Chiếc ghế cuối nhà thờ…


Mình còn nhớ trước ngày chịu chức linh mục, cha linh hướng của mình dạy rằng, “sau khi con chịu chức, con đừng quên chiếc ghế phía cuối nhà thờ mà thỉnh thoảng con vẫn ngồi… hãy quay lại ngồi vào chiếc ghế đó một vài lần trong tháng trước giờ lễ.” Mãi về sau mình mới hiểu sự sâu sắc của lời khuyên đó.

Sau ngày chịu chức, các linh mục của Chúa được ngồi trên cung thánh, mọi người đều hướng về linh mục, và người linh mục trở thành trọng tâm của tất cả sự chú ý. Vị trí ngồi trên cung thánh nói lên vai trò của người linh mục, là người mục tử dẫn dắt cộng đoàn, cử hành phụng vụ dâng lên Chúa.

Tuy nhiên, đó cũng là vị trí ẩn đầy cám dỗ và nguy hiểm. Một khi ngồi ở vị trí trên cùng, người ta dễ xa cách người khác vì vị trí cao trọng của mình, đôi khi người ta làm mọi sự để bám lấy vị trí đó, và nghĩ rằng ở bất cứ nơi đâu mình cũng phải được ngồi trên cùng, phải được chú ý, phải là người quan trọng nhất.

2014 CHA VÀO ĐẤT


-"Sáu mươi năm rồi con ạ!" 
– "Dạ, đã sáu mươi năm."

Im lặng.

- "Ba mươi chín năm rồi Ba ạ!"
 – "Phải. Đã ba mươi chín năm."

- "Mỗi năm mình đều phải làm toán lại Ba à! Con làm toán cộng. Con vẫn không tin ở tài làm toán của mình. Bài toán rất đơn giản. Chỉ có cộng một vào con số có sẵn."
- "Phải. Đơn giản mà rất hóc búa."

Cha con tôi lại im lặng. Tôi biết trong khối óc còn rất tinh tường của ba tôi, những tháng năm xa xưa đang trở lại. Như một đoạn phim. Tôi ước gì người ta có thể sửa đổi như sửa đổi những đoạn phim hoặc những đoạn thu âm một cách dễ dàng. Xóa đi và làm lại. Kỹ thuật, chuyện nhỏ! Nhưng những đoạn phim đời của chúng ta, không thể làm gì được. Không xóa đi và làm lại. Mỗi năm tôi đều phải làm một con tính cộng. Ba cũng vậy.

Tôi thu dọn căn nhà lại cho Ba. Trong căn nhà này, Ba và Mẹ đã có nhau. Sau khi Mẹ mất, Ba không muốn dời đi đâu cả. Ba sống thoải mái một mình. Mỗi ngày chúng tôi đều thay nhau đến với Ba. Vậy là Ba đã cảm thấy đủ. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa ngăn nắp. Tôi chỉ việc hút bụi, và trang trí một chút cho vui. Ba còn dặn khi nào Ba quá lú lẫn rồi thì các con cứ gửi Ba vào “nursing home”. Chúng tôi nói chắc không bao giờ đâu, vì Ba luôn khỏe khoắn mà. Nói thế rồi tôi cũng nghĩ rằng cho dù Ba có thế nào, chúng tôi cũng sẽ săn sóc Ba tại nhà. Ở nhà, Ba sẽ luôn "có" Mẹ bên cạnh.

- "Ba! Cái tấm hình này..."
- "Chi đó?"
- "Tấm hình nhà mình chụp chung... lâu lắm rồi, Ba xem này, giấy hình đã ố vàng."
- "Đưa Ba xem. À phải, tấm hình chụp năm 1954, trước nhà mình ở Hà Nội. Sau đó… gia đình mình đã ra đi."
- "Dạ. Lúc nhà mình ra đi, con mới có sáu tuổi, nhưng tới bây giờ con vẫn nhớ."
- "Con giỏi lắm!"
- "Con nhớ lắm Ba à! Lúc xuống tàu, cảnh thật là hỗn độn. Ba Mẹ chỉ mang một ít vật dụng thật cần thiết, và vài món quý giá. Con giành mang cái túi đựng những vật quý giá đó, chỉ là hình ảnh của gia đình. Sau này con thấy quý thật, vì vàng bạc mình còn sắm lại được, còn hình ảnh thì không.”
- “Đúng đó con! Quý lắm!”

Hai cha con giở lại quyển album. Những kỷ niệm êm đềm ở quê cũ Hà Nội lần lượt hiện ra. Tôi dạo đó còn bé quá, chỉ là một cậu nhóc mới vào tiểu học. Trí óc non nớt của tôi còn lãng đãng những câu chuyện Ba Mẹ kể về trận đói năm Ất Dậu 1945. Họ hàng của tôi nhiều người đã chết trong trận đói ấy, lúc tôi chưa ra đời. Thế nên tôi chỉ nghĩ về chuyện ấy như một sự kiện lịch sử mà mình được học. Nhưng với Ba Mẹ thì khác. Đó là những gì họ phải chứng kiến, nên tôi biết trong lòng Ba Mẹ không bao giờ nguôi được những nỗi kinh hoàng.

“Con xem, tấm hình này, chụp lúc mình mới về định cư ở Đà Lạt. Ba Mẹ làm vườn để sinh sống, nuôi các con. Vất vả lắm! Nhưng mình đã có một thời bình an.”

Tôi nghe như thật sâu trong câu nói của Ba có một tiếng thở dài. Phải, nhà mình đã có một thời bình an. Khi đã quen với cuộc sống mới, có một mái nhà, Ba bắt đầu đi làm lại tại công sở. Mẹ tiếp tục công việc vườn tược. Trời thương nên rau trái tốt tươi, Mẹ thuê được người cùng làm vườn nên đỡ vất vả hơn. Ba anh em chúng tôi lớn lên.

Nhưng mỗi khi nhìn bé An, em gái út, chúng tôi không khỏi tội nghiệp cho em. Cái cảnh cả nhà chen chúc lên “chiếc tàu há mồm” tại cảng Hải Phòng chúng tôi nhớ rất rõ. Mẹ lúc đó còn mặc áo dài, nách em An một bên, tay kia dắt em Thành. Ba và tôi mỗi người một cái túi. Ba xách cái túi to đựng vật dụng cần thiết của cả nhà, tôi vác cái túi nhỏ vừa đủ đè oằn vai thằng bé sáu tuổi. Có một lúc dòng người như sóng cuộn xô đẩy vô tình, em An bị đám đông làm ngộp thở. Em khóc không thành tiếng. Cánh tay em bị nhiều người xô mạnh, em đau đớn gần ngất xỉu. Em mang tật nơi khuỷu tay từ dạo ấy. Em Thành và tôi cũng suýt bị chẹn ngộp thở. Và cuối cùng, chúng tôi cũng lên được trên tàu. “Chiếc tàu há mồm”, kỷ niệm sâu đậm trong đời của chúng tôi! 

(Ảnh minh họa cuộc di cư năm 1954)

Bài toán đơn giản mà rất hóc búa. Không phải chỉ có cộng một vào con số có sẵn. Mà đúng ra là phải lấy năm hiện tại trừ đi năm đó. Năm đó là gì? Là cái mốc thời gian ai cũng nhớ. Ba thì trừ với năm 1954. Tôi thì trừ với năm 1975. Tôi rùng mình. Cái ý nghĩ mình cứ làm toán trừ hay toán cộng mỗi năm như vậy thật đáng sợ. Tôi bây giờ không phải là cậu bé sáu tuổi hay chàng thanh niên trẻ trung lanh lợi, mà đã thành một người có tuổi, mái tóc điểm nhiều sợi bạc, và cũng đang nặng gánh gia đình. Tôi sẽ làm toán cộng như thế này mãi ư? Và để làm gì? Một công việc, tuy chỉ là một động tác nhỏ, nhưng sao nặng nề quá, và đủ sức làm đau nhói trái tim.

Hôm nay tôi đưa Ba ra bãi biển. Cả hai cha con không hiểu sao bỗng dưng cùng muốn ra biển. Ba nói sắp đến Lễ Phục Sinh. Mùa Phục Sinh năm đó trùng với những ngày cuối của Miền Nam. Tôi cũng nhớ rất rõ chuyện ấy. Lúc đó tôi không phải là cậu nhóc con, mà là một thanh niên. Vâng, một thanh niên đang khoác màu áo lính. Những đoạn đường chiến binh gian khổ tôi hầu như đã nếm trải. Bước chân tôi đã đi khắp mọi miền. Cho đến ngày mất Miền Nam, tôi theo bạn bè chạy về chốn địa đầu. Tôi đã trôi dạt ra xứ biển. Nơi đó, đất mũi Cà Mau, tôi ẩn thân rồi ra khơi trong một ngày đầu tháng Năm…

… Biển ở đây lạnh. Cha con tôi không thể tắm. Ba cùng tôi ngồi trên cát, không ai bảo ai điều gì, yên lặng ngó ra chân trời phía tây nam. Đôi mắt Ba bỗng như dâng lên một chút sóng.
- “Ba!”
- “Gì con?”
- “Có phải… Ba đang nhớ…?”
- “Ừ. Ba nhớ quá, Việt Nam!”
- “Con cũng vậy.”
- “Những ngày đó, con đi đâu mất tích. Còn Đà Lạt của mình cũng đã thua. Mọi người kéo nhau về Sàigòn. Lại làm dân di cư. Ba Mẹ tiếc vườn rau trái của mình quá! Yêu Đà Lạt như yêu Hà Nội xưa vậy. Cho nên sau đó lại trở về. Trở về để phải chịu những điều cay đắng.”

Phải, Ba Mẹ đã chịu cay đắng. Ba phải đi “tập trung cải tạo” mấy tháng vì là viên chức chính phủ, Mẹ ở nhà chịu cảnh “đánh tư sản mại bản” vì nhà có chút của cải do kinh doanh nông sản mà có. Lại trở về hai bàn tay trắng. Thằng con trai lớn đi biệt tăm. Hai đứa còn lại học hành lay lắt, chán chường…

Bỗng Ba đổi giọng hơi vui:
-“Nhưng Trời sắp đặt cả con ạ, rồi con cũng đã đem hết nhà mình qua đây. Mình không còn được sống trong đất nước của mình nữa, nhưng đã hưởng một đời tự do. Mẹ con cũng có một khoảng thời gian sung sướng trước khi lìa cha con mình. Ba nghĩ Ba không có gì để luyến tiếc cả.”
- “Ba!”
- “Phải. Thật sự thì Ba vẫn luôn mong có ngày Ba về lại quê nhà. Nhưng nơi chốn này cũng gắn bó lắm chứ! Con có nhớ câu hát của Nguyễn Đức Quang không? “Xin nhận nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương.” Đất nước này cũng đầy thương khó, nào thiên tai, nào khủng bố, nào xung đột màu da… Nhưng đây vẫn luôn là một đất nước đẹp xinh và hào hiệp, ai mà không yêu mến?”

Ba vùi đôi bàn chân trong cát ướt, nói nhẹ:
- “Cát êm quá con ạ! Thật là dễ chịu!”
- “Dạ.”
- “Ba cứ ao ước cuối đời sẽ về Việt Nam, để được chết ở đó. Nhưng ngày nào còn chế độ độc tài, ngày nào chưa có tự do, Ba sẽ không về.”
- “Ba, ngày đó sẽ tới.”
- “Nhưng lâu quá con ạ! Chắc hết đời Ba vẫn chưa thấy đâu cả. Mỗi năm lại phải làm bài toán cộng, Ba thấy mòn mỏi quá!”
- “Ba, Ba đừng nghĩ tới chuyện đó nữa đi Ba!”
- “Ừ, Ba sẽ không nghĩ tới nữa. Ba thật sự thương cái xứ này.”

Tôi kéo Ba đứng dậy. Tôi thấy mình bé lại, như thằng nhóc sáu tuổi ngày xưa. Hai cha con đi dọc theo bờ biển. Những con tàu nhấp nhô phía xa tít ngoài khơi. Tôi nghe Ba nói như reo:
“Trông kìa! Chiếc tàu há mồm!”

**

Căn nhà của Ba, mỗi lần tôi đến, tôi đều dọn dẹp lại một chút. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa cũng ngăn nắp lắm. Những ngày khác, các em tôi cũng làm như vậy. Rồi hai cha con cùng nấu ăn. Ba thích công việc ấy. Chẳng bù với thời gian xưa, lúc Ba làm công chức, về nhà Ba chỉ đọc báo, nghe radio, rồi dạy các con học. Bây giờ chúng tôi đã “già đầu”, bay nhảy tứ phương, Ba nói “Ba không còn chữ để dạy”…

Lần này tôi đến, cũng dọn dẹp căn nhà cho Ba. Tôi thừ người nhìn đồ đạc hơi bề bộn một chút. Chẳng là trong cái đêm đưa Ba đi cấp cứu, chúng tôi đã không kịp thu dọn. Đêm đó là phiên tôi ở lại với Ba. Cả ngày Ba vẫn khoẻ, tự nhiên đến đêm Ba làm mệt. Ba nói ngực của Ba đau lắm. Tôi gọi xe cứu thương rồi báo cho hai em. Vào bệnh viện, Ba mất. Trái tim của Ba không muốn đập nữa. Ba ra đi rất an lành.

Những ngày trước khi Ba đi, trong tháng Tư, tôi thường được anh em bạn mỗi lần họp mặt yêu cầu tôi hát bản “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của Phạm Duy. Họ biết hoàn cảnh của gia đình tôi cũng giống như thế. Khi tôi hát, tôi thấy cả nhà mình đang ngồi san sát với các di dân trên “chiếc tàu há mồm”, bỏ quê. Tôi thấy khu vườn rẫy của nhà tôi xanh tươi ngút ngàn ở Đà Lạt. Tôi thấy anh em chúng tôi vui đùa học tập bên nhau, Ba Mẹ tràn trề hạnh phúc. Rồi tôi thấy tôi âm thầm đi về xứ biển địa đầu, lên chiếc thuyền nhỏ dập dềnh ra đi… bỏ nước.

Lúc Ba ra đi cũng là mùa Phục Sinh. Khi đưa Ba đi vào đất, tôi nhìn ảnh Ba, chợt cứ nghe văng vẳng như Ba đang nói với tôi “Ba thật sự thương cái xứ này… Cát êm lắm, thật là dễ chịu…”

Tôi vào phòng ngủ. Tôi bỗng muốn nằm lên chiếc giường của Ba. Mai mốt căn nhà sẽ đóng cửa, rồi được trả lại cho “housing”. Tôi thấy mình như đứa trẻ thơ đi tìm chút hơi hướm của mẹ. Tôi vùi mặt vào chiếc gối của Ba. Ba cứ như còn nằm bên tôi, khi tôi là một cậu nhóc con. Ba kể chuyện đời xưa cho tôi nghe cho đến khi tôi không biết Ba đang nói gì nữa. Bỗng tôi ước muốn ôm lấy chiếc gối như là ôm lấy Ba. Khi tôi nhấc chiếc gối lên để ôm vào lòng, tôi thấy một tấm ảnh nơi chỗ của chiếc gối. Tấm ảnh Đà Lạt. Một Đà Lạt sạch sẽ, nên thơ, chan hòa nắng ban mai. Ba hẳn đã ngắm tấm ảnh Đà Lạt mỗi ngày, vui trong từng kỷ niệm và đau xót với cái ý tưởng quê hương đất đỏ đang quằn quại trong các dự án bauxite. Tôi siết chặt chiếc gối. Như là Ba với tôi cùng đang khóc.

Cam Li NGUYỄN THỊ MỸ THANH, 5.2014
Ephata 807

TIẾNG ĐÀN MANG NGỌN LỬA TRÁI TIM

hình minh họa

- Thủy ơi, nhà anh bị cúp điện, trống vắng quá, anh đến nhà Thủy chơi đàn được không?
Đó là cú phone của anh Nghĩa, người bạn khiếm thị cụt một bàn tay mà tôi đã kể trong CHUYỆN NGƯỜI MÙ DẮT NGƯỜI MÙ, tôi trả lời phone:
- Được chứ , em sẵn sàng nghe anh đàn, có người chơi đàn miễn phí cho mình càng vui chứ sao!

Một lát sau, anh đã đến nhà tôi với một cây đàn guitar trên vai. Tôi ngồi nghe anh đàn trong lòng rất cảm động, tiếng đàn của anh còn thô sơ lắm. Tôi chẳng biết gì về nghệ thuật chơi đàn mà vẫn nhận ra được những lỗi nhạc trong tiếng đàn của anh, nhưng tôi thấy trong đó là cả một sự cố gắng vượt bậc. Anh nói:

NGÀY LỄ BẠC

hình minh họa

Tôi chết được 25 năm rồi. Hôm nay tôi trở lại tảo mộ lần thứ hai. Tôi gọi là Ngày Lễ Bạc.

Sau khi chết được ba năm. Tôi tảo mộ lần thứ nhất. Lần đó tôi kể trong tập sách Cô Ðơn và Sự Tự Do, đoản khúc số 59. Ngày đó mộ tôi không có hoa. Không có ai đến mộ tôi cả. Tôi đứng đó hồi hộp suốt buổi chiều. Mây xuống thấp, xám một hoàng hôn. Rồi trời tắt nắng phía sau hàng cây. Tôi còn nhớ rõ hôm ấy trời không gió. Nghĩa trang im lìm. Sau ba năm tôi chết, vẫn còn ít người nhớ và cầu nguyện cho tôi. Nhưng không ai ra nhìn mộ tôi.

Tôi biết nếu trở lại vào năm sau thì cũng thế. Thản nhiên như một cánh chuồn chuồn đậu hờ hững trên một bờ giậu thưa nào đó. Không có gì hồi hộp nữa nên tôi không trở lại. Ðợi 25 năm sau. Một kỷ niệm đặc biệt hơn. Ngày Lễ Bạc.


Một câu chuyện cổ lưu truyền trong vùng Volga

Khi cầu nguyện đừng lặp đi lặp lại như người ngoại, vì họ tưởng cầu nhiều lời sẽ được nhậm. Vậy, đừng bắt chước họ, vì Cha biết các con cần gì trước khi các con cầu xin.
(Mt 6: 7,8)

Một giám mục đi từ Archangel đến tu viện Solovétsk. Trên tàu, ngoài giám mục còn có nhiều người hành hương. Thời tiết tốt, chuyến đi thuận buồm xuôi gió. Những người hành hương tụ tập trên boong tàu ăn uống và tán gẫu. Giám mục cũng lên boong; khi đang đếm bước, ông nhận thấy một nhúm người tú tụm chỗ gần mũi tàu, chăm chú nghe một ngư dân vừa chỉ tay ra biển vừa kể chuyện. Giám mục dừng lại, nhìn theo hướng người đàn ông đang chỉ, nhưng chẳng thấy gì ngoài những làn nước lấp lánh dưới ánh mặt trời. Ông đến gần, lắng nghe; nhưng khi người đàn ông nhìn thấy giám mục thì vội cất mũ chào rồi im lặng. Những người khác cũng cất mũ cúi chào.

‘Đừng bận tâm, các bạn’, vị giám mục cất tiếng trấn an, ‘tôi đến để nghe chuyện mà thôi.’

‘Ông ấy đang kể cho chúng con nghe về những ẩn sĩ.’ một người đáp lời, đó là một thương nhân, anh dạn dĩ hơn những người còn lại.



Ting…Ting…Ting….

Nghe thấy tiếng báo tin nhắn, tiếng gọi âm thầm nhưng mãnh liệt trong thế giới riêng, Facebook, Hiếu thản nhiên để lại Thảo và đứa con nhỏ bên mâm cơm đang dang dở. Anh cầm chiếc Iphone sang giường nằm “chat” cùng bạn bè. Một lúc sau, anh cũng đi luôn mà Thảo không rõ anh đi đâu. Hai dòng nước mắt tuôn rơi đầy xót xa trên gương mặt thanh tú, Thảo nhớ lại những ngày tháng bên gia đình.

*** *** ***

Thảo sinh ra trong một gia đình đạo gốc, nhà có ba anh chị em, Thảo là con thứ hai. Gia đình Thảo cũng không phải là giàu có gì nhưng mọi người ai cũng biết yêu thương nhường nhịn nhau. Từ bé, Thảo được nuôi dưỡng trong một môi trường đạo đức, thánh thiện nơi giáo xứ thân yêu. Mọi người, ai ai cũng thân quen, tươi cười và gắn bó với nhau không chỉ vì tình anh em máu mủ, tình làng nghĩa xóm nhưng hơn cả là tình thương yêu nơi Đức Kitô. 
Thảo cứ thế được lớn lên bởi vòng tay yêu thương của cha mẹ, nhờ sự nâng đỡ dạy bảo của mọi người. Nhờ đó, cô mỗi ngày một ngoan ngoãn hơn, đạo đức hơn, siêng năng đi nhà thờ, đi lễ nhiều hơn. Chính môi trường thân thiện này đã uốn nắn và hình thành nơi cô những giá trị nhân cách cao đẹp. Được học hỏi giáo lý, được biết Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em, cô ngày càng cố gắng sống hiếu thảo với ông bà cha mẹ và làm sáng danh Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

Thấy quan tài... vài ngày lại cười hô hố...

Dụ Ngôn Trước Thềm Tháng Cầu Hồn


1. Anh nông dân chính hiệu, có đến mấy đời.

Về đàng cuộc sống, gia đình cũng thường thường bậc trung, không phải lo đói khổ- chạy ăn từng bữa, chẳng có điều kiện hưởng thụ phè phỡn. Anh nói thế là tốt, ‘biết đủ thế là đủ' ai đó đã nói thế.

Về đàng sống Đạo anh cũng làng nhàng, nóng chẳng nóng, lạnh chẳng lạnh. Ngày thường không thấy anh đi Lễ, nhưng ngày Chúa Nhật chẳng thấy anh bỏ Lễ. Kinh Tối chẳng khi nào đọc…

‘Giữ Đạo nhiều chi cho mệt… Đủ lên thiên đàng được rồi!’, Anh thường nói thế mỗi khi thấy ai- trong những ngày nông mùa nhàn rỗi, anh nhâm nhi, hay quần xà lỏn trần trục nằm võng xem ti vi vào giờ Lễ, dù là lễ Trọng- nhắc: ‘rảnh thế sao không đi Lễ’.



Chiếc xe con đổ đầu đường, An ngờ ngợ… Làng quê đây rồi, cây phượng vĩ trơ xương vẫn đó, An còn nhớ chếch sang 45 độ đối diện là căn nhà gỗ lợp tôn của cô Trơn… Không phải, một ngôi nhà lầu khang trang, cổng phủ giàn hoa giấy đỏ rực. Thế này thì lạ quá! Trời xế trưa, nắng tháng giêng ngay ngắt, vắng vẻ. Cũng chẳng thấy đám trẻ con xúm xít chỉ trỏ mỗi lần thấy chiếc xe hơi sang trọng chạy vào làng…

Một ông già chống gậy bán vé số bên vệ đường, ho lụ khụ, An bước lại thăm hỏi. Ông già đưa sập số còn khá dầy định mời, nhưng khi ngước lên nhìn An thụt tay lại, lắc đầu không biết, vội quay mặt dải bước nhanh. Cái dáng hơi cà thọt, ngón tay cái trái cụt một đốt, quen quen… Ơ, lẽ nào lại !…

Không thể!... Không thể!...

SƠ  VÂN

Hình minh họa: Sr Claret, từ ngôi sao truyền hình trở thành nữ tu

“Mày mà đi tu, tao thề tao sẽ cọc trọc đầu mày.” Đó là những lời cảnh cáo hay đúng hơn là những lời đe doạ mà mẹ Vân dành cho em mỗi khi em kể chuyện về các sơ đang phục vụ trên nhà thờ.

Kể cũng lạ, từ ngày bắt gặp và nói chuyện với hai sơ mới về phục vụ tại giáo xứ, tâm trí Vân lúc nào cũng nghĩ đến các sơ. Đến nỗi ngay cả những lúc tham dự thánh lễ, Vân cũng không sao cầm lòng cầm trí được, vì mắt bận hướng về các sơ. Không biết có phải vì chiếc áo dòng trắng tinh hay sự hiền lành, phúc hậu của các sơ đã hớp hồn Vân hay không. Cũng từ lúc đó em nung nấu ý định đi tu để trở thành một nữ tu. Và Vân mang ý định đó vào trong cuộc sống hằng ngày. Em không môi son, má phấn như các bạn cùng trang lứa. Em cũng không mốt này mốt nọ như cô bạn hàng xóm. Em giản dị, đơn sơ. Em nhỏ nhẹ, khiêm tốn.

CON MUỖI

Thân tặng quý Anh Chị trong Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình.
Ghi nhớ mười năm thành lập phong trào 1987-1997


Lần này tôi sẽ viết một bức thư lâm ly để lại cho vợ, rồi đi! Tôi đang giận vợ tôi ghê lắm, vừa bắt đầu thảo lá thư thì con muỗi vo ve bay đến. Cái tật ấy của nàng đã bao lần “chích’’ tôi cũng giống như con muỗi đang vo ve rình mồi kia. Không được đâu, tôi sẽ đập một cái cho nó chết !

Hà! Hà! Con muỗi kia, mày đến vo ve phá rối vào lúc tao đang viết “tuyệt mệnh thư’’ hả. Tao sẽ thanh toán mày ! Tôi chuẩn bị tiêu diệt kẻ thù thì nghe tiếng nó than thở. “Hôm nay đói quá, đói thế này thì chết mất”. A! Thì ra con muỗi biết nói! Thú vị quá, tôi cúi nhìn se sẽ. Cái bụng nó xẹp lép, trong như giấy bóng kiếng. Nó đứng run run. Tội nghiệp hết sức vậy đó. “ Hôm nay bị xua đuổi quá, hu... hu... Chúa ơi... hu... hu...” A! Thì ra con muỗi đang khóc, nó lại biết kêu cả Chúa ơi nữa. Ai mà không trắc ẩn trước tiếng khóc thê lương như thế, nhất là những người có tâm hồn nghệ sĩ như tôi! 

Tôi liền nhẹ nhàng đưa cánh tay ra. Nó sáng mắt lên khi ngửi thấy da thịt tôi. Như tôi thèm một tô phở thơm hơi vào lúc đói. Rung đôi cánh, nhẹ một đường bay êm như thiên thần, con muỗi đáp xuống bãi đậu. “Xin Chúa cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày.’’ À, thì ra con muỗi đọc kinh trước bữa ăn. Con muỗi này lạ quá. Một tí xíu nữa là tôi gọi nàng đến mà xem rồi. Nhưng chợt nhớ ra là tôi đang viết tuyệt thư để lại cho vợ. Tôi lại thôi, hừ, đây cũng là cách tôi trả thù nàng, không cho nàng biết con muỗi kỳ lạ thế này trên cõi đời. Một mình tôi với con muỗi thôi!


Em thân mến,

Tôi cảm động và ngững mộ khi nghe công việc em đang làm. Là người nữ mới 17 tuổi, em tình nguyện tham gia nhóm Bảo Vệ Sự Sống tại Giáo Phận Vinh. Cùng với các anh chị lớn, em thu gom các thai nhi từ bệnh viện hoặc những trung tâm phá thai về chôn cất.

Công việc ấy không dễ chút nào. Nó đòi hỏi nơi em tình yêu dành cho những em nhỏ xấu số không được mở mắt chào đời. Ngoài ra, việc thu gom xác thai nhi ấy cũng tốn nhiều thời gian, nhất là khi em đang còn đi học. Bởi đó nhiều lần người thân và bạn bè khuyên em không nên tiếp tục. Tình yêu đã thúc đẩy em dấn thân đến nhặt từng xác thai nhi đưa về nơi an nghỉ cuối cùng.

Em chia sẻ nhóm thường đi thu gom xác vào chiều tối. Có ngày nhóm gom được 20 đến 30 xác tại một bệnh viện. Mỗi người nhận một số xác để lau chùi và cất giữ các thai nhi trong tủ lạnh. Thường cuối tuần nhóm sẽ di chuyển thi hài ấy đến nghĩa trang dành cho các thai nhi. Nơi đây, số ngôi mộ của các thai nhi đã lên tới con số mấy ngàn. Cứ thế, công việc của em ngày này qua tháng nọ thật âm thầm và ý nghĩa.

BỜ VAI ẤY!


– Anh!… Em mệt!
– Mệt làm sao?
– Em mỏi rã rời tay chân.
– Ngủ đi em! Ngủ một lúc cho đỡ mệt!

Nàng ngoan ngoãn ghé nhẹ đầu vào vai anh, rồi… khép hờ đôi mắt. Mấy sợi tóc lòa xòa vương trên trán, như đám mây nhỏ lãng du trước vầng trăng nõn nà. Khuôn trăng đầy trắng mịn. Cánh mũi khẽ phập phồng hơi thở. Bờ môi hồng xinh xắn khép hờ. Hương thơm nhè nhẹ phảng phất đâu đây…

Tựa đầu bên bờ vai anh, nàng nghe được nhịp đập rộn ràng yêu thương từ trái tim anh. Nàng cảm nhận được hơi ấm nồng nàn phủ kín người nàng. Nàng nhận được vòng tay trìu mến, những ngón tay thuôn dài đan quyện lấy tay nàng. Tự đáy sâu tâm hồn nàng dâng lên một cảm xúc lâng lâng dạt dào. Dạt dào như sóng biển ngoài kia… Nàng an tâm thiêm thiếp ngủ.


1- Quà tặng của Chúa

Anh là ca trưởng, lại là tay sô lô không thể thay thế. Còn tôi song ca với anh thì không ai chê được. Đến nỗi mùa Chay năm ấy, khi hát bài Giọt Lệ Sầu: “Lạy Chúa! Bao năm lưu lạc, nay con trở về…”, có lần cha xứ đã phải thốt lên:

– Mình đang cho rước lễ, chúng nó hát làm mình nổi da gà.

Thế rồi, người nói ra, kẻ nói vào, lại thêm “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, chúng tôi yêu nhau. Và như mơ ước của mọi đôi tình nhân trên cõi đời này, chúng tôi cưới nhau. Trước bàn thờ, khi trao nhau chiếc nhẫn cưới, tôi đã tạ ơn Chúa ban tặng anh, món quà quý báu nhất trần gian, cho tôi.

Cuối Tuần Vụn Vặt Suy Tư:


1. Khu Lương dân có người mới qua đời.

Và theo truyền thống tốt đẹp, cha xứ ban hành giáo, cụ thể ban Loan báo Tin mừng sẽ đến nhà hiếu chia buồn, cúng phiếu, xin thắp nén nhang và cầu nguyện cho người quá cố sớm hưởng cõi phúc vĩnh hằng.

Một người đàn bà nhỏ thó, khắc khổ chừng 60 tuổi có hơn, mặc áo xô… ra tiếp. Chị là con gái người quá cố và cho biết Bà cụ thọ 81 tuổi.


Khi đến trước linh cữu, tớ… sững người một chút: Di ảnh đặt trên quan tài trẻ măng, trông đài các, đẹp (nếu không biết trước người quá cố là Bà cụ 81 tuổi, chắc sẽ lầm một thiếu phụ trẻ đang nằm an nghỉ trong quan tài).

CHA HIỆP


30 năm trước tôi đến gặp Cha để xin theo đạo. Người hỏi: Vì sao con lại muốn trở thành người Công giáo? Tôi thành thật: ”Người yêu con là người Công giáo và con sẽ cưới cô ấy!”

Không như nhiều linh mục khác không mấy thiện cảm với những người theo đạo cưới vợ. Ngài hiền hoà nhìn tôi và nói: “Ai gõ sẽ mở, ai tìm sẽ thấy!” Ngài mời tôi vào phòng và suốt buổi chiều hôm ấy tôi và Ngài đàm đạo về Kinh Thánh, về thơ văn. Tôi khâm phục sự uyên bác của Ngài. Ngài cũng quý mến tình yêu nồng nhiệt của tôi dành cho Thiên Chúa!

CHÚA ĐÃ GỌI TÔI SAU ĐUÔI MỘT ĐÀN BÒ


Tôi nhớ khoảng năm 1990 khi tôi về Quy Nhơn để dự lễ phong chức cho một người bạn, bây giờ người đó là Giám Mục Quy Nhơn, Đức Cha Mátthêô Nguyễn Văn Khôi, cha Gioan Phêrô Võ Tá Khánh đã làm một bài phỏng vấn được ghi băng để tặng cho cha mới.

Cha Võ Tá Khánh hỏi tôi: "Cha Đông làm Linh Mục bao nhiêu năm rồi? Cha có bao giờ hối hận vì cha đã làm Linh Mục không?"
Tôi đã trả lời: "Tôi chưa bao giờ hối hận vì tôi đã là Linh Mục của Chúa Giêsu, nhưng tôi có hối hận một điều là tôi đã làm Linh Mục chưa xứng đáng."

Có một lần tôi về Buôn Ma Thuột dự lễ mừng 25 năm Linh Mục của cha Augustinô Hoàng Đức Toàn. Đầu Thánh Lễ, ngài chia sẻ một câu mà tôi rất tâm đắc: "Hôm nay con dâng lễ tạ ơn Chúa vì Chúa đã kêu gọi con làm Linh Mục được 25 năm, và con cũng xin tạ tội với Chúa vì những thiếu sót của đời con trong 25 năm làm Linh Mục."

Tôi cũng thế, tôi luôn luôn cảm ơn Chúa vì Chúa đã thương cho tôi làm Linh Mục của Ngài. Khi tôi chịu chức Sáu thì lớp tôi (lớp học ở Dòng Phanxicô) chỉ có một mình tôi làm Linh Mục, có một người bạn của tôi tới dự lễ, nói với tôi: "Lớp mình chỉ còn có một mình mày, thôi mày ráng mày tu chớ mày ra nữa là không còn đứa nào..."

Tôi không đồng ý chữ "ráng" đó, tôi mới nói với người bạn: "Đi tu mà ráng? Ráng cả đời làm sao mà ráng được chớ? Vợ mày nó đẻ, mày nói em ráng một chút. ráng một chút thì được chớ làm sao ráng cả đời được?"

DUYÊN PHẬN


Lâu rồi không liên lạc với H, sẵn có chút thời gian, tôi cầm máy Alo cho H...

- H đang ở bệnh viện à, H bệnh gì?
- Không, em không đau bệnh gì cả. Em đang nuôi một sản phụ. 
- Nuôi sản phụ là sao mình không hiểu?

H, không nói gì thêm mà chuyển cho tôi mấy tấm ảnh. Ảnh của một cô bé tên Kim Anh tuổi trạc đôi mươi ngồi cạnh đứa trẻ sơ sinh. Đứa bé kháu khỉnh tròn xoe đôi mắt nhìn mẹ nó thật hạnh phúc. Đứa trẻ vừa ra khỏi cái tăm tối của dạ mẹ hạnh phúc được nâng niu trong vòng tay ấm áp. Không biết nó có nhận ra người cưu mang mình là một thiếu nữ mà theo trực giác qua tấm ảnh tôi cho rằng “Kim Anh là một cô bé không được tinh khôi” như bao thiếu nữ khác.

Tôi lại hỏi H: 
- Sao lại có chuyện này? Cô bé đó là ai và sao H lại nuôi nó?
- Chuyện khá dài chị à!!!

Cha mẹ em mất sớm, em ở với Dì. Nhưng với thời gian không hiểu sao em lại trở thành đứa trẻ lang thang không cửa không nhà, rồi bị người ta gạ tình, bán sang TQ. Sang đó mấy tháng, em không sống được nên đã tìm đường trốn thoát, nhờ mấy công an biên giới giúp em theo đường bộ trở về quê hương. Về đến quê hương VN em lại tìm nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Em mượn mái hiên chợ Ghềnh Ráng làm nhà, kiếm sống hằng ngày nhờ đi nhặt ve chai quanh phố biển.


KẾT QUẢ CUỘC THI VĂN THƠ LÀNG HỒ “HOA NÚI RỪNG IV - 2018”
Chủ đề: GIA ĐÌNH TRONG TÌNH CHÚA


Sau thời gian làm việc miệt mài, công tâm, tiếp nhận, sắp xếp và tổ chức chấm bài, nay Ban giám khảo chúng tôi quyết định công bố kết quả cuộc thi văn thơ Làng Hồ “HOA NÚI RỪNG IV” do Ban Mục Vụ Văn Hóa Giáo phận Kontum tổ chức, như sau:


(Nẻo đường kỷ niệm)

Em và tôi lớn lên trong một làng quê xưa nghèo khó.

Thủa ấy, mỗi buổi sáng, chúng tôi hay đuổi bướm trên đường tới trường, hái hoa dâm bụt đỏ hồng đem tặng cho cô. Tiếng trống trường tan, chúng tôi lại rong ruổi đi bên nhau về. Nhà Em bên cạnh nhà Tôi, hai nhà cùng ngõ đi về với nhau.

Sáng nào cũng vậy, Ba của Em dắt Em sang nhà, bảo tôi đưa Em đi học, rồi lại ngồi uống trà đàm đạo với ba tôi. Ngày tháng, chúng tôi thương nhau như hai anh em ruột. Thế rồi một độ xuân về, năm ấy em lên mười hai, dì ruột của em là soeur của dòng Đa Minh, về thăm quê, rồi đưa em lên chỗ soeur để học. Hy vọng em sẽ là soeur như Dì.

hình minh họa

Những mái nhà tan nát của những năm chiến tranh xưa rất xưa, thế hệ con cháu hôm nay làm sao hình dung nổi: khi những con đường chỉ là những bờ ruộng lớn, những ngôi nhà tranh vách đất nghiêng ngả; người nông dân bấy giờ một nắng hai sương trong cảnh loạn lạc, vừa làm vừa chạy giặc, làm cật lực mà vẫn không thoát khỏi đói rách. Trong cảnh nghèo khó, có một gia đình đang ấm êm, đói no gian khổ có nhau, thì vào một đêm tối trời, ngọn lửa oan nghiệt đã thiêu rụi căn nhà cùng với vợ con, sót lại mỗi người chồng tay trắng, cô đơn, lang bạt. Thế nhưng khi bước chân con người trở nên vô định thì từ trời cao, Thiên Chúa đã dọn sẵn cho người chốn nương thân. Anh cứ đi, để cuối cùng dừng bước ngay cổng nhà thờ. Nơi đây Hội Thánh dang rộng vòng tay đón anh, cha xứ đã cho anh ở lại nhà thờ để lo kéo chuông và chăm sóc sân vườn.

Bàn tay Chúa hiển hiện khi anh cúi đầu lãnh nhận bí tích rửa tội. Thiên Chúa đã chờ đợi anh ngay nơi dòng nước thanh tẩy để ấp ủ anh trong tình yêu ngàn đời, để từ đây, anh có làm gì hay đi bất cứ nơi đâu, thì cũng không ngoài vòng tay Thiên Chúa.

Thế rồi một ngày, các anh em họ hàng đến bắt anh phải về lại làng để cưới vợ sinh con cho dòng tộc. Và bước chân lưu lạc năm nào nay đã có gia đình, sinh được một cậu con trai và 1 cô con gái. Đây cũng là gia đình công giáo đầu tiên của làng. Lòng tốt bén rễ và lan tỏa, từ mái nhà của anh, ngôi làng lương dân đã trở thành xóm đạo với 40 gia đình. Suốt những năm đói khát, cha xứ Bắc Ninh bấy giờ là cha Tân, người I-Pha-Nho thường cho người đem gạo tới phụ giúp bà con.
Được tạo bởi Blogger.