2014 CHA VÀO ĐẤT


-"Sáu mươi năm rồi con ạ!" 
– "Dạ, đã sáu mươi năm."

Im lặng.

- "Ba mươi chín năm rồi Ba ạ!"
 – "Phải. Đã ba mươi chín năm."

- "Mỗi năm mình đều phải làm toán lại Ba à! Con làm toán cộng. Con vẫn không tin ở tài làm toán của mình. Bài toán rất đơn giản. Chỉ có cộng một vào con số có sẵn."
- "Phải. Đơn giản mà rất hóc búa."

Cha con tôi lại im lặng. Tôi biết trong khối óc còn rất tinh tường của ba tôi, những tháng năm xa xưa đang trở lại. Như một đoạn phim. Tôi ước gì người ta có thể sửa đổi như sửa đổi những đoạn phim hoặc những đoạn thu âm một cách dễ dàng. Xóa đi và làm lại. Kỹ thuật, chuyện nhỏ! Nhưng những đoạn phim đời của chúng ta, không thể làm gì được. Không xóa đi và làm lại. Mỗi năm tôi đều phải làm một con tính cộng. Ba cũng vậy.

Tôi thu dọn căn nhà lại cho Ba. Trong căn nhà này, Ba và Mẹ đã có nhau. Sau khi Mẹ mất, Ba không muốn dời đi đâu cả. Ba sống thoải mái một mình. Mỗi ngày chúng tôi đều thay nhau đến với Ba. Vậy là Ba đã cảm thấy đủ. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa ngăn nắp. Tôi chỉ việc hút bụi, và trang trí một chút cho vui. Ba còn dặn khi nào Ba quá lú lẫn rồi thì các con cứ gửi Ba vào “nursing home”. Chúng tôi nói chắc không bao giờ đâu, vì Ba luôn khỏe khoắn mà. Nói thế rồi tôi cũng nghĩ rằng cho dù Ba có thế nào, chúng tôi cũng sẽ săn sóc Ba tại nhà. Ở nhà, Ba sẽ luôn "có" Mẹ bên cạnh.

- "Ba! Cái tấm hình này..."
- "Chi đó?"
- "Tấm hình nhà mình chụp chung... lâu lắm rồi, Ba xem này, giấy hình đã ố vàng."
- "Đưa Ba xem. À phải, tấm hình chụp năm 1954, trước nhà mình ở Hà Nội. Sau đó… gia đình mình đã ra đi."
- "Dạ. Lúc nhà mình ra đi, con mới có sáu tuổi, nhưng tới bây giờ con vẫn nhớ."
- "Con giỏi lắm!"
- "Con nhớ lắm Ba à! Lúc xuống tàu, cảnh thật là hỗn độn. Ba Mẹ chỉ mang một ít vật dụng thật cần thiết, và vài món quý giá. Con giành mang cái túi đựng những vật quý giá đó, chỉ là hình ảnh của gia đình. Sau này con thấy quý thật, vì vàng bạc mình còn sắm lại được, còn hình ảnh thì không.”
- “Đúng đó con! Quý lắm!”

Hai cha con giở lại quyển album. Những kỷ niệm êm đềm ở quê cũ Hà Nội lần lượt hiện ra. Tôi dạo đó còn bé quá, chỉ là một cậu nhóc mới vào tiểu học. Trí óc non nớt của tôi còn lãng đãng những câu chuyện Ba Mẹ kể về trận đói năm Ất Dậu 1945. Họ hàng của tôi nhiều người đã chết trong trận đói ấy, lúc tôi chưa ra đời. Thế nên tôi chỉ nghĩ về chuyện ấy như một sự kiện lịch sử mà mình được học. Nhưng với Ba Mẹ thì khác. Đó là những gì họ phải chứng kiến, nên tôi biết trong lòng Ba Mẹ không bao giờ nguôi được những nỗi kinh hoàng.

“Con xem, tấm hình này, chụp lúc mình mới về định cư ở Đà Lạt. Ba Mẹ làm vườn để sinh sống, nuôi các con. Vất vả lắm! Nhưng mình đã có một thời bình an.”

Tôi nghe như thật sâu trong câu nói của Ba có một tiếng thở dài. Phải, nhà mình đã có một thời bình an. Khi đã quen với cuộc sống mới, có một mái nhà, Ba bắt đầu đi làm lại tại công sở. Mẹ tiếp tục công việc vườn tược. Trời thương nên rau trái tốt tươi, Mẹ thuê được người cùng làm vườn nên đỡ vất vả hơn. Ba anh em chúng tôi lớn lên.

Nhưng mỗi khi nhìn bé An, em gái út, chúng tôi không khỏi tội nghiệp cho em. Cái cảnh cả nhà chen chúc lên “chiếc tàu há mồm” tại cảng Hải Phòng chúng tôi nhớ rất rõ. Mẹ lúc đó còn mặc áo dài, nách em An một bên, tay kia dắt em Thành. Ba và tôi mỗi người một cái túi. Ba xách cái túi to đựng vật dụng cần thiết của cả nhà, tôi vác cái túi nhỏ vừa đủ đè oằn vai thằng bé sáu tuổi. Có một lúc dòng người như sóng cuộn xô đẩy vô tình, em An bị đám đông làm ngộp thở. Em khóc không thành tiếng. Cánh tay em bị nhiều người xô mạnh, em đau đớn gần ngất xỉu. Em mang tật nơi khuỷu tay từ dạo ấy. Em Thành và tôi cũng suýt bị chẹn ngộp thở. Và cuối cùng, chúng tôi cũng lên được trên tàu. “Chiếc tàu há mồm”, kỷ niệm sâu đậm trong đời của chúng tôi! 

(Ảnh minh họa cuộc di cư năm 1954)

Bài toán đơn giản mà rất hóc búa. Không phải chỉ có cộng một vào con số có sẵn. Mà đúng ra là phải lấy năm hiện tại trừ đi năm đó. Năm đó là gì? Là cái mốc thời gian ai cũng nhớ. Ba thì trừ với năm 1954. Tôi thì trừ với năm 1975. Tôi rùng mình. Cái ý nghĩ mình cứ làm toán trừ hay toán cộng mỗi năm như vậy thật đáng sợ. Tôi bây giờ không phải là cậu bé sáu tuổi hay chàng thanh niên trẻ trung lanh lợi, mà đã thành một người có tuổi, mái tóc điểm nhiều sợi bạc, và cũng đang nặng gánh gia đình. Tôi sẽ làm toán cộng như thế này mãi ư? Và để làm gì? Một công việc, tuy chỉ là một động tác nhỏ, nhưng sao nặng nề quá, và đủ sức làm đau nhói trái tim.

Hôm nay tôi đưa Ba ra bãi biển. Cả hai cha con không hiểu sao bỗng dưng cùng muốn ra biển. Ba nói sắp đến Lễ Phục Sinh. Mùa Phục Sinh năm đó trùng với những ngày cuối của Miền Nam. Tôi cũng nhớ rất rõ chuyện ấy. Lúc đó tôi không phải là cậu nhóc con, mà là một thanh niên. Vâng, một thanh niên đang khoác màu áo lính. Những đoạn đường chiến binh gian khổ tôi hầu như đã nếm trải. Bước chân tôi đã đi khắp mọi miền. Cho đến ngày mất Miền Nam, tôi theo bạn bè chạy về chốn địa đầu. Tôi đã trôi dạt ra xứ biển. Nơi đó, đất mũi Cà Mau, tôi ẩn thân rồi ra khơi trong một ngày đầu tháng Năm…

… Biển ở đây lạnh. Cha con tôi không thể tắm. Ba cùng tôi ngồi trên cát, không ai bảo ai điều gì, yên lặng ngó ra chân trời phía tây nam. Đôi mắt Ba bỗng như dâng lên một chút sóng.
- “Ba!”
- “Gì con?”
- “Có phải… Ba đang nhớ…?”
- “Ừ. Ba nhớ quá, Việt Nam!”
- “Con cũng vậy.”
- “Những ngày đó, con đi đâu mất tích. Còn Đà Lạt của mình cũng đã thua. Mọi người kéo nhau về Sàigòn. Lại làm dân di cư. Ba Mẹ tiếc vườn rau trái của mình quá! Yêu Đà Lạt như yêu Hà Nội xưa vậy. Cho nên sau đó lại trở về. Trở về để phải chịu những điều cay đắng.”

Phải, Ba Mẹ đã chịu cay đắng. Ba phải đi “tập trung cải tạo” mấy tháng vì là viên chức chính phủ, Mẹ ở nhà chịu cảnh “đánh tư sản mại bản” vì nhà có chút của cải do kinh doanh nông sản mà có. Lại trở về hai bàn tay trắng. Thằng con trai lớn đi biệt tăm. Hai đứa còn lại học hành lay lắt, chán chường…

Bỗng Ba đổi giọng hơi vui:
-“Nhưng Trời sắp đặt cả con ạ, rồi con cũng đã đem hết nhà mình qua đây. Mình không còn được sống trong đất nước của mình nữa, nhưng đã hưởng một đời tự do. Mẹ con cũng có một khoảng thời gian sung sướng trước khi lìa cha con mình. Ba nghĩ Ba không có gì để luyến tiếc cả.”
- “Ba!”
- “Phải. Thật sự thì Ba vẫn luôn mong có ngày Ba về lại quê nhà. Nhưng nơi chốn này cũng gắn bó lắm chứ! Con có nhớ câu hát của Nguyễn Đức Quang không? “Xin nhận nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương.” Đất nước này cũng đầy thương khó, nào thiên tai, nào khủng bố, nào xung đột màu da… Nhưng đây vẫn luôn là một đất nước đẹp xinh và hào hiệp, ai mà không yêu mến?”

Ba vùi đôi bàn chân trong cát ướt, nói nhẹ:
- “Cát êm quá con ạ! Thật là dễ chịu!”
- “Dạ.”
- “Ba cứ ao ước cuối đời sẽ về Việt Nam, để được chết ở đó. Nhưng ngày nào còn chế độ độc tài, ngày nào chưa có tự do, Ba sẽ không về.”
- “Ba, ngày đó sẽ tới.”
- “Nhưng lâu quá con ạ! Chắc hết đời Ba vẫn chưa thấy đâu cả. Mỗi năm lại phải làm bài toán cộng, Ba thấy mòn mỏi quá!”
- “Ba, Ba đừng nghĩ tới chuyện đó nữa đi Ba!”
- “Ừ, Ba sẽ không nghĩ tới nữa. Ba thật sự thương cái xứ này.”

Tôi kéo Ba đứng dậy. Tôi thấy mình bé lại, như thằng nhóc sáu tuổi ngày xưa. Hai cha con đi dọc theo bờ biển. Những con tàu nhấp nhô phía xa tít ngoài khơi. Tôi nghe Ba nói như reo:
“Trông kìa! Chiếc tàu há mồm!”

**

Căn nhà của Ba, mỗi lần tôi đến, tôi đều dọn dẹp lại một chút. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa cũng ngăn nắp lắm. Những ngày khác, các em tôi cũng làm như vậy. Rồi hai cha con cùng nấu ăn. Ba thích công việc ấy. Chẳng bù với thời gian xưa, lúc Ba làm công chức, về nhà Ba chỉ đọc báo, nghe radio, rồi dạy các con học. Bây giờ chúng tôi đã “già đầu”, bay nhảy tứ phương, Ba nói “Ba không còn chữ để dạy”…

Lần này tôi đến, cũng dọn dẹp căn nhà cho Ba. Tôi thừ người nhìn đồ đạc hơi bề bộn một chút. Chẳng là trong cái đêm đưa Ba đi cấp cứu, chúng tôi đã không kịp thu dọn. Đêm đó là phiên tôi ở lại với Ba. Cả ngày Ba vẫn khoẻ, tự nhiên đến đêm Ba làm mệt. Ba nói ngực của Ba đau lắm. Tôi gọi xe cứu thương rồi báo cho hai em. Vào bệnh viện, Ba mất. Trái tim của Ba không muốn đập nữa. Ba ra đi rất an lành.

Những ngày trước khi Ba đi, trong tháng Tư, tôi thường được anh em bạn mỗi lần họp mặt yêu cầu tôi hát bản “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của Phạm Duy. Họ biết hoàn cảnh của gia đình tôi cũng giống như thế. Khi tôi hát, tôi thấy cả nhà mình đang ngồi san sát với các di dân trên “chiếc tàu há mồm”, bỏ quê. Tôi thấy khu vườn rẫy của nhà tôi xanh tươi ngút ngàn ở Đà Lạt. Tôi thấy anh em chúng tôi vui đùa học tập bên nhau, Ba Mẹ tràn trề hạnh phúc. Rồi tôi thấy tôi âm thầm đi về xứ biển địa đầu, lên chiếc thuyền nhỏ dập dềnh ra đi… bỏ nước.

Lúc Ba ra đi cũng là mùa Phục Sinh. Khi đưa Ba đi vào đất, tôi nhìn ảnh Ba, chợt cứ nghe văng vẳng như Ba đang nói với tôi “Ba thật sự thương cái xứ này… Cát êm lắm, thật là dễ chịu…”

Tôi vào phòng ngủ. Tôi bỗng muốn nằm lên chiếc giường của Ba. Mai mốt căn nhà sẽ đóng cửa, rồi được trả lại cho “housing”. Tôi thấy mình như đứa trẻ thơ đi tìm chút hơi hướm của mẹ. Tôi vùi mặt vào chiếc gối của Ba. Ba cứ như còn nằm bên tôi, khi tôi là một cậu nhóc con. Ba kể chuyện đời xưa cho tôi nghe cho đến khi tôi không biết Ba đang nói gì nữa. Bỗng tôi ước muốn ôm lấy chiếc gối như là ôm lấy Ba. Khi tôi nhấc chiếc gối lên để ôm vào lòng, tôi thấy một tấm ảnh nơi chỗ của chiếc gối. Tấm ảnh Đà Lạt. Một Đà Lạt sạch sẽ, nên thơ, chan hòa nắng ban mai. Ba hẳn đã ngắm tấm ảnh Đà Lạt mỗi ngày, vui trong từng kỷ niệm và đau xót với cái ý tưởng quê hương đất đỏ đang quằn quại trong các dự án bauxite. Tôi siết chặt chiếc gối. Như là Ba với tôi cùng đang khóc.

Cam Li NGUYỄN THỊ MỸ THANH, 5.2014
Ephata 807

NGÀY LỄ BẠC

hình minh họa

Tôi chết được 25 năm rồi. Hôm nay tôi trở lại tảo mộ lần thứ hai. Tôi gọi là Ngày Lễ Bạc.

Sau khi chết được ba năm. Tôi tảo mộ lần thứ nhất. Lần đó tôi kể trong tập sách Cô Ðơn và Sự Tự Do, đoản khúc số 59. Ngày đó mộ tôi không có hoa. Không có ai đến mộ tôi cả. Tôi đứng đó hồi hộp suốt buổi chiều. Mây xuống thấp, xám một hoàng hôn. Rồi trời tắt nắng phía sau hàng cây. Tôi còn nhớ rõ hôm ấy trời không gió. Nghĩa trang im lìm. Sau ba năm tôi chết, vẫn còn ít người nhớ và cầu nguyện cho tôi. Nhưng không ai ra nhìn mộ tôi.

Tôi biết nếu trở lại vào năm sau thì cũng thế. Thản nhiên như một cánh chuồn chuồn đậu hờ hững trên một bờ giậu thưa nào đó. Không có gì hồi hộp nữa nên tôi không trở lại. Ðợi 25 năm sau. Một kỷ niệm đặc biệt hơn. Ngày Lễ Bạc.



Ting…Ting…Ting….

Nghe thấy tiếng báo tin nhắn, tiếng gọi âm thầm nhưng mãnh liệt trong thế giới riêng, Facebook, Hiếu thản nhiên để lại Thảo và đứa con nhỏ bên mâm cơm đang dang dở. Anh cầm chiếc Iphone sang giường nằm “chat” cùng bạn bè. Một lúc sau, anh cũng đi luôn mà Thảo không rõ anh đi đâu. Hai dòng nước mắt tuôn rơi đầy xót xa trên gương mặt thanh tú, Thảo nhớ lại những ngày tháng bên gia đình.

*** *** ***

Thảo sinh ra trong một gia đình đạo gốc, nhà có ba anh chị em, Thảo là con thứ hai. Gia đình Thảo cũng không phải là giàu có gì nhưng mọi người ai cũng biết yêu thương nhường nhịn nhau. Từ bé, Thảo được nuôi dưỡng trong một môi trường đạo đức, thánh thiện nơi giáo xứ thân yêu. Mọi người, ai ai cũng thân quen, tươi cười và gắn bó với nhau không chỉ vì tình anh em máu mủ, tình làng nghĩa xóm nhưng hơn cả là tình thương yêu nơi Đức Kitô. 
Thảo cứ thế được lớn lên bởi vòng tay yêu thương của cha mẹ, nhờ sự nâng đỡ dạy bảo của mọi người. Nhờ đó, cô mỗi ngày một ngoan ngoãn hơn, đạo đức hơn, siêng năng đi nhà thờ, đi lễ nhiều hơn. Chính môi trường thân thiện này đã uốn nắn và hình thành nơi cô những giá trị nhân cách cao đẹp. Được học hỏi giáo lý, được biết Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em, cô ngày càng cố gắng sống hiếu thảo với ông bà cha mẹ và làm sáng danh Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

Thấy quan tài... vài ngày lại cười hô hố...

Dụ Ngôn Trước Thềm Tháng Cầu Hồn


1. Anh nông dân chính hiệu, có đến mấy đời.

Về đàng cuộc sống, gia đình cũng thường thường bậc trung, không phải lo đói khổ- chạy ăn từng bữa, chẳng có điều kiện hưởng thụ phè phỡn. Anh nói thế là tốt, ‘biết đủ thế là đủ' ai đó đã nói thế.

Về đàng sống Đạo anh cũng làng nhàng, nóng chẳng nóng, lạnh chẳng lạnh. Ngày thường không thấy anh đi Lễ, nhưng ngày Chúa Nhật chẳng thấy anh bỏ Lễ. Kinh Tối chẳng khi nào đọc…

‘Giữ Đạo nhiều chi cho mệt… Đủ lên thiên đàng được rồi!’, Anh thường nói thế mỗi khi thấy ai- trong những ngày nông mùa nhàn rỗi, anh nhâm nhi, hay quần xà lỏn trần trục nằm võng xem ti vi vào giờ Lễ, dù là lễ Trọng- nhắc: ‘rảnh thế sao không đi Lễ’.



Chiếc xe con đổ đầu đường, An ngờ ngợ… Làng quê đây rồi, cây phượng vĩ trơ xương vẫn đó, An còn nhớ chếch sang 45 độ đối diện là căn nhà gỗ lợp tôn của cô Trơn… Không phải, một ngôi nhà lầu khang trang, cổng phủ giàn hoa giấy đỏ rực. Thế này thì lạ quá! Trời xế trưa, nắng tháng giêng ngay ngắt, vắng vẻ. Cũng chẳng thấy đám trẻ con xúm xít chỉ trỏ mỗi lần thấy chiếc xe hơi sang trọng chạy vào làng…

Một ông già chống gậy bán vé số bên vệ đường, ho lụ khụ, An bước lại thăm hỏi. Ông già đưa sập số còn khá dầy định mời, nhưng khi ngước lên nhìn An thụt tay lại, lắc đầu không biết, vội quay mặt dải bước nhanh. Cái dáng hơi cà thọt, ngón tay cái trái cụt một đốt, quen quen… Ơ, lẽ nào lại !…

Không thể!... Không thể!...

SƠ  VÂN

Hình minh họa: Sr Claret, từ ngôi sao truyền hình trở thành nữ tu

“Mày mà đi tu, tao thề tao sẽ cọc trọc đầu mày.” Đó là những lời cảnh cáo hay đúng hơn là những lời đe doạ mà mẹ Vân dành cho em mỗi khi em kể chuyện về các sơ đang phục vụ trên nhà thờ.

Kể cũng lạ, từ ngày bắt gặp và nói chuyện với hai sơ mới về phục vụ tại giáo xứ, tâm trí Vân lúc nào cũng nghĩ đến các sơ. Đến nỗi ngay cả những lúc tham dự thánh lễ, Vân cũng không sao cầm lòng cầm trí được, vì mắt bận hướng về các sơ. Không biết có phải vì chiếc áo dòng trắng tinh hay sự hiền lành, phúc hậu của các sơ đã hớp hồn Vân hay không. Cũng từ lúc đó em nung nấu ý định đi tu để trở thành một nữ tu. Và Vân mang ý định đó vào trong cuộc sống hằng ngày. Em không môi son, má phấn như các bạn cùng trang lứa. Em cũng không mốt này mốt nọ như cô bạn hàng xóm. Em giản dị, đơn sơ. Em nhỏ nhẹ, khiêm tốn.

CON MUỖI

Thân tặng quý Anh Chị trong Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình.
Ghi nhớ mười năm thành lập phong trào 1987-1997


Lần này tôi sẽ viết một bức thư lâm ly để lại cho vợ, rồi đi! Tôi đang giận vợ tôi ghê lắm, vừa bắt đầu thảo lá thư thì con muỗi vo ve bay đến. Cái tật ấy của nàng đã bao lần “chích’’ tôi cũng giống như con muỗi đang vo ve rình mồi kia. Không được đâu, tôi sẽ đập một cái cho nó chết !

Hà! Hà! Con muỗi kia, mày đến vo ve phá rối vào lúc tao đang viết “tuyệt mệnh thư’’ hả. Tao sẽ thanh toán mày ! Tôi chuẩn bị tiêu diệt kẻ thù thì nghe tiếng nó than thở. “Hôm nay đói quá, đói thế này thì chết mất”. A! Thì ra con muỗi biết nói! Thú vị quá, tôi cúi nhìn se sẽ. Cái bụng nó xẹp lép, trong như giấy bóng kiếng. Nó đứng run run. Tội nghiệp hết sức vậy đó. “ Hôm nay bị xua đuổi quá, hu... hu... Chúa ơi... hu... hu...” A! Thì ra con muỗi đang khóc, nó lại biết kêu cả Chúa ơi nữa. Ai mà không trắc ẩn trước tiếng khóc thê lương như thế, nhất là những người có tâm hồn nghệ sĩ như tôi! 

Tôi liền nhẹ nhàng đưa cánh tay ra. Nó sáng mắt lên khi ngửi thấy da thịt tôi. Như tôi thèm một tô phở thơm hơi vào lúc đói. Rung đôi cánh, nhẹ một đường bay êm như thiên thần, con muỗi đáp xuống bãi đậu. “Xin Chúa cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày.’’ À, thì ra con muỗi đọc kinh trước bữa ăn. Con muỗi này lạ quá. Một tí xíu nữa là tôi gọi nàng đến mà xem rồi. Nhưng chợt nhớ ra là tôi đang viết tuyệt thư để lại cho vợ. Tôi lại thôi, hừ, đây cũng là cách tôi trả thù nàng, không cho nàng biết con muỗi kỳ lạ thế này trên cõi đời. Một mình tôi với con muỗi thôi!

BỜ VAI ẤY!


– Anh!… Em mệt!
– Mệt làm sao?
– Em mỏi rã rời tay chân.
– Ngủ đi em! Ngủ một lúc cho đỡ mệt!

Nàng ngoan ngoãn ghé nhẹ đầu vào vai anh, rồi… khép hờ đôi mắt. Mấy sợi tóc lòa xòa vương trên trán, như đám mây nhỏ lãng du trước vầng trăng nõn nà. Khuôn trăng đầy trắng mịn. Cánh mũi khẽ phập phồng hơi thở. Bờ môi hồng xinh xắn khép hờ. Hương thơm nhè nhẹ phảng phất đâu đây…

Tựa đầu bên bờ vai anh, nàng nghe được nhịp đập rộn ràng yêu thương từ trái tim anh. Nàng cảm nhận được hơi ấm nồng nàn phủ kín người nàng. Nàng nhận được vòng tay trìu mến, những ngón tay thuôn dài đan quyện lấy tay nàng. Tự đáy sâu tâm hồn nàng dâng lên một cảm xúc lâng lâng dạt dào. Dạt dào như sóng biển ngoài kia… Nàng an tâm thiêm thiếp ngủ.


1- Quà tặng của Chúa

Anh là ca trưởng, lại là tay sô lô không thể thay thế. Còn tôi song ca với anh thì không ai chê được. Đến nỗi mùa Chay năm ấy, khi hát bài Giọt Lệ Sầu: “Lạy Chúa! Bao năm lưu lạc, nay con trở về…”, có lần cha xứ đã phải thốt lên:

– Mình đang cho rước lễ, chúng nó hát làm mình nổi da gà.

Thế rồi, người nói ra, kẻ nói vào, lại thêm “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, chúng tôi yêu nhau. Và như mơ ước của mọi đôi tình nhân trên cõi đời này, chúng tôi cưới nhau. Trước bàn thờ, khi trao nhau chiếc nhẫn cưới, tôi đã tạ ơn Chúa ban tặng anh, món quà quý báu nhất trần gian, cho tôi.


(Nẻo đường kỷ niệm)

Em và tôi lớn lên trong một làng quê xưa nghèo khó.

Thủa ấy, mỗi buổi sáng, chúng tôi hay đuổi bướm trên đường tới trường, hái hoa dâm bụt đỏ hồng đem tặng cho cô. Tiếng trống trường tan, chúng tôi lại rong ruổi đi bên nhau về. Nhà Em bên cạnh nhà Tôi, hai nhà cùng ngõ đi về với nhau.

Sáng nào cũng vậy, Ba của Em dắt Em sang nhà, bảo tôi đưa Em đi học, rồi lại ngồi uống trà đàm đạo với ba tôi. Ngày tháng, chúng tôi thương nhau như hai anh em ruột. Thế rồi một độ xuân về, năm ấy em lên mười hai, dì ruột của em là soeur của dòng Đa Minh, về thăm quê, rồi đưa em lên chỗ soeur để học. Hy vọng em sẽ là soeur như Dì.

Chuyện Vung Chuyện Nồi



Sáng sớm, gió thổi ràn rạt trên cánh đồng vắng vẻ, quạnh hiu, từng làn hơi nước bốc lên mờ ảo, thi thoảng, một cánh cò mải miết ăn đêm bị lạc đàn, vừa vội vã bay về tổ, vừa vươn cái cổ dài ngoẵng gọi bạn thảm thiết, khung cảnh đó làm cho cánh đồng càng thêm lạnh lẽo, cô liêu. Nhìn đồng hồ thấy còn gần hai tiếng nữa mới đến giờ đi họp lớp cho con, Huy tranh thủ vác cuốc ra đồng lấy nước vào đám ruộng chuẩn bị cày bừa, để đến trưa vợ đi chợ về có thời gian nghỉ ngơi.

Khi thấy nước đã xăm xắp mặt ruộng, Huy đi một vòng quanh bờ, xem có bị nứt nẻ, chảy giũa gì không, rồi mới an tâm ra về. Bước xuống con kênh dẫn nước vào cánh đồng, Huy khỏa chân qua quýt rồi bước lên bờ, miệng xuýt xoa vì làn nước lạnh buốt như kim châm, vậy mà có ai đó đang lom khom, lúi húi mò ốc dưới dòng kênh, thật tội nghiệp. Đi được mấy bước, bỗng Huy quay phắt người lại, bóng người mò ốc mờ mờ trong đám sương mù, nhưng vẫn đủ để Huy nhận ra đó là Hường.

ĐOÁ HOA SỨ BUỒN 

(VƯỜN Ô-LIU 20)


Ông trùm Thiện ngồi ngắm hang đá vừa mới làm xong, tỏ vẻ hài lòng, chỉ còn tô điểm thêm một chút nữa là tuyệt! Bao nhiêu năm qua, Giáo xứ Hòa Bình đã nổi tiếng vì có hang đá mừng Giáng sinh thật đẹp. Giáo xứ có sẵn một trái núi nho nhỏ do dân tự đắp lấy làm Đài Đức Mẹ. Hai bên là đường đi dốc thoai thoải, ở giữa là ngọn núi mỹ thuật, có đặt tượng Đức Mẹ sầu bi, giáo dân hay đến để đọc kinh, thờ phượng. Đám trẻ con chạy giỡn chung quanh những hàng bông sứ cao luôn trổ hoa, mùi thơm nhẹ nhàng. Mùa Giáng Sinh, ông Thiện chỉ đạo nhóm thanh niên dùng giấy dầu bao lấy núi, phun sơn trắng làm tuyết, sáng tạo thêm những góc cạnh đặc biệt, trang trí thành hang đá Bêlem. Đêm lễ vọng Giáng Sinh ngoài trời, hai cô gái của giáo xứ sẽ được chọn làm thiên thần, từ từ xuất hiện trên đỉnh núi thật uy nghiêm, mọi người sốt sáng dự lễ, thả hồn về Bêlem năm xưa…

Hoa sứ nở quanh năm, rụng phủ đầy mặt đất, một đứa bé gái cúi xuống nhặt hoa tung lên trời, mắt ngước lên trời xanh thăm thẳm, hình như nó đang mơ mộng, cầu nguyện điều gì. Hình ảnh đứa bé làm tim ông bỗng nhói đau, ông cắn chặt môi ngăn cản dòng nước mắt đừng rơi xuống khuôn mặt già nua, héo úa. Mới đó mà đã mấy mươi năm rồi, hơn nửa thế kỷ với biết bao thay đổi! Lớp sóng phế hưng, con Tạo xoay vần, nhưng có một điều trong ông vẫn không bao giờ đổi thay...


Tôi biết chắc chắn mình không có điều kiện vào đại học, cho nên tốt hơn hết là nên đi tìm một việc làm thích hợp để giúp đỡ gia đình. Nhưng tôi chỉ có bằng tốt nghiệp phổ thông, vi tính chỉ đủ để “dir” một cái biết trong đĩa có “file” gì, tiếng Anh thì chỉ nói được có một từ bye-bye, dễ gì tôi có thể xin được vào công ty này văn phòng nọ. Cho nên tôi quyết định sẽ “bung ra làm ăn cá thể”! Trước tiên tôi mượn chiếc xe cub 78 của ba tôi. Rồi tậu thêm chiếc áo kaki chắc chắn, tay dài. Và chiếc mũ rộng vành. Thế là tôi bắt đầu nghề xe ôm, một nghề nghe nói sống được dù hơi vất vả. 


Ngôi thánh đường chiều lặng lẽ không một bóng người, tượng Chúa khổ nạn đang dang tay, đầu quấn đầy gai nhọn nghiêng về bên phải, những giọt máu rỉ ra từ những dấu gai nhọn đâm vào làm ướt đẫm khuôn mặt, dấu ấn ngàn đời khó phai. Những giọt máu tứa ra vì nhân gian, vì con người mãi lầm đường lạc lối, vì tội lỗi nhân loại kết thành những gai nhọn đâm xuyên trái tim đấng đã vì yêu. Phía chân ảnh Chúa chuộc tội là ngôi nhà tạm nhỏ xinh xinh, nơi cất giữ tình yêu nhiệm tích huyền nhiệm, người ngự đó chờ đợi trong kiên nhẫn những đứa con biết gục đầu ăn năn sám hối quay về. Chính Người là một tình yêu vĩ đại: Chết cho người mình yêu!

Một người nữ ôm bó hoa tươi bước vào, đứng nghiêm trang, đầu cúi sâu xuống và tiến về hai bên, thoăn thoát đôi tay đổi những nhánh hoa tàn úa, trong bình hoa dưới chân tượng Đức Mẹ và Thánh Giu-se hai bên bàn thờ. Rồi nhẹ nhàng biến mất như một thiên thần lướt nhẹ trong gió, tâm hồn an lành thanh thản. Tiếng kêu tí tách không ngừng của chiếc đồng hồ treo trên tường, như đếm từng khoảnh khắc thời gian, như chờ đợi, mong mỏi…

Đồng hồ gõ đúng 12 tiếng, tiếng chuông ngân vang, tiếng chuông mời gọi con người hướng lòng về Chúa, gặp gỡ Chúa … Cửa nhà thờ hé nhẹ một người đàn ông trung niên bước vào, bái gối, rồi tiến thẳng lên quỳ dưới chân Chúa khổ nạn. Có lẽ anh đang muốn thông phần với cuộc khổ nạn của Chúa Cứu Thế!

Hình như có cuộc đối thoại, giọng người đàn ông đầy vẻ xúc động:

_ Chúa ơi cứu con với!

_ Chúa ơi cứu vợ con!

_ Cứu gia đình con!

Nỗi đau quá lớn, nó ép người đàn ông như anh, gục đầu khóc nức nở.

***

Anh vốn dĩ là con trai một, đạt chuẩn mà đám con gái hay tung hê: “bố làm quan, nhà mặt tiền”. Con đường công danh thênh thang như ước vọng của các bạn trẻ thường ao ước chạm ngưỡng. Ấy thế mà anh chọn cho mình một ngã rẽ, bước theo tiếng gọi tình yêu. Anh quyết định đến với Hà, biết bao nhiêu khốn khó bủa vây anh, vì Hà là sinh viên Công giáo. Gia đình Hà là gốc đại thụ của giáo xứ. Theo Hà nghĩa là anh phải chia tay với tương lai xán lạn mà ba anh dọn sẵn cho phía trước, chiếc ghế danh lợi mà ba anh phải thiết lập mối tương giao tốt đẹp bao năm mới có được. Anh chọn ngã rẽ cuộc đời!

Ba anh giận lắm, ba anh hốt sạch đồ đạt anh quăng ra khỏi nhà, lúc đấy anh thấy tim mình nhói đau. Mẹ anh thương anh, nhưng chỉ dám dõi mắt nhìn, bởi vì anh đã cãi lời ba, yêu Hà. Ba cảm thấy, dường như anh quay lưng phản bội ba. Bao nhiêu việc ba làm vì anh, giờ đây vô nghĩa. Trong lúc ba giận dữ như thế, anh chẳng dám nói gì, dành lủi thủi ra đi.

Bất luận thế nào, anh vẫn chấp nhận, vì anh yêu Hà, yêu như một phần cuộc sống anh. Hà nhu mì, lễ phép với ba mẹ anh, biết kính trên nhường dưới. Hà luôn biết nghĩ cho gia đình, sống hy sinh cho mọi người, yêu anh bằng cả tấm chân tình, mặc dù luôn bị phản đối. Bao nhiêu đấy cũng đủ cho anh đáp trả, bằng cách từ bỏ con đường đã được dọn sẵn.

Anh bắt đầu cuộc sống gia đình mới, tình yêu của Hà chấp cho anh đôi cánh. Hà vốn dĩ là con chiên ngoan đạo, lúc đầu anh cũng thắc mắc, tại sao cô ấy có thể trung thành với một Thiên Chúa, mà thông qua Đức tin. Một Thiên Chúa vô hình, chỉ thông qua những tạo vật hữu hình. Một Đấng huyền bí chưa từng gặp mặt mà chỉ có cách đặt trọn niềm tin. Như thế có quá mơ hồ không?

Tình yêu của Hà dính kết anh với tình yêu Thiên Chúa. Nhưng lại chia cắt anh với ba anh, làm cho anh trở mặt với ba. Chính vì lẽ đó anh chưa thể chấp nhận Thiên Chúa. Vì Chúa mà anh phải mang tiếng bất hiếu, vì Chúa mà cha con anh như người xa lạ. Nhiều lần anh trở về xin lỗi ba, nhưng anh chỉ nhận được ánh mắt giận dữ và nét mặt lạnh như tiền. Anh đau khổ, Hà cũng chẳng được vui.

Sự nỗ lực của anh và Hà, theo thời gian cũng làm ba anh nguôi ngoai. Nhất là khi bé Bo ra đời, thằng bé giống anh như đúc. Thằng bé là sợi giây yêu thương kết nối anh và gia đình. Hà khôn khéo, cô ấy hay đưa con về nhà thăm ông bà. Lúc đầu ba anh chẳng thèm nhìn thằng bé lấy một cái. Nhưng Hà vẫn kiên nhẫn, dần dần về sau ông len lén nhìn cháu. Và rồi không chịu nổi khi thằng bé biết bi bô tiếng Ông nội. Ông ôm nó vào lòng, anh biết lúc đấy ông giũ bỏ mọi trắc ẩn trong lòng mà tha thứ cho anh.

Vợ chồng anh vui mừng ra mặt. Hà thường hay rủ rỉ bên tai anh. Đó là do Chúa làm, cô ấy hằng liên lỉ cầu xin. Mỗi ngày đi làm ngang qua thánh đường cô ấy đều ghé ngồi lại ít phút trước nhà tạm. Cô ấy van nài tình yêu Thiên Chúa kết dính, hàn gắn những đổ vỡ. Chúa cũng đã chạnh lòng với sự kiên nhẫn quá mức của cô ta và ưng thuận.

Hà ngoan đạo, lúc đầu vì không muốn để Hà đi lễ một mình, anh đưa Hà đến nhà thờ. Dần dần hình thành trong anh thói quen, rồi lại thấy yêu mến việc tham dự thánh lễ, và rồi tình yêu Chúa mọc rễ trong lòng anh lúc nào anh cũng không biết nữa. Nhưng anh cảm nghiệm được, Chúa thương anh, thương gia đình bé nhỏ của anh. Con anh chào đời bé bỏng dễ thương, con anh được Chúa mang đến như món quà hàn gắn mối giây đã đứt giữa anh và ba. Chúa che chở con anh khôn ngoan lành lặn, chắc có lẽ nhờ sự thành khẩn của anh và Hà.

Hạnh phúc ngọt ngào mà anh vừa được nếm còn đọng lại trên môi chưa tan, vậy mà sự dữ lại ập đến. Cầm trên tay kết quả xét nghiệm, vợ anh bị ung thư buồng trứng. Anh như không tin vào mắt mình, đầu anh bắt đầu chao đảo. Anh lững thững rời phòng xét nghiệm bước đi như đi giữa không trung. Anh không biết mình đi về đâu, cứ để đôi chân lê bước. Anh lang thang bao nhiêu góc phố, bao ngã đường cũng không hay biết, mang nỗi thất vọng rải rác theo từng bước chân qua.

Đã ba ngày anh không muốn về nhà, anh không muốn đối diện với đau khổ quá lớn, lúc nào cũng như thắt nghẹt tim anh. Anh sợ nhìn vào đôi mắt đục màu đau khổ của Hà và cũng không dám nhìn vào đôi mắt trong veo của bé Bo. Anh túng quẫn cùng đường, rồi như có luồng gió mạnh cuốn anh bước theo, đi mãi tới nơi này. Anh muốn ghé vào, muốn thổ lộ nỗi đau nhức từ sâu thẳm tâm hồn, và anh nghĩ chỉ có người đã từng đẫm máu vì yêu, mới hiểu được tình yêu, và nỗi đau đang giày vò anh.

Ngước nhìn lên Thập giá, Đấng tối cao đang gục đầu đau đớn vì trăm ngàn gai nhọn đâm thâu, lòng anh giờ cũng có trăm ngàn gươm giáo giày xéo. Chỉ có Ngài mới thấu hiểu, chỉ có Ngài mới có đủ uy quyền xoa dịu vết đau trong anh, và chỉ có Ngài đã từng nếm cảm sự đau đớn, mới cảm thông sâu sắc được trong lòng anh. Anh gục đầu nước mắt giàn rụa, rồi như không kiềm chế được lòng mình, anh nấc lên từng tiếng nghẹn ngào.

Người phụ nữ đứng yên bên cánh phải, quan sát từng cử động của anh. Bà muốn kéo tà áo lau những giọt lệ ứa ra từ khóe mắt anh. Bà nhìn anh, với ánh mắt đầy vẻ xót thương, ánh mắt năm nào của đồi Can vê, chứng kiến cảnh con Bà đau đớn, ánh mắt đó đang ghé vào dủ lòng thương anh. Bà nhè nhẹ nâng anh đứng dậy, trao cho anh chuỗi hạt mân côi. Mỉm cười rồi bước đi. Anh không tin vào mắt mình choàng tỉnh dậy, tay vẫn bám chặt chuổi hạt, sao anh lại ở đây? Sao anh không vào nhà mà nằm ngay trước hiên nhà mình, anh bình tâm nhớ lại, anh đã trải qua những ngày vất vưởng với con tim rã rời. Anh nắm chặt chuỗi hạt và lòng cảm nhận như bắt được sự an lành.

Từ đấy chuỗi hạt, như là cứu cánh đời anh, ngày nào anh cũng lần hạt, thành kính. Anh cầu xin Đức Mẹ, giúp lời anh, chuyển lời anh đến Đấng tối cao hằng thương xót. Vì anh tin lời Hà nói rằng: lời cầu xin của Mẹ là đẹp lòng Chúa nhất. Vì anh tin rằng Mẹ nhân lành sẽ thương anh, sẽ che chở anh, sẽ là nơi anh xà vào lòng người mà nấp bóng mát, mà hưởng hương thơm dịu dàng để vơi bớt khổ đau.

***

Anh biến mất khỏi cuộc đời mẹ con Hà ngay cái phút tin dữ nhất. Hà thất vọng lắm. Nhưng Hà vẫn bình tâm vì Hà luôn luôn phó thác hết mọi sự cho Đức Mẹ. Chuỗi hạt Mân côi luôn là mối giây dẫn Hà đi tìm an bình. Mỗi lần chạm ngõ khổ đau, là Hà đều được những vòng chuỗi hạt thôi thúc dẫn lối đi tìm chốn ẩn náu. Những lúc ngồi bên ảnh chuộc tội, thì thầm, rồi lần hạt, Hà thấy lòng mình bình an trở lại. Đã mấy ngày nay anh không về nhà, Hà biết anh không thể chấp nhận tin Hà bị bệnh. Hà biết sự dữ ấy đang tàn phá anh, Hà không muốn quấy rầy anh, mong anh có lúc bình tâm lại, mong anh sẽ quay về mà đối mặt với thánh giá Chúa trao. Hà hé nhẹ cánh cửa và thấy anh co ro bên hiên, dường như đau khổ in hình trong giấc ngủ anh. Hà lặng lẽ treo chuỗi hạt vào tay anh như trao dấu chỉ yêu thương để anh bám lấy mà làm kim chỉ nam cho những lúc tột cùng đau khổ như thế. Và để yên cho anh phút bình tâm.

Những đêm Hà giật mình thức giấc và phát hiện ra anh quỳ dang tay trước bàn thờ. Hà thấy thương anh, Hà cảm thấy an lòng vì anh biết phó thác vào tình yêu Thiên Chúa. Anh dần dần nhận ra Chúa là lẽ sống gia đình anh. Hà thấy mình hạnh phúc và tình yêu anh đủ giúp Hà chấp nhận những thử thách, những thánh giá Chúa gửi đến. Hà thấy mình khỏe mạnh hơn, Hà có thể đương đầu với những phương pháp trị liệu. Tuần sau là ngày trở lại bệnh viện, chấp nhận việc trị liệu. Anh lo lắng mọi thứ cho Hà, anh không ủ rũ, mà dường như sẵn một niềm tin. Hà cảm nhận được là chồng sẵn lòng vác đỡ thánh giá đời mình. Chỉ cần có thế thôi là Hà mãn nguyện rồi, những gì còn lại Hà tin chắc Đức Mẹ sẽ che chở cho gia đình nhỏ bé của Hà.


Tất cả những đồ dùng cá nhân cần thiết cho một cuộc sống tập thể đã được nó chuẩn bị chu đáo, thật gọn gàng trong một cái túi xách lớn. Bên ngoài giọng mẹ vẫn cất lên đều đều những lời mà nó đã được nghe đi nghe lại trong suốt tuần qua, đến nỗi nó đã thuộc kỹ và thấm vào tận đáy lòng rồi. Thôi kệ, dù sao thì ta cũng đã quyết định. Nó tự nhủ như vậy và đôi tay vẫn thoăn thoắt xếp đồ vào giỏ.

Một chút phân vân khi nó mở tủ quần áo của nó ra, toàn những bộ quần áo đẹp, thời mốt mà nó yêu thích nhất. Nó sắp phải chia tay chúng !!!… Hơi tiếc một chút. Bên ngoài tiếng mẹ nó đã im, nhưng bên tai nó vẫn văng vẳng lời mẹ:

- Mẹ đã nói rồi, con không thể đi tu được đâu, cũng như cuộc sống tu không phù hợp với con. Đừng cãi mẹ vì mẹ hiểu con hơn ai hết. Đi tu vài ngày không được, về người ta bảo người tu xuất, dang dở cả đời con ạ. Học cho xong đại học, kiếm cái nghề nuôi thân, kiếm tấm chồng mà nương tựa là đủ rồi. Muốn đi Tây đi Tàu thì mẹ lo cho bằng với con gái người ta …

Nó thấy thương mẹ và chợt lưỡng lự vì cũng có những điều mẹ nói đúng. Mẹ nó còn nói rằng, không thể đơn thuần để biến đổi từ một con người chỉ biết chạy theo thời trang và ngang bướng như nó trở thành một tu sĩ dễ dàng được. Nó đã trình bày hết mọi cách để thuyết phục mẹ vui lòng chấp nhận cho nó ra đi. Nhưng sự cố gắng của nó chỉ vô hiệu, và mẹ càng ra sức ngăn cản nó. Cuối cùng giữa hai thái cực đối lập đó là một sự im lặng đầy căng thẳng. Nó đã suy nghĩ, đã cầu nguyện, bàn hỏi và nhận ra ý Chúa qua việc được nhận vào Dòng sau khóa Thanh Tuyển. Không muốn tình hình căng thẳng thêm, nó tự quyết định và đơn phương hành động. Nó hiểu bản thân nó muốn gì và nó muốn sống với ước mơ của mình.

BỮA CƠM NGÀY LỄ




Dắt xe ra khỏi chỗ làm, như thường lệ cô ghé chợ cóc gần nhà mua một ít rau, thịt để chuẩn bị cho bữa tối. Sài Gòn giờ tan làm đông đúc xe cộ, cô vất vả lắm mới về nhà. Chợt tin nhắn trong group chat “ting ting”… Hóa ra nhóm bạn của cô rủ nhau nghỉ lễ 30/4-1/5 này đi Vũng Tàu du hí. Hành trình đầy hấp dẫn cùng với những trò nghịch như quỷ sứ của mỗi người trong nhóm khiến cô nôn nao mong chờ đến cuối tuần.

Cô dọn cơm lên bàn, đơn giản chỉ có món thịt kho cùng canh rau muốn. Căn nhà vắng lặng, ngồi nuốt từng muỗng cơm khô khan trong mùa hè oi bức của Sài Gòn, bất chợt cô đưa mắt nhìn về phía cửa sổ nhà bên. Hình ảnh cả nhà họ đang chuẩn bị dùng cơm làm cô nhớ nhà kinh khủng. Chén cơm chan đầy canh mà sao cô thấy nghèn nghẹn trong cổ.

Không biết tối nay trong bữa cơm, mẹ có nấu món canh bầu với tôm mà cô thích không? Mẹ sẽ gắp những miếng cá chiên vàng ươm bỏ vào chén cho cô. Thằng em thèm thuồng nhìn cái đùi gà sẽ bị ba nạt. “Ăn ít lại để cho Hai ăn vì chị mày ốm nhách kia kìa”.

DẠY VÀ HỌC

Lớp học dành cho các em khiếm thính của các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt

1. Núi Thái, nước nguồn

Chị Huỳnh học hết lớp 12, có bằng tú tài nên những chàng trai quen biết trong xóm không ai dám sớ rớ. Anh Hải, học dưới chị hai lớp, để ý đến chị cũng chẳng dám mở lời, phải nói với mẹ, nhờ cậy người mai mối. Và lạ không? Sang thế kỷ 21 rồi vẫn còn có một cặp vợ chồng, thuộc diện “chồng cha vợ mẹ cưới cho”... Trong mắt chồng, chị Huỳnh đẹp lắm, đến nỗi dù kém chị ba tuổi, chị tuổi sửu, anh tuổi thìn thuộc tứ hành xung, thế mà cưới nhau về, anh mê tít, chẳng mấy khi xa chị được nửa ngày trời. Chị khéo ăn khéo ở nên bên ngoài nhìn vào, ai cũng phải nghĩ rằng bà mẹ chồng và cô con dâu tâm đầu ý hợp. Những ngày mới cưới, để lấy lòng mẹ chồng (cũng là để chinh phục chồng) chị Huỳnh đi thưa về gởi, chăm sóc cha mẹ chồng từng li từng tí, từ nhà trên, nhà dưới, ngoài ngõ, trong sân, từ miếng cơm, hớp nước đến tấm áo manh quần… Đi đến đâu, bà cũng khen (khen thật tình, nhá!) cô con dâu tuy cứng tuổi hơn chồng, nhưng được cái được người được nết.

Cho đến khi chị cấn thai. Chị đi siêu âm, kết quả là con gái đầu lòng, đang khi hai ông bà hết lòng mong một đứa cháu đích tôn để nối dõi tông đường. Cả hai ông bà đều không vui. Ông vốn là giáo viên môn Văn, phải an ủi bà, cũng là an ủi chính mình:
- Con nào không là con, cháu nào không là cháu? “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng” cơ mà! Tạ ơn Chúa thương ban.

Rồi cũng nguôi ngoai. Mọi sự đều nguôi ngoai, cho đến khi anh Hải dành hết thời giờ rảnh rỗi chăm sóc vợ ốm nghén, thì bà mẹ chồng có cảm tưởng như mình bị con trai bỏ lơ (Có khi nào mẹ chồng “ghen” với con dâu không, nhỉ?). Một đêm trời đã khuya, người ta nghe thấy bà ong óng chửi con trai:
- Cha tiên sư bố nhà anh! Anh được đó quên đăng, được vợ quên mẹ, được cái lỗ xỏ bỏ cái lỗ chui. Anh không biết rằng người xưa có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” hay sao?

Bà ví von có vần có điệu, nghĩa bóng nghĩa đen đủ cả, và vì đã gần nửa đêm, ông không chịu được, phải lên tiếng:
- Bà làm ơn ăn nói nhỏ nhẹ thôi, dễ nghe một chút đi nào, và vặn volume nhỏ xuống để khỏi làm phiền hàng xóm đang cần sự yên tĩnh nghỉ ngơi. Làm cha mẹ phải từ ái thì con cái mới hiếu đễ được!

Bà gào lên như “Hà Đông sư tử hống”:
- Ối! Giời ôi! Đất ôi! Cha ôi! Mẹ ôi! Cha nào con nấy, ông giống bố ông như đúc, không đi đâu mất giống. Lại còn từ với ái, hiếu với đễ!

Ông đành chịu, chùng giọng xuống, nhượng bộ như thể giữ được sự “tương kính như tân” xưa nay, như thể nhường nhịn vợ không khác gì lọt sàng xuống nia, chả mất đi đâu:
- Ừ thì thôi vậy. Tôi nói thật nhá! Các cụ ngày xưa, bậc cha mẹ ông bà ta trở lên tôi không dám chạm tới vì là bề trên. Các cụ thì như thế thật. Ngày trước thì đúng vậy. Nhưng thời nay ấy hả? Mở báo ra mà đọc, báo nào cũng được, các cha các mẹ thường ở hai thái cực đối nghịch. Người thì nuông chiều con quá mức, coi con cái là một thứ ông trời con, muốn gì được nấy...

Ông nói tiếp vừa nhỏ vừa trầm như một đấng tu mi nam tử sợ vợ chuyên nghiệp:
- Kẻ thì đối xử với con cái như súc vật: phá thai, giết con mình ngay từ trong trứng nước, lại còn chăn dắt (chăn thôi, không dắt) con mình như chăn súc vật, coi chúng như một thứ công cụ để kiếm tiền: gả bán con gái cho Tàu, Đài, Hàn, dùng con thơ đi ăn xin, bán vé số... Kiếm được tiền thì đánh đủ thứ: đánh bài, đánh bạc, đánh chén, thậm chí cả đánh... đĩ nữa kìa.

Ông nói thật nhỏ, cứ như sợ bà nghe thấy:
- Ngay như trong xứ đạo mình thôi, nạn kỳ thị con trai con gái, con dâu con rể, con nuôi con đẻ, con ghẻ con ruột, con riêng con chung… đầy ối ra đấy. Nói đâu xa, bà hãy nhìn lại chính mình đi. Bà và tôi, có mỗi mống con trai, thương yêu nó hết lòng. Nhưng chúng ta có đủ lương tâm ngay lành, đủ can đảm đối diện với Chúa, với chính mình mà vỗ ngực xưng mình là núi Thái, là nước nguồn đối với con được không?
- Ông đúng, đúng lắm. Nhưng nói ra cũng đau lắm…

- Sự thật mà. Không đau đâu phải sự thật?!
- Tôi hiểu rồi. Nghĩa là đối với phận làm con thì công ơn mẹ cha rõ ràng là nước nguồn, núi Thái. Còn đối với bậc cha mẹ thì phải nhìn lại mình, sống sao cho ra cha ra mẹ… phải không?

2. Thanh Hoa

Vợ chồng anh Hải đặt tên con gái là Thanh Hoa. Lúc sinh, con bé cân được hai ki-lô tám, được kể vào dạng khó nuôi. Sinh ra ốm yếu, đau bệnh những ba, bốn năm. Đi học mẫu giáo rồi lên tiểu học vẫn phải uống thuốc bắc từng chén mỗi ngày. Học hành toàn quay cóp thôi, và còn được cô chủ nhiệm gà bài cho nữa. Ấy thế mà do chạy theo thành tích, trường ganh đua với trường, lớp ganh đua với lớp, và cũng do thừa hưởng tí chút gen thông minh của ông nội, nó đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp huyện, lại là vô địch về vở sạch chữ đẹp cũng cấp huyện luôn. Gần ngày thi vở sạch chữ đẹp, cô Huê chủ nhiệm lớp từ 1A, 2A... tới 5 A thường đưa cho nó một cuốn tập mới tinh, giữ nó lại ngoài giờ, bảo nó chép lại các bài học từ đầu năm. Con bé nắn nót từng chữ, chăm sóc từng dòng, giữ gìn từng trang. Cuốn tập ấy sẽ được gởi đi thi, và bao giờ cũng được điểm cao.

Ấy vậy, nhưng anh Hải, chị Huỳnh còn muốn hơn thế, muốn con Thanh Hoa vẹn toàn mọi mặt (người ta còn gọi là con người toàn diện ấy mà). Nó được học ôi thôi đủ thứ. Nào là học bơi và Vovinam ở nhà thiếu nhi huyện; học đàn guitare và organ ở trung tâm Suối Nhạc; học vẽ tại nhà hội họa lừng danh Cây Cọ Vàng; chưa kể học lớp bồi dưỡng học sinh giỏi Văn, Toán, lại còn môn tiếng Anh nữa chứ... 
Dĩ nhiên học lớp giáo lý khai tâm để xưng tội rước lễ lần đầu phải là ưu tiên số một. Anh Hải, chị Huỳnh trước khi đi làm, và sau khi tan sở, phải thay nhau chạy vắt chân lên cổ mới chỉ kịp đón đưa con gái đi, về học. Có khi có những bài tập về nhà, con bé phải ngồi sau xe máy, kê cuốn vở lên lưng bố hay mẹ mà làm bài...

Tháng 11 năm học lớp Năm, con bé Thanh Hoa bị cảnh cáo dưới cờ vì vô lễ với cô hiệu trưởng. Lý do: Gặp cô hiệu trưởng, nó chỉ trố mắt nhìn, không bao giờ chào hỏi. Cô Huê đưa micro cho con bé và một tờ giấy cô vắt óc viết sẵn, nói về sự ân hận cùng quyết tâm trở thành trò ngoan của nó. Nó cầm micro, không nhìn giấy, nghĩ sao nói vậy, rõ ràng, đĩnh đạc từng tiếng:
- Em không và sẽ không bao giờ chào cô hiệu trưởng, vì cô hiệu trưởng là học trò của ông nội em nhưng cô chưa bao giờ chào hỏi ông nội em một tiếng.

Cô Huê không kịp giật micro lại, mặt méo xệch. Các thầy cô khác che miệng, cười khúc khích. Nhiều học sinh gào, rú. Sân trường rộn lên, ồn ào như vỡ chợ...

Cô Huê và lớp 5 A bị hạ bậc thi đua. Con bé Thanh Hoa bị đưa ra hội đồng kỷ luật. Anh Hải năn nỉ hết lời, con bé vẫn bị đuổi học.

3. Bóng tối

Ông bà nội, vợ chồng anh Hải, lên Phòng Giáo Dục, xin và nhờ xin cho con Thanh Hoa được tiếp tục học. Nghe nói ô dù của cô hiệu trưởng lớn lắm, nhưng người ta cũng sắp xếp để con bé học ở một trường khác gần nhất. Nhưng con bé một mực nghỉ học. Chẳng biết học của ai, ở đâu, nó nói với chị Huỳnh:
- Con sợ học lắm rồi. Bắt con đi học con sẽ tự tử cho mẹ coi.

Người ta thấy chị Huỳnh bưng mặt, khóc hu hu như một đứa trẻ vì buồn tủi.

4. Đốm lửa

Thấy con Thanh Hoa nghỉ học giáo lý, sơ Rosa tìm đến tận nhà anh chị Hải Huỳnh. Biết nó nghỉ học cả phổ thông, sơ xót xa:
- Con bé “ngon” thế mà học hành dở dang thì phí quá. Anh chị đẩy đưa sao đó cho nó đi học, bổ túc cũng được, không cần lên tới giáo sư tiến sĩ gì đâu, cho nó học nghề gì đó mà nó thích, như nấu ăn chẳng hạn. Sau này nó thành công và hạnh phúc với công việc mà nó chọn, thành người truyền cảm hứng cho mấy đứa bạn là tốt rồi...

Sơ cầm tay con bé:
- Con thích sau này làm gì nào?

Nó trả lời, không đắn đo, như đã suy nghĩ chín rồi:
- Con muốn làm ma sơ, được không?

Người ta thấy chị Huỳnh lại bưng mặt, khóc hu hu như một đứa trẻ vì vui mừng.


CỔ TÍCH THỜI NAY


Hình minh họa

1. Lời mời


Ông chánh trương Tân khệ nệ vác một bao năm mươi, leo cầu thang, lên lầu hai ký túc xá thăm con trai đang học năm bốn đại học sư phạm. Đổ ra nền nhà, toàn cây nhà lá vườn. Ông gọi anh Tấn:

- Cu ơi! Bố “nên”, mang tiền đóng học cho con, tiện thể có ít khoai “nang”, bắp ngô, cà pháo... để con ăn dần hay muốn “nàm” gì thì “nàm”.

Không hiểu do di truyền, hay do phong thủy, hay đất lề quê thói, mà đa số người làng ông chánh chỉ phát âm được phụ âm đầu “n”, không phát âm được “l". Ông chánh cũng vậy, làm cho các bạn cùng phòng của anh Tấn không nín cười được. Ông chánh có vẻ ngượng, còn anh Tấn có vẻ mắc cỡ vừa vì bố mình phát âm không chuẩn, và vừa vì ông gọi anh là “cu” như thuở anh còn bé, thuở đái dầm làm cho chăn chiếu ướt sũng, ướt dầm dề. Tuy vậy, chỉ trong vài chục giây anh lấy lại thế chủ động:

- Vậy đấy. Nhưng thử hỏi có bố đứa nào ngon hơn bố tao không? Này nhé! Mẹ tao mất, để lại chỉ mình tao. Bố tao đồng trinh thủ tiết, ở vậy nuôi con, đâu như bố thằng Hai, làm trùm khu hai nhiệm kỳ còn vợ nọ con kia, hay như bố thằng Ba đi tù vì tội đánh bạc, hay như...



Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.

Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói: "Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.

CON TRÂU PHÁO

Hình minh họa


1. Con trâu nhà

Ngày ấy, ông Chín Hảo, người Mỹ Hòa Hưng về thăm ông chánh Ba trên kinh. Bên ấm trà Xuân Phát số 1, mang từ Long Xuyên về, ông Chín khề khà:

- Lạc nhà theo chó, lạc ngõ theo trâu. Con trâu là đầu cơ nghiệp, chú Ba ạ! Con trâu của chú tên Pháo phải không? Tui coi kỹ rồi. Con Pháo chín khoáy cửu long, đã khỏe lại hiền, chú chớ có dại mà mua qua bán lại, sạt nghiệp như chơi đó, ngheng!

Ông chánh chiêu một ngụm trà, chép chép miệng, rồi khà một tiềng dài:
- Ngày đó anh Chín mối lái, tậu con Pháo cho em mãi bên Cù Lao Giêng...

Ông Chín khà còn lớn tiếng hơn ông chánh:
- Ui da! Bậy, chú Ba bậy rồi. Cù Lao Ven chứ. Ven chứ không phải Giêng. Ai muốn nói sao thì nói, tui chỉ tin nội tui thôi. Nội tui kể đi kể lại nhiều lần, đúng sai không ai biết đặng: Ngày ấy bọn khách thương Nam Vang - Lục Tỉnh thường neo ghe gần cái cù lao ven sông chỗ giáp nước (mới có tên gọi họ Đầu Nước), chờ con nước lớn, nước ròng để đi ghe lên xuống cho xuôi chèo mát mái. Họ gọi cái cù lao ấy là Cù Lao Ven Sông, nhưng cù lao nào chẳng ven sông? Lâu dần, chữ sông rụng mất, còn Cù Lao Ven. Sau này người ta nói trại đi theo kiểu phát âm Nam Bộ thành Cù Lao Gieng. Gieng vô nghĩa, nên trại đi lần nữa thành Cù Lao Giêng. Như vậy, đúng ra phải kêu là Cù Lao Ven mới phải, phải không?
Được tạo bởi Blogger.