ở Hà Nội cái gì cũng nhỏ bé tin hin này còn có rất nhiều điều lớn lao vĩ đại nữa, một trong số đó chính là “Gia đình thứ hai” của mình! Dù trong đêm Noel lạnh giá, đêm cắm trại Sinh viên Công giáo trời nổi gió hay Lễ Quan thầy đầy “mưa hoa hồng”, mọi thành viên của Cộng đoàn luôn tựa vào vai nhau. Đó chính là sự ấm áp của một Gia đình.

Giờ này sinh nhật Chúa Hài Đồng cận kề, bất giác cô lại nhớ đến lần đầu tiên được mình được mừng sinh nhật. Đó là một bữa tiệc chúc mừng sinh nhật muộn! Hôm đó là buổi sinh hoạt thường kỳ của Cộng đoàn, nhưng kỳ lạ thay khi đến Phòng học giáo lý, nơi hội họp của Cộng đoàn, đã hơn bảy giờ tối mà vẫn chưa thấy ai, cửa khép hờ và bên trong không có ánh đèn. Hải Nguyệt vừa mở cửa, bỗng đèn bật sáng, pháo hoa giấy tung bay trước mặt, một biển người vỗ tay hát “Happy birthday to you” khiến cô giật nảy mình suýt ngất. Thì ra sáng kiến tổ chức sinh nhật chung cho các thành viên có ngày sinh trong tháng của Cộng đoàn đã được thực hiện và cô vinh dự là người đầu tiên được hưởng “chính sách” này.

Người “phát kiến” và quyết tâm cùng Cộng đoàn thực hiện chính là anh chàng hàng xóm Chùa Láng của cô. Anh chàng cận thị mặt non choẹt này kém cô một tuổi, học tận dưới trường Y mà chẳng hiểu sao chọn nhà trọ lên đây. Mãi sau này cô mới biết cả cái “sáng kiến” này lẫn chuyện trọ học xa của anh chàng đều chỉ vì một nguyên nhân thôi. Ngày đó, sau giờ cầu nguyện bên Hang đá, cô giật mình khi anh chàng “Harry Potter” đó tiến sát bên mình, thì thầm vào tai: “Tớ thích ấy lắm, tớ mơ tương lai cùng ấy xây dựng gia đình hạnh phúc như Thánh Gia”… Bị “đứng hình” một lúc, cô mới lấy lại bình tĩnh đáp lời nửa đùa nửa thật: “Em bé tếu táo quá, hihi” rồi đưa tay ra làm động tác xoa đầu anh chàng mới nhớ ra hắn cao hơn mình một cái đầu, vờ cười cợt quay đi nhưng nhanh như chạy trốn, lòng vẫn xốn xang lưu bóng mặt mày “chàng ngốc” từ xám ngoét vì rét chuyển sang đỏ gay đỏ gắt đang “chết đứng” như Từ Hải phía sau lưng…

***

Vậy là đã năm năm trôi qua, cô sắp trở thành một nữ tu của Dòng Thánh mang tên chính Thánh Quan thầy “Gia đình thứ hai” của mình. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên đến kỳ lạ hay chính Thánh Quan thầy đã chọn cô? Cô cũng không biết nữa, chỉ biết những năm qua, dưới sự bầu cử của Ngài, ước mơ vừa giúp đỡ trẻ em vừa có thể bốc thuốc cứu người của cô đã thành hiện thực. Không biết “Gia đình thứ hai” của mình đã lớn mạnh tới đâu rồi, năm nay đón Giáng Sinh thế nào nhỉ, cô thầm thì. Còn anh chàng “Harry Potter” kia nữa, giờ này chắc chàng ta đang đón Giáng Sinh cùng “gia đình Thánh Gia” của riêng mình?! Hải Nguyệt bỗng dưng bật cười rồi giật mình phát hoảng, cười chuyện năm xưa nhưng phát hoảng khi mình sắp bền đỗ rồi mà vẫn “chưa rũ bỏ được chuyện thế gian”, liệu đã xứng được Khấn Dòng chưa…

“Jingle bells”, tiếng chuông vang lên cắt ngang dòng suy nghĩ, Hải Nguyệt lại ngắm nhìn Thánh Gia: “Dù trong hang đá Bêlem lạnh lẽo, lúc phiêu dạt tận Ai Cập nơi đất khách quê người hay khi an nhiên nghèo hèn trên quê hương Nazarét, ba người vẫn luôn ở bên nhau”. Trong Hang đá, người nhỏ bé nhất là Chúa Hài Đồng lại chính là người giang đôi tay như ôm cả nhân loại vào lòng. Cô bỗng ngộ ra một điều: dù là giáo dân hay tu sĩ, dù người Công giáo hay Ngoại giáo, dù là Gia đình của bố mẹ, dù “Gia đình thứ hai”, Cộng đoàn hay Tu viện, thậm chí toàn Giáo hội và Thế giới, chúng ta chính là một “Gia đình”. Khấn Dòng là thay đổi lớn lao trong đời, nhưng dù Khấn hay không, có một điều không bao giờ thay đổi: cô mãi là thành viên trong “Gia đình” của Chúa. Dù không thể về thăm Cộng đoàn nhưng Cộng đoàn vẫn luôn ở bên cô, những việc cô làm sẽ luôn “cánh tay nối dài” của “Gia đình thứ hai” đầy thương mến ấy…

(Ảnh: Internet)

Nhà nó có một cây hồng to rất sai quả mà nó cũng tên là Hồng nên tôi hỏi:

- Vì sao cha mẹ mi đặt tên mi là Hồng?

- Vì cha mẹ tau thích tau xinh đẹp như một bông hoa hồng.

Nhìn làn da ngăm đen, khuôn mặt tròn xoe và người béo ú của nó. Tôi cười ầm lên:

- Mi có mà giống quả hồng thì có!

- Hả, mi nói… à mà mi dám nói thật hả???

Thế rồi nó rệt tôi chạy tóe khói, vừa chạy vừa la to:

- Dzậy cớ seo mặt dài đuỗn người gầy tong như mi mà ba mạ mi đặt tên là Hoa?

Đuổi đánh vậy thôi chứ ít hôm là hai đứa làm hòa. Tôi lại thường xuyên qua nhà nó. Hôm thì làm bài tập nhóm, khi thì chơi nhảy dây, nhưng thích nhất là được ra vườn hái quả ăn. Mùa nào cũng có hoa quả ngon. Mùa đông có cam, mùa xuân có đu đủ, hè thì ăn xoài, ổi, nhãn. Chỉ duy mùa thu là rất chán, có mỗi cây hồng mà quả chát xít, nếu có chín cũng phải đem ngâm mới ăn được nhưng tôi chỉ thích hái ăn ngay trên cây cơ. Mẹ nó bảo là hồng ngâm, thường chín vào dịp Trung thu và bà thường mang đi bán. Bà quý cây hồng đó lắm, nghe đâu tuổi tác cũng ngang ngửa bà.

Giáo xứ tổ chức làm thiện nguyện “Trung thu cho trẻ nghèo”. Tôi hăng hái tham gia lắm, “huynh trưởng” cơ mà. Mặc dù kinh phí eo hẹp nhưng chúng tôi cũng đã huy động được nhiều thứ, nào đèn lồng, đồ chơi, bánh kẹo, nào bim bim,… Chỉ còn món hoa quả thì vào dịp này khá đắt, nhưng Trung thu mà thiếu hoa quả thì nói làm gì nữa? Cả nhóm “huynh trưởng” chụm đầu bàn bạc, chỉ còn vài ngày nữa là Trung thu rồi, gấp quá, chỉ còn cách “giao chỉ tiêu” cho con bé Hồng thôi, vì nhà nó có nhiều hoa quả mà. Nhưng bé Hồng phân bua với tôi là mùa này nhà nó chỉ có mỗi món hồng ngâm là có thể “lo” được mà thôi. Tôi hỏi “làm như nào”, nó thầm thì “thế này, thế này…”

Như kế hoạch, tôi lách nhẹ qua cửa nhà Hồng đã cố tình để hở, còn nó đứng nép sát tường giữ chó. Con Mun gầm gừ một tí nhưng nhận ra tôi là vẫy đuôi rối rít. Tôi mò ra sân sau, tới chỗ có chậu hồng đang ngâm để bán, nhẹ nhàng vớt hồng cho vào cái túi mang theo. Đang mải mê vớt hồng thì có tiếng chân mẹ Hồng đi loẹt quẹt phía sau. Tôi hốt hoảng rón rén lùi vào bếp, bỗng có một bàn tay kéo ngược tôi qua cửa bếp và bịt miệng tôi lại. Tôi luống cuống trong bóng tối. Định thần lại hoá ra là anh Hưng nhà cái Hồng. Anh cứu nguy cho tôi. Nhìn lại thấy anh đang ôm tôi vào lòng. Tôi nghe rõ tiếng lồng ngực đối phương đang đập thình thịch, thình thịch. Vậy mà tôi không dám nhúc nhích vì sợ mẹ Hồng tóm gọn. Khi nghe tiếng dép của bà nhỏ dần và mất hẳn anh mới thả tay ra. Cả hai đều ngượng ngùng. Tôi bối rối không biết làm thế nào liền đưa túi hồng vào tay anh, tính lẻn ra ngoài. Anh kéo lại bảo tôi mang hồng về, bảo đã theo dõi chúng tôi từ ngoài cổng nên biết mà cứu bồ.

Anh hơn tôi tới năm tuổi và mặc dù biết anh từ thời thơ bé vì hai anh em cùng Giáo xứ nhưng tôi chẳng bao giờ chơi với anh cả, cũng bởi vì tuổi tác chênh lệch như thế. Mười tám tuổi, anh ra Vinh học, lúc đó tôi mới bắt đầu tuổi “thiếu nữ”, bắt đầu biết nhớ thương và dĩ nhiên là không phải nhớ thương anh rồi. Anh cao to nhưng đâu có đập chai như mấy anh giai Hàn K’Pop chứ. Thế mà ngày anh về nhà dự lễ Quan thầy của Giáo xứ, cũng là Quan thầy của tôi, Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng, thường cũng trùng dịp Trung Thu, lại “tương trợ” tôi trong hoàn cảnh đặc biệt như thế.

***

Tôi chẳng hiểu vì sao trái đất lại tròn như vậy, sau nhiều năm mỗi người mỗi ngả, tôi lại hội ngộ với anh ở một Cộng đoàn Sinh viên xa quê, người ta hay gọi tắt đó là “Cộng đoàn Vinh”, cũng nhận Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng làm Bổn mạng. Tôi thấy anh hơi “liều lĩnh” khi học ở Vinh mà bạo gan ra Hà Nội làm, nhưng cũng thầm cảm ơn Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng đã cầu bầu cho một bờ vai rộng sẵn sàng đưa tôi đi lễ dù với chiếc xe đạp lọc cọc. Rồi tôi lại thán phục anh vì đã tự sắm cho mình một chiếc xe máy, anh nói, đó là mồ hôi công sức của anh sau hơn một năm vật vã chốn Hà Thành. Hôm “khao xe” cũng là Ngày Lễ Thánh, anh chở tôi lòng vòng quanh khu Thái Hà thì bất ngờ mưa như trút nước nhưng hai anh em chẳng thể chạy đi đâu được, vì đường tắc, ngập mà không thể vác xe máy lên vai như xe đạp được. Anh cười méo mó:

- Ai bảo đi xe máy sướng hơn xe đạp nào!

Tôi cố cười để động viên anh:

- Chắc tại nay anh chở em, lại đúng ngày lễ Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng nên mới nhận được Mưa Hoa Hồng, Mưa Hồng Ân đó anh.

- Ừ nhỉ, cái số O mi xui mà, hihi. Thôi để anh giật lên vỉa hè vừa đỡ ngập mà mới có thể thoát được đám đông này.

Nói xong, anh cài số và phi lên vỉa hè Nguyễn Lương Bằng. Tôi giật mình chỉ biết phản xạ bằng cách “ôm eo ếch” của anh, thấy anh run lên không rõ vì mưa lạnh hay vì…lần đầu được con gái ôm, nhưng tôi thây kệ. Ta nói “sĩ diện gì giờ này nữa”, sợ té ngã bỏ xừ đi, hơn nữa thôi thì coi như tôi “trả lễ” cho anh mấy năm trước vậy.

Số 180 đây rồi. May quá, cả hai đứa đều kêu lên. Vào được Nhà thờ là coi như “sống” rồi, cũng may còn nhiều thời gian trước giờ lễ. Nhưng “hai con chuột lột” lết vào Đền thánh Giê-ra-đô thế này không ổn lắm. Chúng tôi vội vàng kéo nhau vào… ăn vạ cha Quỳnh. Ngài tủm tỉm cười:

- Bay hỏi mượn chi chứ mượn đồ thay thì cha chịu rồi.

- Dạ, nhưng mần răng đây cha…

Tôi vừa run vừa nói, liếc mắt nhìn anh Hưng môi cũng đã thâm sì vì lạnh, gương mặt còn đẫm nước mưa. Tôi vội rút khăn tay ra tính lau cho anh, mới hay chiếc khăn cũng đã sũng nước. Cha lại cười to:

- Thôi thì Hưng mặc tạm áo chùng của cha, còn Hoa sang bên mượn áo dòng của các Sr nhé, lát rồi hai đứa tham gia diễn nguyện luôn khỏi thay.

Anh Hưng và tôi mắt tròn mặt dẹt nhìn nhau, nhưng “sĩ diện gì giờ này nữa”, rồi sau đó chúng tôi lại cười lăn cười lộn khi nhìn thấy nhau trong tu phục. Cha Quỳnh lại tủm tỉm cười:

- Đẹp đôi quá. Như thánh Phanxico và thánh Clara luôn!!!

***

Tôi không ngờ lời cha năm nào lại trở thành “lời tiên tri”. Tuy cả hai không đi tu như hai Thánh, nhưng chúng tôi mãi mãi đi bên đời nhau như hai đường thẳng song song, không thể về chung một nhà. Anh đã về quê để tìm vợ, nhưng mãi chưa tìm được ai, còn tôi ở lại Hà thành để kiếm chồng, song cũng chẳng anh nào chịu yêu. Có phải chăng tôi đang cố công tìm món hồng ngâm, nhưng ngâm mãi chẳng chín, còn anh đang về với lũ lụt miền Trung, nơi những cơn mưa bất tận, nơi anh có thể chèo xuống cứu trợ đi tổ chức Trung Thu cho các cháu vùng lũ lụt với món hồng ngâm gia truyền của mình…

(Ảnh: Internet)

Cu Kem chau mày nhìn vào góc phòng. Còn năm ngày nữa mới tới Lễ Giáng Sinh nhưng quà đã chất đống. Người ta xếp hàng cho quà nó từ hơn một tuần nay. Chả là ba dượng nó làm sếp mà lỵ, phong bì ổng đưa mẹ cất đi, còn quà thì quẳng vô phòng nó cái xoẹt, chẳng bao giờ nhìn ngó xem là món gì vì chẳng bao giờ mẹ và ba dượng mở quà cùng nó, cũng chẳng chơi đồ chơi với nó bao giờ. Đây là năm thứ ba nó đón Giáng Sinh một mình, kể từ ngày mẹ theo ba dượng vào Sài Gòn sinh sống. Năm đầu nó sung sướng vô cùng vì có nhiều, thật nhiều đồ chơi, đặc biệt là những đồ chơi đắt tiền mà trước đây nó chỉ được thấy trên Tivi như rôbốt, ô tô, máy bay điều khiển từ xa, ấy thế mà giờ có đến mấy bộ. Nhưng sự hào hứng sớm trở thành nỗi thất vọng tràn trề khi nó không biết chơi cùng ai. Mấy đứa bạn cùng lớp suốt ngày cắm đầu vào ipad, còn chê đồ chơi của nó là “hàng lởm”, là “nhàm chán”. Ba dượng thì khỏi phải nói rồi, chả mấy khi ổng ở nhà, mà có về thì cũng chỉ để ăn uống, tiếp khách hoặc trong trạng thái say xỉn và lăn ra ngủ, buổi sáng khi nó dậy thì ổng đã đi tự khi nào. Mẹ nó từ khi vào Xì Gòn suốt ngày trang điểm lộng lẫy, đưa nó đến lớp rồi đi miết đến nửa đêm mới về nhà, mọi việc từ đón nó học về, tắm rửa, cho ăn đến bảo ban nó làm bài tập về nhà, giục đi ngủ đều giao phó cho bác giúp việc theo giờ mà bác thì lúc nào tất bật lau chùi ngôi nhà rộng lớn và giặt ủi mấy chục bộ váy áo mẹ nó thay ra mỗi ngày bởi chỉ cần nhà có chút bụi hay một chiếc áo không phẳng phiu là mẹ nó la bác tới bến. Hai năm nay Giáng Sinh với nó trở nên chán vô cùng chán khi nhìn cảnh bạn bè được đi chơi đêm, được hồi hộp đón quà Ông già Noel vào sáng hôm sau, cùng bố mẹ khui quà và cùng chơi cả ngày hôm đó. Mà đêm Giáng Sinh ở cái đất Xì Gòn này cũng chẳng có một chút lạnh để diện đồ ấm gì cả. Nó thèm cảm giác cùng bố mẹ ngồi bên bếp ngô nướng ven đường Hà Nội, vừa thổi vừa ăn như năm nào…

- Sao ngồi như ông phỗng thế kia. Học bài đi rồi còn uống sữa mà đi ngủ đi con.

Tiếng bác Tuyết cắt ngang dòng suy nghĩ của cu Kem. Nó đưa tay quệt ngang mắt, bực dọc ném bộ đồ chơi gần nhất vào tường đánh “cạch” một cái làm bác giật nảy mình:

- Ớ, bộ đồ chơi đó đắt lắm à nha. Mẹ con mà biết là mắng vốn đấy!

Nó vùng vằng ngoảnh đi, lôi quyển tập ra vứt xoẹt lên bàn, đôi mắt ầng ậc nước:

- Mấy lần con còn bỏ thùng rác ấy chứ, mẹ con có bao giờ nhìn đâu. Cái “Vòng quay vô cực” này làm sao chơi một mình được!

- Ớ thế hử? Hôm nay bác xong việc sớm, mẹ con điện về muộn, hay là bác chơi với con nghen, xem nào xem nào, có vẻ như lắp ráp khó ghê ta, chơi thế nào biểu cho bác với…

“Được lời như cởi tấm lòng”, cu Kem sung sướng nhảy cẫng lên, đùi đập vào cạnh bàn “bộp” một cái nhưng chẳng thấy đau tí nào. Nó vội vã mang hai bộ đồ chơi “Vòng quay vô cực” ra hướng dẫn bác lắp ráp thế này, rút dây thế này, làm thế này mới quay được lâu và sướng ơi là sướng vì bác lúc nào cũng thua, người lớn gì mà kém quá!

- Hay là chiều mai tan học con theo bác qua Cô Nhi Viện nghen. Các bạn ở đó thiếu thốn đồ chơi lắm. Con cứ mang các đồ chơi cũ cho các bạn cũng được, còn bao hộp đồ chơi năm ngoái chưa khui này…

- Cô Nhi Viện là nơi nào vậy bác?

- Là nơi nuôi dưỡng Cô Nhi ấy, con không biết à?

- Dạ không, Cô Nhi là ai vậy ạ?

- Ấy dà. Nói thế nào nhỉ. Là những bạn mất cha, mất mẹ hoặc cha mẹ bỏ rơi, không chơi cùng các bạn ấy.

- Vậy là giống như con hả bác?

- Hả, cái gì cơ. Con nói bậy bạ gì thế! Ý bác là cha mẹ các bạn ấy đã chết, hoặc còn sống nhưng không đủ tiền nuôi các bạn ấy nên Cô Nhi Viện đưa về nuôi. Mà thôi, đến đó con mới hiểu được…

****

Cô Nhi Viện hôm nay không có nắng. Cái rét đậm rét hại của Miền Bắc dường như thổi một làn gió se lạnh vào ngoại thành Sài Gòn, mang lại một chút không khí Giáng Sinh. Khi hai bác cháu bước qua cổng Viện, cu Kem có cảm giác như được trở về mái nhà xưa ven đô Hà Nội, nơi không khí trong lành, yên tĩnh đầy hoa thơm trái ngọt, khác xa cái cảnh khói bụi trong nội thành.

Đón hai bác cháu là một bà Xơ trong trang phục “đen toàn tập” từ đầu đến chân, từ lúp đến giày, đúng như bác Tuyết mô tả. Xơ dẫn hai người vào gian phòng “sinh hoạt chung” của Viện, nơi có khoảng hơn mười đứa trẻ tầm tuổi cu Kem. Tụi trẻ sướng rơn, mắt sáng lên khi bác Tuyết mở túi quà chứa đầy đồ chơi “xịn”. Nhưng cu Kem lại đặc biệt chú ý đến một anh lớn hơn nó chừng dăm tuổi ngồi ở góc nhà, mặt cúi gằm xuống. Nó cầm lấy một món đồ chơi tính đưa qua cho anh thì bà Xơ ngăn lại:

- Anh ấy không chơi đồ chơi bao giờ đâu. Với cả là ảnh bị trầm cảm, con chưa quen tốt nhất là đừng lại gần, ảnh dễ nổi khùng lắm đó con…

Cu Kem sợ hãi, “Dạ, vâng ạ”, rồi đặt món đồ chơi xuống và lùi lại. Nó cố giỏng tai nghe câu chuyện bà Xơ đang thở dài nói với bác Tuyết:

- Tội nghiệp thằng bé. Nó mới chuyển về đây từ Trung tâm bảo trợ được mấy tháng. Mẹ nó bị tai nạn giao thông, không nhận dạng được. Chắc nó sốc quá nên á khẩu. Mấy năm rồi vẫn chưa tìm được cách để nó nói nên không biết được quê quán hay thông tin người thân, số điện thoại,… để đưa nó về với gia đình.

Nhưng rồi chỉ chốc lát cu Kem đã sớm quên chuyện của “anh khùng”, nó hào hứng chỉ cho các bạn cách chơi “Vòng quay vô cực” rồi cả đoàn kéo nhau ra sân tỷ thí. Mấy trò điều khiển rôbốt, xe đua cũng phải ra sân chơi mới “đã”.

Chơi một lúc, cu Kem buồn đi vệ sinh. Nó chạy xuyên qua phòng “sinh hoạt chung”, khi quay lại vội vội vàng vàng thế nào dẫm phải một món đồ chơi, ngã lăn quay ra, chân tay đau tê tái tưởng không đứng dậy nổi, bật khóc “Ái da, đau quá”. Nó chợt mừng rỡ khi thấy một cánh tay chìa ra trước mặt. Ngẩng đầu lên, niềm vui của nó vụt tắt khi thấy “anh khùng” đang cúi xuống, nó vội rụt tay lại. Nhưng “anh khùng” mỉm cười, trông rất hiền từ khiến nó quá đỗi ngạc nhiên. Nó ráng xoay người ngồi dậy đã thấy “anh khùng” ở ngay bên cạnh, thì thầm:

- Này, mày cũng người Hà Nội hả mày?

- Dạ vâng ạ - cu Kem ngạc nhiên, “anh khùng” này cũng nói giọng Hà Nội.

Nó cầm lấy món đồ chơi lên, chìa ra cho “anh khùng”:

- Anh chơi trò này không?

- Xí, mấy món đồ chơi rẻ tiền, năm xưa tao có cả đống, “hịn” hơn nhiều…

- Xí xạo, vậy sao anh ở đây?

- Mẹ tao dẫn tao vào đây tìm bố, bị cướp giật, ngã vào ô tô…

- Sao lại vào đây tìm bố? Bố anh bị lạc à?

- Điên, bố tao người lớn mà lạc gì được. Là bố tao theo một mụ phù thủy “giật chồng người khác” vào đây…

Gió lạnh từ bên ngoài bỗng thốc qua cửa sổ như hòa vào giọng nói đầy phẫn nộ của “anh khùng”. Cu Kem rùng mình. “Giật chồng người khác” - nó còn quá nhỏ tuổi để có thể hiểu hết bốn chữ này. Chỉ là nó đang nhớ đến cảnh năm xưa ba người phụ nữ túm tóc lột áo mẹ nó trước cổng trường Mầm Non cũng gào lên cụm từ đó…

(Ảnh: Cộng đoàn Vinh- Hà Tĩnh tĩnh tâm mùa Chay 2021)

Một ngày hè đẹp trời năm ấy, chú đến thăm tôi. Dù đã quen nhau qua Facebook ít lâu nhưng tôi vẫn bất ngờ khi chú đến chơi nhà. Ở xóm đạo nơi Tây Bắc Xứ Nghệ, việc một “cụ già” ngấp nghé tuổi Ba Mươi “lặn lội” hơn năm cây số ghé thăm một con bé sắp bước vào lớp Mười Một cũng khó mà nói là “chuyện bình thường” được. Chú về rồi, mẹ gọi tôi lại, nửa đùa nửa thật:

- Mẹ biết nó, học sau mẹ mấy khóa, giờ đã có công ăn việc làm ở Hà Nội, “được” đó con…

Tôi ngỡ ngàng nhưng xấu hổ vô cùng:

- Mẹ…

- Mẹ mẹ cái gì, được thì mẹ nói là được, nhìn đấy mà phấn đấu…

- Ớ, con tưởng…

- Tưởng cái gì mà tưởng. Ờ ờ, mà nó hơi nhiều tuổi nhưng mọi thứ đều ổn, tao cũng chỉ mong sau này có đứa con rể được vầy là mãn nguyện rồi…

- Aaaaaa. Mẹ…

- Cái bà này - Bố tôi cắt ngang - Con nó đang đi học, chưa chi đã nói mấy chuyện yêu đương bậy bạ, bà có bị làm sao không đấy?

- Ơ hay cái ông này, tôi nói sai à? Bọn trẻ con bây giờ đâu như hồi xưa, phải định hướng cho nó sớm. Thế nếu nó đỗ được Đại học ở Hà Nội, rồi kiếm được thằng chồng có đạo, có công việc tử tế chả tốt sao. Con bé nhà mình nó lanh chanh thế, ra Hà Nội không biết tìm bạn có đạo mà chơi, coi chừng việc đạo việc đời hỏng hết, lúc đó hối cũng chả kịp ấy.

- Nhưng mà…

Bố định nói gì đó, song ông lại ngưng, dường như cũng đồng tình với mẹ làm tôi càng thêm xấu hổ, nghẹn ngào.

Nhưng chỉ ba ngày sau, mẹ tôi thở dài:

- Tưởng cái thằng đó thế nào, nghe bảo nó còn đến nhà mấy con bé khác nữa, haiza…

Bỗng dưng tôi thất vọng vô cùng! Không thể ngờ và dù không có tình cảm yêu đương gì với chú nhưng tôi vẫn khó chấp nhận một kẻ “trâu già ưa gặm cỏ non” thế này. Mà kể ra cũng phải, chú trắng trẻo đẹp zai như cái tên của chú, một cặp kiếng tròn vo như giai Hàn Cuốc Hàn Xẻng, lại có công việc ngon lành ở Hà Nội, đối với mấy con nhóc như tôi, dù có xinh đẹp kiêu kỳ đến mấy cũng phải mơ ước, các bậc làm cha làm mẹ lại càng ham…

Nhưng rồi cũng chỉ ba ngày sau, mẹ tôi lại thầm thì:

- Hóa ra không phải, nó đến cả nhà mấy đứa con trai. Là cái thằng ấy phụ trách một nhóm sinh viên Công giáo Vinh - Hà Tĩnh ngoài Hà Nội, đợt này về giới thiệu cái nhóm ấy cho bọn học sinh cấp ba. Thế nó có nói về cái nhóm ấy với con không?

- À dạ, là thế này…

Tôi thở phào nhẹ nhõm. May quá, tôi sai rồi, “thần tượng” của tôi đâu có thể tệ hại như vậy được! Tôi kể loa qua cho mẹ nghe câu chuyện của hai chú cháu hôm nọ. Mẹ nhìn tôi lom lom:

- Vậy tốt, nếu đỗ Đại học, ra Hà Nội cứ theo nó cho mẹ…

***

Chú là cựu sinh viên trường FPT, còn tôi mơ vào trường Xây dựng, bố mẹ không cấm cản nhưng bảo là “điên”, học trường Xây dựng thì chọn khoa “Gia đình” cho chúng tôi nhờ! Hôm đó hai chú cháu nói chuyện khá “hợp gu”, cơ bản là cũng đã quen cái lối “chặt chém” của nhau trên Facebook từ trước. Chú kể rằng Hà Nội đầy sôi động nhưng cũng dễ sa ngã, nếu không có Cộng đoàn Vinh - Hà Tĩnh cưu mang, e là chú cũng đã hư hỏng mất rồi, bởi cái dân FPT “bụi bặm” đã ăn vào máu. Chú giới thiệu chú thuộc Cộng đoàn Don Bosco. Tôi cả cười:

- Là Cộng đoàn Đông-các-cô hả, vậy sao chú còn ế đến giờ?

Chú ngỡ ngàng:

- Ớ cái con bé này, chặt chém thành thần rồi!

Chú bảo, đừng tưởng “chặt chém” được chú mà ngon, mai mốt vào Cộng đoàn Vinh - Hà Tĩnh rồi biết. Năm xưa chú cũng là một “chém sĩ” có tiếng chứ bộ, nickname “Thầy Phaolo” một thời đình đám trên Facebook Cộng đoàn Vinh - Hà Tĩnh đấy. Chú lấy nick này là do thời ấy người ta có phong trào cưa cẩm các ông thầy, hơn nữa hồi đó chú cũng muốn đi tu chứ bộ. Ấy thế nhưng như một sự sắp đặt của Chúa, trên Facebook thời đó chú đụng phải một loạt các nữ “cao thủ” chuyên gia “đánh bả” các ông thầy. Trình “thả thính” của các nàng ấy đã vượt ra ngoài trái đất, hướng tới hệ mặt trời rồi, làm cho ông thầy Phaolo này phải rụng rời chân tay và sớm xin “giải nghệ” vì kiếm quá cùn, có “chặt chém” giỏi mấy cũng bị dính bả, ngậm thính như thường…

***

Những năm sau đó, chú không đến nhà tôi chơi nữa khiến tôi thấy buồn và khó hiểu. Tôi đã thi đỗ vào trường Xây dựng nhưng là khoa Kiến trúc chứ không phải khoa “Gia đình” như bố mẹ tôi thường đùa. Việc học của tôi cũng liên quan đến vẽ thiết kế, đồ họa khá nhiều, tôi ước sao có chú - người thường design các áp phích, lịch của Cộng đoàn và làm các video - ở bên trợ giúp thì tốt biết bao…

Thế rồi đùng một cái, tôi được tin chú đã thi đỗ vào Chủng viện, tôi nhận ra chú không chỉ đơn giản là “thần tượng” mà hơn thế, là “người tôi thương nhớ”. Tôi không phải là kẻ “cướp người của Chúa” hay là chuyên gia đi “đánh bả” các ông thầy, nhưng tình cảm với chú là hoàn toàn tự nhiên, bởi tôi chưa từng nghĩ chú lại trở thành một “ông thầy” đúng nghĩa. Tôi đã thức trắng đêm khi nhận tin ấy, cho tới khi có tiếng lao xao bên ngoài, tôi mở của sổ nhìn xem, ra là tiếng người ta đi tập thể dục buổi sáng. Những tia sáng mặt trời đã xuyên qua cửa sổ, ánh sáng ấy xuất phát từ phía Cộng đoàn Vinh - Hà Tĩnh yêu dấu của tôi. Bỗng dưng tôi tìm ra cách hóa giải nỗi niềm của mình: những tình cảm đã dành cho chú, tôi sẽ chuyển hết sang Cộng đoàn, để tình thương mến của chú mãi mãi đi bên cạnh cuộc đời…

(Ảnh: Sưu tầm)

Một ngày đẹp trời, tôi về quê đúng dịp lễ Chầu lượt Nhà thờ Yên Đại - GP Vinh và thật may mắn, đươc nghe bài giảng Đức cha Phaolo Maria Cao Đình Thuyên. Giọng Đức cha sang sảng:

"Cách đây 10 năm, khi là Giám mục phó, tôi đã về đây dự Lễ Chầu Lượt và chứng kiến một sự việc rất đặc biệt, giờ xin kể lại với quý ông bà anh chị em:

Hôm ấy có nhiều người xin làm phép Tượng Ảnh nhiều quá, tôi không làm phép hết được nên nghĩ ra một cách, cuối giờ lễ, tôi hỏi: "Ai có tượng Thánh Giá thì giơ lên cha làm phép cho", nhiều người giơ tượng ảnh lên lắm, nhưng cuối Nhà thờ có một người giơ một tượng ảnh rất to lên, tôi vội vã đeo kính lên nhìn cho rõ, thì ra đó là một cụ ông đang giơ vợ mình lên cao, cụ bà giang hai tay ra như Tượng Ảnh vậy, cụ ông thều thào: "Lạy cha, đây là Thánh Giá của đời con" 

(Cả Nhà thờ cười rầm rầm)

Đức Cha tủm tỉm cười, ngài dừng mấy giây, lại đủng đỉnh kể tiếp:

“Sau giờ lễ, tôi có dịp tiếp kiến cụ, khâm phục cụ lắm, ở tuổi ấy rồi vẫn còn bế được vợ, tôi hỏi:

- Sao cụ lại gọi bà ấy là "Cây Thánh Giá cuộc đời" ạ?

- Dạ, con theo gương Chúa Giê-su thôi ạ!

- Ồ, ngạc nhiên quá ạ!

- Dạ, lạy Đức cha, thì con cũng vác bà ấy lên đồi, rồi cột chặt bà ấy với con suốt cuộc đời, cho đến khi chết mới được tháo đinh...

- Ái chà, cụ nói cũng có lý. Nhưng là cụ tự nguyện hay bị ép buộc đấy?

- Dạ, con cũng theo gương Chúa Giê-su thôi. Chúa Giê-su chịu đóng đanh một nửa là do yêu loài người, nửa kia là do vâng ý Chúa Cha. Con cũng thế, vác Thánh Giá một nửa vì yêu, một nửa vì bố mẹ bảo lớn tuổi rồi phải lấy vợ, nếu không các cụ cũng đuổi ra khỏi nhà...

(Cả Nhà thờ cười to hơn)

Đức Cha lại tủm tỉm, ngài hạ giọng:

- Chắc giờ này trong đây nhiều thanh niên đang cầu xin cho mau mau được vác Thánh Giá lắm ấy nhỉ...

(Cả Nhà thờ cười như vỡ chợ)

Nhớ chuyện xưa, mình cũng xin được hỏi các Thanh niên Công giáo xem, là trong Cộng đoàn của các bạn có khoảng 50% thành viên là Cây Thánh Giá, nửa còn lại có tình nguyện vác dùm không?!

(Ảnh: Internet)

Vì thất tình còn bị chê là “gốc cây”, Thanh nữ Maria An xinh đẹp quyết tâm học hành Kinh Sách tử tế, để chuẩn bị sẵn vốn kiến thức Kinh Sách và Giáo lý khá lớn, đủ tranh luận với “crush” (nếu chẳng may gặp phải) bất cứ khi nào.

Và “dịp may” cuối cùng cũng đã đến. Lần này quỷ cô nương, ý nhầm, quý cô nương của chúng ta vì cố chốt đơn để sau lễ còn đi shit, í nhầm đi ship luôn, thành ra đến hơi muộn và gốc cây Xoài nơi cô thường đứng bị một nhóm Thanh nữ chiếm chỗ, còn mấy chỗ khác không được râm mát lắm cũng đã có người ngồi. Cực chẳng đã, cô phải vòng sang phía bên Nam, hơi ngại nhưng bên này mát hơn, đỡ hỏng mất làn da “tươi màu suy nghĩ” của cô (thực tế là nó cũng chẳng đen thêm được nữa đâu, hơn thế đã đập lên một lớp kem chống nắng dày 1.000 na nô mét lên da rồi, sao phải sợ). Và kìa, như “duyên tiền định” vậy, dưới bóng cây Ngô đồng to lớn có một Thanh niên đập chai đứng lẻ loi, anh chàng có dáng vẻ mảnh khảnh và bộ râu quai nón không cạo nhẵn, đích thực là “ông Giuse của đời mình đây rồi”. Trộm nghĩ vậy, nàng Maria An ôm chiếc ghế nhựa tiến lại gần thì thấy anh chàng đã lùi lại, nhường cho cô chỗ bóng mát ngay sau gốc cây, miệng cười: “Lấy đi phớt” (Lady first). Nàng công túa xinh đẹp thấy mát lòng mát dạ và “tự nhiên như ruồi” đứng ngay vào như một “đặc ân” ban cho chàng trai ga-lăng này.

Lại tới câu chuyện rước lễ, lần này nàng không lên rước lễ vì nhỡ mất bài đọc 2 rồi, có lẽ chiều đi bù như NYC Phaolo kia đã hướng dẫn, nhưng người rước lễ lại là anh chàng Giuse, anh ta lấy tay chạm nhẹ vào vai cô:

- Em giữ cho anh cái ghế, anh lên rước lễ cái!

- Vâng ạ…

Cô nàng nghe mà ngỡ ngàng, lên rước lễ còn sợ mất ghế, anh chàng này hay à nha, mà cũng có lý. Vừa hay, anh chàng cười giả lả:

- Chỉ là anh sợ lát xuống có người chen mất chỗ cạnh người đẹp thôi.

“Quý sứ à, sợ mất bóng mát thì nói béng đi, bày đặt”, cô trộm nghĩ nhưng đành cười gượng gạo để thằng chả biến nhanh cho lành. Ai dè tay này vừa chịu lễ xuống, miệng còn nhai nhóp nhép bánh đã tán phét:

- Cảm ơn cô em, chắc em cũng hay ngồi ở ngoài, vừa mát lại vừa có dịp trò chuyện với mọi người giờ rước lễ, em nhỉ! Anh là Toàn, tên thánh Giuse, còn em?

- Vâng ạ, em là An, tên thánh Maria, em hay ở bên kia, dưới tượng Mẹ.

- A ha, hay đấy, thi thoảng sang đây với anh cho vui, Maria Giuse An Toàn, quá hay, ahihi…

“Ghê, không dám”, cô nàng An thấy sợ “ông Giuse” này, chẳng có nét gì giống thánh Bổn mạng của mình cả, nói nhiều mà lại ba hoa, hành động còn sỗ sàng nữa.

- Anh hỏi nè, em có biết vì sao Thánh Giuse là “cây khô nở hoa” không vậy?

- Dạ em chưa…

Thực ra là sau vụ trước, An An đã chịu khó tìm hiểu Kinh Sách rồi, nên cũng biết tương đối, nhưng cứ thử xem anh chàng này kể tích truyện gì.

- Hihi, cái này không phải người Công giáo cũng biết đâu. Nghĩ sao ông già đã một đời vợ có thể cưa đổ một cô gái trẻ xinh đẹp con nhà giàu như Maria chứ? Ông Giuse khéo tay lắm, đã chạm trổ hẳn mấy chùm hoa đẹp và tinh xảo lên một cây khô, lại còn ốp vẩy vàng long lanh vào nữa mang đến cầu hôn Đức Mẹ, thế là “đổ” thôi, phải biết là thời đó làm gì có công nghệ điêu khắc như bây giờ, thế mới nói ông Giuse tài! Mà cũng tài vậy mới linh hồn và xác về Trời chứ!

- Ủa, em chưa từng nghe. Ở sách nào vậy anh?

- Trời đất, em chưa đọc Kinh Thánh bao giờ à, đoạn này được chép trong phần Diễm Ca sách Công Vụ Tông đồ đó em! Mà không chỉ thế đâu, phần Xuất Hành trong sách Công vụ này còn kể chuyện thánh Giuse giải đáp các giấc mơ cho Vua Pha-ra-ông nên được vua cho làm Quan đấy, nhưng thánh Giuse khiêm nhường nên cáo quan về quê làm thợ mộc thôi. Chuyện về Trời thì trong phần Thánh Vịnh ấy.

Nghe đến đây, An An suýt xỉu, nhưng nàng vẫn cố hỏi xem anh chàng này ba hoa tới tận đâu:

- Thánh Giuse đã một đời vợ là sao?

- Thì chả thế à, Kinh Thánh có nhắc đến mấy ông Gia-cô-bê, Si-mon gì đó là anh em của Chúa, chả là con vợ trước thì con ai, cũng vì thế mà Chúa khi sinh thì trên Thánh giá đã trao Đức Mẹ cho ông thánh Gioan chứ không giao cho ông Gia-cô-bê được đó, sao giao mẹ kế cho con riêng được, nhưng người Tin lành hiểu nhầm là mấy ông này con của Đức Mẹ, thế có buồn cười không, hihi…

- À vâng, nhưng nói vậy thì ông Giuse cũng không nghèo, anh nhỉ, sao Thánh Gia vẫn sống khó nghèo?

- Nghĩ sao nói ông Giuse nghèo? Ông Giuse là “bác thợ’ hẳn hoi nhé, mà thời ấy thợ mộc có giá lắm, Thánh Gia là “tinh thần khó nghèo” chứ không nghèo đâu, hơn nữa Chúa làm phép lạ cái là có bánh ăn, sao phải nghèo?

Đến lúc này thì An An không nhịn được nữa, nàng nói:

- Tích truyện “cây khô nở hoa” là tích truyện kể về việc những người đến cầu hôn Đức Mẹ thì nhận được một cây gậy khô và chỉ có cây gậy của ông thánh Giuse nở ra hoa huệ thôi, đó là dấu chỉ người được chọn làm bạn thanh sạch Đức Mẹ. Tích truyện này chưa được xác thực nhưng ý nghĩa truyền thống là ông thánh Giuse trinh nguyên như hoa huệ và không ai dám nói ông đã có một đời vợ, ngoài ra “cây khô nở hoa” còn có ý nghĩa là ông thánh Giuse đã già, cũng không ăn ở với Đức Mẹ nhưng vẫn có một người con ngát hương thơm, đẹp lòng Thiên Chúa là Đức Giêsu. Tuy thế việc linh hồn và xác ông Giuse về Trời trong chiều Lễ Chịu Nạn chỉ là giả thuyết vì không tìm thấy Thánh tích của ông thánh mà thôi. Thánh Gia cũng nghèo thật, không phải ông Giuse cáo quan ở Ai cập về quê Nazareth mà vì Thánh Gia chịu bắt hại và bắt bớ nhiều, lại chịu sưu cao thuế nặng và lại sống công chính, không mua gian bán lận, không xu nịnh kẻ thù xâm lược nên nghèo, nghèo mà sạch! Ông thánh Giuse cũng không phải là người giải đáp giấc mơ cho Pha-ra-ông mà đó là ông Giuse thời Cựu Ước, , còn ông thánh Bổn mạng của anh chả nói bất cứ câu nào trong Kinh Thánh cả. Sách Xuất Hành, Thánh Vịnh, Diễm Ca đều ở trong Cựu Ước, còn Công vụ Tông đồ ở Tân Ước, là hai bộ sách khác nhau nhé anh thân mến…

Nói xong, An An mang ghế vào nhà kho của Giáo xứ rồi đi sang lèn Đức Mẹ để đoc kinh, thấy anh chàng Giuse còn với gọi theo: “Em sai rồi, ông Giuse không giải đáp được giấc mơ mà hiểu được lời thiên thần Gabriel à, về đọc lại đi, tuần sau ta tranh luận tiếp”. Cô nàng cả cười, có cho kẹo chắc cũng chẳng quay lại…

(Ảnh: Internet)

Ngày nảy ngày nay có một anh chàng mạnh mẽ và thuộc làu làu Kinh Sách tựa như thánh Phaolo, nhưng có lẽ vì cũng khó tính như ngài chăng, nên nỗi 29 tuổi vẫn chưa có một mối tình vắt vai. Câu hỏi: “Làm thế nào để cưới được vợ đạo gốc” quả là một câu hỏi khó đến độ ngay cả trang Thắc Mắc Công Giáo cũng chẳng thể trả lời được!

Một ngày Chúa nhật nọ, trên đường đi lễ, anh ta gặp một đám đánh nhau, anh nhớ ngay đến mối phúc thứ bảy: “Ai làm cho người hòa thuận ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời vậy” nên vội vào can ngăn, kết quả là… anh bị chậm lễ. Oái ăm thay hôm nay trời mưa nhẹ nên mọi người chạy hết vào Nhà thờ, anh đành tìm một gốc cây để trú mưa dự lễ, nhưng bên Nam các Thanh niên đã chọn hết chỗ nên anh vòng sang bên Nữ, và ố la la, dưới gốc cây trước lèn Đức Mẹ có một cô gái đang cầm ô đứng như… đợi anh vậy. Anh tới lại gần và suýt ngất xỉu vì cô gái ấy đã từng nhiều lần xuất hiện trong giấc mơ của anh: đôi mắt bồ câu con đậu con bay trong chiếc áo dài xanh như đít nhái. Anh đánh bạo lại gần thì cô gái đã nhanh chóng “mời chào”:

- Anh đứng vào đây cho đỡ ướt ạ!

- Vâng… cảm ơn…

Anh run run tiến vào đội chung ô với “crush”, nhưng gần như chỉ “xem lễ” chứ không tham dự Thánh lễ được cho đàng hoàng vì chia trí. Tới giờ rước lễ, cô gái hỏi anh:

- Anh có rước lễ hôn?

- Vâng… thôi để anh đi lễ chiều bù, chứ lễ này anh trễ mất bài đọc hai…

Cô gái tròn xoe mắt không hiểu anh nói gì, rồi đưa ô cho anh, chắc nghĩ anh này rước lễ thì không, còn hôn thì cũng chẳng dám. Cô lên rước lễ xong xuống là lấy lại cái ô (có lẽ sợ anh trộm mất chăng):

- Anh đi lễ hay ngồi trong Nhà thờ hay ngoài?

Cô gái vừa giành lấy chiếc ô, vừa hỏi. Anh chàng ngỡ ngàng, cô gái này chịu lễ xong chẳng hề làm dấu cầu nguyện gì cả, miệng còn nhai nhóp nhép bánh thánh thế kia thì nát hết Chúa à, lại còn trò chuyện luôn cơ. Anh ngại ngùng:

- À à, thường thì vào trong!

- Em thì luôn ở ngoài cho thoáng, mí cả em tên thánh Maria nên ở dưới bóng Mẹ cho “an toàn”, em tên An, còn anh?

- À, anh là Bình, tên thánh Phaolo.

- Hi, hay đấy, anh em mình hợp tên. Em bán hàng online, ở ngoài này cũng tiện, ai gọi thưa lại và chốt đơn dễ dàng, không ảnh hưởng tới người khác mà lại không lo hụt đơn. Tuần tới anh lại sang đây đứng với em cho vui nha!

Anh chàng sốc quá, “thần tượng” của mình gần như sụp đổ trong nháy mắt. Nhưng chàng vẫn cố trấn tĩnh, chỉ vào tấm áp phích bên hông Nhà thờ: “Phúc cho ai tắt điện thoại một giờ, vì họ sẽ lắng nghe được Lời Chúa”. Nhưng còn bất ngờ hơn, cô gái chau mày:

- Vâng anh, Lời Chúa không được thay đổi một phết một phẩy mà người ta dám sửa, lại còn treo bên hông Nhà thờ nữa cơ…

Anh chàng nghe vậy toát mồ hôi, chắc nàng ta cũng thuộc lòng Lời Chúa đây, bèn hỏi:

- Thế anh hỏi thật, em buôn bán thế có thờ thần tài không?

- Ô, sao lại không! Có thờ có thiêng, có kiêng có lành mà anh. Hàng tháng mùng 1 và ngày rằm Sếp bảo em mua hoa quả đặt vào rồi thắp hương nữa, sau đó đánh chén luôn cũng tiện. Mí cả tượng thần tài chỗ em bán hàng đặt ở góc nhà, em đeo Thánh giá đứng vẫn cao hơn, Chúa ở trên hết các thần, hí hí…

- Ơ hơ. Thờ cúng luôn cả thần tài à?

- Ủa, anh tên thánh Phaolo mà không biết trong thơ gởi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phaolo cho phép người ta ăn đồ cúng vì đó cũng là đồ ăn thức uống Chúa ban mà. Còn chuyện thắp hương, các cha cũng thắp, rồi cũng vái đó thôi?

Đến lúc này, anh chàng Phaolo của chúng ta phải vịn tay vào cây để không ngã sấp mặt, nhưng cũng cố hỏi xem:

- Vậy em tên thánh Maria, thì em có thờ Đức Mẹ không?

- Tất nhiên là có rồi. Mình đâu phải người Tin lành đâu, người Tin lành không tin Đức Mẹ đồng trinh mà, họ còn bảo Đức Giáo Hoàng Phanxico là Satan, là ngụy Giáo Hoàng nữa đó, anh gặp người Tin lành phải cẩn thận nha anh, bây giờ lạc giáo nhiều lắm…

Anh chàng mặt tái dại, ú ớ:

- Tin lành nào chả tin Đức Mẹ đồng trinh, nhưng họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho tới khi sinh Chúa Giêsu thôi, chứ không đồng trinh trọn đời, vì sau đó sinh ra mấy người con nữa với thánh Giuse. Công giáo tôn kính, sùng kính Đức Mẹ chứ không phải thờ, nói thờ là phạm điều răn thứ Nhất đó. Còn những người bảo Đức Giáo Hoàng Phanxico là Satan hay ngụy Giáo Hoàng là Sứ điệp từ trời chứ đâu phải Tin lành!

Cô gái lại trợn tròn đôi mắt bồ câu con bay con đậu nhìn anh, vừa lúc đó mọi người đứng lên để cha đọc lời chúc bình an cuối lễ, hai người vội đứng lên, mỗi người một tâm trạng.

Cha vừa chúc bình an xong, còn chưa đọc kinh “Cám ơn” thì có điện thoại rung, cô gái mở ra xem rồi nói vội với chàng trai:

- Em về chốt đơn, ship cho kịp. Hẹn anh tuần sau nhé!

Chàng ta ngỡ ngàng nhìn người trong mông nặng (mộng) đang chạy vội sang phía bãi đỗ xe, cô nàng bỏ luôn cả việc đọc kinh viếng Đức Mẹ - Bổn mạng của mình…

***

Tuần sau, nàng Maria An xinh đẹp của chúng tâ váy áo xúng xính, trang điểm kỹ càng đến “điểm hẹn”, nhưng đợi hoài chẳng thấy anh chàng Phaolo Bình đâu, anh ta ốm chăng. Đến cuối lễ, nàng chạy sang phía Nam chờ thì tóm được anh chàng đang lù khù đi ra, vội vã bắt lấy:

- Sao anh cho em “leo cây”?

- À à… thực ra em là “gốc cây” mà, đâu có leo?

- Hả, anh dám?

- Hì, anh khuyên thật em, sau này đi lễ thì vào Nhà thờ nghe cho rõ, chơ ở ngoài câu được câu mất, lại đi khoe với người khác mình là “đạo gốc” thì ngại lắm, mà người ta lại cười cho…

Nói xong anh chàng quay đi để lại cô gái xinh đẹp khóe mắt ầng ậc nước vì tức giận, đến nỗi chốc lát nó chảy ra trôi cả phấn má tèm nhem trên mặt. Cô gái đi thẳng ra bãi đỗ, phóng xe về giở lại Kinh Sách xem, rõ ràng là cô nhớ đúng, sao cái tên mặt dầy kia dám bảo cô sai, hắn ta nghĩ hắn là gì chứ, chỉ đơn giản là một khách hàng tiềm năng thôi mà…

(Nguồn: Internet)

Cái Xứ này người ta không có coi trọng cái chữ! Hơn ba mươi năm trước, ở đây con trai cày cuốc, kéo xe bò chở cát sỏi, hàng hóa,… còn con gái hết ngày mùa làm bánh, bán rau ở chợ, mười nhăm mười bảy tuổi vớ được anh chồng có con bò, con trâu làm vốn là “xong”. Cái việc học giáo lý cũng đơn sơ như cách người ta đi đạo vậy, ê a học thuộc, tới ngày thi cũng khảo đọc luôn, chỉ cần trí nhớ tốt là “Ưu”, khỏi phải học chữ làm gì cho khổ. Nghĩ đến cảnh lặn lội sang bên kia sông để kiếm lấy con chữ đã ngán, mà cũng chẳng để làm gì. Chuyện tính toán làm ăn quá đơn giản, cứ cái bánh một đồng thì bốn cái bốn đồng, thích thì bớt cho tí thành năm cái bốn đồng chứ ai ngồi mà tính “bán sỉ thành không phẩy tám đồng một cái, vị chi mười cái được lợi hai đồng, hai mươi cái lợi bốn đồng” bao giờ. Vậy nên cái Xứ này bao năm không có thi Giáo lý Hạt, đi xa đã đành, trên ấy người ta lại khảo viết, thi sao được. Nguồn giáo lý viên của Xứ cũng rất đặc biệt, ấy là mấy nhà kha khá, tính cho con “đi nhà thầy” cố gắng cho nó qua sông học lấy cái chữ, nhưng không có phong trào nên chẳng đâu vào đâu. Cũng có vài chú được gởi cho Cha Quản hạt nhưng thi Chủng viện không đỗ, loanh quanh lại về nhà dạy giáo lý và chỉ bảo cho bạn bè đôi ba chữ, để khi rảnh rang ngồi bán bánh, kéo xe còn đọc mấy bài báo trên giấy gói hàng… cho vui. Xứ do Cha Quản hạt kiêm nhiệm, mỗi Chúa nhật Cha về làm cho một lễ, lâu lâu cho giải tội một lượt là xong, nhà ai có kẻ liệt thì thuê xe thuê đò chở Cha về xức dầu, thế thôi. Cha quá bận, Xứ lại xa xôi cách trở nên ngài cũng lực bất tòng tâm.

Vào một ngày đẹp trời, Xứ đón một chàng thanh niên… tóc hoa râm ghé thăm. Là thầy Mười, một thầy giáo có cái “lý lịch trắng”. Nghe đâu là thương binh trong chiến trường miền Nam cuối thập niên Sáu Mươi trong một trận đánh lớn, khi ra Bắc chữa trị thì chẳng còn nhớ gì ngoài… mấy con chữ, coi như tứ cố vô thân, được Nhà nước cho đi học làm thầy, lấy luôn cái tên “Mười” cho dễ nhớ. Thầy dạy giỏi lắm nhưng lại “tỷ lệ nghịch” với sức khỏe, ngoài bốn mươi thì vết thương tái phát nhiều lần, không đủ sức đứng lớp, phải nghỉ hưu non. Có người mách cho cụ Kính bên kia sông có bài thuốc Nam hay lắm nên thầy sang xem thử, ai dè thầy nói chuyện với cụ rất hợp gu, cảm mến luôn, bệnh tình cũng thuyên giảm nên ở lại dạy chữ cho mấy đứa con cháu cụ, vừa trả công lại đỡ “ngứa nghề”. Nhà cụ Kính rộng mênh mông, cò bay mỏi cánh rơi chết còn chưa hết đất. Cụ cho “ông giáo” hẳn hai sào đất cuối vườn, dựng cái nhà tranh nho nhỏ, bảo “tự làm mà ăn, lao động chân tay nhiều khắc hết bệnh”. Thầy Mười ở với cụ Kính mấy năm, rảnh rang chẳng có sách gì đọc ngoài Sách Kinh và Giáo lý Công Giáo, cảm cái ơn cứu mạng của cụ Kính, theo Đạo luôn. Cụ Kính cũng là người làm phép rửa tội cho thầy, rồi sau đó ít lâu, thầy trở thành trưởng ban Giáo lý viên của Xứ, còn ai xứng đáng hơn…

Một người nặng lòng với con chữ như thầy Mười, lẽ dĩ nhiên không để cho Xứ cứ mãi không có người đi thi Giáo lý Hạt được. Thầy quyết tâm xóa mù chữ cho cái Xứ này. Nhưng nói thì dễ chứ làm chẳng dễ tí nào. Địa bàn quá rộng, người dân thì lam lũ, mỗi tuần có hai tối học Giáo lý mà đi chưa đủ, đến lớp còn ngủ gà ngủ gật, nói chi chuyện học chữ. Cũng phải thôi, đi xe bò kéo, chăn trâu hay làm bánh, bán rau đều phải dậy từ sáng sớm, tối mà ngủ muộn thì sáng ra đâu có mở mắt nổi. Thầy đến từng nhà động viên mà chẳng mấy ai hưởng ứng. Con nít mười tuổi trở lên đã lo kiếm ăn, dưới mười tuổi thì sợ đi xa, loanh quanh mãi cũng chỉ gom được một lớp, chủ yếu là mấy đứa nhỏ gần nhà. Tôi là trường hợp đặc biệt, ngấp nghé tuổi hai mươi, sắp lấy vợ đến nơi nhưng nhà xa, được đặc trách đưa các em đến lớp, sẵn tiện “học ké” luôn. Chuyện dạy học của thầy Mười “li kì” phải biết, nhưng tôi nhớ nhất hai chuyện.

Một là chuyện đi thi Giáo lý Hạt lần đầu, khoảng những năm cuối thập niên Tám Mươi thế kỷ trước. Thầy Mười phải bỏ tiền lương thương binh của mình ra thuê đò, thuê xe cho ba đứa cũng chẳng phải giỏi nhất đi thi, tại vì mấy đứa giỏi hơn ba mẹ nó bắt ở nhà. Gọi là “thuê xe” cho oai, thực ra là xin đi nhờ xe tải, bốn thầy trò ngồi sau rơ-mooc, đội nón lá sùm sụp để tránh nắng. Khi đi thì không sao, khi về chẳng may gặp tai nạn, hai đứa bị thương khá nặng, thầy phải bỏ hết mọi công mọi việc đi chăm, tiền tiết kiệm mấy năm cũng bay theo hết. Mà thực ra, chưa bị ba mẹ tụi nó đánh cho là may, và cũng “may” là bị tai nạn xe, chứ đắm đò thì thầy thành “tội nhân thiên cổ” rồi. Mấy ông bà không cho con đi thi có vẻ đắc ý, dèm pha đủ điều. Tưởng chừng chuyện đi thi Giáo lý Hạt sau này coi như đã khép lại hoàn toàn thì bất ngờ cả ba đứa đều “Ưu”, còn có một đứa Giải Nhất nữa mới ghê, bằng đỏ mang về treo sáng choang cả nhà, Cha quản Hạt về làm lễ khen mãi. Lúc đó mấy nhà không cho con đi thi lại ngồi tiếc, còn bị người trong Xứ chửi cho ngập đầu, khổ công thầy phải dàn hòa. Chuyến này thầy tán gia bại sản nhưng đổi lại được niềm tin yêu tuyệt đối của mọi người, và phần thưởng trong mơ là một bộ Kinh Thánh toàn tập.

Chuyện thứ hai là huyện phổ biến công tác xóa mù chữ, thầy vui lắm, lên thị trấn lấy bằng hết các sách vở, thuê xe thuê đò chở về rồi cùng bé Thanh - học trò nhỏ của thầy - hì hục phân loại, gom thành từng bộ, giao cho nó nhiệm vụ đạp xe đưa đến từng nhà. Thầy tính ít nữa sẽ cùng chúng tôi chia nhau đến tận nơi hướng dẫn mọi người học chữ và làm bài. Nào ngờ, một bữa thầy đi qua chợ, có bà Tập chạy theo, dúi vào tay thầy một gói bánh rán to, nóng bỏng tay, bảo cảm ơn thầy dạy dỗ cho mấy đứa con mà không lấy một xu. Thầy chối mãi không được phải nhận. Về nhà mở ra thấy tờ giấy gói bánh quen quen, ra là… sách xóa mù chữ. Thầy giận lắm, sang tận nhà bà Tập hỏi cho ra nhẽ. Là thế này, con bé Thanh đến xóm ấy chỉ gặp mỗi ông Tập, còn các nhà khác đang đi ăn cưới nên nó gởi hết cho ổng, nhờ tới chiều chuyển hộ. Ông Tập vứt tạm vào góc nhà, gần ngay chỗ để giấy gói bánh của bà Tập rồi quên khuấy mất, bà Tập chẳng biết chữ, không biết là thứ sách vở gì,“cứ thế dùng”. Khi thầy Mười đến thì mấy bộ sách vở đã bị dùng gói bánh gần hết, thầy nổi khùng với ông Tập, nếu mọi người không can ngăn kịp thời, biết đâu đã có đổ máu chứ chẳng chơi.

Vậy đó, chuyện dạy Giáo lý, dạy chữ ở cái Xứ lạ đời này thật lắm gian nan. Qua bao năm vẫn cứ trông cậy hết vào một cụ già đã qua tuổi “cổ lai hy” say sưa với con chữ quên cả hạnh phúc riêng, mấy lần xin nghỉ chẳng được. Ta nói, “có không giữ, mất đừng tìm” chẳng sai, giờ Cụ nghỉ hưu là biết tay nhau ngay. Nhân tài đầy ra đấy, nhưng hai chữ “hy sinh” sao mà khó tìm vậy trời!

***

Vâng, “tất cả các dòng sông đều chảy”, nhưng mỗi thời một khác, chảy về đâu, mạnh hay yếu, nhanh hay chậm, trong lành hay ô nhiễm, điều đó hoàn toàn phụ thuộc việc khơi thông nó thế nào. Người khơi dòng không mong được báo đáp nhưng đơn giản chỉ là giúp sông được sạch trong khi về với biển và cũng là người tới “Biển Tình Yêu” trước, dang tay đón những dòng sông chảy về. Hiếm ai một đời tận hiến làm “cánh tay nối dài” của cha Đắc Lộ như thầy Mười, nhưng mỗi người đều hoàn toàn có thể là “bé Thanh thứ hai”, là con thuyền, là mái chèo phụ giúp khơi trong dòng chảy cuộc đời…

(Nguồn: Sưu tầm)

- Sắp ngắm Tuần Thánh rồi, anh sẽ đi ngắm ở đâu?

Nàng bỗng dưng mở lời vào Ngày Lễ Lá, tôi ngỡ đó là một lời mời:

- Thường anh sẽ đi Nhà thờ Làng Tám, nhưng nếu em muốn, anh sẽ đưa em đi bất cứ Nhà thờ nào! Thái Hà nhé, hay Hàm Long, Nhà thờ Lớn?

- Ồ không, ý em là…là…

- Em nói đi!

- Em muốn hỏi anh về cuộc Khổ Nạn. Anh co cảm xúc gì không? Anh dự ngắm thế nào?

(Ái chà, nàng đang “thử” mình chăng, tôi nhủ thầm, nhưng với nàng, tôi cũng chả giấu gì cảm xúc cả, hơn thế, cảm xúc với Chúa Mẹ thì có gì phải giấu)

- Thứ ngắm 11 em ạ, lần nào anh cũng rưng rưng nước mắt khi Chúa Giê-su trao Đức Mẹ cho ông Gio-an. Chỉ có điều có lẽ hơi khác là anh thương Mẹ hơn cả thương Chúa! Anh không thể hình dung được nỗi đau của Đức Mẹ khi đó…

- Em thì lại không có một chút cảm xúc nào về đoạn ấy, thậm chí cả toàn bộ 15 chặng ngắm. Em đi ngắm như một bổn phận, đủ 5 thứ ngắm để thông công, mệt thì về. Em chai đá quá chăng?

Tôi sốc, thật sự sốc. Tôi không thể tin và chẳng bao giờ chờ đợi một câu trả lời “củ chuối” đến thế! Tôi há hốc miệng, á khẩu luôn, nhưng dường như nàng không để ý, nàng đang nhìn về phía khác, phía…bức ảnh Chuộc Tội đang được treo nơi trang trọng nhất của Phòng khách nhà nàng!!!

Trước mắt tôi là một cô gái mà tôi nghĩ cô ấy “đa sầu đa cảm”, hay ít ra là “có lòng trắc ẩn” như bao người phụ nữ khác. Nhưng không, tôi đã lầm. Trước mắt tôi là một cô gái có đầy đủ các chữ “giáo” mà tôi hằng mơ ước: Gia giáo, Công giáo và thậm chí là Giáo lý viên, thêm nữa là một người “có tâm hồn”, hay ít ra là một học sinh giỏi văn, một Sinh viên Khoa học xã hội và nhân văn thì nàng còn có thể là một Cô giáo trong tương lai nữa! Trước mắt tôi cũng là một cô gái mà đúng dịp này năm ngoái đã từng nói với tôi về ý định đi tu!? Nhưng giờ tôi mới biết cô ấy vô cảm trước cuộc Khổ Nạn, cô ấy thổ lộ với tôi, người cô ấy gọi là “bạn tâm giao” vào đúng ngày Lễ Lá! Bấy lâu tôi cữ ngỡ nàng giống như Thánh Bổn mạng - Mẹ Maria, để rồi phút chốc thần tượng sụp đổ, bao tình thương mến tan biến như bong bóng xà phòng…

***

Tôi ấn tượng thứ ngắm 11 từ thời thơ bé. Quê tôi, vào các ngày từ thứ 2 đến thứ 6 Tuần Thánh đều ngắm đứng từ chiều tới tối, có 4 Thiên thần “hộ giá” người lên ngắm. Điểm đặc biệt ở xứ Kỳ Anh này là có hai người đứng hai bên làm “giám khảo”, nếu chẳng may người ngắm bị lỗi do ngân quá dài hay quá ngắn, ngắt câu không đúng, thiếu từ hay đọc lỗi chính tả,…đều bị “giám khảo” đánh “trắc” và 4 Thiên Thần sẽ bỏ về, không “hộ giá” nữa, trái lại nếu bài ngắm trơn tru thì đến hết thứ ngắm, trống chiêng sẽ khua vang và 4 Thiên thần đặt hai tay bên tai và nhảy múa khoảng nửa phút rồi “hộ giá” người ngắm trở về. Một “trắc” tương ứng với số tiền khoảng bằng 5 cây nến thôi, nhưng ai bị “trắc” đều lấy làm xấu hổ, thậm chí có nhiều người vô duyên cứ thấy “trắc” là…cười ồ. Thiết nghĩ còn tệ hơn cả sự vô cảm như cô bạn của tôi. Nhưng, quay trở lại nói về thứ ngắm 11, tôi bắt đầu bị ấn tượng khi anh Minh quản ca lên ngắm. Đối với một người không biết hát như tôi, anh Minh thực sự là “Idol” và anh ngắm rất hay, rõ ràng nhưng ngân nga, tha thiết, song đến đoạn Chúa Giê-su trao Đức Mẹ cho ông Gio-an, anh dính “trắc”, là bởi vì anh bỏ sót mất chữ “kia”, thành ra chỉ ngắm: “Ơ bà… ấy Gio-an là con bà”, lại có tiếng cười rì rầm rất vô duyên, còn tôi thì đứng như trời trồng, quên cả bái chào để quay về, làm 3 “Thiên thần” kia phải quay lại kéo tôi về. Hôm ấy tôi đã rất buồn, vì chỉ còn hơn 2 dòng chữ nữa thôi là tôi có thể nhảy mừng để “hộ giá” idol của mình “ca khúc khải hoàn”, nhưng không, anh ấy đã lầm lũi quay về…để đóng tiền mua 5 ngọn nến.

Tuần Thánh năm sau, Idol của tôi lại đăng ký thứ ngắm 11, và anh ấy lại “quắc”, tôi lại đơ người ra. Đến năm thứ 3 tôi làm “Thiên thần” thì anh vẫn chọn thứ ngắm ấy, và dĩ nhiên lại “quắc” tiếp. Xong giờ ngắm, tôi chạy theo hỏi anh cho bằng được, vì sao năm nào anh cũng ngắm thứ 11 dù năm nào cũng “quắc” (lúc này tôi đã 15 tuổi, lứa tuổi cuối cùng còn được làm “Thiên thần”). Anh cười nhẹ: “Vì anh thích thứ ngắm ấy, anh không sợ mất tiền nến, nhưng anh muốn sửa bỏ chữ “kia”, vì nó xa lạ quá, sao Chúa có thể nói với Mẹ mình là “Ơ bà kia” được, em xem mà xem, vào giây phút ấy Đức Mẹ còn đau khổ hơn cả Chúa ấy chứ, sao Người lại nỡ xát muối lên vết thương lòng của Mẹ như thế, anh yêu Mẹ, anh không thể chịu đựng nổi điều ấy, dù anh biết suy nghĩ của anh là phạm Thánh…”

Tôi thực sự sốc, có lẽ vì anh ấy nghệ sĩ nên “đa sầu đa cảm” chăng, sao dám nghĩ “Chúa xát muối lên vết thương lòng của Mẹ” chứ!

Rồi tôi lên học cấp 3, rời “lũy tre làng” ra “Thành phố”, cũng kể từ đó tôi không được làm “Thiên thần” nữa. Ở xứ Cầu Rầm - Thành phố Vinh, các “Thiên thần” cũng chỉ “hộ giá”, không có nhảy múa bao giờ, cũng có hai “giám khảo” nhưng hiếm khi đánh “trắc” lắm, dù tôi thấy nhiều người ngắm có những lỗi to, lỗi nhỏ. Thứ ngắm 11 với tôi cũng không thể nào cảm xúc được như những năm trước, bởi vì chưa có ai ngắm hay như Idol của tôi.

May thay cảm xúc ấy lại trở về khi tôi dự ngắm ở Nhà thờ Làng Tám, khi tôi ra Hà Nội học đại học. Người ngắm thứ 11 năm ấy cũng là một quản ca, nhưng anh ấy không bị “quắc” (mà dường như ở Hà Nội có đanh “quắc” bao giờ đâu, dù nhiều người ngắm sai té le, vừa ngắm vừa chữa). Tôi đánh bạo đến làm quen với “idol mới”, anh ấy là Thanh, rồi khi tôi kể về anh Minh idol, anh Thanh trầm tư:

- Có lẽ bác Minh có chút nhầm lẫn. Chữ “kia” ấy là có dụng ý. Chúa làm như vậy có vẻ như “tuyệt tình” với Đức Mẹ, kỳ thực là Người làm thế để Mẹ cảm thấy xa lạ một chút đi, bớt thương Người đi, và như vậy thì sẽ bớt đau đớn hơn. Nếu ta mà cứ phân rẽ ngọn ngành thì ta cũng biết thậm chí nếu Chúa có “xua đuổi” Mẹ đi nữa, thì Tình yêu của Mẹ đối với Người vẫn luôn tròn đầy, không có gì lay chuyển nổi, nhưng Người vẫn gọi “Ơ Bà kia”, ý là “đẩy” Mẹ về phía ông Gio-an, về phía chúng ta, để tất cả chúng ta đều được là con Mẹ, để chúng ta được chia sẻ Tình yêu vĩ đại ấy…

Tôi thực sự ngỡ ngàng vì cách chia sẻ đó! Tôi vội bắt máy về cho Idol của mình để nói với anh ấy rằng, nhất định thứ 11 năm nay anh nhất định không được bị “quắc” nữa. Nhưng anh Minh nói với tôi rằng anh ấy bị Ung thư tuyến giáp, kể từ khi mổ đến nay anh không hát được nữa, anh bảo rằng anh Thanh nói đúng, và anh đã bị Chúa phạt vì đã phạm Thánh hàng chục năm. Tôi nghẹn ngào không nói nên lời, chỉ biết an ủi anh, rằng nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được, anh hãy cầu xin Mẹ, anh làm thế vì Tình yêu với Mẹ thôi, Mẹ sẽ che chở cho anh…

***

Tôi không biết tôi đã chào NYC của tôi như thế nào, về đến nhà cách gì, vào mấy giờ với cõi lòng tan nát như thế, nhưng mỗi khi Tuần Thánh đến, tôi lại đi ngắm ở Nhà thờ Làng Tám vào ngày thứ 4, ngày mà tôi biết anh Thanh sẽ đứng ngắm, và vào khung giờ khá muộn nên không bao giờ lo bị nhỡ nhàng. Tôi lại nhớ về cô gái có trái tim chai đá dù nàng không phải là người xấu, nhớ về những ngày tôi đã từng luôn đón đợi “thứ 11” của Idol, nhớ những ngày tôi chơi vơi vì không được nghe anh ngắm nữa. Ở Làng Tám, tôi lại được anh Thanh “xuyên không” đưa về 2000 năm trước trên đồi Can-vê để nép bên áo Đức Mẹ, được nghe lời trối trăng đầy tha thiết của Chúa “…Ơ bà kia…”. Tôi tin giờ đây Idol của tôi đã được ở bên Chúa Mẹ cùng với Thánh Gio-an trên Thiên Quốc, và ước mong một ngày kia mình sẽ cũng được vinh dự làm một “tên trộm lành” như anh Minh thôi, dẫu rằng mình đã từng ba năm…làm “Thiên thần”.

Amen.
Được tạo bởi Blogger.