Truyện ngắn

MẸ! CON MUỐN ĐƯỢC ĐÓN TẾT TRUNG THU

---//---


Con bé hai mắt tròn xoe, ngấn nước, nép mình bên khe cửa nhà thờ nhìn tôi. Thấy ánh mắt trong sáng của em, tôi bước lại gần, định bắt chuyện làm quen. Con bé vụt chạy. Qua khúc cua, bóng em mất hút.

***

Hôm nay Tết Trung Thu, có đoàn bác ái trên Sài gòn xuống giáo xứ làm bác ái, mang Tết Trung Thu đến cho trẻ em nghèo vùng sâu vùng xa như giáo xứ của tôi.


Không biết mẹ tôi ăn trầu từ bao giờ, nhưng mỗi lần nhớ đến những ngày còn lẽo đẽo theo mẹ, tôi lại nhớ đến hình ảnh mẹ mặc chiếc quần lãnh đen và chiếc áo bà ba sậm màu, ngồi trên thềm gạch hiên nhà trước – thường gọi là hàng ba- têm miếng trầu vàng, cuốn lại rất vén khéo. Những lá trầu luôn được xếp cẩn thận trong một cái ô trầu đan bằng mây có ba ngăn, đựng vài quả cau, con dao nhỏ và bình vôi trắng. Tôi là người được mẹ tín cẩn nhất để sai đi lấy và cất cái ô trầu cho mẹ.

Ðó là những buổi chiều nắng đã tắt sau đọt cây cau gầy xa xa ở cuối sân nhà, nhưng trời vẫn còn đủ sáng và mát mẻ cho hai chị tôi chơi lò cò xủi trên khoảng sân rộng dùng để phơi lúa, cũng là sân banh mà chỉ có tôi là cầu thủ duy nhất, với trái banh là quả bưởi non. Phía góc sân trái, dưới gốc cây cam xum xuê lá, trái nặng trĩu cành, đứa em gái nhỏ hai tuổi của tôi cầm cành cây khô, đùa giỡn với đàn gà con cùng bà vịt xiêm già nặng nề, chậm chạp đi từng bước mà tôi có cảm tưởng sắp té ngã về phía sau.

Ðôi khi, mẹ sai tôi đi hái cho mẹ vài lá trầu. Vườn trầu sát bờ ao, trên một khu đất chừng bốn, năm mét vuông, được rào bằng tre xung quanh, bên trong có năm thân cây khô chôn xuống đất cho những dây trầu leo quanh. Hình như, mẹ tôi chỉ có hai việc chính phải làm hằng ngày là chăm sóc chúng tôi, nấu cơm và tưới vườn trầu. Những lúc mẹ ngồi ăn trầu, tôi thường ngồi bên cạnh, táy máy cái ô trầu và nhìn đôi môi đẹp nhuộm đỏ của mẹ mà thán phục, vì có lần tôi lén ăn trầu đã bị cay và say đến chóng mặt. Có lẽ, thời gian hạnh phúc, an lành nhất của mẹ là những ngày còn sống ở miền quê thanh bình, lúc tôi còn thơ ấu. Mẹ ở quê, nhưng chưa hề làm việc lam lũ ngoài đồng. Ba tôi đã sắp xếp thế nào đó để có tiền thuê người giúp việc đồng áng mà gia đình vẫn có lúa ăn dư dả quanh năm.

QUÀ SINH NHẬT CỦA MẸ


Sắp tới ngày sinh nhật Mẹ Maria, tôi rất muốn viết một bài thơ dâng tặng Mẹ, nhưng vì công việc ngập đầu ngập cổ nên trí óc tôi chẳng thể tập trung mà làm thơ cho được. Đã thế, mấy ngày nay tôi còn phải theo học một khóa ngắn ngày tại học viện tin học trực thuộc chi nhánh Đại học Bách khoa Hà nội (ở Sài Gòn). Tôi tham gia khóa học này do sự đề nghị của Hội người mù Tân Bình, để chuẩn bị cho vòng sơ khảo của cuộc thi Tin Học Dành Cho Người Khiếm Thị Toàn Quốc, được dự tính sẽ diễn ra vào Chủ nhật 14/9. Thật ra, tôi đi thi ủng hộ phong trào của Hội, chứ nào dám mơ đạt giải, bởi trong số những người sẽ dự thi, tôi là thí sinh già nhất. Không ngờ, cuối buổi học chiều hôm qua, “học viên già” tôi đã làm cho mọi người phải một phen kinh hồn bạt vía. Và cũng không ngờ, đó lại trở nên như món quà sinh nhật của Mẹ Maria đã dành tặng tôi, tôi cho là vậy! Các bạn sẽ khó hiểu, tại sao sinh nhật Mẹ mà tôi lại được quà, món quà đó ra sao, nó có liên quan gì tới việc tôi đi học?

HÃY NÂNG TÂM TRÍ LÊN CAO!



Muà Xuân năm 1995, lúc còn ở trong trại tù Z30D ở Hàm Tân Phan Thiết, tôi có làm được một bài thơ song ngữ Việt - Anh nhan đề  “Nói với Bạn Trẻ “ (A Message to Youth). Bài thơ gồm 4 đoạn. Xin được trích một đoạn như sau:

Bạn trẻ cuả tôi ơi!
Hãy nâng tâm trí lên cao
Để tạo cho cuộc sống thêm ý nghiã
Hãy chịu trả đắt giá
Để có được sự cao cả nơi tâm hồn.

(Toàn văn bài thơ xin được ghi nơi phần Phụ Lục kèm theo bài viết này.)

Truyện ngắn: MỘT MÙA ĐÔNG GIÁ


Trời đã vào Đông. Mùa Đông năm nay có vẻ lạnh hơn mọi năm. Mọi cửa lớn, nhỏ của nhà nguyện Dòng Chúa Quan Phòng đều đóng chặt, gió vẫn lùa qua khe cửa làm chị Mai Trinh, giáo tập đang quỳ cầu nguyện run lên cầm cập từng cơn. Cứ mỗi lần gió núi ùa về sớm thế này, thì y như rằng Tập viện thế nào cũng có chuyện chẳng lành. Lần thì mất chó, mất gà, lần thì chị giáo tập tự nhiên lăn đùng ra chết, lần thì gió thổi bay cả nóc nhà, may mà mọi người vẫn bình yên. Mới đây nhất, chỉ hai năm về trước thôi, vào cuối mùa đông lạnh, bà bề trên đòi đuổi cổ hết các tập sinh, giao nhà cho quản lý tỉnh muốn làm gì thì làm. “Năm nay lạnh sớm thế này, thế nào cũng có chuyện”. Mai Trinh tự nhủ. Gió ào tới, chị run lên cầm cập.

Tập sinh năm nay chỉ có 7 em, hầu hết đều xuất thân từ những gia đình nghèo phía Bắc. Kim Yến là cô gái có nhiều vấn đề nhất. Cư xử thì vụng về. Ăn nói thì ngang tàng ngổ ngáo, làm việc thì cẩu thả, học thì kém, đúng là chẳng được tích sự gì, nhưng lại làm ra vẻ hơn ai hết. Bích Phụng dễ thương nhất, vừa hiền ngoan, lại đạo đức, chỉ mỗi tội không làm việc chung được. Yến Vẹn điềm đạm, chịu khó, việc gì cũng làm được, chẳng hiểu sao lại là cái gai của chị phó giáo tập. Hà Thanh, chị phó giáo tập, cũng xuất thân từ một gia đình nghèo, nhưng xuất sắc về mọi mặt, lại nghiêm túc, đạo đức, chỉ mỗi tội hơi độc tài, độc đoán. Từng khuôn mặt một trong tu viện nhỏ thó, toạ lạc trong nơi hoang vắng này, cứ lần lượt hiện lên trong đầu óc Mai Trinh. “Ta không có quyền loại trừ ai, cũng không có quyền ép ai phải đi tu. Ta chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là phát hiện và phát triển ơn gọi nơi mỗi người thôi. Điều quan trọng là phải giúp cho mọi người có được một kinh nghiệm đích thân về Chúa, nhưng phải làm gì bây giờ?”.




Bà lão người bên thôn Thượng, lấy chồng từ năm mười tám rồi theo chồng đến đây. Thời còn con gái, ai cũng khen bà đẹp. Một vẻ đẹp thuần khiết của người phụ nữ miền thôn dã. Với đôi mắt đen và sáng long lanh, đã một thời khiến cho nhiều trai làng phải say bà như điếu đổ. Người ta nói: con gái có Đạo thường có đôi mắt đẹp và thánh thiện như Đức Mẹ Đồng Trinh.



“…Bên kia sông Đuống

Mẹ già quẩy gánh hàng rong

Bước cao thấp bên bờ tre hun hút

Có con cò trắng bay vùn vụt

Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu…”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

***



Chuông chiếc đồng hồ côn đã điểm năm tiếng. Từ chiều tới giờ, bà lão cứ thấp thỏm, đứng ngồi không yên; hết đi ra lại đi vào. Bà đang mong đứa con gái của bà trên Hà Nội về. Trong nhà, bà lão đã dọn sẵn mâm cơm, gọi là có tí chút để khoản đãi đứa con gái của bà; thôi thì chẳng mấy khi nó về thăm nhà.

Quái lạ, đã cuối thu mà sao hôm nay trời lại nực thế không biết! Nghĩ vậy, bà lão quyết định không ngồi trong nhà nữa mà mang chiếc ghế tre cùng với chiếc quạt nan ra ngồi ngoài sân, phía dưới dàn mướp…

***

Bà lão người bên thôn Thượng, lấy chồng từ năm mười tám rồi theo chồng đến đây. Thời còn con gái, ai cũng khen bà đẹp. Một vẻ đẹp thuần khiết của người phụ nữ miền thôn dã. Với đôi mắt đen và sáng long lanh, đã một thời khiến cho nhiều trai làng phải say bà như điếu đổ. Người ta nói: con gái có Đạo thường có đôi mắt đẹp và thánh thiện như Đức Mẹ Đồng Trinh.

Một năm sau ngày cưới, bà cho ra đời đứa con trai đầu lòng. Cuộc sống vợ chồng những năm đầu thật hạnh phúc. Đúng cảnh: chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa. Cuộc sống gia đình đang đầm ấm yên vui, đột nhiên, chồng bà vĩnh viễn lìa bỏ mẹ con bà ra đi vì một căn bệnh quái ác. Năm ấy đứa con trai của bà mới được đâu bốn hay năm tuổi gì đó. Bà nén nỗi đau trong lòng và quyết định ở vậy một mình nuôi con. Sau khi mãn tang chồng, đã mấy lần bà tính đưa con về bên ngoại để làm ăn sinh sống, nhưng rồi nghĩ lại: Lấy chồng phải gánh giang san nhà chồng, bà lại thôi. Những năm tháng đó cuộc sống của hai mẹ con bà thật vất vả. Nhưng bù lại, bà có đứa con bên mình như một sự động viên khích lệ duy nhất trong cuộc đời.

Khi đứa con trai bà đến tuổi trưởng thành cũng là lúc đất nước gặp cơn binh biến. Thế là bà đành nén nuốt dòng nước mắt vào trong, tiễn đứa con lên đường nhập ngũ. Hôm chia tay, bà luôn động viên con cố gắng hoàn thành tốt nghĩa vụ và hẹn ngày trở về, nhưng trong thâm tâm mách bảo, dường như đây là lần cuối cùng mẹ con gặp nhau…

Rồi một hôm, bà nhận được lá thư từ chiến trường gửi về, bà háo hức chờ đợi… Nhưng khi phong thư được bóc ra, đất trời bỗng nhiên quay cuồng trước mặt bà, hai chân bà khuỵu xuống. Trên tay bà lúc này là Giấy Báo tử đứa con trai yêu quý. Thế là điều mà bà lo sợ nhất bấy lâu nay, giờ đây đã trở thành sự thực…

Suốt đêm hôm ấy, và mấy ngày hôm sau nữa bà không ăn uống gì cả. Cuộc sống lúc này đối với bà còn ý nghĩa gì nữa đâu!? Trước đây, trong nỗi cơ cùng của cuộc đời, bà vẫn gượng dậy để sống vì đứa con. Thế mà bây giờ…!?

Bà lên cơn sốt miên man, lúc tỉnh, lúc mê. Họ hàng và bà con lối xóm đến động viên an ủi bà, nhưng nỗi đau của bà chẳng nguôi ngoai được là bao. Đối với bà, đau khổ và sự dữ là điều mà bà luôn luôn phải hứng chịu trong suốt mấy mươi năm của cuộc đời. Mà bà đã làm gì nên tội?…Những lúc như thế, nhìn lên cây thập giá, bà chỉ thấy Chúa lặng im, với vòng gai nhọn trên đầu, Ngài chẳng nói lời nào… Nhưng có lẽ, chỉ trong mầu nhiệm thập giá, bà mới lờ mờ hiểu được phần nào ý nghĩa của sự khổ đau. Thế là, một lần nữa, bà lại cố gắng gượng dậy, để tiếp tục sống những tháng ngày còn lại.

Từ ngày đứa con trai qua đời, bà trở nên trầm hẳn, ít xuất hiện ở chốn đông người. Bà chỉ còn tìm thấy niềm vui trong công việc chăm sóc thửa vườn và chăn nuôi mấy con gà, con vịt. Những lúc rảnh, bà thường lui tới động viên những người đau yếu, già cả trong khu xóm.

Thời gian trôi đi, nỗi đau của bà cũng vơi dần theo năm tháng. Thế rồi vào một đêm dông bão, bà nghe có tiếng gõ cửa. Bà nghĩ bụng - Quái lạ, đêm hôm mưa gió thế này, ai lại gõ cửa nhà mình thế nhỉ?

Tiếng gõ mỗi lúc một dồn dập khiến bà phải cố gượng dậy ra mở cửa xem sao. Khi cánh cửa vừa mở, những cơn gió đem theo nước mưa lùa vào làm lạnh toát cả người. Bà đột nhiên rùng mình. Trước mặt bà là một cô gái chừng độ mười tám đôi mươi, bụng mang bầu. Thân mình cô gái đang run lên bần bật. Trên khuôn mặt non nớt của cô gái lúc này đã tái đi có lẽ vì đói và lạnh. Thoáng qua, bà đã hiểu ngay cơ sự. Ái ngại cho hoàn cảnh của người con gái trẻ, bà cố lén một tiếng thở dài.

-Xin cô làm ơn làm phúc cho cháu trọ nhờ một đêm. Chỉ một đêm nay thôi, rồi sáng mai cháu sẽ đi sớm – giọng cô gái thỏ thẻ nói trong nước mắt.

Giữa lúc mưa to gió lớn, đàn bà con gái bụng mang dạ chửa thế này biết đi đâu bây giờ?! – bà đắn đo.

- Thôi, cháu cứ vào trong này đã kẻo mưa ướt hết rồi kia kìa. – Bà nói như thể để phá đi sự yên lặng.

Cô gái ngượng nghịu bước vào nhà. Hành trang của cô chẳng có gì ngoài một bọc quần áo nhỏ, một chiếc nón đã cũ và chiếc áo tơi mưa.

- Chắc là sắp sinh rồi phải không cháu? - Bà hỏi.

Cô gái không nói gì mà chỉ khẽ gật đầu. Dưới ánh đèn dầu, bây giờ bà mới có dịp quan sát kỹ cô gái. Với gương mặt trái xoan, vầng trán cao, đôi mắt đen lánh và cặp chân mày rậm - phải nói rằng cô ta khá đẹp.

-Vì sao lại đến nông nỗi này hả cháu ?

Nghe bà hỏi, cô gái vội òa lên khóc nức nở. Rồi trong tiếng nghẹn ngào, cô gái kể lại: Cô là người làng Hạ, do nhẹ dạ, nên đã bị một tay họ Sở lừa. Xong chuyện, hắn ta phủi tay, quất ngựa truy phong. Nhìn cái thai trong bụng cứ lớn lên từng ngày, cô gái chỉ còn biết ngậm ngùi nuốt nỗi cay đắng, tủi hổ. Gia đình hắt hủi, bạn bè xa lánh, dân làng tẩy chay. Mấy lần định trầm mình hoặc tìm cách giải quyết cái thai trong bụng, nhưng lương tâm cô không cho phép. Chính vì vậy mà cô phải cố gắng sống để có thể nuôi đứa trẻ trong bụng cho tới ngày nó chào đời…

-Thôi thì cơ sự đã đến nước như thế này, có khóc cũng chẳng giải quyết được gì - bà đến bên cô gái yên ủi - chi bằng… cứ ở đây với cô, có gì dùng nấy, đợi cho tới ngày đứa bé chào đời, rồi mình tính tiếp.

-Cô ơi! cô đúng là vị cứu tinh của đời cháu. Trọn kiếp này, hai mẹ con cháu chỉ biết khấu đầu, ngàn lần, vạn lần đội ơn cô - Cô gái gạt ròng lệ rối rít cảm ơn.

Ngoài trời, có tiếng cành cây gẫy, bụi tre trước ngõ cứ vặn mình răng rắc. Gió vẫn rít lên từng đợt. Đúng vào cái đêm dông bão ấy, cô gái trở dạ sinh con - một đứa bé gái. Thế là bà đành phải trở thành bà đỡ bất đắc dĩ. Bên ngọn đèn dầu leo lét, hai người phụ nữ - một già một trẻ đang cưu mang một mầm sống mới. Tiếng khóc của đứa trẻ làm cho bầu khí của ngôi nhà dường như ấm lại, xua đi cái vẻ ảm đạm của một đêm mưa bão.

Nhưng cô gái, phần vì đã quá mệt mỏi sau một quãng đường xa trong trời mưa lạnh, phần vì thể trạng yếu gầy, cô đã qua đời ngay sau khi sinh đứa trẻ được vài giờ đồng hồ, trong lúc trên đôi môi còn nở một nụ cười đầy mãn nguyện…

Phải nói rằng, từ ngày đứa con trai hy sinh ngoài chiến trường, bà không nghĩ rằng bà còn có thể sống và sống có ích cho cuộc đời nữa. Thế nhưng, qua những biến cố bà gặp phải, bà mới hiểu ra một điều rằng: Con người dẫu có dừng bước thì dòng đời vẫn cứ trôi đi. Đau khổ và tình yêu là điều mà con người vẫn gặp phải trong cuộc sống thường ngày. Nhưng đón nhận những nó với thái độ như thế nào lại còn tùy thuộc vào mỗi người…Cũng như lúc này đây, đứa bé này đang cần đến tình yêu và sự che trở của bà, bà không thể không ra tay cứu giúp. Thôi thì… có đứa trẻ bên cạnh, gian nhà của bà cũng bớt đi vẻ lạnh lẽo, cô quạnh. Nghĩ thế, bà vội ôm đứa bé vào lòng. Nơi khuôn mặt khắc khổ của bà, hai hàng nước mắt cứ trào ra…

***

Câu chuyện tưởng như mới xảy ra hôm nào, thế mà nay đã được hơn hai mươi năm rồi. Đứa bé gái ngày ấy, bây giờ đã là một sinh viên đại học sắp ra trường. Mọi năm, cứ đến ngày lễ các linh hồn là cô con gái, dù có bận đến mấy, cũng cố tìm cách về từ chiều hôm trước. Sau Thánh lễ ban sáng ở nhà thờ, bao giờ hai mẹ con cũng cùng nhau ra vườn thánh để thắp hương và đọc kinh cho những người thân đã qua đời. Đối với nó, bà vừa là mẹ, vừa là ân nhân, vừa là vị cứu tinh. Nhưng bà chẳng bao giờ nghĩ thế, trái lại, chỉ biết dành trọn tình yêu thương và vun đắp cho đứa con gái tội nghiệp.

Bây giờ đã là sáu giờ ba mươi chiều, mà vẫn chẳng thấy bóng dáng đứa con gái đâu cả. Nó vẫn chưa về. Mâm cơm đã nguội.

Vậy là có lẽ nó sẽ không về rồi… Chắc nó còn bận học. – bà tự nhủ.

Độ này, bà cảm thấy trong người cứ khang khác thế nào ấy. Khắp toàn thân ê ẩm, nhức xương, nhức cốt. Mình già rồi! Chắc chẳng còn sống được bao lâu nữa – bà nghĩ. Giả như lúc này có đứa con ở bên cạnh thì hay biết mấy! Điều mà bà cần bây giờ là tình cảm, là sự yên ủi của đứa con. Người ta bảo: trẻ cậy cha, già cậy con mà. Nhưng nghĩ thì nghĩ vậy, chứ bà không hề trách đứa con gái.

Nhìn lên bàn thờ Chúa, từ trên thánh giá, Ngài vẫn đang nhìn bà với ánh mắt trìu mến và đầy cảm thông. Phút chốc, lòng bà như ấm lại. Bà biết chắc một điều là bà không hề cô đơn…

Trời đã nhá nhem tối. Ngoài kia, ánh trăng non đã bắt đầu nhú lên khỏi cây gạo ở đầu làng. Lúc này, trong vườn thánh vẫn còn thấy lố nhố bóng dáng người ra viếng nghĩa trang và thắp hương cầu nguyện cho người thân. Bà lão chợt nhớ tới chồng, nhớ tới người con trai đã hy sinh và cả người phụ nữ bất hạnh nữa.

Ngày mai là lễ Cầu cho các linh hồn rồi - vừa lẩm bẩm một mình, bà vừa chống gậy đi về phía ngôi thánh đường.


Hà Nội, tháng Các Linh hồn - 2006


GIÁO QUYỀN


Trong bài TRỐN QUÂN DỊCH, tui đã chia bố cục làm hai: Trốn quân dịch và Giáo quyền. Không ngờ nổi hứng viết đến 5686 chữ mà vẫn chưa hết phần một, chưa đụng gì đến phần Giáo Quyền. Đành tắt điện, chớ sẵn trớn viết luôn phần Giáo quyền, thì người viết chắc chết, và người đọc cũng ấn nút biến. Dưỡng sức xong, giờ viết tiếp phần hai, Giáo Quyền. Ai chưa đọc chuyện Trốn quân dịch (#chuyentaolao31), cứ quay đầu xe lại đọc, vì có liên quan đến phần hai này.

Cũng là chuyện tào lao thôi, biết cái gì viết cái nấy, chẳng bài bản chi cả. Ai muốn biết thêm về đạo Công Giáo, thì ghé vô đọc chơi. Người tín hữu quanh năm chỉ lo đọc kinh cầu nguyện, không để ý gì đến tổ chức của Giáo Hội, cũng đọc chơi cho biết. Bảo đảm không chết thằng tây nào! Rồi! Chuẩn bị ly cà phê “cái nồi ngồi trên cái cốc”, vừa nhâm nhi, vừa đọc nhe. Chán cứ nghỉ. Tui viết tới mệt thì cũng nghỉ. Đề tài hôm nay là chuyện tổ chức trong đạo, nói nôm na là giáo quyền.

Nói về mặt hành chánh, thì toà thánh Vatican (Va-ti-căn) ở Rome (La mã), nước Italy (Ý), được tổ chức như một quốc gia: Có lãnh thổ là Thành Vatican, dù bé tí tẹo. Có thủ đô là Toà Thánh Vatican. Có công dân hơn một tỷ tín hữu ở khắp thế giới. Có Tổng Thống là Đức Giáo Tông (Đức Giáo Hoàng). Có các Bộ gọi là Thánh Bộ. Có Hiến Pháp là Giáo Lý và Giáo Luật. Có Toà Đại Sứ là các Toà Khâm Sứ khắp nơi,… Người ta ví von: Vatican là một quốc gia trong một quốc gia, cũng có phần đúng về phương diện này. Tuy nhiên, Vatican là tiêu biểu của giáo quyền nhiều hơn thế quyền, và Đức Giáo Tông là vị thủ lãnh tối cao, có quyền uy tuyệt đối, mà tất cả giáo sĩ và mọi tín hữu khắp thế giới luôn tôn kính, tuân phục.

Về quê 

Truyện ngắn


Đến ngã ba thị trấn, chiếc xe khách chạy chậm lại, rồi táp vào về đường. Thạch vội vàng nhảy xuống. Ba lô con cóc trên vai, đã lâu lắm Thạch mới lại về thăm quê. Nơi nhà Thạch ở là một ngôi làng nhỏ toàn tòng Công Giáo, nằm bên ngoài đê sông Hồng.


Thạch hít một hơi thật dài để lấy lại cái cảm giác khoan khoái khi đặt chân xuống miền đất mẹ. Trời đã về chiều. Từ đây về đến nhà còn khoảng hơn hai cây số nữa. Cũng có một vài chiếc xe ôm mời chào nhưng Thạch đều từ chối. Thạch thích đi bộ như thế này để có cơ hội chiêm ngưỡng cũng như thưởng thức cái hương vị của đất trời quê hương. Mới hôm nào Thạch từ giã làng quê yêu dấu để lên Hà Nội học, thế mà nay anh đã tốt nghiệp được ba năm rồi…

Gia đình Thạch cũng thuộc vào loại “thường thường bậc trung” trong làng. Mẹ Thạch mất sớm, năm ấy, Thạch vừa vào được lớp mười; để lại cho bố Thạch tất cả bốn người con. Thạch là con cả trong gia đình, nên ngoài những lúc học trên trường, cậu cố gắng dành mọi thì giờ còn lại để giúp đỡ bố thu xếp công việc trong nhà. Những năm ấy, bố Thạch lại làm Quản, nên không những lo toan cho gia đình, ông còn phải lo việc dạy giáo lý và xướng kinh sớm, tối ở nhà thờ. Hàng xóm láng giềng, mọi người đều cảm thương cho gia cảnh nhà ông Quản. Nhìn ông thui thủi trong cảnh “gà trồng nuôi con”, có người khuyên ông nên đi bước nữa nhưng ông chỉ cười. Hình như ông muốn cố gắng bù đắp sự thiếu thốn tình thương của người mẹ cho đàn con hơn là tìm niềm vui cho bản thân mình.

Sám Hối Phía Bên Kia Đồi


Lái xe ra khỏi cổng nhà tù, hình ảnh những giọt nước mắt sám hối của anh chị em tù nhân làm thức tỉnh lương tâm. Tôi bắt đầu những ngày mục vụ ở trại tù sau ngày chịu chức. Lòng hăng say trong những tháng ngày đầu của đời linh mục thôi thúc lên đường. Đoạn kinh thánh của Isaiah mà Chúa Giêsu cảm nhận “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” ( Luca, 4:18-19) như nói với riêng mình hôm nay để hăng say lên đường. Trong niềm hăng say, dường như có xen lẫn cả men kiêu hãnh. Tôi đến với anh chị em tù nhân với tâm tình yêu thương pha trộn thái độ của người ban ơn.

Nhà tù nằm ở một góc xa vắng, cuối bên kia chân đồi. Cây cỏ xơ xác, ngoại trừ những cách xương rồng trơ trụi. Dưới chân đồi là dãy kẽm gai lạnh buốt, sắc bén hơn cả gai xương rồng, gợi cho con người cái cảm giác của niềm đau, phân cách, và lạnh lùng. Đã nhiều năm tôi do dự không muốn đến nơi đó. Tôi thích ở gần bàn thờ có hoa, có nến, có bước chân người quen rộn rã chào đón. Rồi một chiều trời thu, tôi rời bàn thờ hoa nến và rộn rã phố phường để đi về nơi phía chân đồi ảm đạm ấy.
Thế giới của nhà tù thì nhiều người biết đến: khắc nghiệt, hung bạo, thiếu tình người, có lúc mất cả niềm hy vọng. Còn thế giới tâm hồn của những tù nhân, thì ít ai biết đến và ít ai hiểu được. Nó là khoảng riêng tư khép kín, có lỗi lầm, có nỗi buồn, có mặc cảm, và có cả nhiều giọt nước mắt sám hối.


TRỐN QUÂN DỊCH

Tui có thằng bạn thân, rất thân, nó kể chuyện trước 75: vì muốn trốn quân dịch nên nó vô chùa giả làm sư. Trong chùa, thằng “sư giả” này vì sợ ngài trụ trì, nên phải ăn lạt như mọi người, nhưng về nhà là “sư giả” quất bánh mì thịt, lấy năng lượng để đi… cua gái! Nó tu giả, chớ có tu thiệt đâu mà hỏng ăn mặn, hỏng mê gái! Tui nghĩ trong bụng: “Mày mà vô tu chỗ của tao tu, bên đạo Công Giáo (CG), mày sẽ bị đá đít ra khỏi nhà tu trong nửa nốt nhạc!”

Đây không phải là lần đầu tui nghe kể chuyện trốn quân dịch bằng cách này. Khoảng năm 1971, lớp tui có tổ chức du ngoạn, đi Bến Tre, thăm ông Đạo Dừa, ở Cồn Phụng. Ông Nguyễn Thành Nam, là giáo chủ của một tôn giáo mới, do ông thành lập. Tên chính thức của tôn giáo này khá dài, tui quên rồi. Người ta thường gọi là Đạo Dừa. Bỏ hết râu ria của chuyến đi đó, tui chỉ viết gọn câu chuyện trong vài hàng.

Có một anh “sư giả”, trẻ tuổi, làm hướng dẫn viên cho khách thập phương, giải thích đủ thứ chuyện về Đạo Dừa, về tiểu sử của giáo chủ, về chiếc phi thuyền do ông sáng chế. Đêm đêm ông “ngự” trên đó, bấm nút điện đưa ông lên cao khỏi mặt đất chừng vài chục trượng, để thiền hay cầu nguyện chi đó. Ông là dân trí thức, kỹ sư điện, tốt nghiệp từ Pháp.

CŨNG CÓ MỘT CHUYẾN XE NHƯ THẾ


Bạn có tin có những chuyến đi làm thay đổi cuộc đời không? Tôi đã có một chuyến đi như thế.

***

Học xong lớp mười hai, tôi tự tin thi đại học sư phạm với ước mơ sẽ trở thành thầy giáo, chỉ để gõ đầu mấy đứa trẻ trong xóm. Quê tôi xa lắm, xa ơi là xa tựa như người ta hay kể chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa, xưa ơi là xưa vậy. Xa đến nỗi mà được đi học là một thứ xa xỉ với đám con nít chúng tôi. Xa đến nỗi mà chỉ duy nhất mình tôi là có thể đi học hết lớp mười hai. Còn lại, đám con nít thanh niên, đứa học nhiều lắm là qua lớp sáu. Thế rồi không có tiền, phải nghỉ học giữa chừng, rồi lại lẽo đẽo theo mẹ đi chợ, hoặc những trưa nắng lội ruộng bắt mấy con cá rô, mò mấy con ốc…

Tự thấy mình học cũng giỏi, nên tự tin thi đại học sư phạm, mà là sư phạm toán mới ghê chứ. Vậy mà… Tổng cộng cả ba môn thi chỉ được bảy điểm rưỡi. Thiệt chán hết sức, nói ra còn thấy hổ thẹn thêm.

Đành gác luôn cái ước mơ gõ đầu trẻ qua một bên, tôi đón xe lên Sài Gòn với hy vọng sẽ đổi đời. Chứ ở riết cái miền quê này, không đi chăn trâu cũng nuôi vịt chạy đồng, biết đời nào mà ngóc đầu lên nổi.

***

Sau cái chết của ông Thanh, cái Thắm, đứa con gái duy nhất của ông bà Thanh suốt ngày ôm bụng kêu đau. Nén nỗi đau mất chồng, bà chạy đôn chạy đáo tìm thuốc cho con. Hễ nghe ai bày cho ông thầy lang nào bà liền tìm đến. Hễ nghe ai chỉ cho cách chữa trị nào bà cũng làm cho bằng được. Thế mà cái Thắm cũng không hết bệnh. 


Không nỡ để đứa con gái suốt ngày ôm bụng kêu đau, bà quyết định dẫn con lên tỉnh khám. Tại đây người ta vẫn không tìm ra bệnh cho con bà. Thấy hoàn cảnh tội nghiệp của hai mẹ con, ông bác sĩ đến khuyên bà nên đưa con lên Sài Gòn khám, vì trên đó máy móc hiện đại và bác sĩ giỏi nhiều hơn. Ông cũng nói thật con bà có khả năng bị ung thư đường ruột giai đoạn đầu. Ông nói thế để bà chuẩn bị tâm lý cũng như mau chóng đưa con lên tuyến trên. Tuy nhiên, mới nghe tới hai chữ ung thư mặt mũi bà Thanh tối sầm, vì từ trước tới nay có ai trong làng thoát khỏi căn bệnh này đâu, ngay cả chồng bà cũng đâu thể thoát nổi. Như muốn trấn an bà, ông bác sĩ nói thêm đó chỉ là suy đoán của ông, và nếu nó là sự thật thì trong giai đoạn này bệnh tình của con bà có thể chữa trị khỏi hoàn toàn.

Sau khi từ tỉnh về, bà quyết định bán cái xe đạp cũ kỹ mà chồng để lại, cộng thêm cái tivi đen trắng để lấy tiền chữa trị cho con gái. Số tiền nhận được cộng với khoản phúng điếu sau khi lo hậu sự cho ông Thanh, bà đếm đi đếm lại cũng chỉ được gần hai triệu. Với khoản tiền cầm trong tay, bà đắn đo, lo nghĩ có nên đưa cái Thắm đi vào Sài Gòn không. Bởi lẽ bà biết để chữa trị cho con bà thì số tiền phải gấp nhiều lần hơn thế. Lúc này bà tính sang vay mượn hàng xóm. Thế nhưng sau đó lại thôi. Vì sau hai vụ mùa trắng tay, hàng xóm nào có ai có của dư của để đâu. Hơn nữa, mới đây họ cũng đã giúp đỡ bà nhiều trong việc lo hậu sự cho ông Thanh rồi. Lúc này bà không biết phải làm gì. 

Nếu đi thì không đủ tiền. Còn nếu không đi thì con bà sẽ phải tự chống chọi với căn bệnh trong người. Nhìn sang đứa con đang quằn quại trên chiếc giường tre, bà khóc. Bà khóc cho thân phận nghèo khổ của mình. Bà khóc cho cõi lòng đơn độc của mình. Bà cũng khóc cho số phận hẩm hiu của con bà. Bà nghẹn lòng: “Thắm ơi! Mẹ xin lỗi con. Mẹ đã không mang lại cho con niềm vui. Mẹ cũng không đem lại cho con cuộc sống ấm êm như chúng bạn của con. Nhưng con ơi! Mẹ sẽ cố gắng hết sức. Mẹ sẽ làm tất cả mọi sự vì con.” Nói những lời đó xong, bà gạt nước mắt. Bà nghĩ không thể để cái Thắm chờ chết như thế này được. Bà quyết sẽ dẫn cái Thắm lên Sài Gòn chữa bệnh. Bà sẽ tìm một công việc nào đó để làm kiếm tiền. Bà không cứ công việc nào miễn sao có tiền để chữa trị cho đứa con gái. Thế rồi bà đứng dậy, chuẩn bị đồ đạc để sáng mai đi lên Sài Gòn.

NGƯỜI TUYÊN ÚY THẦM LẶNG


Người đàn ông Mỹ với mái tóc trắng xoá và đôi mắt sáng quắc sau cặp kính trắng cứ chăm chú nhìn tôi như muốn dò hỏi một điều gì thầm kín. Tóc ông bạc nhưng không hói như bao nhiêu người Mỹ tôi thường gặp. Dáng vóc trông vừa mảnh khảnh lại vừa khác thường bởi bờ vai trái của ông xệ hẳn xuống như một kẻ tật nguyền. Ông ngồi đó, đối diện với tôi nơi bàn cơm tối trong một nhà ăn tu viện ở Washington. Qua ánh mắt, tôi dự đoán có lẽ trong thâm tâm ông đang thắc mắc: “Anh có phải là người Việt Nam không?" Hoặc là : "Anh đến đất Mỹ này lâu chưa? Tại sao anh lại ở nơi đây, nơi một cộng đoàn của người Mỹ?”

Thầm đoán vu vơ những câu hỏi đại khái như thế, rồi tôi cũng mạnh dạn nhìn thẳng vào ông như muốn phản ứng:

Không biết cái ông này đang thắc mắc gì vậy? Ông muốn hỏi thăm về quê hương tôi, hay ông đang muốn tâm sự một nỗi niềm trong chiến tranh Việt Nam mà ông đang ấp ủ trong lòng như bao cựu chiến binh khác.

ĐẠI HỘI SATAN


Vào một đêm tối trời không trăng không sao, đại ca Satan cho triệu tập một đại hội vô tiền khoáng hậu chưa từng có trong lịch sử với các thuộc hạ ma quỉ của hắn ta. Các quỉ lớn bé từ khắp mọi miền trên mặt đất lục tục kéo về tham dự. Khai mạc đại hội, đại ca Satan trịnh trọng tuyên bố:

- Hởi các tiểu quỉ, chúng mày nghe đây! Chúng ta không thể nào ngăn cản cái đám đồ đệ Giêsu đến nhà thờ, cũng không thể làm cho chúng nó thôi đọc kinh sách và nhận ra chân lý trong đó. Chúng ta lại càng không thể ngăn chúng nó tuân giữ những quan niệm giá trị luân lý truyền thống của chúng. Nhưng, có một số việc mà chúng ta có thể thực hiện được. Chúng ta có thể cản trở chúng nó bồi dưỡng quan hệ mật thiết lâu dài với Giêsu. 
Nếu như chúng nó và Giêsu một khi đã thiết lập quan hệ thì khả năng khống chế của chúng ta kể như đi đong. Đến lúc đó chúng ta sẽ bị sập tiệm, bankrupt! Nhưng không sao, cứ để cho chúng nó đi nhà thờ, cứ để cho chúng nó đọc kinh sách, cứ để cho chúng nó tuân giữ truyền thống sống đạo của chúng nó đi. Nhưng, chúng mày phải tìm cách cướp đi thời giờ của chúng nó. Làm như thế chúng nó sẽ không còn thời giờ để mà thể nghiệm Giêsu trong cuộc sống của tụi nó nữa. Đấy chính là điều mà ta muốn chúng mày đi làm hỡi các tiểu quỉ thân yêu của ta.

Đã nhiều lần share bài của cha ĐẶNG SAN, nhưng hôm nay tôi đặc biệt thích những giòng này của cha về cha già NGUYỄN NGỌC RAO OP.

Tôi chưa bao giờ đuợc gặp cha Rao, nhưng từ những ngày ở trong nuớc đã nghe nhiều về ngài, qua vài cha khác từng làm việc với cha trong Nhóm Phiên dịch Phụng vụ Giờ kinh.

Những năm cực kỳ khó khăn của Giáo hội, có những linh mục đáng kính như cha Rao đã là bóng cây giúp cho thế hệ đàn em "tu chui" được đứng vững và lớn lên - qua những lớp học chui, nhưng nhất là qua mẫu guơng đời sống của mình. Đặc biệt, tôi rất cảm lời chia sẻ của cha San về chuyện 'đuợc cha la', " ơ, cái thằng này sướng thế, vào tuổi này vẫn còn rung động như thời mới lớn!"

Sao thời đó, trên cái nền giáo dục cũ kỹ tưỏng như khắc nghiệt, lại có những cụ già dễ thương như thế ...chả bù với bây giờ tôi ở trời Tây - nơi mọi sự tuởng như thông thoáng phóng khoáng - gặp chuyện tương tự chắc bị họ gửi ngay...đi khám tâm thần rồi !!! - Lm Gioan Đàm Xuân Lộ


"CỤ GIÀ LINH MỤC"


Mấy năm nay, nghe tin cụ linh mục Ignatio Nguyễn Ngọc Rao, OP đã già đã lẫn. Cụ ở tu viện Đaminh Ba Chuông. Từ Văn Phòng Tỉnh Dòng chạy qua chỗ cụ gần xịt, mà sao lần lữa mãi. Có lẽ vì Ba Chuông vẫn là nơi...đô hội chăng. Nay thì cụ về Nhà Hưu tu viện Đền Thánh Mactin Hố Nai. Hôm qua từ am Hiền Đức Long Thành, kiên quyết phải về thăm cụ.

MANUEL LÊN THIÊN ĐÀNG




Có một dạo, Manuel được thưởng thức sự tự do của tuổi hưu trí, không phải thức dậy vào một giờ nhất định, và có thể dùng thời gian để làm bất cứ điều gì ông muốn. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc ông lại rơi vào cơn trầm cảm. Ông cảm thấy vô dụng, bị loại ra khỏi cái xã hội mà ông đã góp phần xây dựng, bị những đứa con đã trưởng thành của ông bỏ rơi, ông không còn khả năng để hiểu ý nghĩa của cuộc sống, không hề băn khoăn để trả lời câu hỏi cũ kỹ: “Tôi đang làm gì đây?”

Vâng, ông Manuel khả ái, lương thiện, tận tuỵ của chúng ta rốt cuộc đã chết đi — điều đó sẽ xảy ra cho tất cả những Manuel, Paulo, Maria, Mônica của thế giới này. Và đây, tôi sẽ để cho Henry Drummond, trong cuốn sách nổi tiếng của ông The Greatest Thing in the World, mô tả điều gì xảy ra sau đó:

CHUYỆN PHIẾM GÃ SIÊU: VÌ TÔI LÀ LINH MỤC

Tin, bài liên quan:

Nếu gã nhớ không lầm thì hồi trước năm 1975, Lệ Hằng, một nhà văn nữ, đã viết cuốn tiểu thuyết mang tựa đề là “Tóc mây”, nói về cuộc tình giữa Tố Kim, một cô sinh viên Đà lạt, với Hà Vĩnh Duy, một linh mục nhạc sĩ. Tác phẩm này đã tạo nên một cơn lốc, mà lúc bấy giờ thiên hạ gọi là “hiện tượng tóc mây”. Hình như trước hay sau đó ít lâu, nhạc phẩm “Vì tôi là linh mục” cũng được trình làng. Bài hát này đã gây được một âm vang khá lớn, thậm chí những lúc buồn tình, các cô gái ngây thơ cũng chu mỏ và ngay cả các “ma xơ” cũng mở miệng nghêu ngao: Vì tôi là linh mục, không mặc chiếc áo dòng, nên chi đời đau khổ, nên trót đời lang thang. Hẳn đây là tâm sự buồn của một linh mục lỡ dại trót yêu một tín đồ duy nhất, nên đã cởi bỏ chiếc áo chùng thâm mà đi bụi đời?

Xét về nguyên do của việc tu trì, thiên hạ xấu bụng thường bảo: Trốn việc quan đi ở nhà chùa. Chán đời, hay thất tình thì mới đi tu, bởi vì tu là cõi phúc, tình là dây thun.



TIN VÀO ĐIỀU BẤT KHẢ

William Blake đã nói: “Những gì hiện hữu hôm nay chứng minh cho điều mà trước kia chỉ là tưởng tượng”. Và nhờ vào sự tưởng tượng mà chúng ta có máy bay, những chuyến du hành vào vũ trụ, và chiếc máy vi tính mà tôi đang dùng để viết bài này. Trong kiệt tác Alice Through the Looking Glass của Lewis Carroll, có đoạn đối thoại giữa Alice và bà Hoàng hậu Trắng, người đã nói một điều gì đó cực kỳ khó tin.

“Con không thể tin được điều đó!” Alice nói

“Không thể sao?”, bà Hoàng hậu hỏi với giọng thương hại. “Thử lại lần nữa đi: hít vào thật sâu, và nhắm hai mắt lại.”

Alice cười. “Có thử cũng chẳng được gì,” cô nói:

“Con người không thể tin vào những điều bất khả.”

Truyện ngắn: Em ơi! Anh thuộc về Chúa


Một mình trong căn phòng trống vắng, ngồi trên chiếc ghế cạnh bàn học, từ cửa sổ tầng sáu, Cường phóng tầm mắt nhìn về phía bầu trời xa xăm nơi mà mặt trời đang khoác lên mình chiếc áo đỏ rực phản chiếu ánh sáng khắp cả một vùng trời. Bầu không khí trong lành, không còn cảm giác ngột ngạt của buổi trưa nóng nực, làn gió thổi nhẹ khẽ chạm vào da thịt. Nếu như bình thường thì Cường sẽ cảm thấy vô cùng dễ chịu và khoan khoái! Và có lẽ sẽ càng thích hợp hơn để anh chìm đắm trong lời cầu nguyện, một không gian tuyệt vời để anh gặp gỡ Chúa. Nhưng hôm nay, dường như mọi cảnh vật, mọi thứ diễn ra xung quanh Cường đều không màng tới. Anh bỏ ngoài giác quan, gạt ra xa cảm xúc những gì được gọi là tuyệt vời của cảnh vật hữu tình!

Viết về Sơn





Tôi biết đến Sơn qua một người quen và chúng tôi hẹn nhau đi uống cà phê. Vì Sơn không có xe nên tôi tới đón tại nhà ở một con đường hẻm ở ngã tư Phú Nhuận, Sài Gòn. Khi tới nơi tôi mới phát hiện là địa chỉ tôi ghi xuống trên mảnh giấy không phải là địa chỉ của một căn nhà mà là một phòng kho bề ngang không quá một mét rưởi và bề dài chỉ khoảng 6 mét. Sơn sống ở trong căn phòng ẩm thấp, tối tăm, và chật chội này với người mẹ từ sáng tới khuya phải đi làm mướn cho nhà người ta.


Tôi thường xuyên gặp Sơn trong những ngày sau đó. Chúng tôi cùng nhau đi uống cà phê, đi lễ chiều, đi ăn... . Trong những cuộc hẹn này, tôi ngồi nói chuyện với Sơn và lắng nghe em chia sẻ về đời sống khó khăn của mình, cũng như những gì đã đưa em tới con đường ma tuý. Tôi ngỏ ý hỏi Sơn có muốn tự mình cắt cơn ở nhà không thì Sơn đồng ý. Và tôi hứa sẽ hỗ trợ em về tinh thần trong thời gian vật vã. Những ngày cắt cơn thật khó khăn. Sơn ăn không ngon, ngủ không yên, mấy ngày đầu toàn thân bị nhức nhối vì triệu chúng “dòi bò”. Nhưng rồi em cũng dần khoẻ ra.
Được tạo bởi Blogger.