Một câu chuyện cổ lưu truyền trong vùng Volga

Khi cầu nguyện đừng lặp đi lặp lại như người ngoại, vì họ tưởng cầu nhiều lời sẽ được nhậm. Vậy, đừng bắt chước họ, vì Cha biết các con cần gì trước khi các con cầu xin.
(Mt 6: 7,8)

Một giám mục đi từ Archangel đến tu viện Solovétsk. Trên tàu, ngoài giám mục còn có nhiều người hành hương. Thời tiết tốt, chuyến đi thuận buồm xuôi gió. Những người hành hương tụ tập trên boong tàu ăn uống và tán gẫu. Giám mục cũng lên boong; khi đang đếm bước, ông nhận thấy một nhúm người tú tụm chỗ gần mũi tàu, chăm chú nghe một ngư dân vừa chỉ tay ra biển vừa kể chuyện. Giám mục dừng lại, nhìn theo hướng người đàn ông đang chỉ, nhưng chẳng thấy gì ngoài những làn nước lấp lánh dưới ánh mặt trời. Ông đến gần, lắng nghe; nhưng khi người đàn ông nhìn thấy giám mục thì vội cất mũ chào rồi im lặng. Những người khác cũng cất mũ cúi chào.

‘Đừng bận tâm, các bạn’, vị giám mục cất tiếng trấn an, ‘tôi đến để nghe chuyện mà thôi.’

‘Ông ấy đang kể cho chúng con nghe về những ẩn sĩ.’ một người đáp lời, đó là một thương nhân, anh dạn dĩ hơn những người còn lại.


Monica lấy Hitesh hôm nay. Cuối tiệc cưới, mẹ Monica tặng nàng cuốn sổ tiết kiệm mới mở, có số tiền gởi là 1000 đồng Rs.

Mẹ: ''Monica ơi, con cầm cuốn sổ tiết kiệm này. Hãy giữ nó mà ghi lại về cuộc sống hôn nhân của con. Khi có gì vui và đáng nhớ trong cuộc sống mới của con thì con hãy gởi tiền vào đó. Hãy ghi ngay bên cạnh những gì có liên quan đến tài khoản ấy. Càng có nhiều sự việc đáng nhớ thì con càng có tiền gởi vào đó. Hôm nay, mẹ đã gởi khoản tiền đầu tiên cho con. Cùng với Hitlesh, con hãy gởi những khoản tiền khác. Sau năm này qua năm khác, khi nhìn lại, con có thể biết mình đã có được biết bao hạnh phúc!''

Monica chia sẻ điều ấy với Hitesh khi nàng về tới nhà. Cả hai vợ chồng nghĩ rằng đó là ý tưởng rất hay và nóng lòng biết được bao giờ mình có thể gởi tiền lần thứ hai vào sổ tiết kiệm.

GIÁ TRỊ CỦA MỘT THÁNH LỄ MISA

Bài viết của Sr. Mary Veronica Murphy


Xin hãy cùng đọc một chứng từ có thật, hết sức giản dị đơn sơ, nhưng lại quá độc đáo bất ngờ, để rồi cùng có được diệu cảm về Thánh Lễ...


Cha Stanislaus là Linh Mục Hội Dòng Thánh Tâm Chúa. Ngài có một người anh làm Linh Mục Dòng Tên. Thân phụ của hai anh em này là Đại Úy kiểm lâm trong một thị trấn nhỏ của Luxemburg. Ông rất sùng đạo, vẫn đi Lễ và rước Lễ hàng ngày.

Khi nói chuyện với cha Stanislaus về thời thơ ấu của ngài, tôi nói: “Cha thật có phúc được nuôi dưỡng trong một gia đình Công Giáo đạo đức, đã có công cống hiến cho đời hai vị Linh Mục.

Ngài đáp: “Vâng, đúng thế, nhưng không phải mọi sự đều trôi chảy như vậy từ đầu cả đâu ! Khi chúng tôi còn bé, cha tôi đã bỏ đạo, và mặc dù mẹ tôi còn đọc kinh cầu nguyện nhưng trong gia đình không một ai đi Lễ, kể cả Chúa Nhật, thể theo ý muốn của cha tôi.”

Tôi nói: “Trời đất ơi ! Cha làm tôi ngỡ ngàng quá chừng. Chuyện hiếm có như vậy mà có thể xảy ra thật ư ? Vậy chứ ơn gọi làm Linh Mục từ đâu mà ra ?”

Illustration by Owen Freeman for The New Yorker

Truyện ngắn “Thank You for the Light” được F. Scott Fitzgerald gửi tới tờ The New Yorker năm 1936 nhưng bị từ chối, và sau này được đăng lần đầu trên số 6 tháng 8, 2012 của tạp chí này.

Cảm ơn vì ngọn lửa


Cô Hanson là một người phụ nữ đẹp, phần nào xuống sắc ở tuổi bốn mươi, bán áo nịt bụng và đai lưng, đi lại ngoài Chicago. Trong nhiều năm thị trường của cô xoay quanh Toledo, Lima, Springfield, Columbus, Indianapolis, và Fort Wayne, và được chuyển đến vùng Iowa-Kansas-Missouri coi như là thăng tiến, vì công ty cô có mạng lưới vững chắc hơn ở miền Tây Ohio.

Ở miền Đông, cô đã quen với khách hàng một cách thân tình và thường xuyên được mời cốc rượu hay điếu thuốc trong văn phòng của khách khi giao dịch đã xong xuôi. Nhưng cô sớm nhận ra ở khu vực mới mọi chuyện lại khác. Không chỉ chưa bao giờ được hỏi cô có muốn hút thuốc không mà nhiều lần chính câu hỏi của cô rằng thế có phiền ai không còn được trả lời một cách nửa ái ngại rằng “Không phải là tôi để bụng, nhưng mà nó ảnh hưởng xấu đến nhân viên.”

“Ồ, tất nhiên rồi, tôi hiểu.”

Tiểu thuyết Nhà Giả Kim (The Alchemist) của Paulo Coelho được nhiều độc giả Việt Nam biết đến

TTCT - Paulo Coelho (24-8-1947, Rio de Janeiro, Brazil) là nhà văn Brazil nổi tiếng với cách dùng biểu tượng phong phú trong việc mô tả những hành trình thường có động lực tâm linh của các nhân vật.

Coelho được nuôi dạy trong môi trường Công giáo nhưng sớm nổi loạn chống lại những quy ước của môi trường đó, đến độ ông bị cha đưa vào viện tâm thần lúc 17 tuổi. Ông học luật nhưng bỏ ngang và đi du lịch rất nhiều ở châu Âu, Nam Mỹ và Bắc Phi.

Năm 1986, ông đi trọn con đường Santiago de Compostela dài 800 cây số, vốn là con đường hành hương từ Pháp sang Tây Ban Nha từ thời Trung cổ. Kinh nghiệm này phục hồi niềm tin của ông đối với Công giáo và là chất liệu cho cuốn O diário de um mago (1987, Nhật ký của một nhà thông thái).

Năm 1988, ông xuất bản O alquimista (Nhà giả kim), kể lại hành trình của một mục tử Andalusia xuyên Bắc Phi tìm một kho báu. Cuốn này trở thành tác phẩm Brazil bán chạy nhất mọi thời đại (được dịch sang 63 ngôn ngữ, bán được 65 triệu bản trên toàn cầu tính đến năm 2006)…


NHỮNG VÌ SAO (1)

( Lời thuật chuyện của một gã chăn cừu xứ Provence )




Trong thời gian tôi chăn cừu trên miền núi Luberon (2), có khi, suốt mấy tuần lễ liên tiếp, tôi không trông thấy một bóng người, chỉ một mình tôi thui thủi trên cánh đồng cỏ với con chó Labri và đàn cừu của tôi. Thỉnh thoảng, có vị tu sĩ sống ẩn dật ở núi Ure đi ngang qua đây để tìm kiếm dược thảo, hoặc là tôi trông thấy bộ mặt lọ lem dính đầy bụi than của người thợ phu mỏ xứ Piémont, nhưng họ là những người chất phác, khuôn mặt lầm lì vì quen sống lâu ngày trong cảnh cô đơn, không còn hứng thú trò chuyện và chẳng biết gì về những chuyện trong làng ngoài tỉnh mà người ta đang bàn tán ở dưới đó. 
Vì thế, cứ khoảng mười lăm ngày, khi tôi nghe tiếng lục lạc từ con đường mòn dưới núi đi lên của con la ở nông trại mang lương thực nửa tháng cho tôi, rồi tôi thấy xuất hiện dần dần trên sườn dốc bộ mặt tươi vui của thằng bé miarro (thằng nhỏ giúp việc ở trại) hay chiếc khăn trùm màu nâu sẩm của thím già Norade, là tôi cảm thấy trong lòng thật sung sướng vô cùng. Tôi yêu cầu họ kể cho nghe những chuyện xảy ra ở dưới đồng bằng, những buổi lễ rửa tội, những đám cưới hỏi... 
Nhưng điều mà tôi chú ý và thích nghe hơn cả là biết tin tức về cô con gái cưng của ông bà chủ trại, vị tiểu thư Stéphanette, thiếu nữ xinh đẹp nhất trong toàn vùng. Cố làm ra vẻ như không mấy quan tâm, tôi hỏi thăm xem nàng có hay đi dự nhiều dạ tiệc không, có nhiều chàng trai ngấp nghé tán tỉnh không. Và nếu có ai hỏi tôi muốn biết những chuyện ấy có ích lợi gì cho cái thân phận nghèo hèn của một tên chăn cừu miền núi như tôi, thì tôi sẽ trả lời rằng tôi đang tuổi hai mươi, và đối với tôi nàng Stéphanette là người thiếu nữ đẹp nhất trần gian.

RƯỢU BỔ CỦA CHA GAUCHER


Chúa Giêsu chịu ma quỷ cám dỗ


“ Cậu hãy uống thử loại rượu bổ này xem sao, rồi sau đó hãy cho tớ biết ý kiến nhé.

Thế là từng giọt, từng giọt, với sự cẩn thận chỉn chu như của một người thợ mài ngọc đang đếm các viên ngọc, cha sở họ Graveson rót cho tôi độ hai lóng tay một loại rượu mạnh màu xanh lục, vàng óng, nóng cháy, rực rỡ, tuyệt diệu… Cả dạ dày tôi nóng lên phừng phừng. 

“Đó là rượu bổ của cha Gaucher, niềm vui và sức khỏe của vùng Provence chúng tôi, vị linh mục nói cho tôi biết với vẻ đắc thắng ra mặt, rượu này được bào chế ở tu viện Premontré (tu viện St Michel-de Frigolet, trong vùng Montagnette, cách Graveson vài km), cách cối xay gió của cậu hai dặm đấy… Nó không thua gì so với tất cả các loại rượu Chartreuse (rượu của tu viện Grande-Chartreuse trong vùng Isère) trên thế giới phải không? Cậu nên biết, chuyện kể về loại rượu bổ này thật hết sức thú vị! Cậu hãy nghe câu chuyện sau đây đã…”


Giọt Nước Cám Ơn

Hình minh họa

Đúng năm giờ bác Chu tài xế xe taxi phải giao xe, nhìn đồng hồ đã năm giờ mười lăm rồi, nên bác tài đem tấm bảng “tạm thời không đón khách” treo lên. Đúng ngày cuối tuần, học sinh trong ký túc xá của trường trung học số bốn mươi chạy ùa ra. Bác Chu tài xế nhịn không được thói quen này nên dừng xe lại, nhìn học sinh đi đi lại lại, chúng nó mặc đồng phục nhà trường, trên mặt tươi cười rạng rỡ.

- “Bác tài, cháu…cháu muốn ngồi xe của bác.” Một bé gái chân đi cà thọt lưng mang cặp sách đi đến, nhìn hai bên phải trái nói vội vàng.

Bác tài nói phải giao xe, và chỉ có dừng xe chút xíu thôi.

CÁI NÔI CỦA CHÚA


Phúc Âm theo Thánh Luca đã chép chi tiết việc Đức Giêsu giáng sinh. Tuy nhiên, Phúc Âm không cho chúng ta biết tấm lòng của ông Giuse thương yêu, chăm sóc, chở che, bảo bọc cho bà Maria và Chúa Hài Đồng như thế nào. Bởi vậy, tiến sĩ Thần học Ralph F. Wilson (mục sư người Mỹ) với tài văn chương của mình, đã viết truyện ngắn Cái Nôi (The Cradle), dài 1.017 từ, và tôi hoan hỷ chuyển ngữ truyện ngắn này của Wilson để mùa Giáng Sinh năm nay chúng ta cùng hướng lòng kính ngưỡng về Đức Thánh Cả Giuse thành Nadarét. (Huệ Khải)

Họ rời nhà mình, cái nôi mới tinh treo thòng xuống từ hàng rui trên mái vẫn đong đưa. Từng đêm lại từng đêm mùi gỗ mới xẻ thơm lừng gian phòng khi Giuse nhẫn nại đóng cái nôi nhỏ, dùng những cưa đục quen thuộc mà ông thường rời tay vào lúc hoàng hôn.


Lời giới thiệu: 

Ngày lễ Noel thường diễn ra trong tiết trời lạnh giá. Gia đình sum họp đem đến hơi ấm, niềm vui cho mọi người. Xin giới thiệu đến quý độc giả một số truyện ngắn hay về đề tài Giáng Sinh. 


Kính chúc quý anh chị em Giáng Sinh an lành. BBT VTCG



Câu truyện 1


Như thường lệ, mỗi mùa Giáng sinh, tôi đều nhận được quà từ anh trai của tôi. Giáng sinh năm ấy tôi cảm thấy vui nhất không phải chỉ vì món quà anh tôi tặng -một chiếc xe hơi - mà vì tôi đã học được một bài học rất thú vị vào cái đêm đông lạnh lẽo ấy...

Đã 7 giờ tối, mọi người trong công ty đã ra về gần hết, tôi cũng đang đi đến gara để lấy xe và về nhà ăn Giáng sinh.

Có một cậu bé, ăn mặc rách rưới, trông như một đứa trẻ lang thang, đang đi vòng quanh chiếc xe tôi, vẻ mặt cậu như rất thích thú chiếc xe. Rồi cậu chợt cất tiếng khi thấy tôi đến gần, "Đây là xe của cô ạ?". Tôi khẽ gật đầu, "Đó là quà Giáng sinh anh cô tặng cho". Cậu bé nhìn tôi tỏ vẻ sửng sốt khi tôi vừa dứt lời. "Ý cô là...anh trai cô tặng chiếc xe này mà cô không phải trả bất cứ cái gì? Ôi! Cháu ước gì...". Cậu bé vẫn ngập ngừng.

Tất nhiên tôi biết cậu bé muốn nói điều gì tiếp theo. Cậu muốn có được một người anh như vậy. Tôi chăm chú nhìn cậu bé, tỏ vẻ sẵn sàng lắng nghe lời nói của cậu. Thế nhưng cậu vẫn cúi gằm mặt xuống đất, bàn chân di di trên mặt đất một cách vô thức. "Cháu ước...", cậu bé tiếp tục "...cháu có thể trở thành một người anh trai giống như vậy". Tôi nhìn cậu bé, ngạc nhiên với lời nói vừa rồi. Bỗng nhiên tôi đề nghị cậu bé, "Cháu nghĩ sao nếu chúng ta đi một vòng quanh thành phố bằng chiếc xe này?". Như sợ tôi đổi ý, cậu bé nhanh nhảu trả lời: "Cháu thích lắm ạ!"

Sau chuyến đi, cậu bé hỏi tôi với ánh mắt sáng ngời đầy hy vọng, "Cô có thể lái xe đến trước nhà cháu không?". Tôi cười và gật đầu. Tôi nghĩ mình biết cậu bé muốn gì. Cậu muốn cho những người hàng xóm thấy cậu đã về nhà trên chiếc xe to như thế nào. Thế nhưng tôi đã lầm... "Cô chỉ cần dừng lại ở đây, và có phiền không nếu cháu xin cô đợi cháu một lát thôi ạ..."

Nói rồi, cậu bé chạy nhanh vào con hẻm sâu hun hút, tối om, tưởng chừng như chẳng có ai có thể sống trong ấy. Ít phút sau, tôi nghe thấy cậu bé quay lại qua tiếng bước chân, nhưng hình như lần này cậu không chạy như lúc nãy mà đi rất chậm. Và đi theo cậu là một cô bé nhỏ nhắn, mà tôi nghĩ đó là em cậu, cô bé với đôi bàn chân bị tật. Cậu bé đẩy chiếc xe lăn em cậu đang ngồi, một chiếc xe cũ kĩ, xuống những bậc tam cấp một cách rất cẩn thận, và dừng lại cạnh chiếc xe của tôi.

"Cô ấy đây, người mà lúc nãy anh đã nói với em đấy. Anh trai cô ấy đã tặng một chiếc xe hơi cho cô nhân dịp Giáng sinh mà cô chẳng phải tốn lấy một đồng. Và một ngày nào đấy anh cũng sẽ tặng em một món quà giống như vậy. Hãy nghĩ xem, em có thể tận mắt thấy những món quà, những cảnh vật ngoài đường phố trong đêm Giáng sinh, và anh sẽ không phải cố gắng miêu tả nó cho em nghe nữa!".

Tôi không thể cầm được nước mắt, và tôi đã bước ra khỏi xe, đặt cô bé đáng thương ấy lên xe. Ánh mắt cô bé nhìn tôi đầy vẻ cảm phục và thân thiện.

Ba chúng tôi lại bắt đầu một chuyến đi vòng quanh thành phố, một chuyến đi thật ý nghĩa và tôi sẽ không bao giờ quên, khi những bông tuyết lạnh giá của đêm Giáng sinh bắt đầu rơi.

Và cũng trong đêm Giáng sinh ấy, tôi đã hiểu được sâu sắc ý nghĩa một câu nói của chúa Giê-su: "Không gì tốt đẹp hơn việc làm cho người khác hạnh phúc".

Câu truyện 2


Chỉ còn 4 ngày nữa là đến Giáng Sinh. Không khí của ngày lễ chưa làm tôi nôn nao, cho dù bãi đậu xe của cửa hàng giảm giá trong khu nhà chúng tôi đã chật ních đầy xe. Bên trong cửa hàng lại còn tệ hơn. Các lối đi đầy ứ những xe đẩy hàng và người mua sắm vào giờ chót.

Tại sao tôi lại đến đây hôm nay? Tôi tự hỏi. Đôi chân tôi rã rời, đầu tôi đau buốt. Tôi đã có 1 danh sách một số người quả quyết rằng họ không cần quà cáp, nhưng tôi biết họ sẽ rất buồn nếu như tôi chẳng tặng quà gì cho họ!

Mua quà cho người mà cái gì họ cũng có để rồi lại hối tiếc vì đã tốn kém nhiều cho quà cáp, theo tôi mua quà chẳng có tí gì là thích thú cả!

Tôi vội vã cho những món hàng cuối cùng vào xe đẩy, rồi tiến tới những dòng người xếp hàng dài đăng đẳng. Tôi chọn hàng ngắn nhất nhưng có lẽ cũng phải chờ đến 20 phút.

Đứng trước tôi là 2 đứa trẻ - 1 cậu bé khoảng 5 tuổi và 1 cô bé nhỏ hơn. Đứa bé trai mặc một chiếc áo rách. Đôi giày tennis rách tả tơi, lớn quá khổ và dư thừa ra phía trước chiếc quần jean ngắn cũn cỡn của nó. Nó nắm chặt mấy tờ đô-la rách nát trong đôi bàn tay cáu bẩn của mình. Quần áo của đứa bé gái cũng giống y anh nó vậy.

Cô bé có một mái tóc xỉn màu với những lọn tóc xoăn. Trên khuôn mặt nhỏ nhắn của cô bé hiện rõ rằng cô bé đang mong chờ đến bữa ăn chiều. Trong tay cô là một đôi dép màu vàng bóng thật đẹp. Trong lúc tiếng nhạc Giáng Sinh vang lên từ hệ thống stereo của cửa hàng, cô khe khẽ ngân nga theo, dù lạc điệu nhưng rất hạnh phúc.

Cuối cùng cũng đã tới phiên chúng tôi, cô bé cẩn thận đặt đôi giày lên quầy. Cô có vẻ quý đôi giày như vàng vậy.

Người thu ngân in hoá đơn và nói: “Của cháu là 6,09 đô”. Cậu bé đặt những đồng tiền rách nát của mình trên mặt quầy và lục tìm khắp túi.

Cuối cùng cậu tìm được tất cả là 5,12 đô. “Cháu nghĩ chúng cháu phải trả đôi giày lại” - cậu lấy hết can đảm nói. “Lúc khác cháu sẽ quay lại, có lẽ là ngày mai”.

Nghe anh nói thế, cô bé bắt đầu nức nở:

“Nhưng Chúa Giêsu sẽ rất yêu thích đôi giày này cơ mà” - cô bé khóc.

“Thôi được, chúng ta về nhà và sẽ kiếm thêm, em à, đừng khóc nữa, rồi chúng ta sẽ quay trở lại mà” - Cậu bé năn nỉ em.

Tôi nhanh chóng đưa cho người thu ngân 3 đô. Hai đứa trẻ đã xếp hàng chờ đợi quá lâu, và dù sao cũng đang là mùa Giáng Sinh.

Bỗng nhiên, một đôi vòng tay ôm lấy tôi và giọng nói nhỏ nhẹ cất lên: “Cháu cảm ơn cô, cô nhé”.
“Ý của cháu là gì khi nói rằng ”Chúa Giêsu sẽ thích đôi giày này?“ - Tôi hỏi.

Cậu bé đáp: “Mẹ cháu bệnh và sẽ lên Thiên Đàng. Bố bảo mẹ sẽ về với Chúa trước Giáng Sinh”.

Cô bé nói thêm: “Giáo viên của cháu nói rằng đường phố trên Thiên Đàng vàng bóng, như chính đôi giày này đây. Mẹ cháu sẽ rất đẹp khi mang đôi giày này đi trên con đường ấy phải không cô?”

Nước mắt tôi tuôn trào khi nhìn thấy những giọt lệ lăn trên khuôn mặt cô bé.
Tôi đáp: “Đúng, cô tin chắc là mẹ cháu sẽ rất đẹp”.

Tôi lặng lẽ cám ơn Thượng Đế đã dùng những đứa trẻ này để nhắc nhở tôi về ý nghĩa đáng trân trọng của việc tặng quà.

Câu truyện 3


Tôi rảo nhanh chân đến cửa hàng địa phương để mua vài món quà giáng sinh vào phút chót lễ Giáng Sinh. Trên đường đi, tôi ngắm nhìn mọi người rồi tự nhủ, đáng nhẽ mình phải đi mua quà từ trước nhưng do bận nhiều việc quá. Lễ Giáng Sinh cũng là lúc để tôi có thể thong thả được một lúc. Có lúc tôi đã ước rằng mình sẽ ngủ một giấc dài qua cả mùa Giáng Sinh. Nhưng bây giờ là lúc tôi phải nhanh chóng đến cửa hàng đồ chơi.

Ðang tìm những thứ cần mua, tôi thấy một cậu bé khoảng 5 tuổi đang ôm một con búp bê rất dễ thương. Cậu bé ôm con búp bé rất âu yếm và đang vuốt ve tóc của nó. Tôi cảm thấy rất tò mò nên chăm chú quan sát cậu bé và tự hỏi không biết cậu bé đó định tặng con búp bê đó cho ai. Tôi nhìn thấy cậu bé quay sang nói với người cô đi bên cạnh “Cô có chắc là cô không đủ mua con búp bê này không?”. Người cô trả lời đứa cháu một cách không hài lòng “Cháu phải biết rằng cô không có đủ tiền để mua nó!” Người cô dặn đứa bé không được đi lung tung trong khi bà đi mua trêm vài thứ khác, và bà sẽ quay lại sau vài phút nữa. Rồi thì bà ta bỏ đi để lại thằng bé vẫn đang mải mân mê con búp bê.

Tôi tiến lại gần để hỏi xem thằng bé định mua con búp bê đó cho ai. Thằng bé trả lời “Cháu mua con búp bê này cho em gái của cháu, vì nó rất thích được tặng một con búp bê nhân dịp Giáng sinh và nó đoán rằng ông già Noel sẽ tặng nó một con”. Tôi bèn bảo thằng bé rằng có thể ông già Noel sẽ mang đến không biết chừng. Thằng bé đáp lại ngay “Ông già Noel không biết chỗ em cháu đang ở. Cháu sẽ đưa con búp bê này cho mẹ cháu để mẹ cháu chuyển cho em cháu”. Nghe như vậy tôi liền hỏi thằng bé xem em nó hiện giờ đang ở đâu.

Thằng bé ngước nhìn tôi với ánh mắt buồn rầu rồi nói, “Nó đã đi theo với Đức Chúa rồi”.

Bố của cháu bảo là mẹ của cháu cũng đang chuẩn bị đi cùng với em cháu rồi. Nghe những lời thằng bé nói, tôi cảm thấy tim tôi như có ai vừa bóp nhẹ. Nói xong thằng bé ngước nhìn tôi rồi nói “Cháu đã bảo với bố cháu khuyên mẹ cháu đừng đi theo em cháu vội. Cháu bảo ông nhắn với mẹ cháu rằng hãy đợi cháu đi cửa hàng về đã”. Sau đó thằng bé hỏi tôi có muốn xem bức tranh của nó vẽ không. Tôi bảo rằng tôi rất thích. Thằng bé liền rút vài bức tranh nó để ở quầy hàng đưa cho tôi rồi nó nói “Cháu muốn mẹ cháu mang theo những bức tranh này theo để mẹ cháu không quên cháu, cháu rất yêu mẹ cháu nên cháu không muốn mẹ đi đâu. Nhưng bố cháu bảo mẹ cháu phải đi cùng với em cháu”.

Tôi chăm chú nhìn thằng bé và cảm thấy dường như trong hình hài nhỏ bé kia thằng bé lớn lên rất nhiều. Trong khi thằng bé không chú ý, tôi vội lục tìm trong ví của mình để lấy ra một nắm tiền rồi tôi bảo thằng bé “Cháu có đồng ý là chúng ta sẽ cùng đếm số tiền này không?” Thằng bé vô cùng phấn khởi nó nói “Ðược ạ cháu hi vọng là đủ”, rồi tôi đưa cho thằng bé một ít để hai người cùng đếm. Trong khi đếm tiền thằng bé khẽ nói “Tất nhiên ở cửa hàng này có rất nhiều búp bê, cảm ơn Chúa đã mang cho con số tiền này”, sau đó thằng bé nói với tôi rằng “Cháu vừa mới ước được Đức Chúa ban cho cháu số tiền này, cháu sẽ mua con búp bê này để mẹ cháu mang nó cho em gái cháu. Và Ngài đã nghe thấy lời nguyện ước của cháu. Cháu cũng muốn ước rằng Ngài ban cho cháu đủ tiền để cháu mua cho mẹ cháu một bông hồng trắng vì mẹ cháu rất thích hoa hồng trắng nhưng cháu chưa kịp hỏi Ngài thì Ngài đã ban cho cháu số tiền đủ để mua cả búp bê và hoa hồng nữa”.

Ðúng lúc đó thì cô của thằng bé quay trở lại nên tôi đẩy xe hàng của mình đi. Lúc này đây, tôi có tâm trạng khác hẳn với lúc mới vào cửa hàng và tôi không khỏi nghĩ miên man về câu chuyện thằng bé kể cho tôi. Bây giờ, tôi mới nhớ ra mình có đọc thấy trên báo nhiều ngày trước đây có một tai nạn do một tài xế say rượu đã đâm vào một ô tô làm chết tại chỗ một bé gái còn mẹ của bé thì bị thương rất nghiêm trọng. Lúc đó, tôi nghĩ rằng tai nạn đó không phải là trường hợp của cậu bé đã kể.

Hai ngày sau, tôi đọc trên báo thấy đăng tin người phụ nữ xấu số đó đã qua đời. Tôi vẫn không tài nào quên được cậu bé và tự hỏi không biết hai câu chuyện này có liên quan gì đến nhau không. Ngày hôm sau, có chuyện gì cứ thôi thúc tôi khiến tôi bước ra ngoài và mua một bó hoa hồng trắng rồi đem đến nơi cử hành tang lễ cho người phụ nữ trẻ. Ở đó, tôi thấy người phụ nữ nằm trong quan tài trên tay ôm một bó hoa hồng trắng rất đẹp bên cạnh đó là một con búp bê và những bức tranh của cậu bé mà tôi đã gặp ở cừa hàng đồ chơi hôm nào.


Tôi đứng đó nước mắt tuôn trào, cũng từ đó tôi cảm thấy yêu quí người thân của mình hơn và biết trân trọng những tình cảm linh thiêng đó. Tình yêu của cậu bé dành cho em gái và mẹ của mình thật là quá lớn lao. Nhưng chỉ cần có một tích tắc vô trách nhiệm của gã lái xe say rượu kia đã tàn phá hoàn toàn cuộc đời của cậu bé tội nghiệp. Ai đó đã từng nói rằng: “Chúng ta sống được nhờ những cái gì chúng ta có, nhưng chính chúng ta tạo ra ý nghĩa cuộc sống của mình bằng những gì chúng ta chia sẻ với người khác”.

Truyện hay Giáng Sinh
ngoại quốc
(nguyễn thị hải hà dịch và giới thiệu)


Lời Giới Thiệu

Cả ba truyện ngắn, Giáng Sinh của Vladimir Nabokov, Hai Người Chưa Gặp của John McNulty, và Giáng Sinh ở Tokio đều được trích từ “Christmas at The New Yorker: stories, poems, humor, and art” xuất bản năm 2003. Nhiều truyện trong quyển này rất hay và của nhiều tác giả rất nổi tiếng như John Cheever, John Updike, Alice Munro, … .


GIÁNG SINH ĐẶC BIỆT CỦA NGƯỜI THỢ GIÀ



Đôi nét về tác giả, tác phẩm


Đại văn hào Nga Lev Tolstoy (1828-1910) là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong lịch sử văn học thế giới. Ông còn là nhà triết học, một nhà cải cách xã hội, người theo đuổi chủ nghĩa hòa bình với những tư tưởng về luân lý và tôn giáo đã gây ảnh hưởng sâu đậm trong lý tưởng của thế kỷ XX. Cuộc đời ông trải qua nhiều thăng trầm, biến cố và có một sự nghiệp văn chương vĩ đại với hàng chục bộ tiểu thuyết đồ sộ, nhiều bút ký, truyện ngắn, dịch thuật, tác phẩm chính luận… Đặc biệt trong đó hai kiệt tác Chiến tranh và hoà bình và Anna Karenina được xem là đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực.


KINH NGUYỆN ĐƠN GIẢN


Truyện kể về một khách hành hương người Nga, ông đã trải qua nhiều tai ương khốn khó: người vợ và đứa con yêu quí qua đời, nhà cửa bị cháy. Thế là ông quyết định từ bỏ mọi sự và dành hết quảng đời còn lại để đi hành hương các nơi thánh. Ông lên đường với hành trang vỏn vẹn là một túi xách, trong đó có một cuốn Kinh thánh và ít lương thực.


Mỗi lần đọc Kinh thánh, ông gặp lời mời gọi cầu nguyện liên lỉ, cầu nguyện không ngừng. Ý tưởng đó ăn sâu vào tâm trí ông. Ông bắt đầu tìm kiếm một người có thể dạy ông cầu nguyện liên lỉ.

Máu Chúa Giêsu


Một buổi tối nọ, trong giờ cử hành phụng vụ, một cô gái cảm thấy Lời Chúa đánh động lòng mình. Cô đáp trả tiếng gọi của Chúa cách tích cực và tin nhận Đức Giêsu là Chúa và là Đấng cứu độ.


Cô ta vốn có một quá khứ tồi tệ: nghiện ngập, ma tuý và mãi dâm. Nhưng sự thay đổi trong cô thật rõ ràng. Thời gian trôi qua, cô trở nên một tín hữu nhiệt thành của giáo xứ. Cô tham dự vào việc dạy giáo lý cho trẻ em và các hoạt động mục vụ khác.

Bài liên quan



11. SỨC MẠNH CỦA SỰ QUYẾT ĐỊNH


Ngôi trường nhỏ ở vùng quê ấm lên nhờ cái lò than kiểu cũ. Một bé trai có nhiệm vụ mỗi ngày đi học sớm để đốt lò làm ấm phòng học trước khi giáo viên và các học sinh khác tới.

Một sáng nọ, người ta thấy ngôi trường bị cháy. Họ kéo cậu bé ra khỏi đám cháy, nửa sống nửa chết, vết phỏng đầy người. Và họ đưa cậu bé đến bệnh viện gần đó. Cậu bé nằm trên giường nửa tỉnh nửa mê nhưng vẫn nghe được bác sĩ trao đổi với mẹ mình. Bác sĩ nói với người mẹ rằng con bà chắc không sống nổi, vì vết phỏng quá nặng, cả nửa người dưới bị cháy.

Bài liên quan


6. DƯỚI ĐÔI CÁNH CỦA NGÀI


Một bài viết trên báo National Geographic đưa ra một hình ảnh về đôi cánh của Chúa. Sau hỏa hoạn ở Công viên Quốc gia Yellowstone, người ta tìm lối vào cảnh hoang tàn đó. Người ta thấy một con chim cháy thành tro à vẫn đứng bên gốc cây. Người ta gõ vào nó thì thấy có 3 chim con cháy thành than dưới đôi cánh chim mẹ. Chim mẹ biết nguy hiểm nên đưa con tới bên gốc cây và ủ các con dưới đôi cánh.



1. LÁ THƯ CỦA CHÚA GIÊSU


Con yêu dấu,

Khi con thức dậy sáng nay, Cha nhìn con và hy vọng con nói chuyện với con, dù chỉ là vài lời xin ý kiến Cha về điều gì đó tốt đẹp xảy ra trong đời con hôm qua, nhưng Cha thấy con quá bận rộn tìm đồ mặc đi làm hoặc đi học. Cha lại phải chờ đợi con. Khi con lăng xăng trong nhà, Cha biết chỉ còn vài phút cho con chào mọi người, nhưng con QUÁ BẬN RỘN. Cha thấy con cũng bồn chồn. Cha nghĩ con muốn nói chuyện với Cha, nhưng con lại nghe ĐT riêng. Cha theo doi bước chân khi con đến trường hoặc đi làm. Cha kiên nhẫn chờ con hết ngày này qua ngày khác. Với ác hoạt động của con, Cha đoán con quá bận rộn nện không có giờ nói chuyện với Cha. Cha biết rằng trườc khi con an trưa, con cứ nhìn quanh, có thể con thấy lúng lúng túng khi muốn nói chuyện với Cha rằg tại sao con không cúi đầu. Con nhìn ba bốn bàn bên cạnh, con thấy một số người nói vài lời ngắn gọn trước khi ăn, nhưng không phải như vậy. Sự thật là vậy. Vẫn còn thời gian. Cha hy vọng con sẽ nói chuyện với Cha.


Chú Melrose bị cong lưng vì bệnh vẹo xương sống (scoliosis), đôi mắt xanh sáng nhưng bị lé. Hai chú cháu sắp hàng để mua hamburger, chú nói rất khó hiểu, ý chú nói chỉ có tôi hiểu chú thôi.

Chú không những đưa tay chỉ vào người ta, chú còn vẫy chào khi họ ở gần chú. Một số người chào lại chú hoặc vẫy tay chào chú, nhưng đa số quay đi chỗ khác hoặc nhìn chú với ánh mắt kỳ lạ, không mấy thân thiện. Tôi tự thấy mình may mắn được biết chú.

Tôi tình cờ biết được sự hiện hữu của chú khi tôi 15 tuổi. Vào một buổi trưa, tôi ngồi xem các hình ảnh gia đình, tôi thấy một bé trai 3 tuổi ngồi trước hiên nhà. Có lẽ hình chụp khi ba tôi khoảng 9 tuổi – lớn nhất trong 3 người. Còn người trẻ hơn ba tôi chừng 1 tuổi thì tôi không biết đó là ai.



Trước khi nhấn số, tôi biết sai nhưng tôi vẫn cứ nhấn. Điện thoại reo một lần, hai lần, rồi có người nhấc máy. Giọng đàn ông khàn khàn: “Anh gọi lộn số rồi”. Điện thoại cúp. Tôi lại nhấn gọi số cũ. Vẫn giọng đàn ông khàn khàn: “Tôi đã nói anh lộn số rồi mà”.

Sao ông ta lại biết tôi gọi lộn số? Lúc đó tôi làm việc ở phòng cảnh sát New York. Công việc của cảnh sát là điều tra – và quan tâm. Tôi gọi lại lần thứ ba. Vẫn giọng nam: “Thôi nhé! Lại vẫn là anh à?”. Tôi đáp: “Cháu đây. Cháu thắc mắc là làm sao ông biết cháu gọi lộn số khi cháu chưa nói gì?”. Ông ta nói nhanh: “Anh tự nghĩ ra”. Điện thoại cúp. Tôi không kịp nói gì thêm.



Khi Xơ Jasmina cầm dao rọc giấy bằng nhựa để cắt chiếc phong bì màu xanh pha lẫn mùi nước hoa thơm phức, được gắn một hoa hồng đỏ bên góc trái, óc tò mò đã làm xuất hiện hai nếp nhăn trên cái trán khá phẳng lì của Xơ. Và khi đôi mắt Xơ bắt đầu lướt trên mấy hàng mở đầu, khuôn mặt Xơ càng đỏ dần lên bởi sự bối rối gia tăng.

Được tạo bởi Blogger.