Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi-Hào-Dante-Alighieri. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi-Hào-Dante-Alighieri. Hiển thị tất cả bài đăng

24/11/2021

22/11/2021

Đôi nét về thân thế và sự nghiệp đại thi hào Dante Alighieri-Tác giả Đình Chẩn

Đôi nét về thân thế và sự nghiệp đại thi hào Dante Alighieri-Tác giả Đình Chẩn



Năm nay, kỷ niệm 700 năm ngày giỗ Dante Alighieri (1265-1321), một trong những đại thi hào bất hủ của nhân loại, ngang hàng với Homer của Hi Lạp, Shakespeare của nước Anh hay Goethe của Đức[1]. Đối với người Ý, Dante Alighieri (Đăng Thế An[2]) không chỉ là Nhà Thơ Tối Cao (Sommo Poeta) của kiệt tác Thần Khúc, một thi phẩm được coi như “Kinh Thánh” thời Trung Cổ, mà ông còn là cha đẻ ngôn ngữ của họ. Trong thế giới Công giáo, Dante thậm chí còn chiếm vị trí độc nhất vô nhị. Ba tài liệu sau đây cũng đủ cho thấy điều đó:

- Đức Giáo hoàng Biển Đức XV, Thông điệp Trên Đỉnh Hào Quang[3] (In Praeclara Summorum) dịp kỷ niệm 600 năm ngày mất Dante, công bố ngày 30.04.1921.

- Đức Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tự sắc Ca Khúc Tuyệt Đỉnh (Altissimi Cantus), dịp kỉ niệm 700 năm sinh nhật đại thi hào Dante Alighieri, 07.12.1965.

- Và Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông thư Vẻ huy hoàng của ánh sáng vĩnh cửu[4] (Candor lucis aeternae) dịp giỗ 700 năm đại thi hào Dante Alighieri, công bố ngày 25.03.2021.

Dante là ai mà được các Đấng kế vị Thánh Phêrô hết lời ca ngợi như thế ?! Chẳng phải ông từng có những lời xúc phạm Đức Giáo hoàng thời ông trong Thần Khúc-Địa Ngục đó sao ?!

Câu hỏi thật đơn giản nhưng không dễ trả lời. Xin phép được lan man một chút. Khi còn theo học tiếng Ý ở trung tâm Dante-Hà Nội, chúng tôi (người viết) từng nghe nói về Dante. Nhưng khi ấy, chúng tôi nghĩ ông cũng như một trong vô số nhà thơ nào đấy thôi ! Thậm chí thời gian đầu qua Roma tu học, chúng tôi cũng không quan tâm Dante là ai. Nhưng sau những năm tháng được hít thở bầu khí văn hoá Ý, được nghe nhiều người nói về Thần Khúc, nhất là từ các Đấng Chủ chăn Giáo hội, chúng tôi mới say mê tìm hiểu Thần Khúc.

Theo cảm nhận chủ quan ban đầu, có thể nói nôm na, nếu người Việt có văn hoá “bói Kiều, lẩy Kiều” thì người Ý cũng có văn hoá “lẩy Thần Khúc, trích Thần Khúc”. Nếu một số người Việt có thể đọc thuộc lòng 3254 câu thơ Truyện Kiều thì không ít người Ý còn đáng nể hơn khi đọc thuộc lòng cả Thần Khúc với 14233 câu thơ khổ ba dòng (terzina). Điều đó làm chúng tôi hết sức kinh ngạc bởi một kiệt tác đồ sộ như thế, bao quát mọi chủ đề từ đáy cùng Địa Ngục đến chót đỉnh Thiên Đàng, thâu tóm mọi lãnh vực từ cổ chí kim, cách xa chúng ta 7 thế kỷ, đọc hiểu đã khó nói gì đến chuyện thuộc lòng ?! Nhưng sự thật là hồn thơ Dante vẫn sống mãi và không ngừng truyền cảm hứng cho đủ mọi loại hình nghệ thuật. Chỉ tính riêng phim ảnh, từ năm 1900 đến 1949, có 36 bộ phim lấy cảm hứng từ các nhân vật và từ tác phẩm Thần khúc. Giai đoạn 1950-2000 có 17 phim[5].

Sau đây, chúng tôi xin mạo muội phác hoạ đôi nét sơ khởi về thân thế và sự nghiệp đại thi hào Dante và trích một vài đoạn lời các Đức Giáo hoàng để tạm trả lời cho câu hỏi nêu trên. Các bài sau, chúng tôi sẽ giới thiệu bản dịch hai văn bản còn lại đã nêu và giới thiệu chi tiết hơn về Thần Khúc. 
 1. Đôi nét thân thế thi hào Dante

Dante Alighieri (tên rửa tội là Durante Alighieri) sinh khoảng giữa tháng 5-6 năm 1265 tại Firenze và mất đêm ngày 13 rạng ngày 14 tháng 09 năm 1321 tại Ravenna, nước Ý. Xuất thân trong một gia đình thuộc quí tộc nhỏ, nhưng tuổi thơ của ông sớm phải chịu cảnh mồ côi mẹ khi chưa đầy 10 tuổi và mồ côi cha khi còn tuổi vị thành niên.

Năm 1274, khi mới 9 tuổi, lần đầu tiên Dante được gặp nàng thơ Thiện Bích (Beatrice) và trái tim chàng thiếu niên ấy đã bị “tiếng sét ái tình” bắt cóc để viết lên những áng thơ bất hủ trong tác phẩm Cuộc Đời Mới (Vita Nuova) và nhất là kiệt tác Thần Khúc (Divina Commedia).

Năm 1277, khi Dante 12 tuổi, ông được hứa hôn với Gemma di Manetto Donati. Tám năm sau, hai người chính thức kết hôn với nhau và sinh được 3 người con: Pietro, Jacopo và Antonia. Cô gái út sau này trở thành một nữ tu, lấy tên sơ Thiện Bích (Beatrice), trùng với tên của nàng Thiện Bích mà Dante đã gặp hồi trẻ.

Về bối cảnh chính trị, trước khi nước Ý thống nhất (1861), các vùng ở nước Ý tồn tại độc lập như các tiểu quốc, chẳng hạn ở xung quanh Firenze có Bologna, Genova hay Venezia…vv. Các cuộc xung độ giữa các tiểu quốc, chủ yếu xảy ra giữa hai phe: Phe Ghibellini muốn dựa vào sự ủng hộ của Hoàng đế Đức để thống nhất đất nước, trong khi phe Guelfi lại muốn cậy dựa vào Đức Giáo hoàng.



(Bản đồ các vùng nước Ý)

Năm 1289, xung đột xảy ra giữa phe Guelfi của Firenze và phe Ghibellini ở Arezzo và Pisa. Dante thuộc phe Guelfi, tham gia và trận đánh Campaldino và bao vây lâu đài Caprona. Khi ấy, phe Guelfi thắng thế, nhưng rồi phe này lại chia rẽ thành: phe Guelfi Đen và phe Guelfi Trắng. Phe Đen tiếp tục muốn liên minh với Đức Giáo hoàng, trong khi phe Trắng (phe Dante) lại muốn Firenze được tự chủ.

Năm 1300, sau thời gian gia nhập hội bác sĩ và dược sĩ, ông được bổ nhiệm vào hội đồng thị chính Firenze với chức viện trưởng (Priore) viện thẩm phán. Đó là vai trò quan tòa cao nhất trong việc bảo vệ quyền hành pháp của chính phủ. Trên thực tế, ông cùng với 5 thẩm phán khác phải đưa ra quyết định khó khăn là xét xử những thủ lĩnh hung dữ nhất của hai phe.

Dante cũng là một trong ba đại sứ được cử đến Roma để thuyết phục Đức Giáo hoàng Boniface VIII không can thiệp vào Firenze. Tuy nhiên, tháng 11 năm 1301, trong khi ông đi sứ thì phe Guelfi Đen ở nhà đã đánh chiếm Firenze. Tháng 1 năm 1302, Dante bị phe đối lập vu cáo tội biển thủ công quỹ. Ông bị đình chỉ công vụ, bị xét xử và kết án lưu đày và buộc phải trả một khoản tiền phạt lớn. Chính vì lý do này mà Dante cay cú cho rằng Đức Giáo hoàng thông đồng với phe Đen và ông đã kết Ngài trong Địa Ngục.

Vì sao Dante được các Đức Giáo hoàng hết lời ca ngợi ?

Một số người lầm tưởng Dante là người nổi loạn chống đối Giáo hội, thậm chí coi ông là lạc giáo. Tuy nhiên, Đức Thánh Giáo hoàng Phaolô VI khẳng định:

“Giáo hội không ngại nhắc lại rằng chính Dante đã từng cất cao tiếng nói và đã khẳng khái chống lại một số vị Giáo hoàng Roma. Ông cũng đã cay đắng khiển trách các cơ chế của Giáo hội, và các thừa tác viên đại diện Giáo hội. Chúng tôi không che đậy điều này, vì đó là một khía cạnh trong tác phẩm của ông, một phần trong tâm tính khí phách của ông (...). Ta cần lưu ý tới niềm đam mê nghệ thuật và chính trị của ông để có thể hiểu rằng vai trò quan tòa và người sửa dạy, đặc biệt là trước những lỗi lầm đáng chê trách, buộc ông phải lên tiếng. Thế nhưng những thái độ quyết liệt ấy không hề làm suy yếu đức tin Công giáo của ông cũng như lòng yêu mến ông dành cho Giáo hội”[6].

Dante và Thánh Giáo hoàng Phaolô VI

Đó là những lời thẳng thắn, chân thành và Ngài nói tiếp: “Xin phép được nhắc lại: Dante Alighieri là của chúng ta. Chúng tôi khẳng định điều đó không phải là để tự tôn mình với lòng tham vọng hãnh tiến đua theo những danh dự ích kỷ. Đúng hơn, chúng tôi muốn nhắc nhở chính mình về bổn phận phải thừa nhận như thế, phải truy tìm trong tác phẩm của ông những kho tàng vô giá về tư tưởng và cảm nghiệm Kitô giáo. Chúng tôi tin tưởng rằng chỉ có ai biết chìm lắng thật sâu trong tâm hồn sùng đạo của thi sĩ tuyệt đỉnh này mới có thể hiểu được sâu sắc và nếm hưởng được kho tàng tâm linh tuyệt diệu ẩn giấu trong thi phẩm”[7].

“Mười năm gió bụi” với những nỗi niềm cay đắng có thể nói là cái giá mà thi hào Dante phải trả để cho ra đời Thần Khúc. Đó là những tháng ngày lang thang ở Verona (từ năm 1303), ở Treviso (1305-06), ở Lunigiana (1306). Năm 1319, Dante nhận được lời mời đến Ravenna và được cử đến thành Venezia vào năm 1321, với tư cách là đại sứ. Nhưng khi trở về, Dante bị nhiễm bệnh sốt rét. Ông qua đời ở tuổi 56 tại Ravenna, vào đêm 13 và sáng 14 tháng 9 năm 1321, nơi ông còn an nghỉ cho đến ngày nay.



Lăng mộ thi hào Dante ở Ravenna

2. Sự nghiệp sáng tác

Năm 1290, nàng Thiện Bích qua đời khi Dante mới 25 tuổi. Đó là cú sốc tâm linh làm thay đổi cuộc đời ông. Người ta nói kể từ đó không thấy ông cười nữa. Ông chú tâm vào việc nghiên cứu triết học, thần học và chìm đắm vào đời sống tôn giáo. Bộ óc thiên tài Dante ngay từ nhỏ đã được tiếp nhận nền giáo dục phổ thông dựa trên bảy nghệ thuật (ngữ pháp, hùng biện, biện chứng; số học, hình học, âm nhạc, thiên văn học). Đồng thời, ông được trau dồi tiếng Latinh, tiếng Provence, tiếp cận các nhà thơ Latinh, đặc biệt là thi hào Vinh Dự Lưu (Virgilio), người mà ông coi là “Minh Sư” của mình. Nhưng trên hết, ông được thấm nhuần những trang Kinh Thánh, những tư tưởng triết học, thần học nhờ các trường Dòng Phanxicô và Dòng Đa Minh đương thời.

Thánh Giáo hoàng Phaolô VI nhận định: “Chắc chắn thi phẩm của Dante Alighieri có giá trị phổ quát: với sự dàn trải mênh mông, thơ của ông ôm trọn cả cả trời và đất, cả vĩnh cửu và thời gian, cả những mầu nhiệm của Thiên Chúa và những sự kiện của con người, cả những giáo lý thánh thiêng và những quy luật thế tục, cả khoa học khơi nguồn trong Mạc Khải thánh và khoa học kín múc từ ánh sáng lí trí, cả bao nhiêu kinh nghiệm mà ông đã trực tiếp kinh qua cộng với những ký ức về lịch sử, những thời đại mà ông sống, và cả nền văn minh Hilạp Lamã cổ đại. Có thể nói rằng ông là tượng đài vĩ đại nhất đại diện cho thời Trung Cổ”[8].


Ngoài kiệt tác Thần Khúc, Dante còn để lại cả chục tác phẩm giá trị khác: 1) Bông Hoa (Fiore); 2) Lời tình yêu (Detto d’Amore); 3) Các vần điệu (Le rime); 4) Cuộc Đời mới (Vita Nova); 5) Bữa Tiệc (Convivio); 6) Hùng Biện Bằng Phương Ngữ (De vulgari eloquentia); 7) Về Vương Quốc (De Monarchia); 8) Thần Khúc (Divina Commedia); 9) Các Thư tín và Thư XIII gửi Cangrande della Scala; 10) Thơ ngắn (Egloghe); 11) Vấn đề Nước và Đất (Quaestio de aqua et terra).

Ở bài này, chúng tôi chưa thể đề cập chi tiết về Thần Khúc. Xin sơ qua về 3 tác phẩm sau đây.

a. Tác phẩm “Cuộc Đời Mới”

Tác phẩm được viết năm 1292, hai năm sau khi nàng Thiện Bích qua đời, được sắp xếp có hệ thống, kể về một tình yêu lý tưởng của Đăng Thế An đối với nàng Thiện Bích. Đó là cuốn tiểu thuyết tự truyện đầu tiên của nền văn học Ý. Tác phẩm bao gồm 25 bài thơ ngắn (sonetti), 4 khúc, một đoạn tự do và những trang văn xuôi đan xen nhịp nhàng.

Tuy hơi nghèo về các sự kiện nhưng Cuộc Đời Mới lại phong phú về biến chuyển nội tâm. Những chuyển động này vượt trên cái nhìn của tình yêu thông thường hướng tới một quan niệm lý tưởng theo Kitô giáo, tiệm cận giữa chiêm niệm và thị kiến thần bí. Tình yêu của Đăng Thế An với nàng Thiện Bích được lý tưởng hoá mang một tầm vóc vũ trụ. Có thể nói Thiện Bích vừa là nàng lại không phải là nàng. Đăng Thế An nhìn thấy ở người con gái phàm trần này một ý tưởng thánh thần được thể hiện trong những con số. Từ đó, ông suy đến mầu nhiệm tình yêu Ba Ngôi: “Như vậy, nếu số ba là nhân tố sinh ra số chín, thì nhân tố này cũng là những điều kỳ diệu của số ba – tức là Ba ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Vừa là ba, vừa là một. Do đó, cô nương gắn liền với số 9. Điều đó có nghĩa là nàng là số chín, nghĩa là một điều kỳ diệu, mà nguồn gốc của điều kỳ diệu này chỉ có ở Ba Ngôi”[9]

b. Tác phẩm “Bữa Tiệc”

Tác phẩm được viết bằng phương ngữ, trong khoảng năm 1304-1307, những năm đầu cuộc lưu đày. Tác phẩm tựa như một bách khoa thư về những kiến ​​thức quan trọng nhất dành cho những ai hoạt động công ích. Ba luận điểm chính: trật tự các tầng trời, bản chất của triết học và bản chất của sự cao quí, theo nghĩa, không phải do nguồn gốc quí tộc nhưng do sự vượt trội về đạo đức và trí tuệ.

Tâm điểm lý tưởng của tác phẩm không còn là nàng Thiện Bích nhưng là “cô nương tử tế” vốn đã xuất hiện ở phần cuối tác phẩm Cuộc Đời Mới sau khi nàng Thiện Bích qua đời. Đó là hình ảnh phúng dụ về Triết học. Đăng Thế An ca ngợi sự khôn ngoan triết học như một “cô nương tử tế” là điểm tới căn bản trong hành trình phiêu lưu thi vị của Thần Khúc về Vĩnh Cửu. Ông nói chính xác rằng sự vĩnh cửu đó sẽ đến sau hành trình cuộc đời trần thế “chúng ta có sự chắc chắn từ giáo lý không thể sai lầm của Chúa Kitô, đó là Đường, Sự thật và Ánh sáng: Con đường, bởi vì qua đó, chúng ta đạt đến hạnh phúc vĩnh cửu mà không gặp trở ngại; Sự thật, bởi vì nó không có bất kỳ sai lỗi nào; Ánh sáng, vì nó soi sáng chúng ta trong bóng tối mê muội trần gian”[10].

c. Tác phẩm “Vương Quốc”

Tác phẩm được viết sau khi vua Henry VII băng hà (1313). Đây là chuyên luận về chính trị, được chia thành ba quyển. Trong phần đầu, Dante khẳng định sự cần thiết của một đế chế phổ quát và tự trị, đồng thời công nhận đế chế này là hình thức nhà nước duy nhất có khả năng đảm bảo sự thống nhất và hòa bình. Thứ hai, nó công nhận luật pháp đế chế về phía người La Mã. Trong cuốn thứ ba, Dante chứng minh rằng uy quyền của quốc vương là thiên mệnh, và do đó phụ thuộc vào Thiên Chúa: nó không phụ thuộc vào thẩm quyền của Đức giáo hoàng; Tuy nhiên, hoàng đế phải thể hiện sự tôn trọng đối với Đức Giáo hoàng, vị Đại diện của Chúa Giêsu trên trần gian.

Đức Giáo hoàng Biển Đức XV nhận định: “Mặc dù ông tin rằng phẩm giá của Hoàng đế trực tiếp đến từ Chúa, tuy nhiên ông tuyên bố rằng “sự thật này không được hiểu một cách chặt chẽ đến mức Hoàng tử La Mã không tuân phục một số trường hợp đối với Giáo hoàng La Mã, vì hạnh phúc trần thế theo một cách nào đó là thứ yếu trước hạnh phúc vĩnh cửu”[11]. Đó là nguyên tắc thực sự xuất sắc khôn ngoan, nếu được tuân thủ một cách trung thành, thậm chí thời nay, nó sẽ mang lại nhiều hoa trái thịnh vượng cho các Quốc gia”[12].

Tạm kết



Đến đây có lẽ quí độc giả cũng nhận thấy, bài viết tuy đã dài nhưng mới chỉ dừng lại ở một vài thông tin sơ khởi. Còn rất nhiều điều để nói về tư tưởng Dante nhất là về Thần Khúc. Chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết hơn trong những bài sau. Xin được tạm kết với lời Đức Thánh Cha Phanxicô nhân dịp giỗ 700 năm thi hào Dante Alighieri: “Thời điểm lịch sử đặc biệt này đánh dấu bởi nhiều bóng tối, bởi những tình huống làm suy giảm nhân loại, bởi thiếu sự tự tin và triển vọng cho tương lai. Hình bóng của Dante, nhà tiên tri của hy vọng và nhân chứng của khát vọng hạnh phúc cho con người, vẫn có thể cho chúng ta những lời nói và tấm gương tạo động lực cho cuộc hành trình của chúng ta”[13].


Đình Chẩn


[2] Để cho câu thơ có vần điệu, dễ đọc, chúng tôi lựa chọn hướng Việt hoá tên thi hào Dante cũng như tên các nhân vật trong Thần Khúc. Đăng Thế An: ngọn đèn soi cho nhân thế bình an.
[3] Được công bố trên https://www.vanthoconggiao.net
[6] Tự sắc nói trên, số 10.
[7] Như trên, số 12.
[8] Đức Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tự sắc Ca Khúc Tuyệt Đỉnh (Altissimi Cantus), dịp kỉ niệm 700 năm sinh nhật đại thi hào Dante Alighieri, 07.12.1965, số 17.
[9] Cuộc Đời Mới, chương XXIX.
[10] Bữa Tiệc (Convivio), II, 9.
[11] Vương Quốc, III, 16.
[12] Thông điệp Trên Đỉnh Hào Quang đã dẫn.

01/11/2021

Thần Khúc- Địa Ngục-Thi hào Dante Alighieri- Ca khúc IX-Đình Chẩn biên dịch

Thần Khúc- Địa Ngục-Thi hào Dante Alighieri- Ca khúc IX-Đình Chẩn biên dịch

Thi hào Đăng Thế An (Dante Alighieri)

Ca Khúc IX: Ngục Lạc Giáo



Thiên sứ xuất hiện cứu giúp thầy trò Dante

Đình Chẩn biên dịch

Ca khúc này tiếp nối kịch tính tiến vào thành Địch Tể, vừa mang ý nghĩa ẩn dụ, vừa hiện thực. Nó cũng không kết thúc với một cảnh, nhưng mở ra một phong cảnh khác mới mẻ cho ca khúc sau.

04/04/2021

Tông thư: Vẻ huy hoàng của Ánh sáng Vĩnh cửu của ĐTC Phanxicô nhân dịp giỗ 700 năm thi hào Dante Alighieri

Tông thư: Vẻ huy hoàng của Ánh sáng Vĩnh cửu của ĐTC Phanxicô nhân dịp giỗ 700 năm thi hào Dante Alighieri

 

TÔNG THƯ

VẺ HUY HOÀNG CỦA ÁNH SÁNG VĨNH CỬU

(CANDOR LUCIS AETERNAE)

CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

DỊP GIỖ 700 NĂM

THI HÀO DANTE ALIGHIERI

 


Vẻ huy hoàng của Ánh Sáng vĩnh cửu, Ngôi Lời Thiên Chúa, đã mặc lấy xác phàm trong lòng Đức Trinh Nữ Maria khi Mẹ thưa “Xin Vâng” như lời sứ thần truyền (x. Lc 1,38). Ngày  phụng vụ cử hành Mầu nhiệm khôn tả này cũng là ngày hết sức ý nghĩa đối với biến cố mang tính lịch sử và văn học của thi hào tuyệt đỉnh Dante Alighieri. Ông là vị ngôn sứ của niềm hi vọng và chứng nhân ​​của niềm khát khao bẩm sinh vô hạn trong lòng con người. Vì vậy, nhân dịp này, tôi cũng ước mong hòa mình vào dàn hợp xướng đông đảo những người muốn tôn vinh tưởng nhớ dịp 700 năm ông qua đời.