TM CN B Thường niên 33

…TRƯỚC NGÀY CÁNH CHUNG

(Suy niệm từ Mc 13, 24-32)


Chúa loan báo, cho hay, thời thế mạt:
Cả đất, trời chuyển biến lạ, bất thường.
Trong hoang mang, dân chúng chịu đau thương.
Họ sẽ thấy Con Người tái giáng thế.

***
Ngài sẽ đến trong vinh quang Vương Đế
Ngày cánh chung là ngày xét xử công minh
Những kẻ lành: sẽ nhận phúc trường sinh,
Còn kẻ dữ: đời đời trong hoả ngục.

CẦU XIN THIÊN THẦN BẢN MỆNH

Lễ các Thiên Thần hộ thủ (02/10)

Xuống làm vệ sĩ cho loài phàm nhân
Vâng lời Thiên Chúa phán truyền
Thiên Thần Bản Mệnh ngày đêm ân cần
Canh hồn giữ xác phàm nhân
Tai qua nạn khỏi, được luôn an bình
Xin ban thêm trí thông minh
Sáng suốt tuân hành Luật Chúa truyền ban

LINH ĐẠO ẤU THƠ  (Teresa Hài Đồng Giesu)


Đường nên Thánh ấu thơ nhỏ bé
Theses ngời ánh sáng tin yêu
Đơn sơ trong trắng mỹ miều
Dấn thân tận hiến vói nhiều đau thương

Hy sinh chi, tận tâm phục vụ
Qua hành trình khiêm hạ yêu thương
Việc làm nhỏ bé tầm thường
Thi hành ơn gọi tấm gương cho đời

THÁNH ĐA MINH

 thánh Đaminh Linh Mục


Thánh nhân lúc thuở nằm nôi
Bầy ong mật lượn quanh rồi đậu bên
Ngày rửa tội, ánh sao đêm
Sáng ngời ơn thánh ở trên trán Ngài.

Yêu đời khổ hạnh miệt mài
Mẹ thương hiện đến dạy ngài Mân Côi
Nhìn người đói khổ khắp nơi
Đồ dùng, sách quý bán thời xẻ chia.

THƠ MỪNG NGÀY TUYÊN THÁNH
117 VỊ TỬ ĐẠO TẠI VIỆT NAM (19/06/1988)



Tam thập niên ngày tuyên hiển thánh
Tử Đạo vì Người mang Danh Thánh GIÊSU
Anh hùng chẳng phải vì kiếm cung
Mà, bởi vì "tình" trong Thiên Chúa

Máu chảy, đầu rơi không hề oán thán
Thịt nát, xương tan không hờn giận thế nhân
Vua, quan hung bạo giận bầm gan
Vì những ai xưng mình là Kitô hữu

Nhưng, vua, quan nào biết: chữ tình trong ân sủng
Là “chữ trung” cho kẻ tin
Là “chữ dũng” cho kẻ hiền
Là “ chữ kiên” cho kẻ cậy

Trải qua ba trăm năm bị bách hại
Không phải một người, một lần
Mà mãi mãi ba trăm năm
Cứ hết người này, đến người khác

KỲ DIỆU - CUỘC ĐỜI THÁNH ANPHONGSÔ


(Kính tặng Cha Anphongsô Nguyễn Công Vinh, Linh mục quản xứ Vinh An nhân dịp lễ Bổn mạng 1/8)



An-phong (1) xán lạn tài ba

Thông minh lỗi lạc khác xa trong đời

Gia đình danh giá tuyệt vời (2)

Là con trai trưởng bảy người anh em

Nhân từ, đại độ, thanh liêm

Người đời mến mộ, chúc khen danh người

***

An-phong danh tiếng tuyệt vời

Hai bằng tiến sĩ đạo đời, luật khoa (3)

Tài năng hùng biện xông pha

Danh thơm hứa hẹn nở hoa thế trần …

Ý cao Thiên Chúa, vô ngần

Ngài cho thua kiện (4), dấn thân cho Ngài

VĂN TẾ BÀ THÁNH ĐÊ[1]






Danh: Lê Thị Thành
Anê: thánh hiệu
Anh hùng tử đạo
Đuốc sáng giáo dân !

Khải hoàn vang dội, cờ chiến thắng vượt chín tầng mây xanh,
Thiên tuế dập dìu, áo vinh quang thêu muôn giọt máu đỏ.


Nhớ linh xưa:
Tin Mừng gieo Cửa Bạng[2] cánh buồm bay lấp ló
Đạo Chúa tới Văn-No[3] mầm Tin bén mơn man.
Ánh Tình Yêu soi Đất Việt muôn ngàn;
Đường thập giá ủ vườn Nam vạn hạt.

Nhìn đồng lúa sóng rung rinh bát ngát;
Thấy hạt tâm linh nảy nở vô ngần.
Đây ơn Chúa Thánh Thần;
Đó phúc đời tiên tổ.

Sách ghi:
Quê cha làng Bái Điền, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa chào đời cuối Trịnh Sâm (1781)[4];
Đất mẹ xứ Phúc Nhạc, phủ Yên Khánh, trấn Ninh Bình quy tổ đầu Thiệu Trị (1841).
Công dung ngôn hạnh soi kỳ vĩ;
Dũng chí can trường sánh minh quân.


Lập gia đình: phu phụ thủy chung, một tổ ấm giản dị đơm xuân;
Xây hạnh phúc: cháu con ngoan ngoãn, sáu cành[5] non tươi xinh kết trái.
Hư danh bổng lộc, dạy con không thèm đoái;
Ảo mộng chức quyền, răn cháu chẳng đánh hơi.

Khuyên siêng đọc kinh, siêng học hành, xưng tội chớ ươn lười;
Dạy chăm đi lễ, chăm làm việc, lần hạt cần sốt sắng.
Gương bác ái, đức công bằng, sống tốt Đạo, tình làng không e dãi nắng;
Việc ma chay, tục cưới hỏi, tô đẹp đời, nghĩa xóm chẳng ngại dầm sương.

Út Lucia Nụ còn khắc cốt lời khuyên ắp yêu thương;
Con Anna Năm cũng ghi tâm lẽ sống đầy hoan hỷ.
Này công khó đáng hưởng vui phỉ chí;
Đó phúc ân còn tràn đổ đầy nhà.

Hỡi ơi (Phục Sinh 1841):


Tổng đốc Trịnh Quang Khanh khét tiếng “hùm xám tỉnh Nam”[6] kéo quân dữ tràn qua;
Bề tôi Lê Thị Thành lừng danh “chiên hồng Phúc Nhạc”[7] cho chủ lành ẩn trốn.
Giữa thời bách hại, không quản gian nan, mấy phen gìn giữ bốn thừa sai nguy khốn[8];
Trong lúc giam cầm, chẳng hề nao núng, nhiều cuộc tuyên xưng một Đạo Chúa bình an.

Vì lợi lộc, một kẻ sẵn sàng làm giáo gian;
Bởi ơn trời, đoàn người kiên quyết xưng Đạo thật.
Tôn thờ Chúa, làm sao chối Đấng tác sinh vạn vật;
Mến yêu người, chẳng lẽ quên hàng chăm sóc muôn dân ?!

Trước công đường, quan án sát truyền lệnh đánh bầm tím tay chân;
Trong ngục thất, nữ anh hùng sấp mình dâng thắm tươi hồn xác.
Đẫm áo quần máu me bê bết;
Đầy môi miệng lời khấn thiết tha.

Thấy mẹ cực hình, con gái khóc thương: mẹ hỡi…Suối lệ xót xa;
Nhìn trời hi vọng, mẫu thân an ủi: con ơi….Hoa hồng diễm phúc !
Tra xiềng xích, trăm lần khổ nhục;
Khảo gông cùm, vạn bước tàn hơi.

Thêm bệnh kiết, thoắt đến phút lìa đời;
Cạn sinh lực, liền vào nơi vĩnh cửu.
Khi tắt thở: thi hài thánh tỏa hương thơm tuyệt diệu
Lúc về Trời: Gương mặt hiền tươi sắc mến vô biên.

Gieo trong đau khổ, cây tình Chúa vươn tới mọi miền;
Gặt giữa vinh quang, hạt chứng nhân sáng lên muôn thuở.
Đây phép lạ: máu hồng- hoa nở !
Đó kỳ công: tình thắm- tỏa hương !


Trên ngai tòa Phêrô, năm Kỷ Dậu (1909) nên Chân Phước muôn phương;
Trước cửu trùng vĩnh Quốc, niên Mậu Thìn (1988) xứng Thánh Nhân vạn thuở.


Cúi đầu:

Đoàn con kính nhớ
Thánh Nữ cầu thay
Giúp hậu thế vững tin sống Đạo, vượt biển đời hăng say
Theo tiền nhân bền chí gieo Mầm về Thiên Quốc bất diệt !

Cứu gia đình vướng phong ba, hưởng thụ trào lưu xô tan tác;
Ngăn chồng vợ rơi bão tố, cá nhân chủ nghĩa xé tả tơi.
Đừng cho bấy tội tình ám ảnh muôn đời;
Chớ để bao lầm lỡ hoành hành truyền kiếp.

Vòng vây xiết chặt!
Tan rã phân ly!

Hỡi bao tổ ấm để phụng rẽ loan chia;
Ôi lắm gia đình lìa con nheo vợ nhóc.
Hãy soi gương bất khuất !
Mau lập phúc trường tồn !


Đình Chẩn, mừng khai mạc năm thánh, 30 năm tuyên thánh các thánh tử Đạo Việt Nam 19.06.2018


[1] Bà Đê: là cách gọi theo tục địa phương bấy giờ, gọi tên con trai cả.

[2] Cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ), tông đồ đầu tiên của Đàng Ngoài cập Cửa Bạng Thanh Hóa năm 1627.

[3] Theo truyền thống, Văn No hay Văn Nho là địa danh xứ Hảo Nho ngày nay theo cách gọi của cha Đắc Lộ.

[4] Bà Đê sinh năm Tân Sửu (1781) mất đúng năm Tân Sửu (1841), thọ 60 tuổi, hết một chu kỳ tính theo lịch âm.

[5] Hai con trai: Đê và Trân ; bốn con gái: Thu, Năm, Nhiên, Nụ.


[6] Tỉnh Nam Định có quan tổng đốc Trinh Quang Khánh khét tiếng trấn áp Đạo.

[7] Cô Nụ thấy mẹ máu me bê bết đã khóc lóc thảm thiết thì bà Đê đã an ủi con: Áo hoa hồng Chúa ban cho mẹ đấy con!


[8] Bốn cha: Berneux và Galy (người Pháp); cha Thành, cha Ngân.


GIUSE, GƯƠNG MẪU THÁNH GIA


Giuse gương mẫu tuyệt vời
Sống trong chiêm niệm, một đời thanh cao
Hòa mình cuộc sống cần lao
Thánh nhân hiểu được ân trao nhiệm mầu.

Người hiểu được, phúc từ đâu
Chính trong Thánh ý đêm thâu tỏ bày
Người cảm nhận phúc ân này
Vì luôn biết Chúa ở đầy cùng ta.

Cho dù gặp những phong ba
Quản chi khó nhọc nề hà, than van
Nỗi niềm hạnh phúc đầy tràn
Từ trong tâm tưởng muôn vàn hỉ hoan.

VỊ TIẾN SĨ KHIÊM NHƯỜNG

(Thánh Tôma Aquinô, Tomás de Aquino, Thomas Aquinas, Thomas d’Aquin, 1225–1274,
được mừng kính ngày 28/01 hàng năm)



Kính mừng Tiến Sĩ Tôma
Thông minh, uyên bác, khiêm nhu khác thường
Đơn sơ, trầm lặng, tài năng
Song toàn tài – đức nhưng không khoe mình

Chuyên cần cầu nguyện, hy sinh
Say mê Thập Giá, tôn vinh Chúa Trời
Quyết tâm yêu Chúa mà thôi
Cho dẫu người đời tìm cách cản ngăn



THIÊN SỨ BẢN MỆNH


Hai tháng mười hằng năm
Giáo hội mời cử hành
Nhớ thiên sứ bản mệnh
Trên trời họ chiêm ngưỡng

Nhan thánh Cha ngự trị
Dưới thế họ giám hộ
Trong từng người chúng ta
Thiên sứ đi bước trước

Soi dẫn đường trần gian
Cho ngươi khỏi lạc đường
Gìn giữ phúc bình an
Đón nhận điều trái khuấy

Không càm ràm trách than
Nên như của lễ lòng
Hiệp với hy tế Con

Dâng Cha lành trên trời
Mong Ngài thương cứu độ
Thần hộ thủ còn giúp
Chỉ lối về nhà Trời

Nơi Đức Chúa dọn sẵn
Nhạy bén hỏi ý Ngài
Hãy ý tứ vâng nghe
Làm điều Đức Chúa muốn

Thiên sứ ở cùng ngươi
Chống trả với ba thù
Hãy nên như trẻ nhỏ
Để dành được Nước Trời

Tự hạ không vinh vang
Nhớ Thiên Sứ bản mệnh
Ai ơi đừng lãng quên.

AA


THIÊN THẦN BẢN MỆNH


Cuộc đời lắm lúc chông gai
Đời tu được Chúa an bài mọi nơi
Thiên thần Bản Mệnh ai ơi!
Có ngài nhịp bước đường đời bình an

Dẫu cho muôn vạn gian nan
Ngài đi bên cạnh lo toan sá gì
Có Ngài chỉ hướng ta đi
Dù khi vấp ngã, dù khi an lòng

Sống trong hoan lạc cậy trông
Tin rằng Chúa đổ phúc hồng tình yêu
Giêsu, Chúa thật mĩ miều
Thương ban Thần sứ sớm chiều chăm lo
Đoàn con vui hưởng tự do
Bên ngài con hết âu lo – an bình.


Hoa Cỏ Dại



MỪNG ”Sinh Nhật MẸ” tâm nồng mến thương
DÂNG lên tâm ngát trầm hương
CHUỖI hồng Mẹ dạy mở đường tiến thăng
HOA tâm Mẹ ngát cung hằng
HỒNG Ân ban phát như trăng dịu hiền

MỪNG ”Sinh Nhật” đẹp hơn tiên
SINH trong ân sủng thoát miền tội nhơ
NHẬT này đẹp ánh hương thơ
MẸ cao sang qúa con mơ đến gần
THƠM danh đệ nhất hoàn trần
NỒNG hương trinh khiết sáng ngần dương gian
HƯƠNG thơm thần thánh thiên đàng
KINH cầu con hát rỡ ràng “Thánh Danh”



Lời Mẹ Teresa Calcutta..."Nếu có ngày tôi là Thánh, tôi sẽ là vị thánh của đêm đen, Tôi sẽ thường xuyên vắng mặt trên Thiên Đàng, để đi CHIẾU SÁNG cho những kẻ sống trong tối tăm dưới trần gian..."

Trăng huyền diệu, trăng tinh khôi
Trăng âu yếm, trăng rạng ngời yêu thương
Trăng tỏa sáng, trăng dị thường
Rọi soi từng cõi tơ vương nỗi sầu
Trăng ôm ấp trọn niềm đau
Trăng xóa hết mọi mảng màu tối tăm
Trăng dịu ngọt, trăng âm thầm
Tỏa lan rạng chiếu xa xăm cõi buồn
Trăng an ủi, trăng lệ tuôn
Trăng xoa dịu những tâm hồn xót xa
Mẹ Tiên-sa Cal-cut-ta.
Là TRĂNG HIỀN MẪU, nở hoa Thiên Đường.

Mừng mẹ vinh phúc tỏa hương
Mừng Mẹ Hiển Thánh, tình thương tuôn tràn
Thế Trần, Thiên Quốc hân hoan
Mẹ, TRĂNG HIỀN MẪU miên man Tình Trời…
Mẹ, trăng rực rỡ gương soi…

Dzuy sơn Tuyền



( Lễ kính Thánh Gioan Tiền Hô bị chém đầu : 29/8/16 )

*”Có tiếng hô nơi hoang địa: hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Ngài đi. Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm hãy san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.”
( Is.40: 3- 5 ; Mc.1: 3 ; Mt.3: 3 )

Một vũ điệu cuồng loạn,
Một dục vọng dâng trào,
Một phần thưởng được trao,
Một chiếc đầu trên đĩa.

Đó là cả ý nghĩa,
Cuộc đời đẹp biết bao,
Đấng Tiền Hô Gio-an,
Đã chứng minh vì Chúa.

Tiếng vang trong hoang địa:
Hãy dọn sẵn con đường,
Uốn cho thẳng khúc quanh,
San cho bằng đồi núi,

Để đón Đấng cứu độ,
Chính là Chúa Ki-tô,
Tôi sứ mạng tiền hô,
Được Ngài sai đi trước.



LỆ SẦU MONICA

(Thánh Monica thành Hippo, 333–387, lễ ngày 27-8)



Dù khó nguy nhưng không hề nao núng

Giữa bão giông vẫn một lòng tin yêu

Dù con tim đã đong đầy khổ sầu

Vì nghịch tử khiến lòng mẹ điên đảo



Nhưng ngời sáng gương người mẹ Công giáo

Cho mọi người soi vào và khắc ghi

Bao năm trường mắt đẫm lệ sầu bi

Nay trở thành hai viên ngọc ngời sáng



Tình nào cao qúy nhất đời
Ban trao mạng sống cứu người hy sinh
Như xưa Chúa hiến thân mình
Cứu nhân độ thế chứng minh Ngôi Lời

Maxilian Kolbe
Tấm gương cao quý tuyệt vời! dường bao
Linh mục tuyệt hảo năm nào
Hy sinh mạng sống xin vào chết thay
Cho người trung sỹ nơi này *
Trại giam Auschwitz dưới tay cai tù
Tấm gương sáng mãi thiên thu
Bước chân theo Đấng Giêsu nhân lành.



Kính mừng bổn mạng bà và mẹ.

*** 




     Trần duyên một thuở, ngoại tin yêu

Sáng sáng trưa trưa một tín điều

Phụ nữ cam lòng! Chung một dạ

Đàn bà thủ phận! Sống vì yêu

Trời cao tỏa sáng, ngàn ơn sáng

Đất thấp đăm chiêu, mấy vạn chiều

Ngoại hỡi! Thiên niên ngàn kẻ đợi

Từ lòng ngoại có Mẹ Tình Yêu



Kính mừng bổn mạng cha







                                                  Chén đắng Thầy trao con uống không?

                                                  Vinh quang cuộc sống ở đồi hồng

                                                  Ba đào sóng vỗ, bồng bềnh vỗ

                                                  Tứ trụ thuyền dong, lặng lẽ dong.



Á thánh Anrê Phú Yên, bổn mạng giáo lý viên Việt Nam, được mừng bổn mạng vào 26/7 hàng năm

TRƯỜNG CA : THẦY GIẢNG ANRÊ PHÚ YÊN


Giáo lý viên Việt Nam thế kỷ 17

và là người Việt Nam đầu tiên

đổ máu công khai vì tin Đức Kitô



Lm. Phêrô Võ Tá Khánh

Thi hiệu Trăng Thập Tự

Viết theo cuốn

NGƯỜI CHỨNG THỨ NHẤT

của Phạm Đình Khiêm

Tinh Việt 1959
Được tạo bởi Blogger.