VUI NHƯ TẾT


Khi thằng bạn cuối cùng xách giỏ ra khỏi phòng thì Huy ngã người ra giường cười ha ha đến hai ba phút, khiến mấy đứa ở phòng khác đang đi vội vã ngoài hành lang cũng phải dừng bước tò mò nhìn vào. Huy nhổm dậy thò đầu ra cửa hét lên: “Ê chúc tụi bay về ăn Tết vui vẻ nha. Khi lên nhớ mang theo bánh mứt, hoặc là nhiều nhiều tiền lẻ”. Nói xong, Huy kéo sập cửa lại và ngồi thừ người ra cũng mất đến hai ba phút. Nó không biết diễn tả tâm trạng nó thế nào bây giờ. Lo lắng. Buồn. Tủi thân. Đây là lần đầu tiên nó sẽ phải ăn Tết xa nhà, ở lại trong ký túc xá vắng vẻ như thế này. Năm nay hầu hết sinh viên về quê, chỉ có mấy đứa ở quá xa hoặc cạn tiền như Huy mới phải “giũ áo phong sương trên gác trọ, lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang”.

Chuyện đầu tiên Huy làm để đón Tết là quét nhà. Phòng tụi nó nổi tiếng là... dơ, hai ba tuần mới quét một lần, mỗi học kỳ lau nhà hai lần! Các phòng khác thì khi vô phòng phải bỏ dép ra, còn phòng Huy thì khi ở trong phòng ra phải cởi dép kẻo dơ hành lang. Chuyện quét nhà thì dễ ợt nhưng vấn đề là lấy chổi đâu mà quét. Trong năm thì mượn của các phòng khác nhưng bây giờ tụi nó về quê hết rồi. Huy nghĩ ra một diệu kế là gom báo cũ lại, bó thành một bó rồi một hai ba... phẩy! Bụi tung mịt mù. Huy nhắm mắt lại phất y như người ta chơi tennis. Ấy vậy mà căn phòng cũng sạch, dĩ nhiên theo cái nhìn của Huy. Tiếp theo là gì nhỉ. Ngủ. Huy ngủ một lèo cho tới khi trời tối mịt mới lò dò chạy xuống cổng ký túc xá mua nửa ổ bánh mì vừa gặm vừa nhìn “những chiếc giỏ xe chở đầy bánh mứt” lượn lờ trước mặt. “Phải chi mình có bồ”. Huy lẩm bẩm khi thấy hai anh chị chở nhau trên chiếc xe đạp Trung Quốc chạy ngang qua, anh thì cười toe còn chị thì líu lo như chim hoạ mi. “Có bồ thì vui nhưng chắc là đói hơn”. Huy tự an ủi như thế rồi lên phòng, định ngủ cho quên buồn. Nhưng vừa ngả lưng thì có tiếng gõ cửa. Tiếng gõ như búa nện thế kia thì đích thị là ban quản lý ký túc xá rồi. Huy mừng rỡ, mặc vội áo quần rồi ra mở cửa. Này nhé, bánh chưng, hạt dưa, mứt và cả bao lì xì nữa. Tha hồ ăn tết nhé mày, Huy ơi. Nhưng trước mặt Huy là anh bảo vệ oai phong: “Mày cứng đầu hở. Đã bảo đứa nào ở lại dồn hết xuống một lẻ một sao mày không nghe?”. “Dạ mai em xuống”. Trước khi bỏ đi, anh ta còn nói thêm:”Không nghe thì ra nhà ngoài mà ở lại nhé”. Huy nói nhỏ: “Không ra nhà ngoài thì nghe nhé”. Tiếc là bảo vệ không kịp nghe nó nói. Xuống lầu một cũng chẳng sao, nhưng uổng công nó đã lỡ quét nhà.


Năm nay, cây cộ đèn giáo xứ Bắc Tỉnh dựng lên để ăn mừng lễ Giáng Sinh được duy trì để dùng cho những ngày Tết Nguyên đán sắp tới.

Không khí Tết trong các giáo xứ thuộc giáo phận Bùi Chu đã thực sự sôi động và tại Bắc Tỉnh, khi các ông trùm, trưởng và thanh niên trong giáo xứ trưa ngày 23 Tết gọi nhau đến trang hoàng lại cây cộ đèn cao 40m trồng ngay ở giữa sân cuối nhà thờ. Trên cây đèn này, cờ lớn, cờ nhỏ, phất phới tung bay trong gió Xuân còn khá lạnh. Lá đại kỳ hai mầu vàng trắng, cờ Giáo Hội Công Giáo và cờ Việt Nam, lúc đó là cờ quẻ Ly của vua Bảo Đại là những lá cờ chính, xen vào đó là những lá cờ đuôi nheo lớn nhỏ đủ mầu sắc và đèn giấy.

Để giữ cho cây cộ đèn cao như vậy đứng vững, người ta đã dùng những dây thừng cột từ trên cao thân cộ đèn ròng xuống đất, đóng cọc cột lại, khắp xung quanh. Trên những giây này là cờ đuôi nheo nhỏ và những ngọn điện nhỏ nhấp nháy, chuyền điện từ một máy phát điện nhỏ để trong nhà thờ.

Thanh minh
Truyện ngắn Nguyễn Một


Anh họ tôi viết thư : “Thanh minh năm nay vừa khánh thành nhà thờ họ, nên giỗ xuân làm lớn lắm . Em nhớ đưa cháu về nhận mặt bà con. Hôm xây nhà thờ anh đã đóng cho em hai suất hết hai trăm ngàn đồng...” Năm nay thanh minh nhằm vào dịp học sinh chuẩn bị thi học kỳ hai, năn nỉ mãi ông Hiệu trưởng mới cho đi một tuần và tạm ứng cho hai tháng lương dằn túi. Mượn thêm vài bộ quần áo của thằng bạn thân nữa cũng khá tươm tất

Nghe nói tộc Trần của tôi nhóm họp lại dưới sự chủ trì của Ông Tỷ, Tộc trưởng. Lần đầu về nhận họ hàng nên tôi khá bồn chồn. Từ nhỏ sống bên ngoại, mang họ ngoại rồi lưu lạc xa quê gần hai chục năm trời, tôi không biết nhiều về dòng dõi của mình. Bà ngoại tôi vốn không ưa tộc Trần, mỗi lần ông ngoại tôi kể chuyện bên nội của tôi, bà thường nạt: “ Nói hoài chuyện đó nghe điếc lổ đít quá!” Bà ít khi nào vuốt ve hay kể chuyện cho con cháu nghe, bà chửi ông tôi sa sả suốt ngày, ông lầm lũi chịu đựng và cười cười trông rất tội nghiệp. Sau này lớn lên lập gia đình rồi tôi vẫn sợ bà phát khiếp. Mỗi lần bà đến thăm, cả nhà im thin thít đố dám cười giỡn .


CƠN BỆNH ƠN BAN

1. Ly thân

Trong Luận Ngữ, ông Khổng Khâu dạy: "Ngũ thập tri thiên mệnh", nghĩa là khi tới năm mươi tuổi, người ta có thể thông suốt chân lý của tạo hóa, tức là hiểu được mệnh của trời. Vậy mà tuy đã vào tuổi U70, nhưng tôi có biết được, hiểu được mệnh trời dành cho tôi thế nào đâu? Ngay như vợ tôi (người bạn đời bốn mươi năm trời má ấp vai kề, sinh cho tôi bốn đứa con, ba gái một trai, tôi có thể nhớ được rõ mồn một, đếm được vanh vách mười bốn nốt ruồi nhỏ to trên tấm thân mỏng mảnh, ngọc ngà, nuột nà, mĩ miều, không tì vết, mà nàng được Chúa thương ban), một con người cụ thể, một nhân vật sờ sờ ra đó, tôi còn không hiểu biết nổi, nói chi tới thiên với mệnh?

Chả là cưới nhau về, tôi lúc nào cũng kính trọng nàng, chắp cánh cho nàng, để nàng hoàn toàn tự do.

CHUYỆN CÂY BÚT CHÌ


Một đứa bé đang nhìn bà viết thư. Được một chốc, nó hỏi: "Bà viết chuyện bà cháu mình phải không? Chuyện kể về cháu phải không?" Bà ngừng viết, bảo cháu: "Đúng là bà viết về cháu, nhưng quan trọng hơn những câu chữ là cây bút chì bà đang dùng đây. Bà mong là khi lớn lên cháu sẽ giống như cây bút này".

Rất ngạc nhiên, đứa bé nhìn cây bút chì, nó chẳng có vẻ gì đặc biệt cả.

TRUYỆN NGẮN: QUYẾT LÊN ĐƯỜNG


(Chú thích: tên nhân vật trong truyện hoàn toàn do tác giả tự đặt, không dựa theo Kinh Thánh.)



Đêm đã khuya.

Những ngọn gió buốt lạnh vẫn xì xào ngoài con đường đã vắng người qua lại. Người ta đã lùi về tổ ấm của mình sau một ngày quần quật nơi ruộng đồng, nơi nương rẫy. Cả vùng đất nông dã này nhịp sống cứ theo guồng quay ấy: Ban ngày nhộn nhịp cuốc bẫm, ban đêm im lìm từng giấc mơ. Nếu lắng tai kỹ, có khi còn nghe thấy cả hơi thở mệt từ ngôi nhà nào đó đã tắt đèn từ lâu.


Đất nước Việt ta là một quốc gia đa tôn giáo. Thiên Chúa giáo du nhập vào nước ta khá muộn nhưng đã kịp hội nhập một cách hài hòa trong văn hóa tâm linh của dân tộc. Người Công giáo Việt Nam đã đồng hành cùng những tín đồ tôn giáo lâu đời trên giải đất Việt Nam trong mấy trăm năm lịch sử. Đặc biệt, chính vì các nhà truyền giáo phương Tây đã tới, tuy chỉ với ý định truyền giáo nhưng đã thúc đẩy sự ra đời của chữ Quốc ngữ mà chúng ta được sử dụng một cách thuận tiện ngày nay. Công lao ấy không hề nhỏ đối với sự nghiệp nâng cao dân trí, tiêu diệt giặc dốt ở Việt Nam sau khi đất nước Việt Nam giành được độc lập.

Nhân ngày lễ Giáng sinh, xin giới thiệu với bạn đọc một truyền thuyết về ngày lễ thiêng liêng của người Công giáo. Thiết tưởng, dù là người không theo Đạo thì hiểu biết thêm về ý nghĩa ngày lễ Giáng Sinh, phải chăng chỉ tốt thêm cho tình cảm đồng bào, dân tộc, tăng thêm tình đoàn kết giữa những người không cùng tôn giáo nhưng cùng là con dân nước Viêt...


Truyện ngắn Noel: Tôi là Maria


Tôi là Maria. Tôi đã đính hôn với Giuse, một chàng thợ mộc giỏi giang và nhân hậu.


Họ là đôi vợ chồng hôn nhân khác đạo. Không biết giáo hội rộng ban ơn được phép chuẩn từ bao giờ, nhưng chắc là lâu rồi, ít nhất cũng từ thuở vua Bảo Đại với người đẹp Gò Công Nguyễn Hữu Thị Lan, tức Nam Phương hoàng hậu…

ảnh: dannews.info

Ngày ấy, ở các giáo x­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­ứ toàn tòng trên kênh, tình trạng hôn nhân khác đạo quả là hiếm hoi. Thế mà anh Lực, chị Thùy nên vợ thành chồng từ thuở “hai xoa ba đập”. Ngày ấy mọi sự đều khó khăn thiếu thốn. Họ làm gì có tiền mua­­­­­­­­ dép. Nhưng có tiền chăng nữa thì dép đâu mà mua?! Thế nên họ đi dép da người, da của chính mình, nghĩa là đi chân không, hay chân đất thì cũng thế. Vậy “hai xoa ba đập” là gì? Là gì ư? Là trước khi lên giường đi ngủ, người ta rửa chân giũ bụi bằng công thức xoa hai bàn chân vào nhau hai lần, đập hai bàn chân vào nhau ba lần, thế là bao nhiêu bụi bặm rơi rụng hết, lại sạch sẽ tinh tươm, không chừng còn thơm tho mùi cỏ dại, mùi lúa con gái, hương đồng gió nội nữa ấy chứ (?).

Rõ ràng đó là những năm khó khăn, thiếu đói, ăn bữa trước, lo bữa sau. Ấy vậy mà người ta cứ yêu nhau, cứ cưới vợ gả chồng, cứ sinh con đẻ cái.

MÙA GIÁNG SINH ÊM ÐỀM TRONG CÁC TRUYỆN NGHẸT THỞ CỦA MARY HIGGINS CLARK


Mary Higgins Clark, tác giả của những truyện nghẹt thở ăn khách, có vẻ là một mẫu người sùng đạo. Sự kiện hai trong 18 tiểu thuyết của bà – Silent Night và All Through The Night – được dàn dựng trong khung cảnh an bình, thánh thiện của Mùa Giáng Sinh đã cho người đọc nhận xét đó. Xin sơ lược cuốn truyện All Through The Night như một quà cho mọi người, nhân Mùa Giáng Sinh năm nay.


ALL THROUGH THE NIGHT

All Through The Night, tựa đề của một nhạc khúc Giáng Sinh, đã được dùng làm tên cuốn sách.

Ngay chương đầu cuốn truyện người đọc đã nín thở theo dõi sự việc đang diễn ra...

Còn hai mươi hai ngày nữa mới đến lễ Giáng Sinh. Ðêm đã xuống từ lâu. Bên trong một nhà thờ ở khu Manhattan, thuộc đô thị Nữu Ước, linh mục Ferris đang xem xét mọi nơi, khóa cửa nẻo cẩn thận, tắt đèn, trước khi lui về phòng riêng kế cận nhà thờ nghỉ đêm. Im phăng phắc. Tên trộm Lenny nếp mình sau chỗ xưng tội, chờ vị linh mục đi qua trên đường tiến ra cửa sau nhà thờ. Có tiếng cửa đóng mạnh. Hắn thở phào. Còn lại một mình, hắn ra tay.

TRUYỆN NGẮN: GIẤC MỘNG

(Chú thích: Truyện được tác giả dựa vào Kinh Thánh để viết, việc tên và các sự kiện mà Kinh Thánh không nhắc tới trong truyện hoàn toàn do tác giả tự sáng tạo lên.)

"Thông qua Đức Mẹ Đồng trinh, Thiên Chúa đã ban tặng con mình cho loài người", tranh vẽ năm 1991 của họa sĩ người Anh, Albert Herbert (1925-2008)

Rẹt…rẹt…
Tiếng bào gỗ trong đêm thật ngọt. Những tản gỗ vụn cứ thế ta tả rơi xuống. Miếng gỗ sần sùi dần dần trở nên nhẵn thín.

Giu-se lấy chiếc khăn vẫn vắt trên vai lau vội mồ hôi trên mặt. Chàng với tay lấy chai nước bên cạnh, uống ực. Mai là cái bàn này có thể mang sang cho ông Ri-van ở làng bên. Mỗi cái bàn, cái ghế, hay cái gì mang đi là một khoản tiền, tuy không nhiều, trở về với chàng. Mỗi khoản tiền trở về là ngày trọng đại của đời chàng lại đến gần hơn: Ngày chàng đón Ma-ri-a về cùng nhà với mình.

TRUYỆN NGẮN SONG NGỮ: 

MỘT LỄ GIÁNG SINH TUYỆT ĐẸP



Lúc đó là mùa Ðông năm 1864, một mùa Ðông thật lạnh tại Hiệp chủng quốc.

Cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc Hoa Kỳ đang ở vào thời kỳ ác liệt nhất. Những trận giao tranh giết hại hàng chục ngàn người và những tiểu bang nằm trong vùng trận địa đều chịu cảnh tàn phá đổ nát : nhà cửa bị cháy rụi, nông trại bỏ hoang, đàn bà con nít chạy trốn khỏi nơi lửa đạn, súc vật lang thang đói khát không người săn sóc...Thật là một mùa Ðông lạnh ở ngoài trời mà giá buốt cả trong lòng người.


Ngày xưa, có một em bé nhà rất nghèo khổ. Em sống với mẹ trong một túp lều chỉ vừa bằng chiếc chiếu. Không thể gọi chỗ đó là cái nhà hoặc túp lều, vì chỉ là bốn tấm thùng các-tông sờn rách quây lại thành bốn vách, gác qua mấy cây đà cong queo mà người mẹ nhặt được nơi này nơi khác, lợp bằng một tấm ni-lông cũ thủng lỗ chỗ. Tối lại, hai mẹ con co quắp ngủ trên mấy tấm ván nhỏ ghép lại với nhau kê trên mấy khúc cây, bên trên trải một chiếc chiếu cũ đã rách.

THIÊN TÌNH SỬ


“Ngôi lời đã trở nên người phàm và cắm lều giữa chúng ta” (Ga 1,14)



Ngày xửa ngày xưa, ở một nơi rất xa, xa đây lắm, có một vương quốc rộng lớn và giàu có tên là Sidarap, cai trị vương quốc là vua Irtap, với hàng ngàn kẻ hầu cận và vạn vạn thần dân. Nhà vua chỉ có một thái tử duy nhất là Useig nổi tiếng là khôn ngoan và đức độ.

Gần cung điện nhà vua cho xây dựng một khu vườn rất đẹp và đặt tên là Nede, hàng ngày vua ra dạo chơi tại khu vườn, trò chuyện với thần dân và coi họ là những người bạn thân thiết. Có một đôi vợ chồng có tên là Mada và Ave được nhà vua rất sủng ái, mỗi buổi chiều vua thường lui tới khu vườn để trò chuyện với họ, bắt tay họ và xem họ như con ruột của mình. Vua còn cung cấp cho họ mọi nhu cầu để sinh sống.

Cách đó không xa có đảo quốc Refne, cai trị đảo quốc này là Ehpixul nổi tiếng là hung ác, chính hắn ta trước đây từng là quan chức cấp cao trong triều vua Irtap của vương quốc Sidarap, do mưu đồ phản trắc, hắn đã cùng bè lũ Natas triệu tập binh mã chống lại đức vua Irtap, nhưng đã bị tể tướng Leahcim, là vị tướng tài giỏi và trung thành của vua đánh bại. Cuối cùng hắn và những kẻ theo hắn đã bị trục xuất khỏi vương quốc. Chúng đã hợp lại với nhau và lập ra một quốc gia đối nghịch với Sidarap, luôn tìm mọi cách để dụ dỗ những ai trung thành với vua Irtap.

HOÀNG LAN TỰ SỰ

Hình minh họa (Phim Phận Làm Dâu)


1. Con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đấy

Huy bị xe đụng, phải đi cấp cứu. Cả thời gian cấp cứu, phẫu thuật và hậu phẫu có đến cả tháng trời. Cả tháng anh hôn mê sâu, bất tỉnh nhân sự. Ăn, mặc, tắm, rửa, lau, chùi, giặt giũ, giường cứt chiếu đái cho anh, một mình tôi lo hết. Anh là con một, chỉ còn cha mẹ già, nên tôi nghiễm nhiên trở thành điều dưỡng riêng, một thứ ô sin không công cho anh. Được cái “yêu nhau trăm sự chẳng nề”, nên tôi “chẳng nề” chi hết. Nhất là một lần trong cơn mê sảng, anh quờ quạng cầm lấy tay tôi: “Hoàng Lan ơi! Anh nhớ em lắm, người yêu lý tưởng, người tình tuyệt vời của anh”. Một lần, phải, chỉ một lần ấy thôi, một câu nói thôi, từ trong vô thức của anh, đủ để tôi sẵn lòng hy sinh cả cuộc đời cho anh, chết cho anh còn được nữa kìa.

Từ ngày thằng Đức bỏ nhà ra đi, bà Tâm, mẹ nó cứ như người thất thần. Suốt ngày đi ra đi vào, lải nhải trong miệng cái gì không ai hay. Có khi đang ngồi trong nhà, bà ngó nghiêng ra ngoài rồi chạy ầm ra cổng cứ như đang mong ngóng chờ đón ai về. Ông Đông, bố thằng Đức, những ngày đầu hay gắt gỏng, nạt nộ bà nhưng sau cũng chán vì bà ngày nào cũng thế. Đôi lúc bực quá ông quát: “Bà điên rồi à! Ngồi một chỗ cho tôi nhờ. Mà tôi xin bà đừng có lải nhải nữa. Thằng Đức nó đi được thì nó về được. Cái thằng đó chỉ ba bảy hai mốt ngày thôi.”



Ấy thế mà từ ngày thằng Đức bỏ nhà ra đi cũng đã được gần một năm rồi. Đó cũng là khoảng thời gian mà gia đình nó bị xáo trộn nhiều nhất. Thứ thì mẹ nó trở nên điên điên khùng khùng suốt mấy tuần liền. Thứ thì bố nó phải chạy đôn chạy đáo để tìm nó, rồi công việc đồng áng nữa. Chưa kể mấy đứa em nó cũng hụt hẫng vì ông anh tự dưng bỏ bọn chúng mà đi không nói một lời. Thực ra lúc đầu, ông Đông bực nó thật. Ông không thèm đi tìm nó vì ông nghĩ thằng này chưa ra ngõ lần nào sao dám bỏ đi xa được, chắc nó quanh quẩn đâu đó mấy ngày thôi. Thế rồi một tuần, hai tuần trôi qua ông Đông vẫn không thấy nó về. Hỏi bạn bè nó thì không đứa nào biết. Lúc đó ông mới cuống cuồng đi tìm. Tìm mãi cũng chán, vả lại gia đình còn nhiều chuyện đang đổ trên đầu ông nữa. Thế là ông Đông mới tin rằng thằng Đức đã bỏ nhà ra đi thật. Tuy nhiên, trong mỗi giờ kinh tối gia đình, ông vẫn không quên cầu xin Chúa, Mẹ, thánh quan thầy Giuse giữ gìn nó.

2014 CHA VÀO ĐẤT


-"Sáu mươi năm rồi con ạ!" 
– "Dạ, đã sáu mươi năm."

Im lặng.

- "Ba mươi chín năm rồi Ba ạ!"
 – "Phải. Đã ba mươi chín năm."

- "Mỗi năm mình đều phải làm toán lại Ba à! Con làm toán cộng. Con vẫn không tin ở tài làm toán của mình. Bài toán rất đơn giản. Chỉ có cộng một vào con số có sẵn."
- "Phải. Đơn giản mà rất hóc búa."

Cha con tôi lại im lặng. Tôi biết trong khối óc còn rất tinh tường của ba tôi, những tháng năm xa xưa đang trở lại. Như một đoạn phim. Tôi ước gì người ta có thể sửa đổi như sửa đổi những đoạn phim hoặc những đoạn thu âm một cách dễ dàng. Xóa đi và làm lại. Kỹ thuật, chuyện nhỏ! Nhưng những đoạn phim đời của chúng ta, không thể làm gì được. Không xóa đi và làm lại. Mỗi năm tôi đều phải làm một con tính cộng. Ba cũng vậy.

Tôi thu dọn căn nhà lại cho Ba. Trong căn nhà này, Ba và Mẹ đã có nhau. Sau khi Mẹ mất, Ba không muốn dời đi đâu cả. Ba sống thoải mái một mình. Mỗi ngày chúng tôi đều thay nhau đến với Ba. Vậy là Ba đã cảm thấy đủ. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa ngăn nắp. Tôi chỉ việc hút bụi, và trang trí một chút cho vui. Ba còn dặn khi nào Ba quá lú lẫn rồi thì các con cứ gửi Ba vào “nursing home”. Chúng tôi nói chắc không bao giờ đâu, vì Ba luôn khỏe khoắn mà. Nói thế rồi tôi cũng nghĩ rằng cho dù Ba có thế nào, chúng tôi cũng sẽ săn sóc Ba tại nhà. Ở nhà, Ba sẽ luôn "có" Mẹ bên cạnh.

- "Ba! Cái tấm hình này..."
- "Chi đó?"
- "Tấm hình nhà mình chụp chung... lâu lắm rồi, Ba xem này, giấy hình đã ố vàng."
- "Đưa Ba xem. À phải, tấm hình chụp năm 1954, trước nhà mình ở Hà Nội. Sau đó… gia đình mình đã ra đi."
- "Dạ. Lúc nhà mình ra đi, con mới có sáu tuổi, nhưng tới bây giờ con vẫn nhớ."
- "Con giỏi lắm!"
- "Con nhớ lắm Ba à! Lúc xuống tàu, cảnh thật là hỗn độn. Ba Mẹ chỉ mang một ít vật dụng thật cần thiết, và vài món quý giá. Con giành mang cái túi đựng những vật quý giá đó, chỉ là hình ảnh của gia đình. Sau này con thấy quý thật, vì vàng bạc mình còn sắm lại được, còn hình ảnh thì không.”
- “Đúng đó con! Quý lắm!”

Hai cha con giở lại quyển album. Những kỷ niệm êm đềm ở quê cũ Hà Nội lần lượt hiện ra. Tôi dạo đó còn bé quá, chỉ là một cậu nhóc mới vào tiểu học. Trí óc non nớt của tôi còn lãng đãng những câu chuyện Ba Mẹ kể về trận đói năm Ất Dậu 1945. Họ hàng của tôi nhiều người đã chết trong trận đói ấy, lúc tôi chưa ra đời. Thế nên tôi chỉ nghĩ về chuyện ấy như một sự kiện lịch sử mà mình được học. Nhưng với Ba Mẹ thì khác. Đó là những gì họ phải chứng kiến, nên tôi biết trong lòng Ba Mẹ không bao giờ nguôi được những nỗi kinh hoàng.

“Con xem, tấm hình này, chụp lúc mình mới về định cư ở Đà Lạt. Ba Mẹ làm vườn để sinh sống, nuôi các con. Vất vả lắm! Nhưng mình đã có một thời bình an.”

Tôi nghe như thật sâu trong câu nói của Ba có một tiếng thở dài. Phải, nhà mình đã có một thời bình an. Khi đã quen với cuộc sống mới, có một mái nhà, Ba bắt đầu đi làm lại tại công sở. Mẹ tiếp tục công việc vườn tược. Trời thương nên rau trái tốt tươi, Mẹ thuê được người cùng làm vườn nên đỡ vất vả hơn. Ba anh em chúng tôi lớn lên.

Nhưng mỗi khi nhìn bé An, em gái út, chúng tôi không khỏi tội nghiệp cho em. Cái cảnh cả nhà chen chúc lên “chiếc tàu há mồm” tại cảng Hải Phòng chúng tôi nhớ rất rõ. Mẹ lúc đó còn mặc áo dài, nách em An một bên, tay kia dắt em Thành. Ba và tôi mỗi người một cái túi. Ba xách cái túi to đựng vật dụng cần thiết của cả nhà, tôi vác cái túi nhỏ vừa đủ đè oằn vai thằng bé sáu tuổi. Có một lúc dòng người như sóng cuộn xô đẩy vô tình, em An bị đám đông làm ngộp thở. Em khóc không thành tiếng. Cánh tay em bị nhiều người xô mạnh, em đau đớn gần ngất xỉu. Em mang tật nơi khuỷu tay từ dạo ấy. Em Thành và tôi cũng suýt bị chẹn ngộp thở. Và cuối cùng, chúng tôi cũng lên được trên tàu. “Chiếc tàu há mồm”, kỷ niệm sâu đậm trong đời của chúng tôi! 

(Ảnh minh họa cuộc di cư năm 1954)

Bài toán đơn giản mà rất hóc búa. Không phải chỉ có cộng một vào con số có sẵn. Mà đúng ra là phải lấy năm hiện tại trừ đi năm đó. Năm đó là gì? Là cái mốc thời gian ai cũng nhớ. Ba thì trừ với năm 1954. Tôi thì trừ với năm 1975. Tôi rùng mình. Cái ý nghĩ mình cứ làm toán trừ hay toán cộng mỗi năm như vậy thật đáng sợ. Tôi bây giờ không phải là cậu bé sáu tuổi hay chàng thanh niên trẻ trung lanh lợi, mà đã thành một người có tuổi, mái tóc điểm nhiều sợi bạc, và cũng đang nặng gánh gia đình. Tôi sẽ làm toán cộng như thế này mãi ư? Và để làm gì? Một công việc, tuy chỉ là một động tác nhỏ, nhưng sao nặng nề quá, và đủ sức làm đau nhói trái tim.

Hôm nay tôi đưa Ba ra bãi biển. Cả hai cha con không hiểu sao bỗng dưng cùng muốn ra biển. Ba nói sắp đến Lễ Phục Sinh. Mùa Phục Sinh năm đó trùng với những ngày cuối của Miền Nam. Tôi cũng nhớ rất rõ chuyện ấy. Lúc đó tôi không phải là cậu nhóc con, mà là một thanh niên. Vâng, một thanh niên đang khoác màu áo lính. Những đoạn đường chiến binh gian khổ tôi hầu như đã nếm trải. Bước chân tôi đã đi khắp mọi miền. Cho đến ngày mất Miền Nam, tôi theo bạn bè chạy về chốn địa đầu. Tôi đã trôi dạt ra xứ biển. Nơi đó, đất mũi Cà Mau, tôi ẩn thân rồi ra khơi trong một ngày đầu tháng Năm…

… Biển ở đây lạnh. Cha con tôi không thể tắm. Ba cùng tôi ngồi trên cát, không ai bảo ai điều gì, yên lặng ngó ra chân trời phía tây nam. Đôi mắt Ba bỗng như dâng lên một chút sóng.
- “Ba!”
- “Gì con?”
- “Có phải… Ba đang nhớ…?”
- “Ừ. Ba nhớ quá, Việt Nam!”
- “Con cũng vậy.”
- “Những ngày đó, con đi đâu mất tích. Còn Đà Lạt của mình cũng đã thua. Mọi người kéo nhau về Sàigòn. Lại làm dân di cư. Ba Mẹ tiếc vườn rau trái của mình quá! Yêu Đà Lạt như yêu Hà Nội xưa vậy. Cho nên sau đó lại trở về. Trở về để phải chịu những điều cay đắng.”

Phải, Ba Mẹ đã chịu cay đắng. Ba phải đi “tập trung cải tạo” mấy tháng vì là viên chức chính phủ, Mẹ ở nhà chịu cảnh “đánh tư sản mại bản” vì nhà có chút của cải do kinh doanh nông sản mà có. Lại trở về hai bàn tay trắng. Thằng con trai lớn đi biệt tăm. Hai đứa còn lại học hành lay lắt, chán chường…

Bỗng Ba đổi giọng hơi vui:
-“Nhưng Trời sắp đặt cả con ạ, rồi con cũng đã đem hết nhà mình qua đây. Mình không còn được sống trong đất nước của mình nữa, nhưng đã hưởng một đời tự do. Mẹ con cũng có một khoảng thời gian sung sướng trước khi lìa cha con mình. Ba nghĩ Ba không có gì để luyến tiếc cả.”
- “Ba!”
- “Phải. Thật sự thì Ba vẫn luôn mong có ngày Ba về lại quê nhà. Nhưng nơi chốn này cũng gắn bó lắm chứ! Con có nhớ câu hát của Nguyễn Đức Quang không? “Xin nhận nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương.” Đất nước này cũng đầy thương khó, nào thiên tai, nào khủng bố, nào xung đột màu da… Nhưng đây vẫn luôn là một đất nước đẹp xinh và hào hiệp, ai mà không yêu mến?”

Ba vùi đôi bàn chân trong cát ướt, nói nhẹ:
- “Cát êm quá con ạ! Thật là dễ chịu!”
- “Dạ.”
- “Ba cứ ao ước cuối đời sẽ về Việt Nam, để được chết ở đó. Nhưng ngày nào còn chế độ độc tài, ngày nào chưa có tự do, Ba sẽ không về.”
- “Ba, ngày đó sẽ tới.”
- “Nhưng lâu quá con ạ! Chắc hết đời Ba vẫn chưa thấy đâu cả. Mỗi năm lại phải làm bài toán cộng, Ba thấy mòn mỏi quá!”
- “Ba, Ba đừng nghĩ tới chuyện đó nữa đi Ba!”
- “Ừ, Ba sẽ không nghĩ tới nữa. Ba thật sự thương cái xứ này.”

Tôi kéo Ba đứng dậy. Tôi thấy mình bé lại, như thằng nhóc sáu tuổi ngày xưa. Hai cha con đi dọc theo bờ biển. Những con tàu nhấp nhô phía xa tít ngoài khơi. Tôi nghe Ba nói như reo:
“Trông kìa! Chiếc tàu há mồm!”

**

Căn nhà của Ba, mỗi lần tôi đến, tôi đều dọn dẹp lại một chút. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa cũng ngăn nắp lắm. Những ngày khác, các em tôi cũng làm như vậy. Rồi hai cha con cùng nấu ăn. Ba thích công việc ấy. Chẳng bù với thời gian xưa, lúc Ba làm công chức, về nhà Ba chỉ đọc báo, nghe radio, rồi dạy các con học. Bây giờ chúng tôi đã “già đầu”, bay nhảy tứ phương, Ba nói “Ba không còn chữ để dạy”…

Lần này tôi đến, cũng dọn dẹp căn nhà cho Ba. Tôi thừ người nhìn đồ đạc hơi bề bộn một chút. Chẳng là trong cái đêm đưa Ba đi cấp cứu, chúng tôi đã không kịp thu dọn. Đêm đó là phiên tôi ở lại với Ba. Cả ngày Ba vẫn khoẻ, tự nhiên đến đêm Ba làm mệt. Ba nói ngực của Ba đau lắm. Tôi gọi xe cứu thương rồi báo cho hai em. Vào bệnh viện, Ba mất. Trái tim của Ba không muốn đập nữa. Ba ra đi rất an lành.

Những ngày trước khi Ba đi, trong tháng Tư, tôi thường được anh em bạn mỗi lần họp mặt yêu cầu tôi hát bản “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của Phạm Duy. Họ biết hoàn cảnh của gia đình tôi cũng giống như thế. Khi tôi hát, tôi thấy cả nhà mình đang ngồi san sát với các di dân trên “chiếc tàu há mồm”, bỏ quê. Tôi thấy khu vườn rẫy của nhà tôi xanh tươi ngút ngàn ở Đà Lạt. Tôi thấy anh em chúng tôi vui đùa học tập bên nhau, Ba Mẹ tràn trề hạnh phúc. Rồi tôi thấy tôi âm thầm đi về xứ biển địa đầu, lên chiếc thuyền nhỏ dập dềnh ra đi… bỏ nước.

Lúc Ba ra đi cũng là mùa Phục Sinh. Khi đưa Ba đi vào đất, tôi nhìn ảnh Ba, chợt cứ nghe văng vẳng như Ba đang nói với tôi “Ba thật sự thương cái xứ này… Cát êm lắm, thật là dễ chịu…”

Tôi vào phòng ngủ. Tôi bỗng muốn nằm lên chiếc giường của Ba. Mai mốt căn nhà sẽ đóng cửa, rồi được trả lại cho “housing”. Tôi thấy mình như đứa trẻ thơ đi tìm chút hơi hướm của mẹ. Tôi vùi mặt vào chiếc gối của Ba. Ba cứ như còn nằm bên tôi, khi tôi là một cậu nhóc con. Ba kể chuyện đời xưa cho tôi nghe cho đến khi tôi không biết Ba đang nói gì nữa. Bỗng tôi ước muốn ôm lấy chiếc gối như là ôm lấy Ba. Khi tôi nhấc chiếc gối lên để ôm vào lòng, tôi thấy một tấm ảnh nơi chỗ của chiếc gối. Tấm ảnh Đà Lạt. Một Đà Lạt sạch sẽ, nên thơ, chan hòa nắng ban mai. Ba hẳn đã ngắm tấm ảnh Đà Lạt mỗi ngày, vui trong từng kỷ niệm và đau xót với cái ý tưởng quê hương đất đỏ đang quằn quại trong các dự án bauxite. Tôi siết chặt chiếc gối. Như là Ba với tôi cùng đang khóc.

Cam Li NGUYỄN THỊ MỸ THANH, 5.2014
Ephata 807

NGÀY LỄ BẠC

hình minh họa

Tôi chết được 25 năm rồi. Hôm nay tôi trở lại tảo mộ lần thứ hai. Tôi gọi là Ngày Lễ Bạc.

Sau khi chết được ba năm. Tôi tảo mộ lần thứ nhất. Lần đó tôi kể trong tập sách Cô Ðơn và Sự Tự Do, đoản khúc số 59. Ngày đó mộ tôi không có hoa. Không có ai đến mộ tôi cả. Tôi đứng đó hồi hộp suốt buổi chiều. Mây xuống thấp, xám một hoàng hôn. Rồi trời tắt nắng phía sau hàng cây. Tôi còn nhớ rõ hôm ấy trời không gió. Nghĩa trang im lìm. Sau ba năm tôi chết, vẫn còn ít người nhớ và cầu nguyện cho tôi. Nhưng không ai ra nhìn mộ tôi.

Tôi biết nếu trở lại vào năm sau thì cũng thế. Thản nhiên như một cánh chuồn chuồn đậu hờ hững trên một bờ giậu thưa nào đó. Không có gì hồi hộp nữa nên tôi không trở lại. Ðợi 25 năm sau. Một kỷ niệm đặc biệt hơn. Ngày Lễ Bạc.



Ting…Ting…Ting….

Nghe thấy tiếng báo tin nhắn, tiếng gọi âm thầm nhưng mãnh liệt trong thế giới riêng, Facebook, Hiếu thản nhiên để lại Thảo và đứa con nhỏ bên mâm cơm đang dang dở. Anh cầm chiếc Iphone sang giường nằm “chat” cùng bạn bè. Một lúc sau, anh cũng đi luôn mà Thảo không rõ anh đi đâu. Hai dòng nước mắt tuôn rơi đầy xót xa trên gương mặt thanh tú, Thảo nhớ lại những ngày tháng bên gia đình.

*** *** ***

Thảo sinh ra trong một gia đình đạo gốc, nhà có ba anh chị em, Thảo là con thứ hai. Gia đình Thảo cũng không phải là giàu có gì nhưng mọi người ai cũng biết yêu thương nhường nhịn nhau. Từ bé, Thảo được nuôi dưỡng trong một môi trường đạo đức, thánh thiện nơi giáo xứ thân yêu. Mọi người, ai ai cũng thân quen, tươi cười và gắn bó với nhau không chỉ vì tình anh em máu mủ, tình làng nghĩa xóm nhưng hơn cả là tình thương yêu nơi Đức Kitô. 
Thảo cứ thế được lớn lên bởi vòng tay yêu thương của cha mẹ, nhờ sự nâng đỡ dạy bảo của mọi người. Nhờ đó, cô mỗi ngày một ngoan ngoãn hơn, đạo đức hơn, siêng năng đi nhà thờ, đi lễ nhiều hơn. Chính môi trường thân thiện này đã uốn nắn và hình thành nơi cô những giá trị nhân cách cao đẹp. Được học hỏi giáo lý, được biết Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em, cô ngày càng cố gắng sống hiếu thảo với ông bà cha mẹ và làm sáng danh Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

Thấy quan tài... vài ngày lại cười hô hố...

Dụ Ngôn Trước Thềm Tháng Cầu Hồn


1. Anh nông dân chính hiệu, có đến mấy đời.

Về đàng cuộc sống, gia đình cũng thường thường bậc trung, không phải lo đói khổ- chạy ăn từng bữa, chẳng có điều kiện hưởng thụ phè phỡn. Anh nói thế là tốt, ‘biết đủ thế là đủ' ai đó đã nói thế.

Về đàng sống Đạo anh cũng làng nhàng, nóng chẳng nóng, lạnh chẳng lạnh. Ngày thường không thấy anh đi Lễ, nhưng ngày Chúa Nhật chẳng thấy anh bỏ Lễ. Kinh Tối chẳng khi nào đọc…

‘Giữ Đạo nhiều chi cho mệt… Đủ lên thiên đàng được rồi!’, Anh thường nói thế mỗi khi thấy ai- trong những ngày nông mùa nhàn rỗi, anh nhâm nhi, hay quần xà lỏn trần trục nằm võng xem ti vi vào giờ Lễ, dù là lễ Trọng- nhắc: ‘rảnh thế sao không đi Lễ’.
Được tạo bởi Blogger.