Truyện ngắn

MẸ! CON MUỐN ĐƯỢC ĐÓN TẾT TRUNG THU

---//---


Con bé hai mắt tròn xoe, ngấn nước, nép mình bên khe cửa nhà thờ nhìn tôi. Thấy ánh mắt trong sáng của em, tôi bước lại gần, định bắt chuyện làm quen. Con bé vụt chạy. Qua khúc cua, bóng em mất hút.

***

Hôm nay Tết Trung Thu, có đoàn bác ái trên Sài gòn xuống giáo xứ làm bác ái, mang Tết Trung Thu đến cho trẻ em nghèo vùng sâu vùng xa như giáo xứ của tôi.


Không biết mẹ tôi ăn trầu từ bao giờ, nhưng mỗi lần nhớ đến những ngày còn lẽo đẽo theo mẹ, tôi lại nhớ đến hình ảnh mẹ mặc chiếc quần lãnh đen và chiếc áo bà ba sậm màu, ngồi trên thềm gạch hiên nhà trước – thường gọi là hàng ba- têm miếng trầu vàng, cuốn lại rất vén khéo. Những lá trầu luôn được xếp cẩn thận trong một cái ô trầu đan bằng mây có ba ngăn, đựng vài quả cau, con dao nhỏ và bình vôi trắng. Tôi là người được mẹ tín cẩn nhất để sai đi lấy và cất cái ô trầu cho mẹ.

Ðó là những buổi chiều nắng đã tắt sau đọt cây cau gầy xa xa ở cuối sân nhà, nhưng trời vẫn còn đủ sáng và mát mẻ cho hai chị tôi chơi lò cò xủi trên khoảng sân rộng dùng để phơi lúa, cũng là sân banh mà chỉ có tôi là cầu thủ duy nhất, với trái banh là quả bưởi non. Phía góc sân trái, dưới gốc cây cam xum xuê lá, trái nặng trĩu cành, đứa em gái nhỏ hai tuổi của tôi cầm cành cây khô, đùa giỡn với đàn gà con cùng bà vịt xiêm già nặng nề, chậm chạp đi từng bước mà tôi có cảm tưởng sắp té ngã về phía sau.

Ðôi khi, mẹ sai tôi đi hái cho mẹ vài lá trầu. Vườn trầu sát bờ ao, trên một khu đất chừng bốn, năm mét vuông, được rào bằng tre xung quanh, bên trong có năm thân cây khô chôn xuống đất cho những dây trầu leo quanh. Hình như, mẹ tôi chỉ có hai việc chính phải làm hằng ngày là chăm sóc chúng tôi, nấu cơm và tưới vườn trầu. Những lúc mẹ ngồi ăn trầu, tôi thường ngồi bên cạnh, táy máy cái ô trầu và nhìn đôi môi đẹp nhuộm đỏ của mẹ mà thán phục, vì có lần tôi lén ăn trầu đã bị cay và say đến chóng mặt. Có lẽ, thời gian hạnh phúc, an lành nhất của mẹ là những ngày còn sống ở miền quê thanh bình, lúc tôi còn thơ ấu. Mẹ ở quê, nhưng chưa hề làm việc lam lũ ngoài đồng. Ba tôi đã sắp xếp thế nào đó để có tiền thuê người giúp việc đồng áng mà gia đình vẫn có lúa ăn dư dả quanh năm.

Truyện ngắn: MỘT MÙA ĐÔNG GIÁ


Trời đã vào Đông. Mùa Đông năm nay có vẻ lạnh hơn mọi năm. Mọi cửa lớn, nhỏ của nhà nguyện Dòng Chúa Quan Phòng đều đóng chặt, gió vẫn lùa qua khe cửa làm chị Mai Trinh, giáo tập đang quỳ cầu nguyện run lên cầm cập từng cơn. Cứ mỗi lần gió núi ùa về sớm thế này, thì y như rằng Tập viện thế nào cũng có chuyện chẳng lành. Lần thì mất chó, mất gà, lần thì chị giáo tập tự nhiên lăn đùng ra chết, lần thì gió thổi bay cả nóc nhà, may mà mọi người vẫn bình yên. Mới đây nhất, chỉ hai năm về trước thôi, vào cuối mùa đông lạnh, bà bề trên đòi đuổi cổ hết các tập sinh, giao nhà cho quản lý tỉnh muốn làm gì thì làm. “Năm nay lạnh sớm thế này, thế nào cũng có chuyện”. Mai Trinh tự nhủ. Gió ào tới, chị run lên cầm cập.

Tập sinh năm nay chỉ có 7 em, hầu hết đều xuất thân từ những gia đình nghèo phía Bắc. Kim Yến là cô gái có nhiều vấn đề nhất. Cư xử thì vụng về. Ăn nói thì ngang tàng ngổ ngáo, làm việc thì cẩu thả, học thì kém, đúng là chẳng được tích sự gì, nhưng lại làm ra vẻ hơn ai hết. Bích Phụng dễ thương nhất, vừa hiền ngoan, lại đạo đức, chỉ mỗi tội không làm việc chung được. Yến Vẹn điềm đạm, chịu khó, việc gì cũng làm được, chẳng hiểu sao lại là cái gai của chị phó giáo tập. Hà Thanh, chị phó giáo tập, cũng xuất thân từ một gia đình nghèo, nhưng xuất sắc về mọi mặt, lại nghiêm túc, đạo đức, chỉ mỗi tội hơi độc tài, độc đoán. Từng khuôn mặt một trong tu viện nhỏ thó, toạ lạc trong nơi hoang vắng này, cứ lần lượt hiện lên trong đầu óc Mai Trinh. “Ta không có quyền loại trừ ai, cũng không có quyền ép ai phải đi tu. Ta chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là phát hiện và phát triển ơn gọi nơi mỗi người thôi. Điều quan trọng là phải giúp cho mọi người có được một kinh nghiệm đích thân về Chúa, nhưng phải làm gì bây giờ?”.




Bà lão người bên thôn Thượng, lấy chồng từ năm mười tám rồi theo chồng đến đây. Thời còn con gái, ai cũng khen bà đẹp. Một vẻ đẹp thuần khiết của người phụ nữ miền thôn dã. Với đôi mắt đen và sáng long lanh, đã một thời khiến cho nhiều trai làng phải say bà như điếu đổ. Người ta nói: con gái có Đạo thường có đôi mắt đẹp và thánh thiện như Đức Mẹ Đồng Trinh.



“…Bên kia sông Đuống

Mẹ già quẩy gánh hàng rong

Bước cao thấp bên bờ tre hun hút

Có con cò trắng bay vùn vụt

Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu…”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

***



Chuông chiếc đồng hồ côn đã điểm năm tiếng. Từ chiều tới giờ, bà lão cứ thấp thỏm, đứng ngồi không yên; hết đi ra lại đi vào. Bà đang mong đứa con gái của bà trên Hà Nội về. Trong nhà, bà lão đã dọn sẵn mâm cơm, gọi là có tí chút để khoản đãi đứa con gái của bà; thôi thì chẳng mấy khi nó về thăm nhà.

Quái lạ, đã cuối thu mà sao hôm nay trời lại nực thế không biết! Nghĩ vậy, bà lão quyết định không ngồi trong nhà nữa mà mang chiếc ghế tre cùng với chiếc quạt nan ra ngồi ngoài sân, phía dưới dàn mướp…

***

Bà lão người bên thôn Thượng, lấy chồng từ năm mười tám rồi theo chồng đến đây. Thời còn con gái, ai cũng khen bà đẹp. Một vẻ đẹp thuần khiết của người phụ nữ miền thôn dã. Với đôi mắt đen và sáng long lanh, đã một thời khiến cho nhiều trai làng phải say bà như điếu đổ. Người ta nói: con gái có Đạo thường có đôi mắt đẹp và thánh thiện như Đức Mẹ Đồng Trinh.

Một năm sau ngày cưới, bà cho ra đời đứa con trai đầu lòng. Cuộc sống vợ chồng những năm đầu thật hạnh phúc. Đúng cảnh: chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa. Cuộc sống gia đình đang đầm ấm yên vui, đột nhiên, chồng bà vĩnh viễn lìa bỏ mẹ con bà ra đi vì một căn bệnh quái ác. Năm ấy đứa con trai của bà mới được đâu bốn hay năm tuổi gì đó. Bà nén nỗi đau trong lòng và quyết định ở vậy một mình nuôi con. Sau khi mãn tang chồng, đã mấy lần bà tính đưa con về bên ngoại để làm ăn sinh sống, nhưng rồi nghĩ lại: Lấy chồng phải gánh giang san nhà chồng, bà lại thôi. Những năm tháng đó cuộc sống của hai mẹ con bà thật vất vả. Nhưng bù lại, bà có đứa con bên mình như một sự động viên khích lệ duy nhất trong cuộc đời.

Khi đứa con trai bà đến tuổi trưởng thành cũng là lúc đất nước gặp cơn binh biến. Thế là bà đành nén nuốt dòng nước mắt vào trong, tiễn đứa con lên đường nhập ngũ. Hôm chia tay, bà luôn động viên con cố gắng hoàn thành tốt nghĩa vụ và hẹn ngày trở về, nhưng trong thâm tâm mách bảo, dường như đây là lần cuối cùng mẹ con gặp nhau…

Rồi một hôm, bà nhận được lá thư từ chiến trường gửi về, bà háo hức chờ đợi… Nhưng khi phong thư được bóc ra, đất trời bỗng nhiên quay cuồng trước mặt bà, hai chân bà khuỵu xuống. Trên tay bà lúc này là Giấy Báo tử đứa con trai yêu quý. Thế là điều mà bà lo sợ nhất bấy lâu nay, giờ đây đã trở thành sự thực…

Suốt đêm hôm ấy, và mấy ngày hôm sau nữa bà không ăn uống gì cả. Cuộc sống lúc này đối với bà còn ý nghĩa gì nữa đâu!? Trước đây, trong nỗi cơ cùng của cuộc đời, bà vẫn gượng dậy để sống vì đứa con. Thế mà bây giờ…!?

Bà lên cơn sốt miên man, lúc tỉnh, lúc mê. Họ hàng và bà con lối xóm đến động viên an ủi bà, nhưng nỗi đau của bà chẳng nguôi ngoai được là bao. Đối với bà, đau khổ và sự dữ là điều mà bà luôn luôn phải hứng chịu trong suốt mấy mươi năm của cuộc đời. Mà bà đã làm gì nên tội?…Những lúc như thế, nhìn lên cây thập giá, bà chỉ thấy Chúa lặng im, với vòng gai nhọn trên đầu, Ngài chẳng nói lời nào… Nhưng có lẽ, chỉ trong mầu nhiệm thập giá, bà mới lờ mờ hiểu được phần nào ý nghĩa của sự khổ đau. Thế là, một lần nữa, bà lại cố gắng gượng dậy, để tiếp tục sống những tháng ngày còn lại.

Từ ngày đứa con trai qua đời, bà trở nên trầm hẳn, ít xuất hiện ở chốn đông người. Bà chỉ còn tìm thấy niềm vui trong công việc chăm sóc thửa vườn và chăn nuôi mấy con gà, con vịt. Những lúc rảnh, bà thường lui tới động viên những người đau yếu, già cả trong khu xóm.

Thời gian trôi đi, nỗi đau của bà cũng vơi dần theo năm tháng. Thế rồi vào một đêm dông bão, bà nghe có tiếng gõ cửa. Bà nghĩ bụng - Quái lạ, đêm hôm mưa gió thế này, ai lại gõ cửa nhà mình thế nhỉ?

Tiếng gõ mỗi lúc một dồn dập khiến bà phải cố gượng dậy ra mở cửa xem sao. Khi cánh cửa vừa mở, những cơn gió đem theo nước mưa lùa vào làm lạnh toát cả người. Bà đột nhiên rùng mình. Trước mặt bà là một cô gái chừng độ mười tám đôi mươi, bụng mang bầu. Thân mình cô gái đang run lên bần bật. Trên khuôn mặt non nớt của cô gái lúc này đã tái đi có lẽ vì đói và lạnh. Thoáng qua, bà đã hiểu ngay cơ sự. Ái ngại cho hoàn cảnh của người con gái trẻ, bà cố lén một tiếng thở dài.

-Xin cô làm ơn làm phúc cho cháu trọ nhờ một đêm. Chỉ một đêm nay thôi, rồi sáng mai cháu sẽ đi sớm – giọng cô gái thỏ thẻ nói trong nước mắt.

Giữa lúc mưa to gió lớn, đàn bà con gái bụng mang dạ chửa thế này biết đi đâu bây giờ?! – bà đắn đo.

- Thôi, cháu cứ vào trong này đã kẻo mưa ướt hết rồi kia kìa. – Bà nói như thể để phá đi sự yên lặng.

Cô gái ngượng nghịu bước vào nhà. Hành trang của cô chẳng có gì ngoài một bọc quần áo nhỏ, một chiếc nón đã cũ và chiếc áo tơi mưa.

- Chắc là sắp sinh rồi phải không cháu? - Bà hỏi.

Cô gái không nói gì mà chỉ khẽ gật đầu. Dưới ánh đèn dầu, bây giờ bà mới có dịp quan sát kỹ cô gái. Với gương mặt trái xoan, vầng trán cao, đôi mắt đen lánh và cặp chân mày rậm - phải nói rằng cô ta khá đẹp.

-Vì sao lại đến nông nỗi này hả cháu ?

Nghe bà hỏi, cô gái vội òa lên khóc nức nở. Rồi trong tiếng nghẹn ngào, cô gái kể lại: Cô là người làng Hạ, do nhẹ dạ, nên đã bị một tay họ Sở lừa. Xong chuyện, hắn ta phủi tay, quất ngựa truy phong. Nhìn cái thai trong bụng cứ lớn lên từng ngày, cô gái chỉ còn biết ngậm ngùi nuốt nỗi cay đắng, tủi hổ. Gia đình hắt hủi, bạn bè xa lánh, dân làng tẩy chay. Mấy lần định trầm mình hoặc tìm cách giải quyết cái thai trong bụng, nhưng lương tâm cô không cho phép. Chính vì vậy mà cô phải cố gắng sống để có thể nuôi đứa trẻ trong bụng cho tới ngày nó chào đời…

-Thôi thì cơ sự đã đến nước như thế này, có khóc cũng chẳng giải quyết được gì - bà đến bên cô gái yên ủi - chi bằng… cứ ở đây với cô, có gì dùng nấy, đợi cho tới ngày đứa bé chào đời, rồi mình tính tiếp.

-Cô ơi! cô đúng là vị cứu tinh của đời cháu. Trọn kiếp này, hai mẹ con cháu chỉ biết khấu đầu, ngàn lần, vạn lần đội ơn cô - Cô gái gạt ròng lệ rối rít cảm ơn.

Ngoài trời, có tiếng cành cây gẫy, bụi tre trước ngõ cứ vặn mình răng rắc. Gió vẫn rít lên từng đợt. Đúng vào cái đêm dông bão ấy, cô gái trở dạ sinh con - một đứa bé gái. Thế là bà đành phải trở thành bà đỡ bất đắc dĩ. Bên ngọn đèn dầu leo lét, hai người phụ nữ - một già một trẻ đang cưu mang một mầm sống mới. Tiếng khóc của đứa trẻ làm cho bầu khí của ngôi nhà dường như ấm lại, xua đi cái vẻ ảm đạm của một đêm mưa bão.

Nhưng cô gái, phần vì đã quá mệt mỏi sau một quãng đường xa trong trời mưa lạnh, phần vì thể trạng yếu gầy, cô đã qua đời ngay sau khi sinh đứa trẻ được vài giờ đồng hồ, trong lúc trên đôi môi còn nở một nụ cười đầy mãn nguyện…

Phải nói rằng, từ ngày đứa con trai hy sinh ngoài chiến trường, bà không nghĩ rằng bà còn có thể sống và sống có ích cho cuộc đời nữa. Thế nhưng, qua những biến cố bà gặp phải, bà mới hiểu ra một điều rằng: Con người dẫu có dừng bước thì dòng đời vẫn cứ trôi đi. Đau khổ và tình yêu là điều mà con người vẫn gặp phải trong cuộc sống thường ngày. Nhưng đón nhận những nó với thái độ như thế nào lại còn tùy thuộc vào mỗi người…Cũng như lúc này đây, đứa bé này đang cần đến tình yêu và sự che trở của bà, bà không thể không ra tay cứu giúp. Thôi thì… có đứa trẻ bên cạnh, gian nhà của bà cũng bớt đi vẻ lạnh lẽo, cô quạnh. Nghĩ thế, bà vội ôm đứa bé vào lòng. Nơi khuôn mặt khắc khổ của bà, hai hàng nước mắt cứ trào ra…

***

Câu chuyện tưởng như mới xảy ra hôm nào, thế mà nay đã được hơn hai mươi năm rồi. Đứa bé gái ngày ấy, bây giờ đã là một sinh viên đại học sắp ra trường. Mọi năm, cứ đến ngày lễ các linh hồn là cô con gái, dù có bận đến mấy, cũng cố tìm cách về từ chiều hôm trước. Sau Thánh lễ ban sáng ở nhà thờ, bao giờ hai mẹ con cũng cùng nhau ra vườn thánh để thắp hương và đọc kinh cho những người thân đã qua đời. Đối với nó, bà vừa là mẹ, vừa là ân nhân, vừa là vị cứu tinh. Nhưng bà chẳng bao giờ nghĩ thế, trái lại, chỉ biết dành trọn tình yêu thương và vun đắp cho đứa con gái tội nghiệp.

Bây giờ đã là sáu giờ ba mươi chiều, mà vẫn chẳng thấy bóng dáng đứa con gái đâu cả. Nó vẫn chưa về. Mâm cơm đã nguội.

Vậy là có lẽ nó sẽ không về rồi… Chắc nó còn bận học. – bà tự nhủ.

Độ này, bà cảm thấy trong người cứ khang khác thế nào ấy. Khắp toàn thân ê ẩm, nhức xương, nhức cốt. Mình già rồi! Chắc chẳng còn sống được bao lâu nữa – bà nghĩ. Giả như lúc này có đứa con ở bên cạnh thì hay biết mấy! Điều mà bà cần bây giờ là tình cảm, là sự yên ủi của đứa con. Người ta bảo: trẻ cậy cha, già cậy con mà. Nhưng nghĩ thì nghĩ vậy, chứ bà không hề trách đứa con gái.

Nhìn lên bàn thờ Chúa, từ trên thánh giá, Ngài vẫn đang nhìn bà với ánh mắt trìu mến và đầy cảm thông. Phút chốc, lòng bà như ấm lại. Bà biết chắc một điều là bà không hề cô đơn…

Trời đã nhá nhem tối. Ngoài kia, ánh trăng non đã bắt đầu nhú lên khỏi cây gạo ở đầu làng. Lúc này, trong vườn thánh vẫn còn thấy lố nhố bóng dáng người ra viếng nghĩa trang và thắp hương cầu nguyện cho người thân. Bà lão chợt nhớ tới chồng, nhớ tới người con trai đã hy sinh và cả người phụ nữ bất hạnh nữa.

Ngày mai là lễ Cầu cho các linh hồn rồi - vừa lẩm bẩm một mình, bà vừa chống gậy đi về phía ngôi thánh đường.


Hà Nội, tháng Các Linh hồn - 2006


Về quê 

Truyện ngắn


Đến ngã ba thị trấn, chiếc xe khách chạy chậm lại, rồi táp vào về đường. Thạch vội vàng nhảy xuống. Ba lô con cóc trên vai, đã lâu lắm Thạch mới lại về thăm quê. Nơi nhà Thạch ở là một ngôi làng nhỏ toàn tòng Công Giáo, nằm bên ngoài đê sông Hồng.


Thạch hít một hơi thật dài để lấy lại cái cảm giác khoan khoái khi đặt chân xuống miền đất mẹ. Trời đã về chiều. Từ đây về đến nhà còn khoảng hơn hai cây số nữa. Cũng có một vài chiếc xe ôm mời chào nhưng Thạch đều từ chối. Thạch thích đi bộ như thế này để có cơ hội chiêm ngưỡng cũng như thưởng thức cái hương vị của đất trời quê hương. Mới hôm nào Thạch từ giã làng quê yêu dấu để lên Hà Nội học, thế mà nay anh đã tốt nghiệp được ba năm rồi…

Gia đình Thạch cũng thuộc vào loại “thường thường bậc trung” trong làng. Mẹ Thạch mất sớm, năm ấy, Thạch vừa vào được lớp mười; để lại cho bố Thạch tất cả bốn người con. Thạch là con cả trong gia đình, nên ngoài những lúc học trên trường, cậu cố gắng dành mọi thì giờ còn lại để giúp đỡ bố thu xếp công việc trong nhà. Những năm ấy, bố Thạch lại làm Quản, nên không những lo toan cho gia đình, ông còn phải lo việc dạy giáo lý và xướng kinh sớm, tối ở nhà thờ. Hàng xóm láng giềng, mọi người đều cảm thương cho gia cảnh nhà ông Quản. Nhìn ông thui thủi trong cảnh “gà trồng nuôi con”, có người khuyên ông nên đi bước nữa nhưng ông chỉ cười. Hình như ông muốn cố gắng bù đắp sự thiếu thốn tình thương của người mẹ cho đàn con hơn là tìm niềm vui cho bản thân mình.

CŨNG CÓ MỘT CHUYẾN XE NHƯ THẾ


Bạn có tin có những chuyến đi làm thay đổi cuộc đời không? Tôi đã có một chuyến đi như thế.

***

Học xong lớp mười hai, tôi tự tin thi đại học sư phạm với ước mơ sẽ trở thành thầy giáo, chỉ để gõ đầu mấy đứa trẻ trong xóm. Quê tôi xa lắm, xa ơi là xa tựa như người ta hay kể chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa, xưa ơi là xưa vậy. Xa đến nỗi mà được đi học là một thứ xa xỉ với đám con nít chúng tôi. Xa đến nỗi mà chỉ duy nhất mình tôi là có thể đi học hết lớp mười hai. Còn lại, đám con nít thanh niên, đứa học nhiều lắm là qua lớp sáu. Thế rồi không có tiền, phải nghỉ học giữa chừng, rồi lại lẽo đẽo theo mẹ đi chợ, hoặc những trưa nắng lội ruộng bắt mấy con cá rô, mò mấy con ốc…

Tự thấy mình học cũng giỏi, nên tự tin thi đại học sư phạm, mà là sư phạm toán mới ghê chứ. Vậy mà… Tổng cộng cả ba môn thi chỉ được bảy điểm rưỡi. Thiệt chán hết sức, nói ra còn thấy hổ thẹn thêm.

Đành gác luôn cái ước mơ gõ đầu trẻ qua một bên, tôi đón xe lên Sài Gòn với hy vọng sẽ đổi đời. Chứ ở riết cái miền quê này, không đi chăn trâu cũng nuôi vịt chạy đồng, biết đời nào mà ngóc đầu lên nổi.

***

Sau cái chết của ông Thanh, cái Thắm, đứa con gái duy nhất của ông bà Thanh suốt ngày ôm bụng kêu đau. Nén nỗi đau mất chồng, bà chạy đôn chạy đáo tìm thuốc cho con. Hễ nghe ai bày cho ông thầy lang nào bà liền tìm đến. Hễ nghe ai chỉ cho cách chữa trị nào bà cũng làm cho bằng được. Thế mà cái Thắm cũng không hết bệnh. 


Không nỡ để đứa con gái suốt ngày ôm bụng kêu đau, bà quyết định dẫn con lên tỉnh khám. Tại đây người ta vẫn không tìm ra bệnh cho con bà. Thấy hoàn cảnh tội nghiệp của hai mẹ con, ông bác sĩ đến khuyên bà nên đưa con lên Sài Gòn khám, vì trên đó máy móc hiện đại và bác sĩ giỏi nhiều hơn. Ông cũng nói thật con bà có khả năng bị ung thư đường ruột giai đoạn đầu. Ông nói thế để bà chuẩn bị tâm lý cũng như mau chóng đưa con lên tuyến trên. Tuy nhiên, mới nghe tới hai chữ ung thư mặt mũi bà Thanh tối sầm, vì từ trước tới nay có ai trong làng thoát khỏi căn bệnh này đâu, ngay cả chồng bà cũng đâu thể thoát nổi. Như muốn trấn an bà, ông bác sĩ nói thêm đó chỉ là suy đoán của ông, và nếu nó là sự thật thì trong giai đoạn này bệnh tình của con bà có thể chữa trị khỏi hoàn toàn.

Sau khi từ tỉnh về, bà quyết định bán cái xe đạp cũ kỹ mà chồng để lại, cộng thêm cái tivi đen trắng để lấy tiền chữa trị cho con gái. Số tiền nhận được cộng với khoản phúng điếu sau khi lo hậu sự cho ông Thanh, bà đếm đi đếm lại cũng chỉ được gần hai triệu. Với khoản tiền cầm trong tay, bà đắn đo, lo nghĩ có nên đưa cái Thắm đi vào Sài Gòn không. Bởi lẽ bà biết để chữa trị cho con bà thì số tiền phải gấp nhiều lần hơn thế. Lúc này bà tính sang vay mượn hàng xóm. Thế nhưng sau đó lại thôi. Vì sau hai vụ mùa trắng tay, hàng xóm nào có ai có của dư của để đâu. Hơn nữa, mới đây họ cũng đã giúp đỡ bà nhiều trong việc lo hậu sự cho ông Thanh rồi. Lúc này bà không biết phải làm gì. 

Nếu đi thì không đủ tiền. Còn nếu không đi thì con bà sẽ phải tự chống chọi với căn bệnh trong người. Nhìn sang đứa con đang quằn quại trên chiếc giường tre, bà khóc. Bà khóc cho thân phận nghèo khổ của mình. Bà khóc cho cõi lòng đơn độc của mình. Bà cũng khóc cho số phận hẩm hiu của con bà. Bà nghẹn lòng: “Thắm ơi! Mẹ xin lỗi con. Mẹ đã không mang lại cho con niềm vui. Mẹ cũng không đem lại cho con cuộc sống ấm êm như chúng bạn của con. Nhưng con ơi! Mẹ sẽ cố gắng hết sức. Mẹ sẽ làm tất cả mọi sự vì con.” Nói những lời đó xong, bà gạt nước mắt. Bà nghĩ không thể để cái Thắm chờ chết như thế này được. Bà quyết sẽ dẫn cái Thắm lên Sài Gòn chữa bệnh. Bà sẽ tìm một công việc nào đó để làm kiếm tiền. Bà không cứ công việc nào miễn sao có tiền để chữa trị cho đứa con gái. Thế rồi bà đứng dậy, chuẩn bị đồ đạc để sáng mai đi lên Sài Gòn.

Truyện ngắn: Em ơi! Anh thuộc về Chúa


Một mình trong căn phòng trống vắng, ngồi trên chiếc ghế cạnh bàn học, từ cửa sổ tầng sáu, Cường phóng tầm mắt nhìn về phía bầu trời xa xăm nơi mà mặt trời đang khoác lên mình chiếc áo đỏ rực phản chiếu ánh sáng khắp cả một vùng trời. Bầu không khí trong lành, không còn cảm giác ngột ngạt của buổi trưa nóng nực, làn gió thổi nhẹ khẽ chạm vào da thịt. Nếu như bình thường thì Cường sẽ cảm thấy vô cùng dễ chịu và khoan khoái! Và có lẽ sẽ càng thích hợp hơn để anh chìm đắm trong lời cầu nguyện, một không gian tuyệt vời để anh gặp gỡ Chúa. Nhưng hôm nay, dường như mọi cảnh vật, mọi thứ diễn ra xung quanh Cường đều không màng tới. Anh bỏ ngoài giác quan, gạt ra xa cảm xúc những gì được gọi là tuyệt vời của cảnh vật hữu tình!

Tôi Hét Lên!




***

Tôi mệt nhọc với cuộc đời,
Tôi khò khè với cuộc sống!
Tôi làm hãng cam, làm anh cai.
Tôi đếm tiền.
Tôi, vợ đẹp.
Tôi, con khôn.
Tôi ung thư.
Tôi hét lên!

. . .

Hai mươi năm rồi, ngày nào tôi cũng mệt thở không ra hơi, đầu nhức căng căng, tim đập hồi hộp, thần mắt khờ khạo; bởi sáng nào cũng vậy, tôi dậy thật sớm, hốt hoảng như người bị ma đuổi, tôi phóng thật lẹ vào sâu trong phòng tắm. Nước ấm dội xuống cuống cuồng, tôi sấy tóc hối hả, tôi chải tóc vội vàng, tôi mặc quần áo thật lẹ, tôi ba chân bốn cẳng phóng ra xe, xe đề máy, tôi biến mất vào dòng đời xe cộ ngược xuôi.

Tách rời dòng xe đen nghìn nghịt như những con bọ hung đông lạnh không nhúc nhích trên xa lộ chằng chịt dọc ngang, tôi kiếm đường tắt, hốt hoảng bẻ trái, lừa lừa quẹo phải, tôi bực bội bấm còi, tôi phóng vội vàng vào hãng cam.

BIỂN DẬY SÓNG


Hừng đông ló rạng cuốn làn sương mỏng yếu ớt lên không trung. Gió từ biển khơi tắm gội dải đất quê còn ngái ngủ. Mấy chú hải âu thức giấc gọi bầy râm ran. Mặt biển tựa tấm gương lớn lấp lánh ánh bình minh. Tuấn lạc trôi về miền thương nhớ, anh quên đi những nhọc nhằn nơi trốn hoa lệ, anh thả hồn theo dòng nước mát lạnh và để khối cát mịn màng ôm chặt lấy đôi chân! Bức tranh quê hương tuyệt đẹp mà hiếm khi Tuấn được ngắm nhìn! Mảnh đất này chôn dấu bao ký ức vui buồn. Tuấn bồi hồi nhớ về bà nội.

Tuấn sống với bà nội từ nhỏ. Mọi sự anh có được từ tay nội: tình thương, đức tin, niềm hi vọng lòng trắc ẩn vị tha, sự kiên nhẫn,… nội đã hun đúc cho anh. Nội anh luôn dặn dò: “Dù thế nào, cháu vẫn phải luôn nhớ đến Chúa. Cháu sẽ gặp khó khăn, sẽ gặp đau khổ, hay vui buồn... nhưng hãy gọi Người một câu, một câu thôi nghe chưa cháu”. Tuấn luôn khắc ghi nỗi vất vả của bà, nên cố gắng vươn lên, mặc dù sóng đời xô đẩy ngả nghiêng, nhưng tình cảm của anh dành cho nội luôn thiêng liêng và da diết!

TRỌN ĐỜI DÂNG HIẾN

hình minh họa

Sau cơm tối, cha Giám đốc đại chủng viện đi dạo với thầy nghĩa tử Lê Đình Huy. Thầy mới nhận cha được mấy tháng nay, sau khi nghĩa phụ cũ qua đời. Thầy đang theo học lớp Thần 4, đại chủng viện Thánh Giuse Saigon, còn vài năm nữa sẽ chịu chức linh mục. Vì vậy, nghĩa phụ hay gặp nghĩa tử để thắt chặt tình cha con và chuẩn bị cho biến cố trọng đại ấy.

_ Cha con mình cùng quê Đà Lạt. Nhà cha ở đường Hà Huy Giáp. Còn con ở khu nào?
_ Dạ, nhà con gần Thung Lũng Tình Yêu.

_ Gia đình con có mấy anh chị em?
_ Thưa cha, con là con một ạ.

_ Trời đất, con một mà dám đi tu. Không sợ mất giống à? Sao ông bà cố lười đẻ thế?
_ Con được 7 tháng tuổi thì ba mất do tai nạn giao thông. Mẹ ở vậy nuôi con.

_ Cha xin lỗi.Tội nghiệp quá! Ba con cũng là người Đà Lạt chứ?
_ Dạ không. Quê nội con ở Bảo Lộc. Sau khi ba mất, mẹ bế con về Đà Lạt, ở gần nhà ông bà ngoại.

_ Mẹ làm nghề gì?
_ Mẹ con chuyên trồng hoa.

_ Con xin đi tu, mẹ có buồn không? Nội ngoại phản ứng thế nào?
_ Thưa cha, con còn nhớ sáng hôm ấy đi lễ về, con thưa với mẹ:
“Mẹ ơi, mẹ cho con đi tu nhé. Con ước ao làm linh mục từ lâu rồi. Nhưng nếu mẹ gật đầu thì con mới đi”. Mẹ con chết lặng hồi lâu. Đôi mắt buồn nhìn vào cõi xa xăm. Hai hàng nước mắt ứa ra. Ngày hôm sau, mẹ bảo: “Con cho mẹ một tháng suy nghĩ và cầu nguyện”. Từ hôm đó, mẹ ít nói và gầy hẳn đi. Một tháng sau, mẹ trả lời:
_ “Đúng ra, mẹ có quyền trả lời “không”, vì con là lẽ sống duy nhất của mẹ. Nhưng con cái là hồng ân Chúa ban. Chúa ban con cho mẹ, nay Chúa gọi con theo Ngài, mẹ không được từ chối. Mẹ phải học gương Tổ Phụ Abraham, hiến tế đứa con một của mình cho Thiên Chúa. Mẹ phải học gương Mẹ Maria , sẵn sàng thưa “xin vâng” trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Thời con gái, mẹ đã một lần xin vâng. Hồi ba mất đi, mẹ cũng xin vâng. Nếu Chúa muốn con theo Ngài, mẹ cũng cúi đầu xin vâng”. Năm sau, con vào chủng viện, cả nội lẫn ngoại đều phản đối kịch liệt, nhất là bên nội, vì con là cháu đích tôn.

hình minh họa


TÔI ĐI TU!

Tiếng két của cửa nhà nguyện vang lên một luồng ánh sáng nhẹ của hoàng hôn chiều chiếu qua khe cửa gió thổi hiu hiu trên mái tóc phất phơ những ngọn dài. tôi nhanh bước chân vào nhà nguyện cúi đầu cảm tạ chúa và chuẩn bị cho giờ kinh chiều hôm nay. Ngồi trong một góc của nhà nguyện dòng tôi thấy lòng trống trải, nhưng may mắn thay tôi lại thấy Chúa nở nụ cười nhẹ nhàng trong giờ viếng Thánh Thể. Chỉ mình tôi với Chúa, nụ cười tỏa sự ấp áp đối với tâm hồn đang lo lắng bồi hồi. nụ cười ấy làm tôi nhớ về gia đình nhớ về cha về mẹ, về tất cả những kỉ niệm quý giá của thời niên thiếu khi gắn bó với gia đình.

* * *

ĐƯỜNG HỒNG ÂN


Cơn gió thoáng nhẹ làm rung rung cánh lá mỏng của giàn hoa Bông Thầy phía sau nhà thờ. Dưới nền sân, mấy tia nắng sớm xuyên qua tán lá làm loang lỗ cả một khoảng rộng. Bầy chim chích bông đã thức tự bao giờ, đang cất những tiếng hót trong trẻo đón chào ngày mới. Một ngày đẹp trời.

***

...“Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, vợ, chồng, anh em, cha mẹ hay con cái vì Nước Thiên Chúa, mà lại không nhận được gấp bội ở đời này và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (Lc 18.29-30). Câu lời Chúa này cứ vang vọng trong đầu cậu từ hồi nãy tới giờ, khiến cậu không sao có thể tập trung nổi. Hôm nay là ngày tĩnh tâm của cộng đoàn. Cậu đang cùng với anh em ngồi thinh lặng suy niệm lời Chúa qua bài giảng của cha đặc trách vừa xong. Khi gẫm đến câu này, cậu không còn tập trung suy niệm nữa. Bao nhiêu kí ức thời thơ ấu ùa về...

Sắp đến mùa hè. Học sinh 12 chuẩn bị rời trường trung học. Xin tặng truyện ngắn sau đây cho những ai đã từng bồi hồi từ giã tuổi học trò phổ thông.
Truyện David Copy này mình viết lâu rồi, in trong tập truyện Mưa Trên Giảng Đường do Cứu Thế Tùng Thư xuất bản 2012.


DAVID COPY!



Ngày mai là ngày tổng kết học kỳ. Năm nay lại là năm kỷ niệm ngày thành lập trường. Cho nên bất cứ lễ hội nào thì nhà trường cũng tổ chức rất long trọng, linh đình. Ngày mai thì dĩ nhiên phải linh đình long trọng cho nên mỗi lớp phải có một tiết mục, theo ban tổ chức thì tiết mục gì cũng được. Văn nghệ (ca hát, múa, hoạt cảnh), ảo thuật, hay thuyết trình, hùng biện. Buổi lễ sẽ kéo dài từ sáng tới chiều, ăn trưa tại chỗ. 

Nghe qua đã thấy hấp dẫn rồi, và đứa nào trong cái lớp 12A13 này cũng thấy náo nức. Không náo nức sao được khi mà lớp tụi nó là lớp học dở, nghịch ngợm và tháng nào cũng bị xếp hạng chót, không có dịp này thì đố đứa nào trong cái lớp mang số xui này có thể bước lên khán đài của trường lấy một lần. (Còn việc lên tới chân khán đài để bị dũa tơi bời thì là chuyện thường xuyên). Chính vì cái dịp quá ư là độc đáo này mà lớp 12A13 chuẩn bị ráo riết và kỹ lưỡng nhất cho buổi lễ. 

* Ông Bảy Vé Số

Không ai biết tên ông, chỉ biết ông thứ bảy. Ông bán vé số dạo, nên người ta gọi ông là ông Bảy Vé Số. Sáng Chúa Nhật, như mọi ngày, khi tan lễ, ông mở đầu một ngày bằng ly xây chừng ở quán cà phê Không Tên cuối nhà thờ, bên kia đường. Hôm nay cũng như mọi ngày, khi “trà dư, cà phê hậu”, ông cười đau cười đớn:

– Ông bà mình đã bảo: “Con đàn, cháu độc”. Tía tui có chẵn mười người con, trong khi tui được mỗn thằng cu Thanh Giang thì vợ tui chết. Tui bán vé số lấy tiền nuôi con ăn học. Vô đại học, nó phải lòng con bé Thanh Hà cùng lớp, cùng tuổi con trâu, người trên kênh, theo đạo Chúa. Chúng nó lấy nhau, bên nhà gái không đòi hỏi xu teng cắc bạc nào nhưng một mực đòi thằng Thanh Giang phải trở lại đạo. Thật ra từ xưa đến nay nhà tui có theo đạo nào đâu mà trở đi trở lại? Mình chỉ bắt chước người ta nhang đèn hương khói, cúng kiếng ông bà tổ tiên những ngày sóc vọng theo thói quen, ai làm sao mình làm vậy… Tui có hỏi anh chị sui gia: “Chưa nói chuyện bác ái, tui chỉ hỏi lẽ công bằng để đâu thôi? Sao anh chị không cho con Thanh Hà theo đạo nhà tui, mà lại bắt con tui theo đạo nhà anh chị?” Tui cứ ngỡ anh chị sui ngọng luôn. Ai ngờ hai người thay phiên nhau cho tui một bài dài gấp mấy lần ông cha giảng trên nhà thờ, nghe ngán tới cuống họng luôn… Họ tưởng tui cho con theo đạo là do họ thuyết phục. Không phải đâu. Thằng Thanh Giang theo đạo chỉ để lấy vợ thôi. Mình thương con, mình phải chịu lép một bề ấy mà…


1.

Được tin ông chánh trương Khánh mất, ông Khanh nói với vợ là bà quản Minh:

– Tôi già rồi, yếu lắm, chẳng biết còn mất lúc nào. Bạn hữu chẳng còn mấy đứa, lại cứ rủ rê nhau mà đi. Bà làm ơn thu xếp để tôi đi dự đám tang, tiễn đưa thằng Khánh đến nơi yên nghỉ cuối cùng được không?

Bà quản tròn mắt:

– Người ta từng làm chánh trương hai khóa, ông cứ gọi trỏng trơ người ta là thằng, không được một tiếng ông chánh, ông trương, nghe chướng tai lắm… Mà ông muốn đi đám ư? Đường xá thì xa xôi, gần trong núi Sập cơ đấy. Lại thêm từ sau lễ Giáng Sinh tới giờ, nửa tháng trời nay rồi, trời rét đậm. Ông lại đang đau yếu, bệnh xương khớp, bác sĩ cấm mang vác nặng, cấm hết cờ bạc, rượu chè bia bọt, trai gái, thuốc sái. Bác sĩ còn cấm cả viếng xác người chết… Ông đi đám tang, nhiễm hơi lạnh thì khổ thân ông, khổ thân tôi, khổ cả nhà… Ông nghĩ xem, mình xin lễ, đọc kinh cầu nguyện cho ông chánh là được rồi.

NGỌN ĐÈN CHẦU VẪN SÁNG


Rầm...............

Cánh cửa nhà thờ bị gió thổi đập mạnh vào bộ khung đã mối mọt . Những hạt gỗ nhỏ li ti rơi xuống theo gió tạt vào mặt cậu. Giật mình. Cậu tỉnh giấc. Nhưng khuôn mặt thẫn thờ ấy cho thấy cậu vẫn chưa sẵn sàng thức. Cậu đã ngủ từ bao giờ? Không biết nữa. Cậu chỉ nhớ là đã vào đây lúc ba giờ chiều nay. Trời đã tối. Nhìn xung quanh. Vắng tanh. Tối ngòm. Chỉ có duy nhất một vệt sáng mờ mờ phát ra từ ngọn đèn chầu bên cạnh nhà tạm đằng trên cung thánh. Ấy vậy mà, cậu vẫn hình dung được mọi vị trí trong ngôi giáo đường nhỏ này, nó quá nhỏ so với sự gắn bó của cậu ở đây.

Chiều nay, cậu đã đến đây, quỳ phía trước cung thánh này, dưới cây Thánh giá. Cậu cầu nguyện. Cậu khóc. Cho đến khi cậu thiếp ngủ lúc nào không hay.

Ngày Tảo Mộ


Tôi đến đây thăm ngôi mộ của tôi. Ba năm trước người ta đưa tôi ra nghĩa trang này. Hôm ấy có người khóc. Chung quanh mộ bia tôi có hoa. Bốn năm ngày sau hoa mới tàn. Sau trận mưa, hoa mới rữa. Người coi nghĩa trang hốt hết đổ vào thùng rác. Rồi, thỉnh thoảng mộ tôi vẫn có hoa. Những cánh hoa lẻ tẻ trong lòng một vài người nhớ tôi. Không nhiều.

Hôm nay không còn thế nữa. Tôi đến đây khá sớm. Tôi hồi hộp không biết hôm nay thế nào. Tôi không biết mình sẽ gặp lại những ai. Hôm nay kỷ niệm ba năm ngày người ta chôn tôi. Tôi còn nhớ ba năm trước, cũng vào ngày này, có linh mục mặc áo lễ, có ca đoàn hát. Trước khi đến đây, tôi nôn nao không biết ngày hôm nay có những gì. Tôi hồi hộp.

Tác phẩm đoạt giải Nhì, thể loại truyện dài, cuộc thi Sáng tác Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới 2017 của Tác giả Trầm Nguyên Ý Anh

PHẦN MỘT
CHƯƠNG 1


Phong lê những bước chân mệt nhọc băng qua hai dãy hành lang rồi bước chậm lên lầu một. Phòng xét nghiệm nằm ở cuối dãy, sau các phòng tiếp nhận và phòng lưu trữ máu. Gã nghe đầu váng vất và hai chân thì mỏi rã rời. Đến trước phòng, nhìn thấy cánh cửa hé mở, gã đẩy nhẹ. Người cán bộ nhìn lên. Phong đến trước bàn giấy móc từ trong túi áo ra một tờ giấy nhỏ.
- Anh cho tôi xin kết quả.

Được tạo bởi Blogger.