(Nẻo đường kỷ niệm)

Em và tôi lớn lên trong một làng quê xưa nghèo khó.

Thủa ấy, mỗi buổi sáng, chúng tôi hay đuổi bướm trên đường tới trường, hái hoa dâm bụt đỏ hồng đem tặng cho cô. Tiếng trống trường tan, chúng tôi lại rong ruổi đi bên nhau về. Nhà Em bên cạnh nhà Tôi, hai nhà cùng ngõ đi về với nhau.

Sáng nào cũng vậy, Ba của Em dắt Em sang nhà, bảo tôi đưa Em đi học, rồi lại ngồi uống trà đàm đạo với ba tôi. Ngày tháng, chúng tôi thương nhau như hai anh em ruột. Thế rồi một độ xuân về, năm ấy em lên mười hai, dì ruột của em là soeur của dòng Đa Minh, về thăm quê, rồi đưa em lên chỗ soeur để học. Hy vọng em sẽ là soeur như Dì.

Chuyện Vung Chuyện Nồi



Sáng sớm, gió thổi ràn rạt trên cánh đồng vắng vẻ, quạnh hiu, từng làn hơi nước bốc lên mờ ảo, thi thoảng, một cánh cò mải miết ăn đêm bị lạc đàn, vừa vội vã bay về tổ, vừa vươn cái cổ dài ngoẵng gọi bạn thảm thiết, khung cảnh đó làm cho cánh đồng càng thêm lạnh lẽo, cô liêu. Nhìn đồng hồ thấy còn gần hai tiếng nữa mới đến giờ đi họp lớp cho con, Huy tranh thủ vác cuốc ra đồng lấy nước vào đám ruộng chuẩn bị cày bừa, để đến trưa vợ đi chợ về có thời gian nghỉ ngơi.

Khi thấy nước đã xăm xắp mặt ruộng, Huy đi một vòng quanh bờ, xem có bị nứt nẻ, chảy giũa gì không, rồi mới an tâm ra về. Bước xuống con kênh dẫn nước vào cánh đồng, Huy khỏa chân qua quýt rồi bước lên bờ, miệng xuýt xoa vì làn nước lạnh buốt như kim châm, vậy mà có ai đó đang lom khom, lúi húi mò ốc dưới dòng kênh, thật tội nghiệp. Đi được mấy bước, bỗng Huy quay phắt người lại, bóng người mò ốc mờ mờ trong đám sương mù, nhưng vẫn đủ để Huy nhận ra đó là Hường.

ĐOÁ HOA SỨ BUỒN 

(VƯỜN Ô-LIU 20)


Ông trùm Thiện ngồi ngắm hang đá vừa mới làm xong, tỏ vẻ hài lòng, chỉ còn tô điểm thêm một chút nữa là tuyệt! Bao nhiêu năm qua, Giáo xứ Hòa Bình đã nổi tiếng vì có hang đá mừng Giáng sinh thật đẹp. Giáo xứ có sẵn một trái núi nho nhỏ do dân tự đắp lấy làm Đài Đức Mẹ. Hai bên là đường đi dốc thoai thoải, ở giữa là ngọn núi mỹ thuật, có đặt tượng Đức Mẹ sầu bi, giáo dân hay đến để đọc kinh, thờ phượng. Đám trẻ con chạy giỡn chung quanh những hàng bông sứ cao luôn trổ hoa, mùi thơm nhẹ nhàng. Mùa Giáng Sinh, ông Thiện chỉ đạo nhóm thanh niên dùng giấy dầu bao lấy núi, phun sơn trắng làm tuyết, sáng tạo thêm những góc cạnh đặc biệt, trang trí thành hang đá Bêlem. Đêm lễ vọng Giáng Sinh ngoài trời, hai cô gái của giáo xứ sẽ được chọn làm thiên thần, từ từ xuất hiện trên đỉnh núi thật uy nghiêm, mọi người sốt sáng dự lễ, thả hồn về Bêlem năm xưa…

Hoa sứ nở quanh năm, rụng phủ đầy mặt đất, một đứa bé gái cúi xuống nhặt hoa tung lên trời, mắt ngước lên trời xanh thăm thẳm, hình như nó đang mơ mộng, cầu nguyện điều gì. Hình ảnh đứa bé làm tim ông bỗng nhói đau, ông cắn chặt môi ngăn cản dòng nước mắt đừng rơi xuống khuôn mặt già nua, héo úa. Mới đó mà đã mấy mươi năm rồi, hơn nửa thế kỷ với biết bao thay đổi! Lớp sóng phế hưng, con Tạo xoay vần, nhưng có một điều trong ông vẫn không bao giờ đổi thay...


Tôi biết chắc chắn mình không có điều kiện vào đại học, cho nên tốt hơn hết là nên đi tìm một việc làm thích hợp để giúp đỡ gia đình. Nhưng tôi chỉ có bằng tốt nghiệp phổ thông, vi tính chỉ đủ để “dir” một cái biết trong đĩa có “file” gì, tiếng Anh thì chỉ nói được có một từ bye-bye, dễ gì tôi có thể xin được vào công ty này văn phòng nọ. Cho nên tôi quyết định sẽ “bung ra làm ăn cá thể”! Trước tiên tôi mượn chiếc xe cub 78 của ba tôi. Rồi tậu thêm chiếc áo kaki chắc chắn, tay dài. Và chiếc mũ rộng vành. Thế là tôi bắt đầu nghề xe ôm, một nghề nghe nói sống được dù hơi vất vả. 


Ngôi thánh đường chiều lặng lẽ không một bóng người, tượng Chúa khổ nạn đang dang tay, đầu quấn đầy gai nhọn nghiêng về bên phải, những giọt máu rỉ ra từ những dấu gai nhọn đâm vào làm ướt đẫm khuôn mặt, dấu ấn ngàn đời khó phai. Những giọt máu tứa ra vì nhân gian, vì con người mãi lầm đường lạc lối, vì tội lỗi nhân loại kết thành những gai nhọn đâm xuyên trái tim đấng đã vì yêu. Phía chân ảnh Chúa chuộc tội là ngôi nhà tạm nhỏ xinh xinh, nơi cất giữ tình yêu nhiệm tích huyền nhiệm, người ngự đó chờ đợi trong kiên nhẫn những đứa con biết gục đầu ăn năn sám hối quay về. Chính Người là một tình yêu vĩ đại: Chết cho người mình yêu!

Một người nữ ôm bó hoa tươi bước vào, đứng nghiêm trang, đầu cúi sâu xuống và tiến về hai bên, thoăn thoát đôi tay đổi những nhánh hoa tàn úa, trong bình hoa dưới chân tượng Đức Mẹ và Thánh Giu-se hai bên bàn thờ. Rồi nhẹ nhàng biến mất như một thiên thần lướt nhẹ trong gió, tâm hồn an lành thanh thản. Tiếng kêu tí tách không ngừng của chiếc đồng hồ treo trên tường, như đếm từng khoảnh khắc thời gian, như chờ đợi, mong mỏi…

Đồng hồ gõ đúng 12 tiếng, tiếng chuông ngân vang, tiếng chuông mời gọi con người hướng lòng về Chúa, gặp gỡ Chúa … Cửa nhà thờ hé nhẹ một người đàn ông trung niên bước vào, bái gối, rồi tiến thẳng lên quỳ dưới chân Chúa khổ nạn. Có lẽ anh đang muốn thông phần với cuộc khổ nạn của Chúa Cứu Thế!

Hình như có cuộc đối thoại, giọng người đàn ông đầy vẻ xúc động:

_ Chúa ơi cứu con với!

_ Chúa ơi cứu vợ con!

_ Cứu gia đình con!

Nỗi đau quá lớn, nó ép người đàn ông như anh, gục đầu khóc nức nở.

***

Anh vốn dĩ là con trai một, đạt chuẩn mà đám con gái hay tung hê: “bố làm quan, nhà mặt tiền”. Con đường công danh thênh thang như ước vọng của các bạn trẻ thường ao ước chạm ngưỡng. Ấy thế mà anh chọn cho mình một ngã rẽ, bước theo tiếng gọi tình yêu. Anh quyết định đến với Hà, biết bao nhiêu khốn khó bủa vây anh, vì Hà là sinh viên Công giáo. Gia đình Hà là gốc đại thụ của giáo xứ. Theo Hà nghĩa là anh phải chia tay với tương lai xán lạn mà ba anh dọn sẵn cho phía trước, chiếc ghế danh lợi mà ba anh phải thiết lập mối tương giao tốt đẹp bao năm mới có được. Anh chọn ngã rẽ cuộc đời!

Ba anh giận lắm, ba anh hốt sạch đồ đạt anh quăng ra khỏi nhà, lúc đấy anh thấy tim mình nhói đau. Mẹ anh thương anh, nhưng chỉ dám dõi mắt nhìn, bởi vì anh đã cãi lời ba, yêu Hà. Ba cảm thấy, dường như anh quay lưng phản bội ba. Bao nhiêu việc ba làm vì anh, giờ đây vô nghĩa. Trong lúc ba giận dữ như thế, anh chẳng dám nói gì, dành lủi thủi ra đi.

Bất luận thế nào, anh vẫn chấp nhận, vì anh yêu Hà, yêu như một phần cuộc sống anh. Hà nhu mì, lễ phép với ba mẹ anh, biết kính trên nhường dưới. Hà luôn biết nghĩ cho gia đình, sống hy sinh cho mọi người, yêu anh bằng cả tấm chân tình, mặc dù luôn bị phản đối. Bao nhiêu đấy cũng đủ cho anh đáp trả, bằng cách từ bỏ con đường đã được dọn sẵn.

Anh bắt đầu cuộc sống gia đình mới, tình yêu của Hà chấp cho anh đôi cánh. Hà vốn dĩ là con chiên ngoan đạo, lúc đầu anh cũng thắc mắc, tại sao cô ấy có thể trung thành với một Thiên Chúa, mà thông qua Đức tin. Một Thiên Chúa vô hình, chỉ thông qua những tạo vật hữu hình. Một Đấng huyền bí chưa từng gặp mặt mà chỉ có cách đặt trọn niềm tin. Như thế có quá mơ hồ không?

Tình yêu của Hà dính kết anh với tình yêu Thiên Chúa. Nhưng lại chia cắt anh với ba anh, làm cho anh trở mặt với ba. Chính vì lẽ đó anh chưa thể chấp nhận Thiên Chúa. Vì Chúa mà anh phải mang tiếng bất hiếu, vì Chúa mà cha con anh như người xa lạ. Nhiều lần anh trở về xin lỗi ba, nhưng anh chỉ nhận được ánh mắt giận dữ và nét mặt lạnh như tiền. Anh đau khổ, Hà cũng chẳng được vui.

Sự nỗ lực của anh và Hà, theo thời gian cũng làm ba anh nguôi ngoai. Nhất là khi bé Bo ra đời, thằng bé giống anh như đúc. Thằng bé là sợi giây yêu thương kết nối anh và gia đình. Hà khôn khéo, cô ấy hay đưa con về nhà thăm ông bà. Lúc đầu ba anh chẳng thèm nhìn thằng bé lấy một cái. Nhưng Hà vẫn kiên nhẫn, dần dần về sau ông len lén nhìn cháu. Và rồi không chịu nổi khi thằng bé biết bi bô tiếng Ông nội. Ông ôm nó vào lòng, anh biết lúc đấy ông giũ bỏ mọi trắc ẩn trong lòng mà tha thứ cho anh.

Vợ chồng anh vui mừng ra mặt. Hà thường hay rủ rỉ bên tai anh. Đó là do Chúa làm, cô ấy hằng liên lỉ cầu xin. Mỗi ngày đi làm ngang qua thánh đường cô ấy đều ghé ngồi lại ít phút trước nhà tạm. Cô ấy van nài tình yêu Thiên Chúa kết dính, hàn gắn những đổ vỡ. Chúa cũng đã chạnh lòng với sự kiên nhẫn quá mức của cô ta và ưng thuận.

Hà ngoan đạo, lúc đầu vì không muốn để Hà đi lễ một mình, anh đưa Hà đến nhà thờ. Dần dần hình thành trong anh thói quen, rồi lại thấy yêu mến việc tham dự thánh lễ, và rồi tình yêu Chúa mọc rễ trong lòng anh lúc nào anh cũng không biết nữa. Nhưng anh cảm nghiệm được, Chúa thương anh, thương gia đình bé nhỏ của anh. Con anh chào đời bé bỏng dễ thương, con anh được Chúa mang đến như món quà hàn gắn mối giây đã đứt giữa anh và ba. Chúa che chở con anh khôn ngoan lành lặn, chắc có lẽ nhờ sự thành khẩn của anh và Hà.

Hạnh phúc ngọt ngào mà anh vừa được nếm còn đọng lại trên môi chưa tan, vậy mà sự dữ lại ập đến. Cầm trên tay kết quả xét nghiệm, vợ anh bị ung thư buồng trứng. Anh như không tin vào mắt mình, đầu anh bắt đầu chao đảo. Anh lững thững rời phòng xét nghiệm bước đi như đi giữa không trung. Anh không biết mình đi về đâu, cứ để đôi chân lê bước. Anh lang thang bao nhiêu góc phố, bao ngã đường cũng không hay biết, mang nỗi thất vọng rải rác theo từng bước chân qua.

Đã ba ngày anh không muốn về nhà, anh không muốn đối diện với đau khổ quá lớn, lúc nào cũng như thắt nghẹt tim anh. Anh sợ nhìn vào đôi mắt đục màu đau khổ của Hà và cũng không dám nhìn vào đôi mắt trong veo của bé Bo. Anh túng quẫn cùng đường, rồi như có luồng gió mạnh cuốn anh bước theo, đi mãi tới nơi này. Anh muốn ghé vào, muốn thổ lộ nỗi đau nhức từ sâu thẳm tâm hồn, và anh nghĩ chỉ có người đã từng đẫm máu vì yêu, mới hiểu được tình yêu, và nỗi đau đang giày vò anh.

Ngước nhìn lên Thập giá, Đấng tối cao đang gục đầu đau đớn vì trăm ngàn gai nhọn đâm thâu, lòng anh giờ cũng có trăm ngàn gươm giáo giày xéo. Chỉ có Ngài mới thấu hiểu, chỉ có Ngài mới có đủ uy quyền xoa dịu vết đau trong anh, và chỉ có Ngài đã từng nếm cảm sự đau đớn, mới cảm thông sâu sắc được trong lòng anh. Anh gục đầu nước mắt giàn rụa, rồi như không kiềm chế được lòng mình, anh nấc lên từng tiếng nghẹn ngào.

Người phụ nữ đứng yên bên cánh phải, quan sát từng cử động của anh. Bà muốn kéo tà áo lau những giọt lệ ứa ra từ khóe mắt anh. Bà nhìn anh, với ánh mắt đầy vẻ xót thương, ánh mắt năm nào của đồi Can vê, chứng kiến cảnh con Bà đau đớn, ánh mắt đó đang ghé vào dủ lòng thương anh. Bà nhè nhẹ nâng anh đứng dậy, trao cho anh chuỗi hạt mân côi. Mỉm cười rồi bước đi. Anh không tin vào mắt mình choàng tỉnh dậy, tay vẫn bám chặt chuổi hạt, sao anh lại ở đây? Sao anh không vào nhà mà nằm ngay trước hiên nhà mình, anh bình tâm nhớ lại, anh đã trải qua những ngày vất vưởng với con tim rã rời. Anh nắm chặt chuỗi hạt và lòng cảm nhận như bắt được sự an lành.

Từ đấy chuỗi hạt, như là cứu cánh đời anh, ngày nào anh cũng lần hạt, thành kính. Anh cầu xin Đức Mẹ, giúp lời anh, chuyển lời anh đến Đấng tối cao hằng thương xót. Vì anh tin lời Hà nói rằng: lời cầu xin của Mẹ là đẹp lòng Chúa nhất. Vì anh tin rằng Mẹ nhân lành sẽ thương anh, sẽ che chở anh, sẽ là nơi anh xà vào lòng người mà nấp bóng mát, mà hưởng hương thơm dịu dàng để vơi bớt khổ đau.

***

Anh biến mất khỏi cuộc đời mẹ con Hà ngay cái phút tin dữ nhất. Hà thất vọng lắm. Nhưng Hà vẫn bình tâm vì Hà luôn luôn phó thác hết mọi sự cho Đức Mẹ. Chuỗi hạt Mân côi luôn là mối giây dẫn Hà đi tìm an bình. Mỗi lần chạm ngõ khổ đau, là Hà đều được những vòng chuỗi hạt thôi thúc dẫn lối đi tìm chốn ẩn náu. Những lúc ngồi bên ảnh chuộc tội, thì thầm, rồi lần hạt, Hà thấy lòng mình bình an trở lại. Đã mấy ngày nay anh không về nhà, Hà biết anh không thể chấp nhận tin Hà bị bệnh. Hà biết sự dữ ấy đang tàn phá anh, Hà không muốn quấy rầy anh, mong anh có lúc bình tâm lại, mong anh sẽ quay về mà đối mặt với thánh giá Chúa trao. Hà hé nhẹ cánh cửa và thấy anh co ro bên hiên, dường như đau khổ in hình trong giấc ngủ anh. Hà lặng lẽ treo chuỗi hạt vào tay anh như trao dấu chỉ yêu thương để anh bám lấy mà làm kim chỉ nam cho những lúc tột cùng đau khổ như thế. Và để yên cho anh phút bình tâm.

Những đêm Hà giật mình thức giấc và phát hiện ra anh quỳ dang tay trước bàn thờ. Hà thấy thương anh, Hà cảm thấy an lòng vì anh biết phó thác vào tình yêu Thiên Chúa. Anh dần dần nhận ra Chúa là lẽ sống gia đình anh. Hà thấy mình hạnh phúc và tình yêu anh đủ giúp Hà chấp nhận những thử thách, những thánh giá Chúa gửi đến. Hà thấy mình khỏe mạnh hơn, Hà có thể đương đầu với những phương pháp trị liệu. Tuần sau là ngày trở lại bệnh viện, chấp nhận việc trị liệu. Anh lo lắng mọi thứ cho Hà, anh không ủ rũ, mà dường như sẵn một niềm tin. Hà cảm nhận được là chồng sẵn lòng vác đỡ thánh giá đời mình. Chỉ cần có thế thôi là Hà mãn nguyện rồi, những gì còn lại Hà tin chắc Đức Mẹ sẽ che chở cho gia đình nhỏ bé của Hà.


Tất cả những đồ dùng cá nhân cần thiết cho một cuộc sống tập thể đã được nó chuẩn bị chu đáo, thật gọn gàng trong một cái túi xách lớn. Bên ngoài giọng mẹ vẫn cất lên đều đều những lời mà nó đã được nghe đi nghe lại trong suốt tuần qua, đến nỗi nó đã thuộc kỹ và thấm vào tận đáy lòng rồi. Thôi kệ, dù sao thì ta cũng đã quyết định. Nó tự nhủ như vậy và đôi tay vẫn thoăn thoắt xếp đồ vào giỏ.

Một chút phân vân khi nó mở tủ quần áo của nó ra, toàn những bộ quần áo đẹp, thời mốt mà nó yêu thích nhất. Nó sắp phải chia tay chúng !!!… Hơi tiếc một chút. Bên ngoài tiếng mẹ nó đã im, nhưng bên tai nó vẫn văng vẳng lời mẹ:

- Mẹ đã nói rồi, con không thể đi tu được đâu, cũng như cuộc sống tu không phù hợp với con. Đừng cãi mẹ vì mẹ hiểu con hơn ai hết. Đi tu vài ngày không được, về người ta bảo người tu xuất, dang dở cả đời con ạ. Học cho xong đại học, kiếm cái nghề nuôi thân, kiếm tấm chồng mà nương tựa là đủ rồi. Muốn đi Tây đi Tàu thì mẹ lo cho bằng với con gái người ta …

Nó thấy thương mẹ và chợt lưỡng lự vì cũng có những điều mẹ nói đúng. Mẹ nó còn nói rằng, không thể đơn thuần để biến đổi từ một con người chỉ biết chạy theo thời trang và ngang bướng như nó trở thành một tu sĩ dễ dàng được. Nó đã trình bày hết mọi cách để thuyết phục mẹ vui lòng chấp nhận cho nó ra đi. Nhưng sự cố gắng của nó chỉ vô hiệu, và mẹ càng ra sức ngăn cản nó. Cuối cùng giữa hai thái cực đối lập đó là một sự im lặng đầy căng thẳng. Nó đã suy nghĩ, đã cầu nguyện, bàn hỏi và nhận ra ý Chúa qua việc được nhận vào Dòng sau khóa Thanh Tuyển. Không muốn tình hình căng thẳng thêm, nó tự quyết định và đơn phương hành động. Nó hiểu bản thân nó muốn gì và nó muốn sống với ước mơ của mình.

BỮA CƠM NGÀY LỄ




Dắt xe ra khỏi chỗ làm, như thường lệ cô ghé chợ cóc gần nhà mua một ít rau, thịt để chuẩn bị cho bữa tối. Sài Gòn giờ tan làm đông đúc xe cộ, cô vất vả lắm mới về nhà. Chợt tin nhắn trong group chat “ting ting”… Hóa ra nhóm bạn của cô rủ nhau nghỉ lễ 30/4-1/5 này đi Vũng Tàu du hí. Hành trình đầy hấp dẫn cùng với những trò nghịch như quỷ sứ của mỗi người trong nhóm khiến cô nôn nao mong chờ đến cuối tuần.

Cô dọn cơm lên bàn, đơn giản chỉ có món thịt kho cùng canh rau muốn. Căn nhà vắng lặng, ngồi nuốt từng muỗng cơm khô khan trong mùa hè oi bức của Sài Gòn, bất chợt cô đưa mắt nhìn về phía cửa sổ nhà bên. Hình ảnh cả nhà họ đang chuẩn bị dùng cơm làm cô nhớ nhà kinh khủng. Chén cơm chan đầy canh mà sao cô thấy nghèn nghẹn trong cổ.

Không biết tối nay trong bữa cơm, mẹ có nấu món canh bầu với tôm mà cô thích không? Mẹ sẽ gắp những miếng cá chiên vàng ươm bỏ vào chén cho cô. Thằng em thèm thuồng nhìn cái đùi gà sẽ bị ba nạt. “Ăn ít lại để cho Hai ăn vì chị mày ốm nhách kia kìa”.

DẠY VÀ HỌC

Lớp học dành cho các em khiếm thính của các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt

1. Núi Thái, nước nguồn

Chị Huỳnh học hết lớp 12, có bằng tú tài nên những chàng trai quen biết trong xóm không ai dám sớ rớ. Anh Hải, học dưới chị hai lớp, để ý đến chị cũng chẳng dám mở lời, phải nói với mẹ, nhờ cậy người mai mối. Và lạ không? Sang thế kỷ 21 rồi vẫn còn có một cặp vợ chồng, thuộc diện “chồng cha vợ mẹ cưới cho”... Trong mắt chồng, chị Huỳnh đẹp lắm, đến nỗi dù kém chị ba tuổi, chị tuổi sửu, anh tuổi thìn thuộc tứ hành xung, thế mà cưới nhau về, anh mê tít, chẳng mấy khi xa chị được nửa ngày trời. Chị khéo ăn khéo ở nên bên ngoài nhìn vào, ai cũng phải nghĩ rằng bà mẹ chồng và cô con dâu tâm đầu ý hợp. Những ngày mới cưới, để lấy lòng mẹ chồng (cũng là để chinh phục chồng) chị Huỳnh đi thưa về gởi, chăm sóc cha mẹ chồng từng li từng tí, từ nhà trên, nhà dưới, ngoài ngõ, trong sân, từ miếng cơm, hớp nước đến tấm áo manh quần… Đi đến đâu, bà cũng khen (khen thật tình, nhá!) cô con dâu tuy cứng tuổi hơn chồng, nhưng được cái được người được nết.

Cho đến khi chị cấn thai. Chị đi siêu âm, kết quả là con gái đầu lòng, đang khi hai ông bà hết lòng mong một đứa cháu đích tôn để nối dõi tông đường. Cả hai ông bà đều không vui. Ông vốn là giáo viên môn Văn, phải an ủi bà, cũng là an ủi chính mình:
- Con nào không là con, cháu nào không là cháu? “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng” cơ mà! Tạ ơn Chúa thương ban.

Rồi cũng nguôi ngoai. Mọi sự đều nguôi ngoai, cho đến khi anh Hải dành hết thời giờ rảnh rỗi chăm sóc vợ ốm nghén, thì bà mẹ chồng có cảm tưởng như mình bị con trai bỏ lơ (Có khi nào mẹ chồng “ghen” với con dâu không, nhỉ?). Một đêm trời đã khuya, người ta nghe thấy bà ong óng chửi con trai:
- Cha tiên sư bố nhà anh! Anh được đó quên đăng, được vợ quên mẹ, được cái lỗ xỏ bỏ cái lỗ chui. Anh không biết rằng người xưa có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” hay sao?

Bà ví von có vần có điệu, nghĩa bóng nghĩa đen đủ cả, và vì đã gần nửa đêm, ông không chịu được, phải lên tiếng:
- Bà làm ơn ăn nói nhỏ nhẹ thôi, dễ nghe một chút đi nào, và vặn volume nhỏ xuống để khỏi làm phiền hàng xóm đang cần sự yên tĩnh nghỉ ngơi. Làm cha mẹ phải từ ái thì con cái mới hiếu đễ được!

Bà gào lên như “Hà Đông sư tử hống”:
- Ối! Giời ôi! Đất ôi! Cha ôi! Mẹ ôi! Cha nào con nấy, ông giống bố ông như đúc, không đi đâu mất giống. Lại còn từ với ái, hiếu với đễ!

Ông đành chịu, chùng giọng xuống, nhượng bộ như thể giữ được sự “tương kính như tân” xưa nay, như thể nhường nhịn vợ không khác gì lọt sàng xuống nia, chả mất đi đâu:
- Ừ thì thôi vậy. Tôi nói thật nhá! Các cụ ngày xưa, bậc cha mẹ ông bà ta trở lên tôi không dám chạm tới vì là bề trên. Các cụ thì như thế thật. Ngày trước thì đúng vậy. Nhưng thời nay ấy hả? Mở báo ra mà đọc, báo nào cũng được, các cha các mẹ thường ở hai thái cực đối nghịch. Người thì nuông chiều con quá mức, coi con cái là một thứ ông trời con, muốn gì được nấy...

Ông nói tiếp vừa nhỏ vừa trầm như một đấng tu mi nam tử sợ vợ chuyên nghiệp:
- Kẻ thì đối xử với con cái như súc vật: phá thai, giết con mình ngay từ trong trứng nước, lại còn chăn dắt (chăn thôi, không dắt) con mình như chăn súc vật, coi chúng như một thứ công cụ để kiếm tiền: gả bán con gái cho Tàu, Đài, Hàn, dùng con thơ đi ăn xin, bán vé số... Kiếm được tiền thì đánh đủ thứ: đánh bài, đánh bạc, đánh chén, thậm chí cả đánh... đĩ nữa kìa.

Ông nói thật nhỏ, cứ như sợ bà nghe thấy:
- Ngay như trong xứ đạo mình thôi, nạn kỳ thị con trai con gái, con dâu con rể, con nuôi con đẻ, con ghẻ con ruột, con riêng con chung… đầy ối ra đấy. Nói đâu xa, bà hãy nhìn lại chính mình đi. Bà và tôi, có mỗi mống con trai, thương yêu nó hết lòng. Nhưng chúng ta có đủ lương tâm ngay lành, đủ can đảm đối diện với Chúa, với chính mình mà vỗ ngực xưng mình là núi Thái, là nước nguồn đối với con được không?
- Ông đúng, đúng lắm. Nhưng nói ra cũng đau lắm…

- Sự thật mà. Không đau đâu phải sự thật?!
- Tôi hiểu rồi. Nghĩa là đối với phận làm con thì công ơn mẹ cha rõ ràng là nước nguồn, núi Thái. Còn đối với bậc cha mẹ thì phải nhìn lại mình, sống sao cho ra cha ra mẹ… phải không?

2. Thanh Hoa

Vợ chồng anh Hải đặt tên con gái là Thanh Hoa. Lúc sinh, con bé cân được hai ki-lô tám, được kể vào dạng khó nuôi. Sinh ra ốm yếu, đau bệnh những ba, bốn năm. Đi học mẫu giáo rồi lên tiểu học vẫn phải uống thuốc bắc từng chén mỗi ngày. Học hành toàn quay cóp thôi, và còn được cô chủ nhiệm gà bài cho nữa. Ấy thế mà do chạy theo thành tích, trường ganh đua với trường, lớp ganh đua với lớp, và cũng do thừa hưởng tí chút gen thông minh của ông nội, nó đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp huyện, lại là vô địch về vở sạch chữ đẹp cũng cấp huyện luôn. Gần ngày thi vở sạch chữ đẹp, cô Huê chủ nhiệm lớp từ 1A, 2A... tới 5 A thường đưa cho nó một cuốn tập mới tinh, giữ nó lại ngoài giờ, bảo nó chép lại các bài học từ đầu năm. Con bé nắn nót từng chữ, chăm sóc từng dòng, giữ gìn từng trang. Cuốn tập ấy sẽ được gởi đi thi, và bao giờ cũng được điểm cao.

Ấy vậy, nhưng anh Hải, chị Huỳnh còn muốn hơn thế, muốn con Thanh Hoa vẹn toàn mọi mặt (người ta còn gọi là con người toàn diện ấy mà). Nó được học ôi thôi đủ thứ. Nào là học bơi và Vovinam ở nhà thiếu nhi huyện; học đàn guitare và organ ở trung tâm Suối Nhạc; học vẽ tại nhà hội họa lừng danh Cây Cọ Vàng; chưa kể học lớp bồi dưỡng học sinh giỏi Văn, Toán, lại còn môn tiếng Anh nữa chứ... 
Dĩ nhiên học lớp giáo lý khai tâm để xưng tội rước lễ lần đầu phải là ưu tiên số một. Anh Hải, chị Huỳnh trước khi đi làm, và sau khi tan sở, phải thay nhau chạy vắt chân lên cổ mới chỉ kịp đón đưa con gái đi, về học. Có khi có những bài tập về nhà, con bé phải ngồi sau xe máy, kê cuốn vở lên lưng bố hay mẹ mà làm bài...

Tháng 11 năm học lớp Năm, con bé Thanh Hoa bị cảnh cáo dưới cờ vì vô lễ với cô hiệu trưởng. Lý do: Gặp cô hiệu trưởng, nó chỉ trố mắt nhìn, không bao giờ chào hỏi. Cô Huê đưa micro cho con bé và một tờ giấy cô vắt óc viết sẵn, nói về sự ân hận cùng quyết tâm trở thành trò ngoan của nó. Nó cầm micro, không nhìn giấy, nghĩ sao nói vậy, rõ ràng, đĩnh đạc từng tiếng:
- Em không và sẽ không bao giờ chào cô hiệu trưởng, vì cô hiệu trưởng là học trò của ông nội em nhưng cô chưa bao giờ chào hỏi ông nội em một tiếng.

Cô Huê không kịp giật micro lại, mặt méo xệch. Các thầy cô khác che miệng, cười khúc khích. Nhiều học sinh gào, rú. Sân trường rộn lên, ồn ào như vỡ chợ...

Cô Huê và lớp 5 A bị hạ bậc thi đua. Con bé Thanh Hoa bị đưa ra hội đồng kỷ luật. Anh Hải năn nỉ hết lời, con bé vẫn bị đuổi học.

3. Bóng tối

Ông bà nội, vợ chồng anh Hải, lên Phòng Giáo Dục, xin và nhờ xin cho con Thanh Hoa được tiếp tục học. Nghe nói ô dù của cô hiệu trưởng lớn lắm, nhưng người ta cũng sắp xếp để con bé học ở một trường khác gần nhất. Nhưng con bé một mực nghỉ học. Chẳng biết học của ai, ở đâu, nó nói với chị Huỳnh:
- Con sợ học lắm rồi. Bắt con đi học con sẽ tự tử cho mẹ coi.

Người ta thấy chị Huỳnh bưng mặt, khóc hu hu như một đứa trẻ vì buồn tủi.

4. Đốm lửa

Thấy con Thanh Hoa nghỉ học giáo lý, sơ Rosa tìm đến tận nhà anh chị Hải Huỳnh. Biết nó nghỉ học cả phổ thông, sơ xót xa:
- Con bé “ngon” thế mà học hành dở dang thì phí quá. Anh chị đẩy đưa sao đó cho nó đi học, bổ túc cũng được, không cần lên tới giáo sư tiến sĩ gì đâu, cho nó học nghề gì đó mà nó thích, như nấu ăn chẳng hạn. Sau này nó thành công và hạnh phúc với công việc mà nó chọn, thành người truyền cảm hứng cho mấy đứa bạn là tốt rồi...

Sơ cầm tay con bé:
- Con thích sau này làm gì nào?

Nó trả lời, không đắn đo, như đã suy nghĩ chín rồi:
- Con muốn làm ma sơ, được không?

Người ta thấy chị Huỳnh lại bưng mặt, khóc hu hu như một đứa trẻ vì vui mừng.


CỔ TÍCH THỜI NAY


Hình minh họa

1. Lời mời


Ông chánh trương Tân khệ nệ vác một bao năm mươi, leo cầu thang, lên lầu hai ký túc xá thăm con trai đang học năm bốn đại học sư phạm. Đổ ra nền nhà, toàn cây nhà lá vườn. Ông gọi anh Tấn:

- Cu ơi! Bố “nên”, mang tiền đóng học cho con, tiện thể có ít khoai “nang”, bắp ngô, cà pháo... để con ăn dần hay muốn “nàm” gì thì “nàm”.

Không hiểu do di truyền, hay do phong thủy, hay đất lề quê thói, mà đa số người làng ông chánh chỉ phát âm được phụ âm đầu “n”, không phát âm được “l". Ông chánh cũng vậy, làm cho các bạn cùng phòng của anh Tấn không nín cười được. Ông chánh có vẻ ngượng, còn anh Tấn có vẻ mắc cỡ vừa vì bố mình phát âm không chuẩn, và vừa vì ông gọi anh là “cu” như thuở anh còn bé, thuở đái dầm làm cho chăn chiếu ướt sũng, ướt dầm dề. Tuy vậy, chỉ trong vài chục giây anh lấy lại thế chủ động:

- Vậy đấy. Nhưng thử hỏi có bố đứa nào ngon hơn bố tao không? Này nhé! Mẹ tao mất, để lại chỉ mình tao. Bố tao đồng trinh thủ tiết, ở vậy nuôi con, đâu như bố thằng Hai, làm trùm khu hai nhiệm kỳ còn vợ nọ con kia, hay như bố thằng Ba đi tù vì tội đánh bạc, hay như...



Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.

Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói: "Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.

CON TRÂU PHÁO

Hình minh họa


1. Con trâu nhà

Ngày ấy, ông Chín Hảo, người Mỹ Hòa Hưng về thăm ông chánh Ba trên kinh. Bên ấm trà Xuân Phát số 1, mang từ Long Xuyên về, ông Chín khề khà:

- Lạc nhà theo chó, lạc ngõ theo trâu. Con trâu là đầu cơ nghiệp, chú Ba ạ! Con trâu của chú tên Pháo phải không? Tui coi kỹ rồi. Con Pháo chín khoáy cửu long, đã khỏe lại hiền, chú chớ có dại mà mua qua bán lại, sạt nghiệp như chơi đó, ngheng!

Ông chánh chiêu một ngụm trà, chép chép miệng, rồi khà một tiềng dài:
- Ngày đó anh Chín mối lái, tậu con Pháo cho em mãi bên Cù Lao Giêng...

Ông Chín khà còn lớn tiếng hơn ông chánh:
- Ui da! Bậy, chú Ba bậy rồi. Cù Lao Ven chứ. Ven chứ không phải Giêng. Ai muốn nói sao thì nói, tui chỉ tin nội tui thôi. Nội tui kể đi kể lại nhiều lần, đúng sai không ai biết đặng: Ngày ấy bọn khách thương Nam Vang - Lục Tỉnh thường neo ghe gần cái cù lao ven sông chỗ giáp nước (mới có tên gọi họ Đầu Nước), chờ con nước lớn, nước ròng để đi ghe lên xuống cho xuôi chèo mát mái. Họ gọi cái cù lao ấy là Cù Lao Ven Sông, nhưng cù lao nào chẳng ven sông? Lâu dần, chữ sông rụng mất, còn Cù Lao Ven. Sau này người ta nói trại đi theo kiểu phát âm Nam Bộ thành Cù Lao Gieng. Gieng vô nghĩa, nên trại đi lần nữa thành Cù Lao Giêng. Như vậy, đúng ra phải kêu là Cù Lao Ven mới phải, phải không?


(Tác Phẩm Đạt Giải Nhì Truyện Ngắn – Cuộc Thi Sáng Tác Văn Hoá Nghệ Thuật Đất Mới 2016)

HAI CÀO



* Truyện tâm lý võ nghệ có thật ở các HỌ ĐẠO sông nước miền tây thời Pháp thuộc…

*Truyện này được viết cho hai cháu Dương Thiên Phúc và Dương Anh Trí, để lớn lên, khi đọc, chúng biết thêm và hãnh diện về dòng tộc, và để cho thế hệ của chúng biết thời cha ông mình có những người rất cương trực, dũng mãnh, ngoan cường như Bà Trưng, Bà Triệu, như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo và như… Hai Cào, võ nghệ cao cường, mà biết âm thầm sống đạo…

Hình minh họa


Chú Hai Cào lớn hơn Ba tôi vài tuổi, không vợ con, không nhà cửa, quê ở tuốt trên núi Ba Thê, miệt Óc Eo, vào đây làm thuê làm mướn… Ông nội tôi thấy thương, nuôi Chú trong nhà mấy năm nay… Chú Hai không biết cày cấy, không biết gặt đập… không có nghề gì hết. Chú chỉ làm có mỗi một việc cho Ông Nội là…cào cỏ! Trong nhà, ai cũng kêu chú là Hai Cào. Mấy thanh niên kêu chú là “Mông-xừ Hai Cào”( Monsieur Hai Cào), cho nó Tây một chút. Chẳng ai biết tên thật của Chú…

Chú Hai Cào hiền lành chất phác, ít nói, làm việc gọn gàng sạch sẽ. Chú nhỏ con, cân nặng chưa được năm chục ký. Sáng nào Chú cũng đi lễ nhà thờ. Tan lễ, Chú ghé núi Đức Mẹ Lộ Đức, lần hột thật yên lặng, thật lâu. Xâu chuỗi của Chú bóng lưỡng đen mun thật đẹp…

(Tác Phẩm Đạt Giải Khuyến Khích Truyện Ngắn – Cuộc Thi Sáng Tác Văn Hoá Nghệ Thuật Đất Mới 2016)



Tiếng chuông chiều trên tháp nhà thờ đổ từng hồi trầm bổng, báo hiệu màn đêm sắp buông xuống. Từng đàn cò trắng đua nhau bay về trú ngụ nơi khu rừng sác, dọc theo con sông chảy ở cuối làng, mặt trời đã khuất bóng, màn đêm gần buông xuống. Những cánh dơi chao lượn khiến cho bầu trời
dường như mau tối hơn.

Đây đó lác đác một vài ánh điện lập lòe của mấy ngôi nhà ven cánh đồng lúa, tiếng gọi nhau í ới của mấy cô gái trong làng rủ nhau đi đọc kinh tối. Bích Hiền cũng nhanh chóng thu dọn bữa ăn, để cùng đi đọc kinh với mấy đứa bạn trong ca đoàn. Bích Hiền vừa dọn xong thì có tiếng Thảo Vân gọi :
- Bích Hiền! Đi tập hát đi.
- Ừ! Mày đợi tao một chút.
- Nhanh lên, mấy đứa kia đang đợi kìa !
- Xong rồi đây.

Nhà thờ Phát Diệm


“Chúa ơi! Sao Cha xứ mình keo thế!’’ 
“Cha keo thì bà bếp cũng khổ, chả bao giờ được ăn miếng thịt!’’ 

Chuyện cha xứ hà tiện lại được đem ra làm đề tài. “Chả bao giờ mua sắm cái gì cả. Chắc cha phải có hàng trăm ngàn!’’ 
Một bà khác: “Có một thân một mình, chả mấy ngày không có lễ mồ bậc nhất! Lại còn mấy sào ruộng nhà xứ nữa!’’ 
Có giọng thêm vào: “Còn mấy cây xoài chung quanh nhà thờ để làm gì! Cứ tiền bán xoài năm nay thì cha cũng đã đủ tiêu cả năm!’’ 
Dựa lưng vào tường, bà quản giáo góp lời: “Mà lạy Chúa tôi! Bà bếp cũng khó chịu quá, cả rau cỏ cũng chẳng phải mua.’’ 
Chạy ra gốc cau nhổ miếng trầu, bà phó hội buông một câu sắc như dao: “Gớm! Ở với cha xứ keo như thế thì không chịu khó cũng chả được!’’ 
Mùa lúa gặt xong, không còn chuyện đầu làng cuối xóm, các bà quay về chuyện cha xứ.


Gian phòng không gì đáng vài trăm bạc. Chiếc bàn gỗ cạnh cửa sổ không sơn phết. Cánh tủ bị nứt một đường lớn, dán có thể chui qua. Tủ không bao giờ khoá nhưng cũng treo lủng lẳng một chiếc khoá sắt sét rỉ. Đôi giầy cất trên nóc tủ, chỉ đi vào những ngày lễ trọng. Cái giường gỗ mốc, chiếc gối đầu đan bằng tre mây cạnh chiếc mền có dấu hiệu hai bàn tay bắt nhau của Mỹ viện trợ cho dân di cư năm 1954. Chiếc mũ loại chủ đồn điền cao su người Pháp ngày xưa, móc vào cây đinh trên cột mùng. Chiếc đồng hồ quả quít tróc sơn với những con số La Mã, để ở cạnh chỗ mấy cuốn sách la tinh. Đáng giá nhất: Cái xe đạp.


(Tác Phẩm Đạt Giải Khuyến Khích Truyện Ngắn – Cuộc Thi Sáng Tác Văn Hoá Nghệ Thuật Đất Mới 2016)


Mùa hạ có nắng, có gió, có cả những điều bất ngờ, bất ngờ như cách Vinh ùa về vào một ngày không báo trước trong trái tim Hà!


Vinh chuyển vào lớp Hà khi kì học thứ nhất của năm học đại học đầu tiên mới được lưng chừng. Hà đến trước, do Vinh làm nguyện vọng chuyển trường nên nhập học muộn hơn. Hồi đầu, đứa nào cũng rụt rè, ngại ngùng nhưng vẫn đủ trò của sinh viên. Hà cũng không ngoại lệ. Lúc đầu Hà ít nói, hơi khó gần nhưng lại là “chúa tể của những phức tạp và hỗn độn”. Và đương nhiên, “ma mới” như Vinh sẽ trở thành mục tiêu hấp dẫn…

Vinh có nước da trắng, ngoại hình nổi trội bởi vừa béo vừa có một chiều cao khiêm tốn, nhưng đôi mắt đen và trong, không quá nổi bật giữa đám đông nhưng lại có cái gì đó rất đặc biệt, rất riêng. Vinh còn nhớ như in ngày đầu tiên đến lớp, thấy Hà chăm chú nhìn mình, Vinh mỉm cười nhưng Hà đáp lại cách thô bạo bằng việc tung chiếc giẻ lau về phía Vinh… đột ngột chiếc giẻ rơi xuống đất. Hà đưa cặp mắt và chỉ tay về phía chiếc giẻ:
- Học sinh mới! Trực nhật đi!


Thị Trấn Chula Vista


(giải nhất văn thơ lạc việt 2009)

Thánh lễ ở Kenya


Thị trấn sa mạc Chula Vista tháng Mười Hai năm nay tự nhiên tuyết đổ trắng xóa phố phường. Thiên hạ Chula Vista trăm người là cả trăm,

— Trời ơi! Khùng ơi là khùng!

Cứ thế, gặp nhau, người dân Chula Vista bật ra ngay cửa miệng câu than nghe đến là nhàm, nhưng vẫn đều đặn phát ra như chuông đồng hồ điện tử sáng sớm rú lên từng hồi, “Tít! Tít! Tít!”. Thôi đủ rồi, đừng rơi tuyết nữa, bởi dân du lịch trốn tuyết của Bắc Mỹ và Âu Châu giờ đã rục rịch dọn đồ bỏ đi trống hoắc phố phường. Nền kinh tế của thị trấn nằm sát ngay đường biên giới giữa Mỹ và Mễ chỉ trông mong vào số lượng khách du lịch vào mấy tháng mùa đông, giờ này tanh banh chỉ vì tuyết bất ngờ đổ dầy từng tảng. Thì đấy, ai bảo chế cho lắm xe hơi vào, xăng dầu cứ đổ ồng ộc vô miệng như người chết khát. Giờ thán khí bốc lên xám đen bầu trời, thế là global warming.

— Hả? Nói cái gì?

— Điếc hả? Global warming chứ còn nói cái gì nữa. Không tin thì cứ leo hẳn lên nóc tháp chuông nhà thờ mà nom cho rõ, khói xăng bốc cao đục ngầu cả cái bầu trời San Diego rồi. Sống ở đó, đố mà có nom thấy mặt người…

— Global warming! Rồi thì sao?

tVỊ LINH MỤC TRÊN ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN


Tác Phẩm Đạt Giải Khuyến Khích Truyện Ngắn – Cuộc Thi Sáng Tác Văn Hoá Nghệ Thuật Đất Mới 2016

Côn Đảo


(Kính tặng linh mục Phạm Gia Thụy)

Tết đang về. Gió xuân se se lạnh tràn ngập thành phố.

Tiếng chùa nhà thờ thong thả ngân nga trong ánh sáng vàng vọt của các ngọn đèn cao áp trong hẻm vắng. Leng keng…leng keng…những âm thanh trong veo dồn dập như hối thúc mọi con chiên của Sài Gòn hoa lệ thức giấc để chuẩn bị cho một ngày mới đầy phúc lành. Một bóng người nhỏ bé chậm rãi bước ra từ con hẻm tiến về phía nhà thờ. Cái điệp khúc quen thuộc ấy đã lặp đi, lặp lại đã gần bốn mươi năm qua. Quen thuộc đến nỗi người bắt đầu điệp khúc lúc tóc hãy còn đen nay mái tóc ấy đã phơ phơ ông Sáu sửa xe đầu hẻm cất lên khe khẽ. màu bạc. Ở cái xóm Dòng chúa cứu thế nầy đâu ai còn xa lạ với vị linh mục luôn nở bụ cười trên môi đi kèm với đội mắt sáng ngời đầy nghị lực dù ông đã bước sang cái tuổi tám mươi mốt.

- Chào cha. Chúc cha một ngày mới tốt lành. A men. Tiếng ông Sáu sửa xe đầu hẻm nhỏ nhẹ.
- Xin Cảm ơn. Cầu chúa ban phước lành cho con. 
Vị linh mục trả lời. Vừa nói, ông vừa bước chậm rãi trên vĩa hè của con đường đầy lá me bay. Nhanh quá. Những hàng me dẫn đến nhà thờ lúc ông từ Côn Đảo trở về sau ngày giải phóng còn nhỏ xíu nay đã trở thành những cây me cổ thụ khổng lồ như những nhân chứng thời gian của thành phố nầy. Bất giác ông nhìn lên bầu trời cao trong xanh đang ửng dần theo bình minh buổi sáng.


 Đừng Đánh Con Đau!


 Là một truyện vừa ngắn vừa dài bàn về những chọn lựa trong đời sống có khả năng thay đổi vận mạng của một đời người. Tương lai thật sự ra vẫn chỉ là một tờ giấy trắng. Người ta vẽ tranh, tờ giấy hóa ra tranh treo trong bảo tàng viện cho thiên hạ ngắm nhìn, trầm trồ khen ngợi. Nếu người ta lấy mực đổ lên tờ giấy trắng, kết quả ra sao, ai cũng biết. Đừng Đánh Con Đau! diễn tả những thay đổi quyết liệt trong cuộc sống có khả năng biến đổi cuộc đời của một người...


Thằng Khôi nằm trong phòng, lăn qua lăn lại nhớ lại lời càm ràm của má nó chiều nay,

— Ba chục năm rồi, bây giờ má mới nói cho con hay. Người trong thôn họ vẫn nói mày là con ruột của tía mày đó…

Thằng Khôi đăm chiêu, thắc mắc, không hiểu tại sao má nó lại nói như vậy.

Thằng Khôi bâng quơ nhìn ra bên khung cửa. Trăng rằm Bắc Mỹ chiếu sáng rực rỡ khuôn mặt của Kim, giờ này ngủ say, cặp mắt nhắm chặt, bờ vai nho nhỏ, dáng vẻ hiền lành. Nhìn vợ, thằng Khôi thắc mắc không hiểu tại sao gần đây Kim tánh tính nóng lạnh bất thường, đã thế lại còn hay cau có khó chịu. Thằng Khôi thở dài nhớ lại bầu không khí cơm nhão cháo khê từ khi má nó đặt chân tới phi trường San Francisco. Suốt cả một chặng đường dài hơn sáu chục dặm từ phi trường về tới căn nhà vùng thung lũng San Jose, Kim chỉ ngồi yên lặng ở băng sau, mắt lơ đãng nhìn ra hai bên đường. Ngồi lọt thỏm ở băng trước, nhận ra bầu không khí ngột ngạt trong xe, thím Tám cứ lúng ta lúng túng tuồng như người đang ngồi trên ổ kiến lửa. Để phá tan bầu không khí nặng nề như bữa cúng đình, thằng Khôi e hèm cần cổ,

— Má! Má đi đường xa có mệt không?


Chuyện Bố Chuyện Con



"Chuyện Bố Chuyện Con" viết năm 2003. Truyện ngắn viết xong, tác giả ký, tặng ông con trai, tên Phạm Quang Tuyến, hút thuốc lá như ống khói, thục bida có hạng, (nếu vắng mặt bố) chửi tục ròn tan, tứ đổ tường, nhưng lại rất có lòng, phải nói là dư thừa.

Sau khi rời Mỹ năm 2006, tác giả mất liên lạc với ông con trai... Giờ đọc lại truyện ngắn, vẫn không biết ông con đang ở đâu... 



Đến là khổ! Thằng bố gãi đầu như ghẻ ngứa kinh niên… Hồi xưa tại mình, bây giờ thằng con, cứ thế, mẹ chồng nàng dâu đụng nhau xẹt lửa, cháy đỏ một góc trời!

Hồi đó vợ sinh đầu lòng con trai đặt tên Đức (đực mắm tôm!). Mẹ ghé vào thăm. Nhìn thằng Ðức nhỏ tí ti, đỏ hỏn, mắt nhắm chặt, ngủ như chuột con trong lồng kiếng, mẹ phán ngay,

— Cái thằng! Giống bố như lột!

CSC - Ban truyền thông nhận được tác phẩm truyện ngắn của một bạn trẻ với bút danh là "Gió Lang Thang" quê ở giáo xứ Giáo Lạc (Bùi Chu). Xin giới thiệu tác phẩm và mong nhận được những bài viết mới.

Đoàn rước tượng Đức Mẹ

Bà mẹ Thuần có cô con gái đã bước qua tuổi cập kê chờ mãi mà không thấy ai rước đi cho nhẹ nợ, bỗng dưng mấy hôm nay xuất hiện một anh chàng lạ có lẽ ở làng bên đến ngấp ngó tán tỉnh con gái mình. Bà mừng ra mặt. Không khí u buồn, vẻ đìu hiu cô quạnh trong căn nhà ngói ba gian cũng thay đổi hẳn, thi thoảng đây đó trong nhà có tiếng cười nói râm ran khác hẳn ngày thường…

Như thường lệ, sau giờ cầu kinh nhà thờ lúc sáng sớm bà lục đục trở về nhà lại bắt đầu một ngày mới với những công việc không tên…Bà làm cho vui vậy thôi chứ có mang lại chút thu nhập đáng kể nào trong gia đình đâu. Mọi việc nhỏ to trong gia đình bà đều do cô con gái đảm đương quán xuyến hết. Từ khi người chồng quá cố đến giờ, căn nhà bà vắng vẻ lắm, bà thường ngán ngẩm về số phận hẩm hiu của mình. Bên trong căn nhà ấy là bốn bức tường màu trắng đục đã hoen ố vàng loang lổ từng đám bà chẳng buồn giục người quét nước ve mới, phía dưới nền nhà bằng đất nơi kẽ chân tường rêu xanh chi chít lấm tấm mọc bà cũng kệ vậy... Giữa gian nhà chính, dưới bàn thờ Chúa có kê cái tủ đựng những đồ lặt vặt, liền đó là bộ sa-lông cũ kỹ với chiếc bàn gỗ xộc xệch mặt kính có vết nứt tạo thành đường viền. Trên bàn lúc nào cũng có tích nước vối đun sôi để nguội, cạnh đó là bộ ấm chén bám bụi và cái phích bên trong không có nước… Bà bày đặt cho đẹp vậy chứ có ai đến chơi đâu mà phải sửa soạn tươm tất.

Mấy ngày nay thì lại khác…
Được tạo bởi Blogger.