Con về, ba đưa tận tay chiếc chìa khóa phòng. Gương mặt ba toát lên một niềm vui lấp lánh: Nè con, phòng của con!

Vậy là lần đầu tiên con có một căn phòng riêng trong căn nhà của gia đình mình. Căn phòng nhỏ, bày biện đơn sơ hơn rất nhiều so với phòng của con ở nhà Dòng. Một cái giường ngủ. Một tủ quần áo. Một bàn làm việc nho nhỏ. Trên tường là tượng Chúa chịu nạn còn mới nguyên. Con mở cửa vào căn phòng riêng mà nghe lòng mình tràn dâng rất nhiều thổn thức.


Vậy là nhà mình đã có nhà sau một quãng thời gian dài sống trong những căn nhà trọ ọp ẹp và bất ổn.

Con tôi làm cha

ảnh minh họa

- Con muốn làm cha.
- Thằng mắc dịch, mới mười mấy tuổi đầu, vợ con đâu mà đòi làm cha.

- Không, cha xứ cơ, như cha chánh Toàn í.
- Ôi trời, mày khùng rồi hả Hoàng, mày làm cha của mấy sắp nhỏ tao còn thấy lo, giờ mày đòi làm cha thiên hạ, chắc tao chết với mày quá. Không được.

- Sao lại không được?
- Tính mày nóng như lửa, không đi tu được.

- Nóng thì từ từ sửa. Kệ, con cứ đi.
- Ối bu nó ơi, thằng Hoàng nó muốn đi tu….


Vợ tôi hất hả dưới bếp chạy lên, mặt nhợt như tàu lá, đứng chôn chân trước cửa, không tin nổi vào lời vừa nghe.


ảnh minh họa

Mùa hè năm đó, anh em con từ Đà Lạt trở lại Sài Gòn sau chuyến nghỉ hè của nhà Dòng. Chuyến xe chiều sẽ đi ngang qua Thị Trấn, nơi nhà mình ở trọ. Con muốn mời anh em ghé thăm nhà mình lắm. Nhưng sao mời được! Nhà mình thuê ở trọ lúc đó nhỏ quá, lại nằm trong con hẻm sâu dích dắc. Anh em thì đông, đi đường xa đã mệt. Nên thôi…

Con tự nhủ, thôi thì khi xe chạy ngang nhà con sẽ tranh thủ nhìn lại cái khung cảnh quen thuộc một chút cũng được. Biết đâu lại được nhìn thấy Má ở khúc đường nào đó của Thị Trấn. Má giờ này đang bán “ca hai”, cho mấy khách ăn lúc chiều xâm xẩm.

Thị Trấn ấy như một cái lòng chảo. Hai bên là hai con dốc. Về nhà mình, dù đi hướng nào, cũng có thể nhìn thấy Thị Trấn trước khi xe đến nhà. Mỗi lần có dịp về nhà, con thường xuống xe ở quãng xa trên đỉnh con dốc. Đứng từ trên nhìn xuống, có thể quan sát cả Thị Trấn. Rồi từ trên đỉnh dốc, con tàn tàn đi bộ xuống, thế nào cũng gặp được Má đang lui cui bên chiếc xe đẩy bán cháo lòng. Có lúc con làm Má giật mình: Ủa con, mới về hả? Sao hong chịu báo trước gì hết, cái thằng…

Cứ mỗi độ Xuân về, lũ trẻ chúng em lại rạo rực chờ đón từng ngày. Có đứa thích Tết vì được may áo mới. Đứa khác thích ăn ngon, được tiền lì xì. Cũng có đứa phát biểu làm người già cười méo xệch: “Cháu khoái Tết vì được thêm một tuổi”. Riêng em thích không khí ngày Tết. Trẻ con không đứa nào là không thích Tết. Chúng không hiểu tại sao người lớn ai cũng sợ Tết.


Năm đó vào khoảng 25 Tết, nửa đêm em giật mình thức dậy, nghe nỗi lo Tết của cha mẹ:
- Tết nhất đến nơi rồi mà nhà mình không có một xu dính túi.
- Tiền bán bốn tạ thóc hôm nọ đâu em?

- Anh tưởng vẫn còn nguyên đấy. Từ hôm đó đến nay phải đi mấy đám cưới, tiền chợ, tiền thuốc cho con.
- Em tính xem Tết này nhà mình phải mua sắm những gì?

- Mua 30 ký gạo nếp, đậu, thịt, lá gói bánh chưng.
- Thôi em ơi, đang eo hẹp, nghỉ gói bánh một năm đi.
- Không được đâu anh. Năm nào nhà mình cũng gói để tạo không khí gia đình ngày Tết. Với lại phải gói cho con kiếm cái bánh ăn Tết, chứ để chúng chết thèm tội nghiệp. Còn phải biếu xén chỗ này chỗ kia. Đi mua sao chịu nổi!

Truyện ngắn
ĐỜI TU XUẤT


Ôm xác con vào lòng, hắn cố nuốt nước mắt vào tim. Đứa con, lẽ sống của hắn, tuy ngày xưa hắn từng muốn bỏ nó để giữ thể diện, nay cũng đã không còn. Tình yêu tan vỡ từ ngày vợ hắn bỏ ra đi, đến giờ lẽ sống cũng không còn, hắn không còn thiết tha gì cuộc sống này nữa. Ngước mắt lên Thánh Giá, hắn tự hỏi: Chẳng lẽ cái giá phải trả cho những sai lầm lại quá đắt vậy sao? Chẳng lẽ đời những kẻ tu xuất lại tệ hại vậy sao?

***
35 tuổi tự nhiên hắn muốn đi tu. Nghĩ cũng lạ. Mà người ta nói tu đâu phải dễ. Không phải ai đi tu cũng được bởi Chúa gọi thì nhiều mà chọn lại ít. Biết thế nhưng hắn vẫn cứ cố gắng và nỗ lực. Mãi đến khi tìm hiểu đến Hội Dòng thứ ba thì hắn mới được nhận. Hai Hội Dòng trước không nhận hắn bởi đơn giản “cây già thì khó uốn”. Hắn không nản chí, và đã thành công. Giờ cũng đã là thầy Sáu chứ chẳng chơi. Năm sau được người ta gọi bằng “cụ” rồi, hắn tự nghĩ thế rồi cười thầm.

Truyện ngắn:

Thực hư


Con gái của tôi sắp ra trường. Niềm vui chưa đến mà bất đồng quan điểm giữa tôi và mẹ nó đã ồn ào từ lâu. Tôi muốn cho cháu du học bên trời Mỹ để nâng cao học vị. Vợ tôi không dám để cháu rời xa tổ ấm, một thân một mình thân gái dặm trường giữa xứ lạ quê người. Đất nước Hoa Kỳ đúng là thiên đường của người tầm trú, nhưng đồng thời cũng là cánh rừng đầy chông, mìn, bẫy. Thật khủng khiếp cho những con nai vàng ngơ ngác chỉ quen đạp trên lá vàng khô và chỉ lá vàng khô…

Còn cậu con lớn nhà tôi cũng sắp tốt nghiệp bác sĩ. Mẹ nó một hai không cho nó nhận nhiệm sở và còn ép cưới một cô Việt kiều. Dưới mắt bà ấy, cái đất Sài Thành này không còn có cô gái nào đáng làm dâu của bà rồi! Thật chán chết đi được! Cậu ấm cũng lắm bản lỉnh, nó không theo ý Mẹ, cũng không chiều ý tôi. Nó lại đòi đi tu làm “cha người ta”. Bởi thế, không lạ gì mà căn nhà của chúng tôi không ngớt khói lửa chiến tranh, hết chiến tranh nóng đến chiến tranh lạnh. Thật chán chết đi được!

NGỤ NGÔN GIÁNG SINH nhân năm Con Chó
(phỏng theo một truyện thiếu nhi của MARIE NOEL)


*MARIE NOEL (1883-1967) là một nhà thơ (tên thật là Marie Rouget) và huyền sĩ (mystic) Công giáo Pháp. Hiện giáo phận Auxerre đã tiến hành xin phong Chân phước cho bà.


Buổi chiều ngày thứ sáu Khởi nguyên, sau khi đã sáng tạo trời đất muôn vật, Thiên Chúa dựng nên một con chó xinh đẹp và Ngài lấy làm hài lòng. Thấy mệt mỏi, muốn nghỉ ngơi Ngài mới nói với chó con:
- Này chó con, ngươi xinh xắn lắm. Hãy đi xuống trần gian mà chơi đi. Ở đó ngươi sẽ không thiếu thốn gì đâu. Ta đã tạo dựng mọi sự tốt đẹp lắm rồi. Có mèo rồi, có chuột rồi - nguơi tha hồ mà đuổi.
Nhưng chó con tỏ vẻ không vui, nó nói:
- Lạy Chúa, con không muốn đi. Ngài hãy cho con ở lại đây. Con sẽ giữ nhà cho Ngài.

- Ồ, chó con! Không có việc chi cho nguơi làm ở đây đâu. Thiên Đàng của ta làm gì có kẻ trộm.
- Nhưng con có thể làm trò cho Ngài vui, có thể quẫy đuôi mừng khi Ngài đi đâu về!
- Ôi chó con! Không cần ngươi đâu. Ta đã có cả cơ binh thiên thần hầu hạ rồi. Mà ngươi đâu có biết ca hát hay như họ. Ngươi chỉ biết sủa thôi. Dưới đó mới là đất dụng võ của ngươi.

Truyện ngắn:

LÁ THƯ TỪ THIÊN ĐÀNG 

.

Ôm một xấp giấy tờ trong tay ông già Noel từ trong Cung Thánh Thiên Đàng bước ra, thánh Phêrô đang đứng ngay cửa, ngài tiến lại và bắt chuyện:
- “Chào ông già Noel, mỗi mùa Giáng Sinh thì ông luôn bận rộn với khối công việc, vất vả cho ông quá!”

Ông chưa kịp trả lời thì thánh Phero đã hỏi tiếp:
- “Ủa, tuần lộc của ông đâu rồi sao không thấy?”. Ông già Noel vuốt râu cười rạng rỡ:
- “À, lúc nãy có mấy thiên thần mượn chín con tuần lộc của tôi để lượn một vòng rồi!”.

- "Thầy à, lâu lắm rồi con không viết được tác phẩm nào nữa!"
- "Con phải quan sát, suy ngẫm thật sâu để tìm ra những ý nghĩa ẩn chứa trong cuộc sống, đó là nguồn cảm hứng để viết!”

Chiều nay ghé sang dãy nhà hưu thăm Sư phụ...rồi than thở đôi điều. Từ khi viết truyện ngắn này tới giờ không viết được bài nào khác. Tôi đọc lại truyện ngắn rồi nhắn tin cho nhân vật chính trong bài...mong tìm chút gì đó để suy ngẫm.
.
Đây là tác phẩm đầu tay của Martin ở thể loại truyện ngắn. Câu chuyện của Hồ Lưu Ân là câu chuyện có thật do sự đan xen của 3 con người, 3 cuộc đời và 1 câu chuyện…Ước mong qua câu chuyện này mỗi người có thể cảm nhận được sự dẫn dắt của Chúa trong cuộc đời mình, dù là ơn gọi tu trì hay hôn nhân. Niềm xác tín mạnh mẽ nhất là: Chúa luôn có cho ta một con đường và dạm ban những thứ cần thiết để ta bước trọn con đường đó, phần còn lại là sự cộng tác của mình.

Truyện ngắn:
TUỔI TRẺ - TÌNH YÊU - ƠN GỌI



.
Mặt trời một buổi sáng đầu tháng bảy lên sớm, ánh nắng chiếu xuống sân nhà nguyện đan viện in rõ bóng hai người đang đi về phía cổng, Hậu đã xin hồi tục, anh bạn tiễn anh ra cổng bắt xe về quê. Cứ ngỡ cũng ngập ngừng và luyến tiếc như bao cuộc giã từ khác, nhưng đàng này Hậu bước nhanh, bước vội rồi giơ tay túm cái giỏ mà anh bạn đang xách dùm:
- “Tiễn tới đây được rồi, cậu vô lẹ đi cha giáo đi tìm đấy!”

Ngày mở tay

Đoàn đồng tế (hình minh họa)

Con ngoảnh đầu nhìn lại.

Sau lưng mình chẳng có ai.

Sân nhà thờ ngập nắng. Gió lùa lồng lộng. Những giây cờ đủ màu sắc rung lên phần phật trong gió. Bên ngoài cổng nhà thờ là con đường chính của xứ đạo. Bên kia con đường là màu xanh ngút ngàn của vườn cây đang vào mùa đơm hoa kết trái.

Tiếng chiêng tiếng trống được gióng lên. Những hồi kèn ngân vang giục giã. Đoàn đồng tế bắt đầu di chuyển về phía trước. Vậy là con bước theo…

Lòng con vừa rộn ràng vừa xao xuyến. Cảm giác bồi hồi thật khó tả.

Truyện ngắn

ĐỨA CON CẦU TỰ

---------------------------------


Bị cáo Trịnh Thiên Ân phạm hai tội danh buôn bán vận chuyển ma túy và cướp của giết người. Tòa nhận thấy hành vi trên nguy hại đến xã hội cần phải nghiêm khắc trừng trị, nhưng xét thấy bị cáo có lòng ăn năn nên: tòa tuyên án: 20 năm tù.

Vừa nghe thế, bà nội gục xuống, còn chị Thủy, mẹ Thiên Ân thì mắt ráo hoảnh, rồi tự nói với chính mình: Không phải tại ngài Thánh Giu-se ơi, mà là lỗi tại con, tại con không sống đúng trách nhiệm của một người mẹ.

***

Cuộc đời của anh chị phải nói là như trong mơ, mà biết bao nhiêu cặp vợ chồng khác muốn mơ cũng không được. Gia đình hai bên nội ngoại đều khá giả. Vừa lấy nhau anh chị đã có việc làm và nhà cửa đất đai. Nhưng chồng chị lại không bằng lòng với những gì đang có, anh nói mình phải làm thêm một vài năm nữa rồi có con cũng không muộn, chứ bây giờ sinh con sớm quá.

Truyện ngắn

CHO THÌ CÓ PHÚC HƠN NHẬN

------------------------------

ảnh minh họa

Sáng xuống nhà cơm, nhìn lên bảng thông tin, thấy hàng chữ to đùng của Cha Bề Trên: “Quý cha nhận được quà Tết, xin gom lại cho cha quản lý để giúp người nghèo”. Hắn gật gù, rồi tự nhủ với lòng mình rằng cần phải chia sẻ nhiều hơn với người nghèo. Tuy không có gì lớn lao, nhưng một hộp sữa, cặp bánh tét…cũng đủ mang tết đến với người nghèo.

***

Từ ngày đi tu, hắn luôn được dạy phải biết chia sẻ với người nghèo, chăm lo cho người nghèo. Và với hắn, mỗi khi có cơ hội được làm bác ái là hắn phấn khởi tích cực tham gia cách nồng nhiệt. Nào là bác ái Mùa Chay, chia sẻ Mùa vọng…nào là bữa cơm cho người nghèo, quà Tết cho người cơ nhỡ vào dịp cuối năm…lần nào cũng vậy, sau mỗi chuyến đi từ thiện, hắn thấy mình thật hạnh phúc vì hắn có cơ hội để sống tốt với lời Chúa dạy.

***

ảnh minh họa

Tôi ngồi ở hàng ghế cuối ngôi thánh đường, đưa mắt nhìn về phía em. Đã lâu rồi tôi không gặp em, tôi nhìn em mà lòng còn thổn thức về tình yêu của mình, một mối tình đẹp và là mối tình đầu của tôi. Hôm nay em thật đẹp, vẻ đẹp tự nhiên hòa lẫn với vẻ đẹp thánh thiện toát lên trên khuôn mặt em. Em khoác lên mình bộ tu phục màu trắng, như là hiện thân tấm lòng và con người của em. Dõi bước theo em cùng đoàn đồng tế tiến dần lên phía cung thánh, tôi nhìn thấy trên khuôn mặt em những giọt nước mắt rơi xuống, giọt nước mắt hạnh phúc trong ngày hồng ân, ngày mà em mong đợi từ bấy lâu. Để từ đây em hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho Thiên Chúa và trần thế.

*****

Tôi và em cùng sinh ra trên mảnh đất nghèo miền trung nắng lửa, trong xứ đạo nhỏ bên dòng sông Lam thơ mộng. Gia đình tôi ở làng trên còn gia đình em ở làng dưới gần ngôi thánh đường giáo xứ, cách nhau không xa là mấy và khá thân nhau. Mẹ tôi và mẹ em là bạn thân từ thủa thiếu thời và là thành viên Hội Mân Côi của giáo xứ. Từ nhỏ chúng tôi đã chơi rất thân với nhau, cùng có một tuổi thơ “dữ dội” như những đứa trẻ vùng nông thôn. Cứ vui chơi, bay nhảy, chẳng lo âu muộn phiền lo lắng. Giờ nghĩ lại, tôi thấy tuổi thơ là quãng thời gian đẹp nhất của một con người.

*****

Truyện ngắn

MẸ! CON MUỐN ĐƯỢC ĐÓN TẾT TRUNG THU

---//---


Con bé hai mắt tròn xoe, ngấn nước, nép mình bên khe cửa nhà thờ nhìn tôi. Thấy ánh mắt trong sáng của em, tôi bước lại gần, định bắt chuyện làm quen. Con bé vụt chạy. Qua khúc cua, bóng em mất hút.

***

Hôm nay Tết Trung Thu, có đoàn bác ái trên Sài gòn xuống giáo xứ làm bác ái, mang Tết Trung Thu đến cho trẻ em nghèo vùng sâu vùng xa như giáo xứ của tôi.


Không biết mẹ tôi ăn trầu từ bao giờ, nhưng mỗi lần nhớ đến những ngày còn lẽo đẽo theo mẹ, tôi lại nhớ đến hình ảnh mẹ mặc chiếc quần lãnh đen và chiếc áo bà ba sậm màu, ngồi trên thềm gạch hiên nhà trước – thường gọi là hàng ba- têm miếng trầu vàng, cuốn lại rất vén khéo. Những lá trầu luôn được xếp cẩn thận trong một cái ô trầu đan bằng mây có ba ngăn, đựng vài quả cau, con dao nhỏ và bình vôi trắng. Tôi là người được mẹ tín cẩn nhất để sai đi lấy và cất cái ô trầu cho mẹ.

Ðó là những buổi chiều nắng đã tắt sau đọt cây cau gầy xa xa ở cuối sân nhà, nhưng trời vẫn còn đủ sáng và mát mẻ cho hai chị tôi chơi lò cò xủi trên khoảng sân rộng dùng để phơi lúa, cũng là sân banh mà chỉ có tôi là cầu thủ duy nhất, với trái banh là quả bưởi non. Phía góc sân trái, dưới gốc cây cam xum xuê lá, trái nặng trĩu cành, đứa em gái nhỏ hai tuổi của tôi cầm cành cây khô, đùa giỡn với đàn gà con cùng bà vịt xiêm già nặng nề, chậm chạp đi từng bước mà tôi có cảm tưởng sắp té ngã về phía sau.

Ðôi khi, mẹ sai tôi đi hái cho mẹ vài lá trầu. Vườn trầu sát bờ ao, trên một khu đất chừng bốn, năm mét vuông, được rào bằng tre xung quanh, bên trong có năm thân cây khô chôn xuống đất cho những dây trầu leo quanh. Hình như, mẹ tôi chỉ có hai việc chính phải làm hằng ngày là chăm sóc chúng tôi, nấu cơm và tưới vườn trầu. Những lúc mẹ ngồi ăn trầu, tôi thường ngồi bên cạnh, táy máy cái ô trầu và nhìn đôi môi đẹp nhuộm đỏ của mẹ mà thán phục, vì có lần tôi lén ăn trầu đã bị cay và say đến chóng mặt. Có lẽ, thời gian hạnh phúc, an lành nhất của mẹ là những ngày còn sống ở miền quê thanh bình, lúc tôi còn thơ ấu. Mẹ ở quê, nhưng chưa hề làm việc lam lũ ngoài đồng. Ba tôi đã sắp xếp thế nào đó để có tiền thuê người giúp việc đồng áng mà gia đình vẫn có lúa ăn dư dả quanh năm.

Truyện ngắn: MỘT MÙA ĐÔNG GIÁ


Trời đã vào Đông. Mùa Đông năm nay có vẻ lạnh hơn mọi năm. Mọi cửa lớn, nhỏ của nhà nguyện Dòng Chúa Quan Phòng đều đóng chặt, gió vẫn lùa qua khe cửa làm chị Mai Trinh, giáo tập đang quỳ cầu nguyện run lên cầm cập từng cơn. Cứ mỗi lần gió núi ùa về sớm thế này, thì y như rằng Tập viện thế nào cũng có chuyện chẳng lành. Lần thì mất chó, mất gà, lần thì chị giáo tập tự nhiên lăn đùng ra chết, lần thì gió thổi bay cả nóc nhà, may mà mọi người vẫn bình yên. Mới đây nhất, chỉ hai năm về trước thôi, vào cuối mùa đông lạnh, bà bề trên đòi đuổi cổ hết các tập sinh, giao nhà cho quản lý tỉnh muốn làm gì thì làm. “Năm nay lạnh sớm thế này, thế nào cũng có chuyện”. Mai Trinh tự nhủ. Gió ào tới, chị run lên cầm cập.

Tập sinh năm nay chỉ có 7 em, hầu hết đều xuất thân từ những gia đình nghèo phía Bắc. Kim Yến là cô gái có nhiều vấn đề nhất. Cư xử thì vụng về. Ăn nói thì ngang tàng ngổ ngáo, làm việc thì cẩu thả, học thì kém, đúng là chẳng được tích sự gì, nhưng lại làm ra vẻ hơn ai hết. Bích Phụng dễ thương nhất, vừa hiền ngoan, lại đạo đức, chỉ mỗi tội không làm việc chung được. Yến Vẹn điềm đạm, chịu khó, việc gì cũng làm được, chẳng hiểu sao lại là cái gai của chị phó giáo tập. Hà Thanh, chị phó giáo tập, cũng xuất thân từ một gia đình nghèo, nhưng xuất sắc về mọi mặt, lại nghiêm túc, đạo đức, chỉ mỗi tội hơi độc tài, độc đoán. Từng khuôn mặt một trong tu viện nhỏ thó, toạ lạc trong nơi hoang vắng này, cứ lần lượt hiện lên trong đầu óc Mai Trinh. “Ta không có quyền loại trừ ai, cũng không có quyền ép ai phải đi tu. Ta chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là phát hiện và phát triển ơn gọi nơi mỗi người thôi. Điều quan trọng là phải giúp cho mọi người có được một kinh nghiệm đích thân về Chúa, nhưng phải làm gì bây giờ?”.




Bà lão người bên thôn Thượng, lấy chồng từ năm mười tám rồi theo chồng đến đây. Thời còn con gái, ai cũng khen bà đẹp. Một vẻ đẹp thuần khiết của người phụ nữ miền thôn dã. Với đôi mắt đen và sáng long lanh, đã một thời khiến cho nhiều trai làng phải say bà như điếu đổ. Người ta nói: con gái có Đạo thường có đôi mắt đẹp và thánh thiện như Đức Mẹ Đồng Trinh.



“…Bên kia sông Đuống

Mẹ già quẩy gánh hàng rong

Bước cao thấp bên bờ tre hun hút

Có con cò trắng bay vùn vụt

Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu…”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

***



Chuông chiếc đồng hồ côn đã điểm năm tiếng. Từ chiều tới giờ, bà lão cứ thấp thỏm, đứng ngồi không yên; hết đi ra lại đi vào. Bà đang mong đứa con gái của bà trên Hà Nội về. Trong nhà, bà lão đã dọn sẵn mâm cơm, gọi là có tí chút để khoản đãi đứa con gái của bà; thôi thì chẳng mấy khi nó về thăm nhà.

Quái lạ, đã cuối thu mà sao hôm nay trời lại nực thế không biết! Nghĩ vậy, bà lão quyết định không ngồi trong nhà nữa mà mang chiếc ghế tre cùng với chiếc quạt nan ra ngồi ngoài sân, phía dưới dàn mướp…

***

Bà lão người bên thôn Thượng, lấy chồng từ năm mười tám rồi theo chồng đến đây. Thời còn con gái, ai cũng khen bà đẹp. Một vẻ đẹp thuần khiết của người phụ nữ miền thôn dã. Với đôi mắt đen và sáng long lanh, đã một thời khiến cho nhiều trai làng phải say bà như điếu đổ. Người ta nói: con gái có Đạo thường có đôi mắt đẹp và thánh thiện như Đức Mẹ Đồng Trinh.

Một năm sau ngày cưới, bà cho ra đời đứa con trai đầu lòng. Cuộc sống vợ chồng những năm đầu thật hạnh phúc. Đúng cảnh: chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa. Cuộc sống gia đình đang đầm ấm yên vui, đột nhiên, chồng bà vĩnh viễn lìa bỏ mẹ con bà ra đi vì một căn bệnh quái ác. Năm ấy đứa con trai của bà mới được đâu bốn hay năm tuổi gì đó. Bà nén nỗi đau trong lòng và quyết định ở vậy một mình nuôi con. Sau khi mãn tang chồng, đã mấy lần bà tính đưa con về bên ngoại để làm ăn sinh sống, nhưng rồi nghĩ lại: Lấy chồng phải gánh giang san nhà chồng, bà lại thôi. Những năm tháng đó cuộc sống của hai mẹ con bà thật vất vả. Nhưng bù lại, bà có đứa con bên mình như một sự động viên khích lệ duy nhất trong cuộc đời.

Khi đứa con trai bà đến tuổi trưởng thành cũng là lúc đất nước gặp cơn binh biến. Thế là bà đành nén nuốt dòng nước mắt vào trong, tiễn đứa con lên đường nhập ngũ. Hôm chia tay, bà luôn động viên con cố gắng hoàn thành tốt nghĩa vụ và hẹn ngày trở về, nhưng trong thâm tâm mách bảo, dường như đây là lần cuối cùng mẹ con gặp nhau…

Rồi một hôm, bà nhận được lá thư từ chiến trường gửi về, bà háo hức chờ đợi… Nhưng khi phong thư được bóc ra, đất trời bỗng nhiên quay cuồng trước mặt bà, hai chân bà khuỵu xuống. Trên tay bà lúc này là Giấy Báo tử đứa con trai yêu quý. Thế là điều mà bà lo sợ nhất bấy lâu nay, giờ đây đã trở thành sự thực…

Suốt đêm hôm ấy, và mấy ngày hôm sau nữa bà không ăn uống gì cả. Cuộc sống lúc này đối với bà còn ý nghĩa gì nữa đâu!? Trước đây, trong nỗi cơ cùng của cuộc đời, bà vẫn gượng dậy để sống vì đứa con. Thế mà bây giờ…!?

Bà lên cơn sốt miên man, lúc tỉnh, lúc mê. Họ hàng và bà con lối xóm đến động viên an ủi bà, nhưng nỗi đau của bà chẳng nguôi ngoai được là bao. Đối với bà, đau khổ và sự dữ là điều mà bà luôn luôn phải hứng chịu trong suốt mấy mươi năm của cuộc đời. Mà bà đã làm gì nên tội?…Những lúc như thế, nhìn lên cây thập giá, bà chỉ thấy Chúa lặng im, với vòng gai nhọn trên đầu, Ngài chẳng nói lời nào… Nhưng có lẽ, chỉ trong mầu nhiệm thập giá, bà mới lờ mờ hiểu được phần nào ý nghĩa của sự khổ đau. Thế là, một lần nữa, bà lại cố gắng gượng dậy, để tiếp tục sống những tháng ngày còn lại.

Từ ngày đứa con trai qua đời, bà trở nên trầm hẳn, ít xuất hiện ở chốn đông người. Bà chỉ còn tìm thấy niềm vui trong công việc chăm sóc thửa vườn và chăn nuôi mấy con gà, con vịt. Những lúc rảnh, bà thường lui tới động viên những người đau yếu, già cả trong khu xóm.

Thời gian trôi đi, nỗi đau của bà cũng vơi dần theo năm tháng. Thế rồi vào một đêm dông bão, bà nghe có tiếng gõ cửa. Bà nghĩ bụng - Quái lạ, đêm hôm mưa gió thế này, ai lại gõ cửa nhà mình thế nhỉ?

Tiếng gõ mỗi lúc một dồn dập khiến bà phải cố gượng dậy ra mở cửa xem sao. Khi cánh cửa vừa mở, những cơn gió đem theo nước mưa lùa vào làm lạnh toát cả người. Bà đột nhiên rùng mình. Trước mặt bà là một cô gái chừng độ mười tám đôi mươi, bụng mang bầu. Thân mình cô gái đang run lên bần bật. Trên khuôn mặt non nớt của cô gái lúc này đã tái đi có lẽ vì đói và lạnh. Thoáng qua, bà đã hiểu ngay cơ sự. Ái ngại cho hoàn cảnh của người con gái trẻ, bà cố lén một tiếng thở dài.

-Xin cô làm ơn làm phúc cho cháu trọ nhờ một đêm. Chỉ một đêm nay thôi, rồi sáng mai cháu sẽ đi sớm – giọng cô gái thỏ thẻ nói trong nước mắt.

Giữa lúc mưa to gió lớn, đàn bà con gái bụng mang dạ chửa thế này biết đi đâu bây giờ?! – bà đắn đo.

- Thôi, cháu cứ vào trong này đã kẻo mưa ướt hết rồi kia kìa. – Bà nói như thể để phá đi sự yên lặng.

Cô gái ngượng nghịu bước vào nhà. Hành trang của cô chẳng có gì ngoài một bọc quần áo nhỏ, một chiếc nón đã cũ và chiếc áo tơi mưa.

- Chắc là sắp sinh rồi phải không cháu? - Bà hỏi.

Cô gái không nói gì mà chỉ khẽ gật đầu. Dưới ánh đèn dầu, bây giờ bà mới có dịp quan sát kỹ cô gái. Với gương mặt trái xoan, vầng trán cao, đôi mắt đen lánh và cặp chân mày rậm - phải nói rằng cô ta khá đẹp.

-Vì sao lại đến nông nỗi này hả cháu ?

Nghe bà hỏi, cô gái vội òa lên khóc nức nở. Rồi trong tiếng nghẹn ngào, cô gái kể lại: Cô là người làng Hạ, do nhẹ dạ, nên đã bị một tay họ Sở lừa. Xong chuyện, hắn ta phủi tay, quất ngựa truy phong. Nhìn cái thai trong bụng cứ lớn lên từng ngày, cô gái chỉ còn biết ngậm ngùi nuốt nỗi cay đắng, tủi hổ. Gia đình hắt hủi, bạn bè xa lánh, dân làng tẩy chay. Mấy lần định trầm mình hoặc tìm cách giải quyết cái thai trong bụng, nhưng lương tâm cô không cho phép. Chính vì vậy mà cô phải cố gắng sống để có thể nuôi đứa trẻ trong bụng cho tới ngày nó chào đời…

-Thôi thì cơ sự đã đến nước như thế này, có khóc cũng chẳng giải quyết được gì - bà đến bên cô gái yên ủi - chi bằng… cứ ở đây với cô, có gì dùng nấy, đợi cho tới ngày đứa bé chào đời, rồi mình tính tiếp.

-Cô ơi! cô đúng là vị cứu tinh của đời cháu. Trọn kiếp này, hai mẹ con cháu chỉ biết khấu đầu, ngàn lần, vạn lần đội ơn cô - Cô gái gạt ròng lệ rối rít cảm ơn.

Ngoài trời, có tiếng cành cây gẫy, bụi tre trước ngõ cứ vặn mình răng rắc. Gió vẫn rít lên từng đợt. Đúng vào cái đêm dông bão ấy, cô gái trở dạ sinh con - một đứa bé gái. Thế là bà đành phải trở thành bà đỡ bất đắc dĩ. Bên ngọn đèn dầu leo lét, hai người phụ nữ - một già một trẻ đang cưu mang một mầm sống mới. Tiếng khóc của đứa trẻ làm cho bầu khí của ngôi nhà dường như ấm lại, xua đi cái vẻ ảm đạm của một đêm mưa bão.

Nhưng cô gái, phần vì đã quá mệt mỏi sau một quãng đường xa trong trời mưa lạnh, phần vì thể trạng yếu gầy, cô đã qua đời ngay sau khi sinh đứa trẻ được vài giờ đồng hồ, trong lúc trên đôi môi còn nở một nụ cười đầy mãn nguyện…

Phải nói rằng, từ ngày đứa con trai hy sinh ngoài chiến trường, bà không nghĩ rằng bà còn có thể sống và sống có ích cho cuộc đời nữa. Thế nhưng, qua những biến cố bà gặp phải, bà mới hiểu ra một điều rằng: Con người dẫu có dừng bước thì dòng đời vẫn cứ trôi đi. Đau khổ và tình yêu là điều mà con người vẫn gặp phải trong cuộc sống thường ngày. Nhưng đón nhận những nó với thái độ như thế nào lại còn tùy thuộc vào mỗi người…Cũng như lúc này đây, đứa bé này đang cần đến tình yêu và sự che trở của bà, bà không thể không ra tay cứu giúp. Thôi thì… có đứa trẻ bên cạnh, gian nhà của bà cũng bớt đi vẻ lạnh lẽo, cô quạnh. Nghĩ thế, bà vội ôm đứa bé vào lòng. Nơi khuôn mặt khắc khổ của bà, hai hàng nước mắt cứ trào ra…

***

Câu chuyện tưởng như mới xảy ra hôm nào, thế mà nay đã được hơn hai mươi năm rồi. Đứa bé gái ngày ấy, bây giờ đã là một sinh viên đại học sắp ra trường. Mọi năm, cứ đến ngày lễ các linh hồn là cô con gái, dù có bận đến mấy, cũng cố tìm cách về từ chiều hôm trước. Sau Thánh lễ ban sáng ở nhà thờ, bao giờ hai mẹ con cũng cùng nhau ra vườn thánh để thắp hương và đọc kinh cho những người thân đã qua đời. Đối với nó, bà vừa là mẹ, vừa là ân nhân, vừa là vị cứu tinh. Nhưng bà chẳng bao giờ nghĩ thế, trái lại, chỉ biết dành trọn tình yêu thương và vun đắp cho đứa con gái tội nghiệp.

Bây giờ đã là sáu giờ ba mươi chiều, mà vẫn chẳng thấy bóng dáng đứa con gái đâu cả. Nó vẫn chưa về. Mâm cơm đã nguội.

Vậy là có lẽ nó sẽ không về rồi… Chắc nó còn bận học. – bà tự nhủ.

Độ này, bà cảm thấy trong người cứ khang khác thế nào ấy. Khắp toàn thân ê ẩm, nhức xương, nhức cốt. Mình già rồi! Chắc chẳng còn sống được bao lâu nữa – bà nghĩ. Giả như lúc này có đứa con ở bên cạnh thì hay biết mấy! Điều mà bà cần bây giờ là tình cảm, là sự yên ủi của đứa con. Người ta bảo: trẻ cậy cha, già cậy con mà. Nhưng nghĩ thì nghĩ vậy, chứ bà không hề trách đứa con gái.

Nhìn lên bàn thờ Chúa, từ trên thánh giá, Ngài vẫn đang nhìn bà với ánh mắt trìu mến và đầy cảm thông. Phút chốc, lòng bà như ấm lại. Bà biết chắc một điều là bà không hề cô đơn…

Trời đã nhá nhem tối. Ngoài kia, ánh trăng non đã bắt đầu nhú lên khỏi cây gạo ở đầu làng. Lúc này, trong vườn thánh vẫn còn thấy lố nhố bóng dáng người ra viếng nghĩa trang và thắp hương cầu nguyện cho người thân. Bà lão chợt nhớ tới chồng, nhớ tới người con trai đã hy sinh và cả người phụ nữ bất hạnh nữa.

Ngày mai là lễ Cầu cho các linh hồn rồi - vừa lẩm bẩm một mình, bà vừa chống gậy đi về phía ngôi thánh đường.


Hà Nội, tháng Các Linh hồn - 2006


Về quê 

Truyện ngắn


Đến ngã ba thị trấn, chiếc xe khách chạy chậm lại, rồi táp vào về đường. Thạch vội vàng nhảy xuống. Ba lô con cóc trên vai, đã lâu lắm Thạch mới lại về thăm quê. Nơi nhà Thạch ở là một ngôi làng nhỏ toàn tòng Công Giáo, nằm bên ngoài đê sông Hồng.


Thạch hít một hơi thật dài để lấy lại cái cảm giác khoan khoái khi đặt chân xuống miền đất mẹ. Trời đã về chiều. Từ đây về đến nhà còn khoảng hơn hai cây số nữa. Cũng có một vài chiếc xe ôm mời chào nhưng Thạch đều từ chối. Thạch thích đi bộ như thế này để có cơ hội chiêm ngưỡng cũng như thưởng thức cái hương vị của đất trời quê hương. Mới hôm nào Thạch từ giã làng quê yêu dấu để lên Hà Nội học, thế mà nay anh đã tốt nghiệp được ba năm rồi…

Gia đình Thạch cũng thuộc vào loại “thường thường bậc trung” trong làng. Mẹ Thạch mất sớm, năm ấy, Thạch vừa vào được lớp mười; để lại cho bố Thạch tất cả bốn người con. Thạch là con cả trong gia đình, nên ngoài những lúc học trên trường, cậu cố gắng dành mọi thì giờ còn lại để giúp đỡ bố thu xếp công việc trong nhà. Những năm ấy, bố Thạch lại làm Quản, nên không những lo toan cho gia đình, ông còn phải lo việc dạy giáo lý và xướng kinh sớm, tối ở nhà thờ. Hàng xóm láng giềng, mọi người đều cảm thương cho gia cảnh nhà ông Quản. Nhìn ông thui thủi trong cảnh “gà trồng nuôi con”, có người khuyên ông nên đi bước nữa nhưng ông chỉ cười. Hình như ông muốn cố gắng bù đắp sự thiếu thốn tình thương của người mẹ cho đàn con hơn là tìm niềm vui cho bản thân mình.

CŨNG CÓ MỘT CHUYẾN XE NHƯ THẾ


Bạn có tin có những chuyến đi làm thay đổi cuộc đời không? Tôi đã có một chuyến đi như thế.

***

Học xong lớp mười hai, tôi tự tin thi đại học sư phạm với ước mơ sẽ trở thành thầy giáo, chỉ để gõ đầu mấy đứa trẻ trong xóm. Quê tôi xa lắm, xa ơi là xa tựa như người ta hay kể chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa, xưa ơi là xưa vậy. Xa đến nỗi mà được đi học là một thứ xa xỉ với đám con nít chúng tôi. Xa đến nỗi mà chỉ duy nhất mình tôi là có thể đi học hết lớp mười hai. Còn lại, đám con nít thanh niên, đứa học nhiều lắm là qua lớp sáu. Thế rồi không có tiền, phải nghỉ học giữa chừng, rồi lại lẽo đẽo theo mẹ đi chợ, hoặc những trưa nắng lội ruộng bắt mấy con cá rô, mò mấy con ốc…

Tự thấy mình học cũng giỏi, nên tự tin thi đại học sư phạm, mà là sư phạm toán mới ghê chứ. Vậy mà… Tổng cộng cả ba môn thi chỉ được bảy điểm rưỡi. Thiệt chán hết sức, nói ra còn thấy hổ thẹn thêm.

Đành gác luôn cái ước mơ gõ đầu trẻ qua một bên, tôi đón xe lên Sài Gòn với hy vọng sẽ đổi đời. Chứ ở riết cái miền quê này, không đi chăn trâu cũng nuôi vịt chạy đồng, biết đời nào mà ngóc đầu lên nổi.

***

Sau cái chết của ông Thanh, cái Thắm, đứa con gái duy nhất của ông bà Thanh suốt ngày ôm bụng kêu đau. Nén nỗi đau mất chồng, bà chạy đôn chạy đáo tìm thuốc cho con. Hễ nghe ai bày cho ông thầy lang nào bà liền tìm đến. Hễ nghe ai chỉ cho cách chữa trị nào bà cũng làm cho bằng được. Thế mà cái Thắm cũng không hết bệnh. 


Không nỡ để đứa con gái suốt ngày ôm bụng kêu đau, bà quyết định dẫn con lên tỉnh khám. Tại đây người ta vẫn không tìm ra bệnh cho con bà. Thấy hoàn cảnh tội nghiệp của hai mẹ con, ông bác sĩ đến khuyên bà nên đưa con lên Sài Gòn khám, vì trên đó máy móc hiện đại và bác sĩ giỏi nhiều hơn. Ông cũng nói thật con bà có khả năng bị ung thư đường ruột giai đoạn đầu. Ông nói thế để bà chuẩn bị tâm lý cũng như mau chóng đưa con lên tuyến trên. Tuy nhiên, mới nghe tới hai chữ ung thư mặt mũi bà Thanh tối sầm, vì từ trước tới nay có ai trong làng thoát khỏi căn bệnh này đâu, ngay cả chồng bà cũng đâu thể thoát nổi. Như muốn trấn an bà, ông bác sĩ nói thêm đó chỉ là suy đoán của ông, và nếu nó là sự thật thì trong giai đoạn này bệnh tình của con bà có thể chữa trị khỏi hoàn toàn.

Sau khi từ tỉnh về, bà quyết định bán cái xe đạp cũ kỹ mà chồng để lại, cộng thêm cái tivi đen trắng để lấy tiền chữa trị cho con gái. Số tiền nhận được cộng với khoản phúng điếu sau khi lo hậu sự cho ông Thanh, bà đếm đi đếm lại cũng chỉ được gần hai triệu. Với khoản tiền cầm trong tay, bà đắn đo, lo nghĩ có nên đưa cái Thắm đi vào Sài Gòn không. Bởi lẽ bà biết để chữa trị cho con bà thì số tiền phải gấp nhiều lần hơn thế. Lúc này bà tính sang vay mượn hàng xóm. Thế nhưng sau đó lại thôi. Vì sau hai vụ mùa trắng tay, hàng xóm nào có ai có của dư của để đâu. Hơn nữa, mới đây họ cũng đã giúp đỡ bà nhiều trong việc lo hậu sự cho ông Thanh rồi. Lúc này bà không biết phải làm gì. 

Nếu đi thì không đủ tiền. Còn nếu không đi thì con bà sẽ phải tự chống chọi với căn bệnh trong người. Nhìn sang đứa con đang quằn quại trên chiếc giường tre, bà khóc. Bà khóc cho thân phận nghèo khổ của mình. Bà khóc cho cõi lòng đơn độc của mình. Bà cũng khóc cho số phận hẩm hiu của con bà. Bà nghẹn lòng: “Thắm ơi! Mẹ xin lỗi con. Mẹ đã không mang lại cho con niềm vui. Mẹ cũng không đem lại cho con cuộc sống ấm êm như chúng bạn của con. Nhưng con ơi! Mẹ sẽ cố gắng hết sức. Mẹ sẽ làm tất cả mọi sự vì con.” Nói những lời đó xong, bà gạt nước mắt. Bà nghĩ không thể để cái Thắm chờ chết như thế này được. Bà quyết sẽ dẫn cái Thắm lên Sài Gòn chữa bệnh. Bà sẽ tìm một công việc nào đó để làm kiếm tiền. Bà không cứ công việc nào miễn sao có tiền để chữa trị cho đứa con gái. Thế rồi bà đứng dậy, chuẩn bị đồ đạc để sáng mai đi lên Sài Gòn.
Được tạo bởi Blogger.