Đó là buổi chiều buồn nhất trong những buổi chiều buồn. Buồn hơn cả buổi chiều Ngân, đứa con gái nhỏ của nàng và tôi, bịn rịn đi trên cát. Trong những ngôi nhà ven biển, trong những lùm cây trên đồi cát, những người vượt biên nằm núp với can dầu, mong màn đêm xuống, chờ tàu đến, vượt đại dương.



Chồng Ngân, lính thủy quân lục chiến vừa tử trận. Cha nàng cũng chết trong chiến tranh. Hết cha, rồi chồng. Hai người đàn ông nàng thương yêu đều chết trong khói súng. Nàng muốn rời khỏi xứ này. Xứ này buồn quá! Chiến tranh khói lửa liên miên. Nàng muốn chạy trốn, muốn ra đi, tới xứ khác, làm lại từ đầu.

Nàng năn nỉ tôi cùng đi. Trước đây tôi và nàng cùng là ca đoàn ở nhà thờ. Những ngày thơ mộng, đêm Giáng Sinh cùng nàng hát so lo “Một mùa sao sáng”. Nàng mặc bộ áo dài trắng tinh khôi, giọng hát trong veo. Không đeo cánh nhưng tôi từng tin nàng là thiên thần. Một anh lính thủy quân lục chiến đi lễ đêm Giáng Sinh đã cảm giọng hát của nàng. Sau thánh lễ, anh lính tìm gặp nàng. Họ phải lòng nhau và tôi chỉ còn biết buồn đời đi lính. Tin chồng nàng tử trận, tôi lại là người báo cho nàng.

Nàng ao ước tôi đi cùng nàng. Một thiếu phụ chồng vừa tử trận và đứa con gái nhỏ, sẽ leo lên chiếc tàu nhồi nhét đầy người. Lênh đênh trên biển mênh mông. Không biết ngày mai, không biết tương lai, còn sống hay phải chết?

Tôi cũng muốn đi cùng nhưng quay đầu lại, thấy mình hèn quá. Cha mẹ già, em thơ còn ở lại. Qúa nhiều thứ, nhiều người cần tôi ở lại. Tôi chỉ đi tiễn hai mẹ con nàng, nhìn hai mẹ con lên tàu lần cuối.

Và chiều đó, tôi ra biển tìm nàng trong nước mắt và đau đớn. Chưa đầy một tháng, những xác người trên chiếc tàu của nàng trôi dạt về. Người ta nói chẳng một ai sống sót. Những xác người không còn có thể nhận diện, trương phình gớm ghiếc.

Tôi lật những xác người, mông lung nhận ra nàng qua cái vòng chuỗi mân côi đeo ở cổ tay. Tôi chôn xác người tôi yêu và không biết mình có chôn nhầm? Bởi vì lỡ như trên tàu nàng tặng vòng chuỗi mân côi cho cô gái nào đó? Nhưng chắc là nàng. Dù trần truồng, chẳng còn mảnh vải trên người vì sóng đánh, nhưng tôi tin là nàng, vào linh cảm.

Tôi cũng lang thang trên bãi biển nặc mùi tử khí để tìm xác con gái nàng. Tôi ước gì gặp được xác con nàng để chôn cất cho tử tế nhưng cũng mong không tìm thấy cháu. Nếu không thấy xác cháu, biết đâu cháu còn sống? Tôi khóc và cầu nguyện Chúa, cầu nguyện Đức Mẹ với hi vọng nhỏ nhoi con nàng được sống.

Tôi mộng du đi trên bãi cát với lời cầu nguyện mong manh. Tôi không khóc được, không ăn được, không ngủ được, không cười được. Ngày nào tôi cũng đi dọc theo bãi biển tìm xác người. Người ta bảo tôi mất trí.

*

Chiều xuống, những bóng nắng nhảy nhót trên tàng cây thu lại ánh sáng để tàng cây màu sâm sẫm. Tôi thu đồ nghề sửa xe, chờ đứa con trai đi học về tạt qua đón. Ngồi trên vỉa hè nhìn người xe xuôi ngược, nhìn đàn bồ câu bay đậu trên tháp chuông nhà thờ gần đó, muốn nghĩ về kiếp người mà cũng chẳng muốn nghĩ. Một người từng đi lính vì buồn tình, tự tay chôn xác người yêu, ấy là người tôi yêu chứ nàng có yêu tôi không thì không chắc, ở tù rồi ra tù sau ngày đất nước thống nhất, lập gia đình khi không còn trẻ, rồi lại góa vợ khi nàng vừa sinh ra đứa con đầu lòng. Ở tuổi bạc đầu, ngồi vỉa hè sửa xe, vá xe nuôi con trai ăn học. Bao nhiêu biến cố thời cuộc tôi đều biết chút mùi. Nên chẳng biết nghĩ gì bây giờ? Chỉ mừng là mình còn sống, còn lao động, còn lòng tin ở Chúa. Và đứa con trai mặt mũi sáng sủa, khỏe mạnh, chịu khó học hành. Thứ gì qua cũng đã qua rồi. Như Kinh Thánh nói: con chim đói hay no Chúa còn biết, những đau thương, khổ ải của con người sao Chúa không biết? Biết chớ, Chúa biết hết. Biết cả việc mỗi lần xin lễ cho vợ, tôi cũng xin lễ cho người con gái tôi chôn xác trên biển năm nào.

Mãi nghĩ thằng nhóc con tôi đã tới từ lúc nào. Chở tôi về, nó hỏi.

- Hôm nay sửa xe khá không ba?

- Lai rai thôi con- Tôi đáp.

- Ba ráng làm một năm nữa thôi. Năm sau con ra trường đi làm nuôi ba.

- Thôi con, ba đi làm cho vui chứ ngồi không để con nuôi có vui gì, có khi còn bệnh vì chân tay rảnh quá.

Thằng nhỏ cười khúc khích. Rồi đột nhiên nó nói:

- Ba à, có chuyện này con muốn nói với ba…

- Chuyện gì vậy con?

- Có một chị ở nhà thờ Đức Bà có gương mặt rất giống người con gái trong tấm ảnh của ba…

- Tấm ảnh nào?- Tôi ngạc nhiên.

- Tấm ảnh ba cất trong cuốn sổ đó.

Thằng nhóc quỷ! Ba cất kĩ vậy mà cũng lén coi cho được. Đó là tấm ảnh chụp Ngân trong đêm Giáng Sinh năm nào. Nàng mặc bộ áo dài trắng, đứng trước hang đá Chúa Hài Đồng. Tấm ảnh đã đi cùng tôi qua bao thời gian và biến cố.

- Con chắc là giống không?- Tôi ngạc nhiên hỏi.

- Rất giống, như hai giọt nước. Lẽ nào người con gái trong tấm ảnh còn sống hả ba? Mà nếu còn sống thì phải già chớ. Sao ba già mà cổ trẻ hoài?

- Tốn tiền nuôi mày học đại học mà mày suy luận vậy đó- Tôi lắc đầu.

Thằng con cười hí hí.

*

Tôi bỏ làm, đáp xe ôm ra khu vực nhà thờ Đức Bà. Con trai tôi nói cứ cuối tuần có một chị đẹp đứng ở khu vực này, chuyền tay cho người đi đường những tài liệu về đạo…Tin Lành. Chị gái đẹp mà thằng con tôi nói có gương mặt rất giống Ngân.

Tôi đi dọc công viên, những đốm nắng nhảy nhót trên đầu. Giống như năm nào, tôi vừa mong nhìn thấy cháu vừa sợ nếu nhìn thấy cháu. Nếu đó là con Ngân thì hay quá! Cháu còn sống! Ngân ở thế giới bên kia chắc sẽ rất vui. Nhưng cháu trông thế nào, cháu đã sống ra sao ở những năm tháng qua tôi không dám tưởng tượng. Một bé gái mới vài tuổi, theo mẹ vượt biên, rồi mẹ mất, xác mẹ trôi dạt về lại quê hương. Nếu còn sống, cháu đã từng phải trải qua những gì? Cháu đã sống sót như thế nào trên chuyến tàu định mệnh đó và sống thế nào trên xứ không nói tiếng quê hương? Tôi không dám nghĩ tới. Tôi thấy có lỗi với cháu. Tôi nợ cháu vì cuộc đời của cháu tôi không hay, không biết cũng chẳng thể nào bảo vệ.

“Chị đẹp” mà thằng con tôi nói kia rồi. Một cô gái mặc chiếc váy trắng, đứng trong ánh nắng ban mai. Những tia nắng chiếu qua, gương mặt cháu bừng sáng, chiếc váy trắng tinh khôi cũng bừng sáng. Cô gái giống Ngân như hai giọt nước. Nếu không bấm vào tai mình tôi còn tưởng đó là Ngân. Cô gái đẹp ấy đi dạo quanh khu vực nhà thờ, gởi tài liệu đạo Tin Lành cho những người chưa biết về đạo ấy.

Thấy tôi đi tới, cô rất mừng:

- Chú à, chú có biết Chúa không?- Cô gái hỏi bằng tiếng Việt lơ lớ.

- Có, chú tin Chúa- Tôi đáp.

Cô gái nhìn tôi ngạc nhiên, tròn mắt mỉm cười.

- Chú may mắn được biết Chúa, biết mẹ ruột của cháu và biết cả cháu…- Tôi cố giấu nước mắt nhưng không hiểu sao nước mắt cứ chảy.

- Chú cũng đạo Tin Lành hả?- Cô gái lắp bắp hỏi.

- Không, chú đạo Công Giáo. Mẹ ruột cháu cũng đạo Công Giáo. Mẹ cháu lúc sống từng làm Đức Mẹ và hát ca đoàn ở nhà thờ. Cháu cũng từng đeo cánh thiên thần đứng bên hang đá…

Những lời tôi nói chắc rất bất ngờ và khó tin đối với cháu. Cô gái nhìn tôi, nhíu mày. Tôi nhìn gương mặt xinh đẹp của cháu.

- Mẹ cháu tên Ngân. Chú đã chôn cất mẹ cháu- Tôi òa khóc.

Một anh bạn cháu chạy tới, hỏi chuyện gì xảy ra. Cháu lắc đầu bảo “không có gì” và theo anh bạn bước đi. Họ nắm tay nhau, đi phát tài liệu đạo Tin Lành cho những người qua đường. Lâu lâu cháu lại quay nhìn tôi, tìm bóng dáng tôi. Tôi đứng đó một hồi lâu chờ cháu quay lại. Nước mắt tôi cứ chảy.

Hôm sau, tôi đem theo tấm ảnh Ngân ra khu vực nhà thờ Đức Bà. Cháu đứng đó chờ tôi từ lúc nào. Cháu dẫn tôi qua chỗ xa hơn các bạn cháu, họ vẫn làm công việc truyền đạo, nói về Chúa, phát tài liệu đạo Tin Lành cho người qua đường. Cháu không muốn họ nhìn thấy cháu trò chuyện với tôi.

Ngồi trong một quán nhỏ, tôi đưa cháu tấm ảnh mẹ cháu.

- Ngày trước tên thánh mẹ cháu và cháu đều là Maria. Mẹ cháu rất mộ đạo và rất yêu Đức Mẹ…- Tôi nói.

- Có lẽ lúc đó cháu nhỏ quá nên cháu không nhớ gì hết. Cháu chỉ biết ba mẹ nuôi của cháu theo đạo Tin Lành. Họ cũng yêu thương cháu, nuôi cháu ăn học đàng hoàng. Rồi cháu cũng theo đạo Tin Lành. Cháu biết cháu là con nuôi nhưng không biết mẹ ruột cháu và cháu theo đạo Công Giáo. Cháu cũng nghĩ là mẹ cháu đã mất, người ta cũng nói thế…

- Cháu làm công việc truyền đạo này lâu chưa?- Tôi hỏi.

- Cũng mới thôi chú. Bạn trai cháu cũng đạo Tin Lành. Anh ấy muốn làm mục sư. Cháu giúp anh ấy đi truyền đạo.

- Đây là số điện thoại và địa chỉ của chú. Nếu cháu muốn biết nhiều hơn về mẹ cháu, về cháu trước kia cứ liên lạc với chú. Chú rất tiếc vì thời cuộc và theo thời gian, bãi biển ngày xưa chú chôn xác mẹ cháu giờ đã thành khu du lịch, chẳng biết đích xác mộ mẹ cháu ở đâu. Chú chỉ còn giữ mỗi tấm ảnh này của mẹ cháu.

- Mẹ cháu đây sao?- Cháu nhìn chăm chăm vào tấm ảnh, rưng rưng nước mắt. Một hồi lâu cháu mới thốt lên:

- Mẹ cháu đẹp quá. Nốt ruồi ở khóe miệng của mẹ giống y như cháu.

*

- Ba à! Sao ba buồn vậy?

Thấy tôi nằm trên võng trầm ngâm đốt thuốc, thằng con tới bên hỏi.

- Tự nhiên buồn vậy đó con.

- Ba gặp chị đẹp, rồi sao hả ba?

- Sao đâu con? Vừa vui vừa buồn. Vui vì con của người ba thương còn sống. Còn buồn cũng chẳng hiểu vì sao?- Tôi nói.

- Nếu con còn nhỏ, mồ côi, cha mẹ nuôi theo đạo nào chắc con cũng phải theo đạo đó- Thằng con suy luận- Chị đẹp theo đạo Tin Lành vì ba mẹ nuôi chỉ theo đạo Tin Lành cũng dễ hiểu mà ba. Mà ba nên mừng là ba mẹ nuôi chỉ theo đạo Tin Lành, ít ra cũng tin Chúa. Lỡ ba mẹ nuôi chỉ theo đạo đi đánh bom cảm tử là tiêu.

Tôi lừ mắt. Thằng con dọt mất. Cái thằng! Biết đường thì nói, không biết thì dựa cột mà nghe. Nói ban đầu có ý đúng sau toàn nói bậy. Tụi trẻ bây giờ không biết vì sao cái gì chúng đều coi nhẹ bẫng. Có lần thằng con tôi nói, sao nó thấy đạo nào cũng…hay. Nó tin Chúa, yêu Đức Mẹ, yêu đạo Công Giáo nhưng chẳng ghét đạo nào hết. Giữa một người cuồng đạo của mình và người không ghét đạo nào không biết người nào hay hơn?

Nhờ giáo lý đạo Công Giáo, tôi biết Chúa, tin Chúa, yêu Đức Mẹ từ khi còn nhỏ, qua những năm tháng chiến tranh, khi ngưng tiếng súng, nếm trải hết mùi vị đắng cay cuộc đời. Chúa và Đức Mẹ luôn nằm trong đức tin của tôi, có trong lời cầu nguyện của tôi, nghe hết những cay đắng rã rời của đời tôi. Lòng tin đó tôi giữ suốt bây giờ. Tôi còn sống là tôi còn tin.

Tôi nghĩ về Ngân. Nàng từng làm Đức Mẹ, là con chiên mộ đạo của đạo Công Giáo. Có lẽ nhờ lời cầu nguyện cháy lòng của nàng, tình yêu và đức tin của nàng mà con nàng còn sống một cách thần kì. Nghĩ coi, giữa biển cả mênh mông, thuyền tan tác, người lớn còn bị sóng đánh xác dạt vào bờ. Sao một đứa trẻ lại sống sót được nếu không nhờ ơn Chúa, ơn Mẹ? Có lẽ trên tàu Ngân đã cầu nguyện cho con nhiều hơn cho mình. Và Ngân cảm thấy thế nào khi con nàng theo đạo Tin Lành chứ không phải là đạo Công Giáo giống như nàng? Nàng có bất ngờ không? Giờ đây, linh hồn nàng buồn hay vui?

Thằng con tôi nói: “Ba à, đừng buồn nữa. Đạo nào cũng tốt mà ba, hơn nữa đạo Tin Lành cũng tin Chúa mà”. Tôi cũng đành an ủi như vậy.

Tôi dẫn con Ngân ra thăm mộ Ngân. Nhưng như tôi đã nói, bãi biển đâu đâu cũng là khu du lịch. Tìm nơi ngày xưa tôi chôn cất Ngân là không thể. Mà ngần ấy năm tro bụi của Ngân cũng theo con sóng ra khơi xa rồi. Tôi và cháu cứ đứng mãi trên bờ biển, nhìn sóng biển chạy vào rồi chạy ra khơi xa.

Theo quy luật của dòng chảy, tất cả mọi dòng sông đều đổ về biển. Đạo Công giáo và đạo Tin Lành giống như hai nhánh sông cùng chảy về biển Tình Yêu Chúa. Chúa đứng đó, bao dung và nhân ái chờ đợi những nhánh sông chảy về. Tôi buồn vui điều gì khi tôi cũng chỉ là một mạch nước nhỏ trong nhánh sông kia. Tôi khát khao chảy về biển rộng, dù trải qua bao sóng ngầm nhưng tôi không phải rẽ ngang.

Con Ngân còn sống là tốt rồi. Và như con trai tôi nói, cháu tin Chúa là được rồi.

*

Một buổi chiều, tan thánh lễ, tôi bước chân về đài Đức Mẹ, đọc kinh và cầu nguyện cùng Mẹ. Đứng trước tôi là một cô gái, mặc bộ áo dài trắng, thả tóc thề. Mọi cô gái đều giống nhau nhưng không hiểu sao tôi cảm thấy mình quen biết cô gái ấy. Ngân đã không còn. Con gái Ngân Việt kiều, về nước thăm quê hương, đi dự lễ theo đạo Tin Lành chắc chắn không đi ngôi nhà thờ Công Giáo này. Nhưng sao cái dáng ấy thân quen quá! Hình ảnh ấy phảng phất hình ảnh tôi đã thấy ở đêm Giáng Sinh xa xưa, cũng dáng ấy, người con gái ấy.

Tôi đứng sau lưng, nín thở và cầu nguyện. Cô gái ấy bỗng nhiên quay lại, nở một nụ cười. Tôi không thể tin vào hình ảnh trước mắt. Tôi chỉ biết rơi nước mắt nhưng là giọt nước mắt vui mừng.

- Chú ơi! Đức Mẹ Maria hiền từ và đẹp quá! Hồi đó tên thánh cháu là Maria hả?

Tôi lau nước mắt mà nước mắt vẫn cứ chảy ra.

- Sao chú khóc hoài vậy? Bộ cháu nói gì cũng làm chú khóc hết hả?

Thấy vậy tôi mỉm cười. Nụ cười của tôi vẫn còn rưng rưng nước mắt…






Khi cha Hùng tới giáo xứ X, con đường dẫn vào giáo xứ lầy lội bùn đất đỏ. Trời chiều mưa, trâu bò về chuồng sớm. Lục lạc trên cổ bò rung leng keng, lắc cắc. Mấy đứa nhóc chăn bò mở to đôi mắt tròn có hàng mi cong vút, chỉ trỏ nhìn cha.

- Nhà thờ ở chỗ nào vậy các con?- Cha Hùng vuốt mặt đầy nước mưa, hỏi.

- Đi hết con đường này là gặp nhà thờ đó cha- Một cậu nhóc chăn bò nói- Nhưng cha không đi bộ được đâu. Cha trèo lên lưng bò, con dẫn cha đi.

Ái chà! Kẹt quá! Cha xứ mà trèo lên lưng bò ai coi cho được. Cậu nhóc hò cho một con bò quỳ xuống, mắt mở to nhìn cha.

- Trèo lên lưng bò đi cha. Đường ngập bùn, qua suối nữa. Cha đi không được đâu.

Cha Hùng đành trèo lên lưng bò. Bò đi, cha lén che che cái mặt. Mấy con chiên mà nhìn thấy cha tới giáo xứ theo kiểu này là chết à nghe.

Trèo xuống lưng bò, lưng cha Hùng đã dính te tua bùn đất. Con đường vào giáo xứ đúng là ngập ngụa trong bùn. Con bò chở cha dính bùn đỏ khắp da. Thằng nhóc chăn bò chào cha rồi dẫn đàn bò về cuối xóm.

Cha Hùng đứng một mình trên bờ cỏ. Ngóng mắt tìm tháp chuông nhà thờ. Một cụ ông Ba Na đứng bên ngôi nhà dựng bằng tôn, che mắt nhìn cha.

- Cha ơi! Vào nhà thờ chở để mưa ướt- Ông kêu to trong mưa.

Cha bước vào nhà thờ. Những mảnh tôn được ghép lại trên đất. Bàn ghế là những thanh gỗ, cây củi người dân chặt trong rừng. Nhà thờ không có tháp chuông. Chỉ có một cái kẻng treo bên ngoài. Ông cụ Ba Na chạy ra sân mưa, đánh keng keng báo cho giáo dân biết cha xứ tới. Tiếng keng keng của chiếc kẻng thô sơ vang lên trong màn mưa.

Chúa ơi! Chắc Chúa thử thách con. Giáo xứ gì mà tội nghiệp quá!

Chưa đầy một tiếng đồng hồ, những con chiên trong ngôi làng người Ba Na đã tụ tập trong nhà thờ để nhìn cha “bằng xương bằng thịt”. Những cánh tay đen đen của người lớn, đàn ông, đàn bà, người già, con nít thi nhau nắm tay cha, bóp chặt. Cứ như họ sợ cha là sương khói, chứ không phải người thật.

- Có cha xứ về rồi, tụi con mừng quá- Một bà cụ bập bẹ tiếng Kinh.

Những đôi mắt sâu hút, long lanh, trong veo như nước mưa nhìn cha vui lấp lánh.

- Hồi giờ giáo xứ con không có cha xứ. Cha ở đây với tụi con luôn nhe cha.

Bao nhiêu cánh tay ôm chặt lấy cha Hùng, ngửi mùi cha khiến cha cười hạnh phúc. Tình cảm của giáo dân Ba Na mới gặp mà sâu đậm quá. Cha xúc động rơm rớm nước mắt.

Từ ngày có cha Hùng về, giáo xứ rộn ràng leng keng tiếng kẻng. Ông cụ Ba Na làm cụ từ ở nhà thờ, người nhỏ thó, gầy guộc nhưng mỗi lần đánh kẻng đánh mạnh hết sức. Ráng đánh kẻng cho tất cả con chiên ở sâu trong rừng nghe luôn đó cha.

Thánh lễ sao mà giản dị. Những con chiên đi lễ nhà thờ mặc những bộ quần áo đẹp nhất, nhưng không phải bộ quần áo nào cũng lành lặn. Có bộ vá chùm vá đụp. Những đôi chân không mang dép, dính đầy bùn đất đỏ. Gió thổi ù ù vào những mảnh tôn ghép. Nhưng Chúa vui khi nhìn những con chiên Ba Na dự thánh lễ. Có thánh lễ nào đơn sơ đầy tình yêu hơn thế!

Những mùa mưa rồi cũng đi qua, thấm thoát cha Hùng ở giáo xứ X đã ba mùa rẫy. Giờ cha biết nói tiếng Ba Na rồi. Cha cũng thuộc hết con đường đi vào những xóm nhỏ. Mà xóm gì đâu. Nhà nào nhà nấy rộng mênh mông chẳng có hàng rào. Những bếp nhà sàn ám khói. Tiếng lục lạc bò rung leng keng, lắc cắc mỗi chiều. Cha cũng thấy mình là một người Ba Na trên mảnh đất nghèo vật chất mà đầy tình yêu thương này.

- Cha à! Con gà rừng này con tặng cha đó.

- Nhà con nuôi gà rừng hả?

- Dạ đâu có. Con đang làm rẫy, thấy nó chạy ngang qua nên đuổi theo bắt đó cha. Cha thấy con giỏi không?

- Chân con sao đi khập khiễng vậy?

- Chạy theo bắt gà rừng nên con bị trượt chân đó cha.

- Lạy Chúa tôi!

Một mùa xuân nữa lại về trong giáo xứ. Năm nay xứ đạo sẽ dựng một tháp chuông. Có tháp chuông, đi lễ chuông sẽ rung leng keng thánh thót. Không như cái kẻng keng keng ầm ĩ như còi báo động. Những thanh niên trong giáo xứ hăm hở vào rừng chặt cây lấy gỗ. Những ngày dựng tháp chuông y như ngày hội. Từ ông cụ, bà cụ đến con nít đều tham gia. Mấy đứa con nít ngồi hổm nhìn người lớn dựng tháp chuông, mắt đứa nào đứa nấy mở to vừa ngạc nhiên vừa sung sướng.

Tết năm nay, để khánh thành tháp chuông, cha Hùng quyết định gói bánh tét phân phát cho các con chiên trong giáo xứ.

Thịt, nếp, lá chuối…cha xin được hết rồi. Giờ “chuyển giao công nghệ” gói bánh cho các chị Ba Na trong giáo xứ thôi. Người biết bày cho người chưa biết. Mọi người tập trung lại nhà xứ gói bánh, cười đùa rộn ràng. Cha tính rồi. Gói hết chừng đó để mỗi nhà có được một cây bánh tét ăn lấy thảo. Giáo xứ nghèo, giáo dân nghèo, cha cũng nghèo. Có gì cùng chia sớt nhau.

Sau một đêm canh nồi bánh chín, cha dẫn vài con chiên mang bánh tét tới từng nhà. Mấy đứa con nít Ba Na chạy theo cha, hò reo. Cảnh tượng vui hết sức.

Mùa mưa lại đến. Ban đầu là những cơn mưa nhỏ như tưới mát những cây cà phê, làm mềm đất rẫy. Sau mưa ầm ầm, thối trời thối đất. Những mảnh tôn lợp trần và làm vách nhà thờ không chịu nổi mùa mưa giông bão. Chúng dột và xiêu vẹo. Mưa ầm ầm làm mấy mảnh tôn bay tứ tán. Cha Hùng và các con chiên phải đội mưa lợp lại mái. Chúa ơi! Giáo xứ nghèo mưa dột làm Chúa ướt! Đừng buồn Chúa nhe!

Sau mùa mưa, ngôi nhà thờ tôn xiêu vẹo như chỉ cần một cơn gió mạnh là sập. Không được rồi. Phải xây dựng một ngôi nhà thờ chắc chắn. Nhưng giáo dân nghèo quá. Cha phải đi kiếm tài trợ thôi.

Cha tạm biệt giáo xứ một tháng. Đi cử hành thánh lễ ở những giáo đường giáo dân có điều kiện. Có một giáo xứ Ba Na heo hút đang cần một ngôi nhà thờ, không dám mơ cao to, sang trọng, chỉ cần chắc chắn qua nổi những mùa mưa.

Cha chuẩn bị hành lí gói trong một chiếc va li nhỏ. Tạm biệt giáo xứ Ba Na. Cha đi rồi cha sẽ trở về.

Những con chiên tiễn cha đi, ai cũng rơm rớm nước mắt. Cha tới giáo xứ nghèo thấy thương cha quá đỗi. Giờ cha cũng đen gầy như một người Ba Na chính hiệu. Cha còn nói tiếng Ba Na nữa. Nên chắc chẳng ai nhận ra cha là người kinh.

Bắt tay. Tạm biệt. Chờ cha nhe. Cha sẽ trở về để cùng xây nhà thờ mới. Chúa sai cha đến đây để yêu thương mảnh đất này mà.

Chiếc xe máy chở cha ra khỏi giáo xứ bỗng không đi được nữa. Phải rồi. Vừa dứt mùa mưa. Con đường ngập đầy bùn. Không có xe nào chạy nổi. Làm xong nhà thờ, cha phải tính đến chuyện làm con đường này luôn quá. Chắc cha phải đi cử hành thánh lễ ở xứ khác một năm mới mong đủ tiền làm đường.

- Cha ơi! Xe không đi được nữa. Làm sao đây cha?- Anh chạy xe thắc mắc.

- Đừng lo cha ơi! Leo lên lưng bò của con nè!

Một cậu nhóc Ba Na ngồi vắt vẻo trên lưng bò nhìn cha nói. Cậu nhóc đánh bò tới, hò cho bò khuỵu xuống.

- Leo lên đi cha- Cậu bé khúc khích cười.

Kẹt hè! Lúc đến giáo xứ cha cũng leo lên lưng bò. Lúc tạm biệt giáo xứ cũng leo lên lưng bò. Sao mà có duyên với bò dữ vậy.

Cha Hùng leo lên lưng bò, vịn hông cậu nhóc. Một tay cha cầm chặt chiếc vali. Mấy con chiên bắt gặp cha ngồi trên lưng bò, khúc khích cười.

- Cha ơi! Khi nào cha về, con sẽ đón cha- Cậu nhóc Ba Na nói.

- Để cho cha ngồi trên lưng bò tiếp hả?- Cha Hùng cười.

Cậu bé Ba Na cười tít mắt.

Có những mảnh đất nghèo nàn nhưng đầy ắp tình người. Hơn ba năm ở mảnh đất này cha Hùng mới thấm thía cái tình cái nghĩa. Con đường đất bùn đỏ không làm cha ngại nữa. Cái nghèo, sự thiếu thốn cũng không làm cha ngại. Cha chỉ xin Chúa cho mình lòng nhiệt huyết để cùng giáo dân xây dựng nhiều thứ trên mảnh đất này. Đặt viên đá đầu tiên bao giờ cũng khó khăn. Nhưng có viên đá đầu tiên mới có viên đá tiếp theo được xây dựng.

Lạy Chúa! Chúa đã cho con có duyên với mảnh đất này. Con sẽ cùng giáo dân xây dựng nhà Chúa.

- Cha à! Cha ôm chặt con nhe. Con cho bò chạy nước đại vui lắm- Cậu nhóc Ba Na nói.

- Cha không thích cảm giác mạnh con à.

- Không sao đâu cha. Cha cứ ôm chặt con. Chạy nước đại mới nhanh cha ơi.

- Chúa ơi! Bò chứ đâu phải ngựa.

Cậu nhóc Ba Na quất roi vào lưng bò. Chú bò chạy té re làm cha hết hồn. Cha cứ nhắm mắt ôm chặt cậu nhóc. Nó cười nắc nẻ, lắc lư cái đầu khét nắng.

- Cha thích không cha? Khi nào cha trở lại, cha và con đi cưỡi voi nhe.

Tiếng cười của cậu bé Ba Na giòn như cái nắng tháng ba. Tháng ba, mùa những con ong đi lấy mật. Cha cũng đang đi lấy mật cho một mảnh đất thiếu thốn, nghèo nàn. Với cha, đó là mảnh đất tình yêu. Nơi đói nghèo, thiếu thốn lại là nơi nở những bông hoa đẹp của tình yêu Chúa và tình người.







1.

Hôm qua chị thấy dáng ai như dáng em gái chị đi ngang qua nhà thờ. Người giống em gái chị ngồi sau xe máy của một người đàn ông. Là bồ, là chồng, bạn, hay xe ôm chị không biết. Chị đứng bên kia đường ú ớ khi nhìn thấy cái dáng giống em gái mình. Chị cố cất tiếng kêu nhưng không kêu được. Khi chị qua được bên đường đầy những dòng xe ùn ùn tới như cố kéo chị đi, cất được tiếng kêu tên em gái thì chiếc xe đã mất hút rồi.

Chị ngồi xuống cổng nhà thờ, khóc nức nở.

Có thể nói em gái chị là một con chiên lạc và là con chiên tội nghiệp trong bầy chiên của Chúa. Mồ côi cha từ lúc nhỏ, mẹ đi bước nữa, hai chị em chị phải sống chung với mẹ, cha dượng và những đứa con của cha dượng. Nghèo thì cũng ráng chịu đựng được nhưng những trận đòn của cha dượng hết ngày này qua ngày khác dội xuống hai đứa con gái riêng của vợ thì không. Chị bỏ đi làm công nhân may khi chưa tốt nghiệp cấp ba để tự nuôi sống mình, gởi ít tiền cho mẹ và nuôi bầy em đi học. Tưởng em chị sẽ được học hành tử tế nhưng không ngờ sau khi bị cha dượng đánh đập và…hãm hiếp, em đã bỏ nhà ra đi.

Mẹ và chị đã khóc hết nước mắt. Có những năm tháng chị đi tìm em. Hỏi thăm những công nhân may, tới những xóm trọ dành cho những người nhập cư tứ xứ…Nhưng em bặt vô âm tín. Chị cũng không biết em chị làm gì để sống giữa cuộc đời mà không có vốn gì trong tay ngoài một con tim tan nát. Khi nghe có người nói ra nói vô là thấy em làm gái, đứng chỗ đường này, đường kia. Chị đã lặn lội đi tìm.

Một lần đúng là chị thấy em đứng chờ khách trên đường. Mặc chiếc váy sát đùi em chị đẹp một cách hoang dại. Làm nghề bị xã hội dè bỉu, lên án mà gương mặt em chị đẹp như một thiên thần. Chị đứng bên này đường nhìn em, cố len vào dòng xe máy ùn ùn để đi qua đường, không ngớt gọi tên em. Em ngẩng lên nhìn thấy chị, sững sờ vài giây rồi leo lên một chiếc xe máy đứng gần đó như là bảo kê của em dọt lẹ. Chị khóc gọi theo nhưng em không quay lại. Từ đó về sau em chị không còn quay về đứng con đường đó nữa mà đi xa hơn, đứng những con đường chị không biết, không tìm ra trong thành phố rộng lớn này.

Trong thành phố này có biết bao nhiêu con đường, con đường nào em chị đang đứng để chờ khách? Cứ mỗi chiều lòng chị lại quặn thắt lên. Đi nhà thờ, tan lễ đi ngang qua những con đường nhìn thấy những cô gái làm nghề như em chị đứng bên đường chờ khách nước mắt chị lại rơi. Đi lễ lần nào chị cũng cầu nguyện cho em. Cầu cho một con chiên lạc là em có lúc sẽ quay về.

Mà em có quay về không khi em đã đi lạc trên những con đường xa xôi như vậy. Em căm thù dượng vì những trận đòn, vì dượng đã hãm hiếp em. Cái đói, cái nghèo, những trận đòn, bị hành hạ về tinh thần lẫn thể xác, mẹ và chị lại không bảo vệ em được. Em đã bỏ ra đi mà không dám và cũng không muốn quay về. Càng đi em lại càng lạc thêm, xa thêm con đường của Chúa. Em cứ đi mãi trong bóng tối, đi mãi và đi mãi.

Nhưng chị- người chị gái của em cứ cầu nguyện và cầu nguyện. Chị biết làm gì hơn là cầu nguyện. Cầu cho em quay về như người đi lạc trên đường chợt nhìn thấy một ánh sao để biết phương biết hướng. Chị vẫn đi tìm em gái chị. Chị không có gì ngoài lời cầu nguyện và tình thương của một người chị ruột dành cho em gái tội nghiệp của mình.

Lời cầu đó chị tin chắc Chúa sẽ nghe và một ngày nào đó em gái chị cũng sẽ nghe.

2.

Buổi tập hát đã xong. Các ca đoàn viên về hết. Điện cũng đã tắt, chỉ còn ánh điện trên bàn thờ Chúa hắt xuống. Anh ngồi trong bóng đêm vừa muốn đứng lên, vừa muốn nán lại. Nước mắt rịn ra trên gương mặt anh lúc nào không biết.

Anh về nhà có gì? Ai chờ anh ở đó? Vợ anh vừa mới qua đời. Ở tuổi 50, chưa già anh trở thành người góa vợ. Hai đứa con đi làm trong thành phố. Chúng không có nghề nghiệp ổn định, làm công nhân cũng chật vật áo cơm, ít về thăm nhà.

Mà về nhà buồn quá. Đi ra, đi vào chỉ có anh thôi. Đứa cháu trai nhỏ con gái gởi vì ở thành phố không có đủ tiền đi nhà trẻ đang nằm ngủ ngon lành trên chiếc ghế trong nhà thờ. Ngày nào đi tập hát anh cũng dẫn nó theo. Anh trở thành gà trống nuôi cháu.

Anh quỳ đọc kinh, nghĩ về sự cô đơn và nhiều thứ khác.

Sự cô đơn lúc này và quãng thời gian dài dằng dặc nuôi vợ bệnh anh không biết thứ nào dễ chịu hơn? Hình như chẳng có thứ nào dễ chịu cả. Vợ anh bị ung thư, phải nằm chiến đấu với căn bệnh ung thư trong một thời gian dài. Những ngày trước đi đâu cũng hai vợ chồng, đi coi ruộng, gặt lúa, phơi lúa, đi nhà thờ…Đi tập hát về (anh là trưởng ca đoàn) lúc nào cũng có vợ chờ. Tiếng ti vi và tiếng vợ cười ấm áp căn nhà. Rồi vợ anh đổ bệnh, nằm như tàu lá, chưa chết nhưng chỉ nằm chờ chết. Một người sắp chết, đau đớn, chẳng còn thiết tha gì cuộc đời này ngoài việc được bớt những cơn đau. Bác sĩ chạy, chỉ nằm ở nhà chịu đựng những cơn đau đớn cuối đời. Mà lúc trẻ vợ anh rất hiền, chẳng làm đau ai, sao cuối đời lại phải chịu những cơn đau kinh hồn đến vậy?

Rồi vợ anh đi vì không chịu nổi những cơn đau nữa. Giờ đây anh đi đâu, làm gì cũng lủi thủi một mình. Đút cơm cho thằng cháu nhiều khi anh khóc. Anh không quen cô đơn cô độc.

Anh không biết cầu gì trong đêm tối này? Vợ anh mất rồi. Lúc trước anh cầu cho vợ anh lành bệnh, cầu cho vợ bớt đau. Nhưng Chúa không nghe hay Chúa có chương trình của Chúa mà anh không biết. Cầu cho hai đứa con anh ở thành phố. Chúng cũng tội nghiệp quá. Làm công nhân có gì vui? Ở trọ trong những căn phòng chật chội, ăn uống dè sẻn, tiết kiệm mà vẫn không đủ tiền trang trải sinh hoạt. Đi làm thì cả ngày nhốt mình trong nhà xưởng, không nhìn thấy ánh mặt trời. Có lúc tăng ca về nhà là người rã rời. Lấy vợ, lấy chồng, sinh con mà cũng chẳng có tiền nuôi. Cái đói, cái nghèo, sự thiếu thốn cứ đuổi theo mãi.

Anh còn một thứ là niềm vui, niềm hi vọng của anh. Thằng cháu đang ngủ chèo queo trên chiếc ghế bên cạnh anh. Nó biết mẹ nó ở xa, không có tiền nuôi nó, cha nó thì đã bỏ mẹ nó khi hai người không vượt qua được cuộc sống chật vật thiếu thốn áo cơm. Nó biết người đút cơm lâu nay cho nó là bà ngoại đã mất, bây giờ là ông ngoại. Nó biết thân biết phận lầm lũi theo anh, nắm tay anh, cùng trải qua cuộc sống cô độc với anh. Bây giờ nó lại là người nghe anh trò chuyện.

Một ca đoàn nhỏ của anh cũng có biết bao nhiêu thân phận. Vợ chồng bỏ nhau, li thân. Con cái không nghe lời, con cái đi làm xa, thất nghiệp. Trong nhà có người ốm đau. Rồi người này người kia cô độc…Hình như cuộc đời trần gian là vậy, hỉ nộ ái ố phong phú đủ màu sắc. Có khi đứng đánh nhịp, nghe tiếng hát, nhìn gương mặt anh biết ai đang hạnh phúc, ai đang đau khổ mà cố dằn lòng…

Lạy Chúa! Anh cầu nguyện trong đêm khuya…Anh cầu cho tương lai thằng cháu nhỏ và cầu cho hai đứa con mạnh khỏe ở xứ người. Nước mắt anh rịn ra trong đêm…

3.

Người đưa thư vừa đi ngang qua nhà anh. Có tiếng gọi ngoài cổng nhưng anh không mở cổng được. Anh cố nói to lên nhưng con bé đưa thư không nghe. Anh không biết thư gì? Chắc là mấy cái bill thu tiền điện, điện thoại. Chớ nhà anh làm gì có thư. Hai vợ chồng anh đều làm nông, cả đời không viết thư và cũng không nhận được bức thư nào kiểu như thư đúng nghĩa.

Anh đang ngồi trên một chiếc ghế và ngồi bất động, không nhúc nhích. Anh bị liệt nửa người. Lâu rồi anh không nhớ thời gian nữa. Tự nhiên cuộc đời anh lại ngồi đây, bất động trong chiếc ghế này. Không thể làm chồng và không thể làm một con người tự do đi lại.

Nếu vợ anh là một người ngoại đạo chắc vợ anh đã bỏ anh đi rồi. Nhưng vợ anh có đạo. Luật Chúa không cho phép li hôn. Và vợ anh cũng còn chút tình nghĩa với anh, chấp nhận nuôi anh- một người liệt.

Giờ này vợ anh đang ở ngoài ruộng. Nhổ cỏ mướn cho người ta hay đi thăm ruộng nhà anh. Còn anh thì ngày nào cũng ngồi trên chiếc ghế, không nhúc nhích, không di chuyển nhìn qua cửa sổ, nhìn chăm chăm những tán lá và chờ thời gian trôi.

Nếu có tiền anh sẽ mua cho mình một chiếc xe có bánh lăn để anh có thể di chuyển trong nhà hay ra ngoài ngõ. Nhưng nợ nần nhiều quá, tiền mua thuốc uống còn không có, một chiếc xe có bánh lăn để thay thế chân anh trở thành một giấc mơ xa xỉ. Anh không dám đòi hỏi nhiều ở vợ, cũng không dám đòi hỏi gì ở cuộc đời.

Thế giới của anh bây giờ chỉ là một ô cửa sổ. Nhà anh có ti vi nhưng để tiết kiệm tiền điện anh không mở ti vi. Anh không thể mở ti vi suốt ngày trong khi vợ đi làm quần quật ở ngoài, mà anh cũng không thể với tới cái bật ti vi. Anh chỉ có thể ngồi nhìn hai thứ: ô cửa sổ luôn mở cửa để anh ngó ra ngoài và chiếc đồng hồ trên tường cho anh biết mấy giờ. Lúc nào thì vợ anh đi ruộng về, đi chợ về, lúc nào con anh đi học về. Lúc ấy là phút giây anh hạnh phúc.

Trong đời người hạnh phúc ở mỗi giai đoạn có nội dung khác nhau. Với trẻ con, hạnh phúc đơn giản chỉ là đòi kẹo và người lớn cho nó kẹo. Mút một viên kẹo trẻ con đã thấy hạnh phúc rồi. Rồi hạnh phúc nằm trong chiếc áo mới, đôi giày mới, chiếc cặp mới, được điểm cao, được múa hát, được có đồ chơi yêu thích…Lớn lên hạnh phúc đòi hỏi tăng lên. Và một lúc nào đó hạnh phúc là tìm thấy một người khác, gắn bó với một người khác. Hạnh phúc có nghĩa là có đôi có cặp, không lẻ loi một mình. Và sau nữa hạnh phúc là vật chất. Là nhà, là xe, là tiện nghi đầy đủ. Hạnh phúc tiếp nối khi con cái lớn lên, thành đạt.

Không ai nghĩ rằng hạnh phúc là có đầy đủ thân thể (với người khuyết tật), hạnh phúc là bớt cơn đau (với một người đang chịu đựng những cơn đau), là có miếng ăn (với người không làm ra tiền mua thực phẩm), là đi lại được (với những người không thể đi lại, như anh đây bị liệt nửa người phía dưới). Hạnh phúc là thứ người ta thêm vào và còn là những thứ người ta không có, hay bị mất đi.

Hạnh phúc với anh bây giờ không phải là một đôi chân vì anh biết anh không thể có một đôi chân lành lặn, mà là một chiếc xe lăn. Nhưng anh nghèo quá, từ khi anh bệnh nợ nần gây ra cho vợ nhiều quá nên anh không với tới chiếc xe lăn được.

Nhiều khi ngồi một mình trong nhà, nhìn những chiếc lá ngoài cửa sổ anh ước gì gặp Chúa. Chúa bảo “Con đứng lên, rời khỏi chiếc ghế này đi”. Và thế là anh đứng lên, đi lại như đoạn kinh thánh anh đã nghe hồi đi lễ nhà thờ. Nhưng Chúa lại bảo “Con cứ ngồi trên chiếc ghế này và suy ngẫm cuộc đời đi”. Ôi chao! Anh đã trách Chúa nhiều biết bao, nhưng rồi anh không trách nữa. Vì anh biết anh không phải là người duy nhất trên thế giới bị cái hoàn cảnh này. Rất nhiều người, không hoàn cảnh này thì hoàn cảnh khác. Và anh chỉ là một trong số những nạn nhân.

Rồi sau này ngồi bất động trên chiếc ghế anh trò chuyện với Chúa, về vợ con anh, những người anh quen biết. Anh cũng xin Chúa cho mình có được nụ cười. Rất lâu rồi anh không cười, vì bệnh và vì buồn.

Anh đã cười vô thức khi nhìn tán lá ngoài cửa sổ. Cười lúc tầm trưa cánh cửa nhà mở ra, vợ con anh trở về. Cười khi có người ghé nhà hỏi thăm. Và cười một mình khi nhìn con thằn lằn trên tường nhà…

Trong ngôi nhà đóng kín cửa, trên chiếc ghế bất động, không ai biết có một người đàn ông bị liệt mỉm cười.

4.

Một linh hồn nhỏ vừa bay ngang qua bầu trời. Bay qua phố đông có người chị gái lang thang tìm em, bay qua nhà thờ nhỏ có một người đàn ông ngồi khóc, bay qua ngôi nhà luôn đóng kín cửa có một người đàn ông bị liệt bên trong…Linh hồn nhỏ cứ bay và bay mãi.

Linh hồn nhỏ ấy đã bay lên bầu trời.

Chúa hỏi:

- Sao con lại về đây? Chẳng phải là con đã đến trần gian sao?

- Vâng, thưa Chúa- Linh hồn nhỏ dịu dàng đáp- Con đã đến trần gian nhưng mẹ con chưa sẵn sàng. Mẹ đã để con quay trở lại.

- Ta hiểu- Chúa vỗ về linh hồn nhỏ- Có rất nhiều linh hồn nhỏ đã quay về đây vì người mẹ chưa sẵn sàng. Nhưng con đừng giận mẹ con nhé. Chắc mẹ con cũng buồn nhiều lắm.

- Không, con không giận đâu ạ. Nhưng nếu một ngày nào đó mẹ con thay đổi ý định Chúa vẫn cho con được trở về với mẹ con nhé.

Chúa ôm linh hồn nhỏ vào lòng. Ru linh hồn bé bỏng ngủ. Và linh hồn nhỏ ngủ ngoan như những thiên thần.

*

Bạn đã xin gì trong cuộc đời mình? Miếng cơm manh áo, tìm được người thân, vượt qua sự cô độc, đầy đủ chân tay hay như linh hồn nhỏ được chào đời, được gọi tiếng “Mẹ” chứ không phải bay về lại cái hành trình dài trong lẻ loi và cô đơn. Hay bạn không cầu những điều trên vì bạn đã đầy đủ rồi. Bạn sẽ xin những thứ khác: sự thành công, giàu có, danh vọng. Bạn muốn rất nhiều, có thật nhiều thứ, và muốn có nhiều hơn.

Và nếu một lúc nào đó bạn thất bại, bạn cầu nguyện điều gì?

Chúa đang ru linh hồn nhỏ. Chúa cũng đang ru ta, những con chiên của Chúa, thành công hay thất bại, giàu sang hay đói khổ, kiêu hãnh đi đúng đường hay buồn khóc vì đi lạc…

Chúa đang nghe và Chúa đang ru ta. Giống như những cơn gió đi ngang qua nhà bạn, nhìn thấy nước mắt bạn và thổi khô chúng.

Những con chiên của Chúa

Đi trên đường cuộc đời

Khóc hay cười

Chúa luôn nhìn thấy

Chúa sẽ ru ta…






Trên cánh đồng

Có vô vàn cỏ dại

Nhưng tôi cũng thấy

Vẻ chúm chím

Của một bông hoa.



Một ngày mùa hè, tôi đứng trong sân trường vắng, vu vơ nhìn những ánh nắng cuối ngày. Ánh nắng chiều thật đẹp, vàng cam dịu nhẹ, lốm đốm trên tàn cây, nhảy nhót trên vai áo tôi. Du- đứa em trai cùng mẹ khác cha của tôi đang say mê bắt ve. Tôi nhìn quanh không thấy Thắm- cô bạn câm của tôi đâu cả. Tôi chạy ra sau trường tìm Thắm.

Tôi không biết cái gì đã xảy ra và đang xảy ra? Chắc là một cảnh tượng rất hãi hùng. Thắm- cô bạn câm của tôi ú ớ la hét trong nhà vệ sinh. Mùa hè, trường không có ai, chỉ có mấy con bò của Thắm đủng đỉnh gặm cỏ ở bãi cỏ hoang sau trường, chờ Thắm dắt chúng về. Tôi muốn chạy ra sân trước gọi Du. Nhưng tôi sợ đến nỗi té nhào vào lùm cỏ cao. Nằm trong lùm cỏ, tôi thấy Thắm chạy ra khỏi nhà vệ sinh, vừa kéo quần vừa khóc, quên cả việc dắt bò về. Và tôi thấy dượng tôi bước ra khỏi nhà vệ sinh, đầu tóc bù xù. Tim tôi như chết lặng. Dượng tôi là bảo vệ trong ngôi trường này. Những ngày hè tôi, Du và Thắm hay đi chơi với nhau. Cỏ trong sân trường rất nhiều nên tôi đã xin dượng cho Thắm dắt bò vào ăn. Thắm chăn vài con bò thuê cho một người trong làng.

Thắm chạy ngang qua tôi. Hình như Thắm rất đau. Thắm cứ ú ớ la hét và ràn rụa nước mắt. Giẫm trúng chân tôi trong lùm cỏ cao, Thắm cũng không dừng lại. Thắm chạy băng băng qua bãi cỏ hoang, chạy ra khỏi trường như cố chạy trốn một điều gì ghê gớm, kinh tởm.

Những ngày sau, người làng xì xào con bé Thắm câm, chăn bò thuê bị hãm hiếp. Nhưng ai hãm hiếp thì không ai biết? Thắm không nói được, không biết chữ. Cũng không biết có ai thấy hay không? Ông chủ bò chở Thắm tới trạm xá chỗ mẹ tôi làm. Mẹ đã làm thuốc cho Thắm trong khi Thắm vùng vẫy, chỉ muốn chạy ra ngoài. Những người lớn phải giữ chặt tay chân Thắm để mẹ làm thuốc. Thắm cứ ú ớ kêu và khóc như mưa.

Trong bữa cơm gia đình, mẹ có kể chuyện của Thắm.

- Tội con bé quá! Đã câm còn bị hãm hiếp. Phải chi con bé nói được để chỉ ra cái người xấu xa đó.

- Hãm hiếp trẻ con là yêu râu xanh phải không mẹ?- Du hồn nhiên hỏi.

- Thôi, các con ăn cơm đi. Quỳnh này, con đang tuổi mới lớn, phải biết bảo vệ mình. Đừng để bị như Thắm...- Mẹ trầm ngâm nói.

Tôi lén nhìn dượng. Dượng tôi vẫn ăn cơm bình thường. Dượng không nói chuyện, vừa ăn cơm vừa đọc báo. Tôi biết dượng nghe câu chuyện mẹ nói. Nhưng dượng không ừ hử gì.

Tôi muốn nói: “Mẹ ơi, con nói được. Thắm câm nhưng mà con không câm. Con biết người làm điều xấu với Thắm”. Tôi nhìn mẹ, lén nhìn dượng, muốn nói ra nhưng lưỡi tôi cứng lại. Tôi không biết phải làm gì với bí mật động trời này? Nói hay không?

Cuộc sống của gia đình tôi và làng tôi vẫn bình thường giống như nó vốn có. Bốn giờ sáng chuông nhà thờ ngân, chúng tôi thức dậy đi lễ nhà thờ. Đi lễ về thì quây quần ăn sáng. Mẹ tới trạm xá, tranh thủ đi chợ. Dượng cũng qua trường quét tước, dọn dẹp. Tôi và Du không đi học thêm thì ở nhà đọc sách, rồi đi chơi. Trên đường làng, những đứa trẻ con như chúng tôi hồn nhiên chạy nhảy. Đa số chúng tôi có cha mẹ yêu thương, được học hành nên tiếng cười khi chơi đùa cũng hồn nhiên vô tư lự.

Còn Thắm, người không may mắn như chúng tôi? Sau những lời xì xào, đồn thổi con bé câm chăn bò thuê bị hãm hiếp mà không tìm ra thủ phạm vì nạn nhân không nói được, cũng không biết có ai thấy hay không, chuyện của Thắm dần rơi vào quên lãng. Nhưng Thắm thì nhớ. Làm sao quên?

Thắm vẫn chăn bò mướn nhưng buồn hơn, lẻ loi hơn, cô độc hơn và sợ hãi hơn. Thắm không còn chơi đùa với tôi và Du nữa. Nhìn thấy chúng tôi từ xa Thắm luôn bỏ chạy. Đi nhà thờ Thắm cũng không ngồi phía trên như chúng tôi mà chui vào một góc tối cuối nhà thờ. Thắm rút vào một thế giới cô độc, không còn nhìn ai, không giao tiếp với ai. Vốn dĩ trước đó thế giới của Thắm cũng quá cô độc rồi.

Thế giới của tôi cũng buồn hơn khi không có Thắm. Tôi nhớ tiếng cười của Thắm và tôi khi chơi cùng nhau những trò chơi tuổi nhỏ. Tôi nhớ ánh mắt Thắm nhìn tôi, vui vẻ, long lanh, tin cậy. Nhưng giờ Thắm sợ tôi, không tin tôi. Thắm sợ tất cả loài người.

Những ngày hè không có Thắm, tôi hay ra đài Đức Mẹ đọc kinh cầu nguyện. Tôi hỏi Mẹ tôi có nên nói ra dượng là người đã làm điều xấu với Thắm không? Nếu nói ra thì dượng bị gì? Mẹ tôi và Du cảm thấy thế nào? Và Thắm được gì khi tôi nói?

Một đứa con gái tuổi mới lớn như tôi, tuy chưa đủ lớn để hiểu tường tận chuyện đời nhưng cũng hiểu được một vài chuyện cần hiểu. Tôi vừa muốn làm một người hùng nói ra tên của “yêu râu xanh” cho mọi người lên án, tránh xa. Như vậy có vẻ như tôi đã làm một điều tốt. Nhưng “yêu râu xanh” đó đâu phải là kẻ xa lạ, mà là dượng của tôi, chồng mẹ tôi và cha của em trai tôi. Tôi cũng thấy xấu hổ khi mọi người biết tôi có một ông dượng là “yêu râu xanh” và chắc mẹ tôi, em tôi càng khổ hơn ở hoàn cảnh đó. Thắm biết là tôi biết thủ phạm. Chính tôi đã nhìn thấy. Thắm có trách tôi khi tôi không nói? Mà, với nỗi đau này, Thắm biết trách ai đây? Mới lọt lòng Thắm đã bị mẹ bán cho người ta, lớn lên không biết nói. Không nói được tên thủ phạm đã hãm hiếp mình. Cũng không trách được cô bạn biết tên thủ phạm mà không dám nói thay mình vì thủ phạm là…dượng nó. Thắm biết trách ai đây? Từ nhỏ Thắm đã không trách than rồi. Thắm chỉ còn biết lầm lũi chăn bò, đi nhà thờ chui vào góc tối và khóc với Chúa mà thôi.

Một ngày, khi chở tôi đi mua áo chuẩn bị cho tôi nhập trường, mẹ hỏi tôi.

- Con có biết Thắm bị ai hãm hiếp không?

- Dạ…không. Sao mẹ lại hỏi con?- Tôi giật thót mình.

- Mẹ thấy tội nó quá. Sao mẹ cứ thấy mẹ có liên quan tới nó, có lỗi với nó. Hay do Thắm chơi với con, mẹ quý Thắm như con nên có cảm giác đó chăng?

Tôi im lặng sau lưng mẹ. Tôi biết tôi vừa gây ra tội nói dối.

Những ngày hè sắp hết tôi hay thấy buồn. Tôi hay buồn khi nhìn cây hoa phượng nở những bông hoa cuối cùng, những chú ve cuối hè khản giọng kêu làm tôi thấy buồn hơn nữa. Lũ ve như biết mùa hè sắp hết nên cố kêu vang cho những ngày cuối? Trong lòng tôi xốn xang một nỗi buồn. Một cô bé mới lớn phải giữ trong lòng một bí mật động trời. Tôi phạm tội nói nối, tôi che dấu người xấu. Vì sợ? Vì muốn bảo vệ mẹ, em trai tôi? Hay tôi muốn người xấu đó vẫn còn hình ảnh đẹp trong mắt những người yêu thương hắn?

Tôi hay quan sát người xấu khi hắn đi nhà thờ. Hắn lạy Chúa, hắn cầu nguyện, hắn lên rước Chúa. Hắn có thú tội với Chúa mình đã hãm hiếp một cô bé câm bằng tuổi con riêng của vợ mình? Và ngoài cô bé câm tội nghiệp, còn thêm nạn nhân nào nữa? Hắn có cảm thấy tội lỗi không? Có ăn năn không? Chúa có phạt hắn không?

Trên đường đi lễ về tôi thường đi xa xa sau hắn. Tôi lén canh mọi cử động của hắn. Tôi sợ hắn làm chuyện xấu với người khác, một cô bé tội nghiệp khác, biết đâu có thể là tôi. Mà lạ, gương mặt hắn không có sự ác nào. Hắn có một gương mặt hiền lành, chất phác. Đâu phải tên yêu râu xanh nào cũng có khắc chữ trên mặt là “yêu râu xanh”. Yêu râu xanh có thể là người chồng, người cha, người dượng trong gia đình, ông bảo vệ ở trường học, một người hiền lành ở xóm làng, một con chiên đạo mạo ngoan hiền của Chúa.

Tôi đi sau hắn, đấu tranh ý nghĩ với hắn và cảm thấy mình cũng là đồng phạm. Chính tôi đã bao che cho hắn.

Du- đứa em trai cùng mẹ khác cha với tôi có gương mặt giống y như cha nhưng vô cùng hiền lành. Du sốt sắng đi lễ nhà thờ, ở trong đội giúp lễ, hiếu thảo, lễ phép, nhân hậu và vô cùng yêu Chúa. Du luôn nghĩ lớn lên mình sẽ làm linh mục.

Có lần tôi đã hỏi Du:

- Em yêu cha em lắm à?

- Em yêu cả gia đình mình. Cha, mẹ, chị và chị Thắm nữa.

- Em thấy cha em có tốt không?

- Có chứ. Cha làm bảo vệ để nuôi em ăn học. Cha là người tốt mà.

- Nếu cha em là người xấu thì sao?

- Chị nghĩ cha em là người xấu à?- Du hỏi.

- Chị chỉ hỏi thế thôi.

Du im lặng một hồi rồi trầm ngâm đáp:

- Em tin cha là người tốt.

Rồi những con ve cũng ngừng kêu. Tôi đã trải qua một mùa hè có vẻ bình yên nhưng cũng đầy giằng xé. Những bữa cơm gia đình lén lút nhìn hành vi của dượng, những thánh lễ không bình yên khi cứ đấu tranh ý nghĩ với việc tiếp tục nói dối hay làm anh hùng tố cáo “yêu râu xanh”? Những lần nhìn mẹ và em Du, muốn nói điều bí mật nhưng biết mình không thể nói. Những chiều lang thang ra đồng cỏ hoang, tìm nơi Thắm chăn bò, muốn tới nói lời xin lỗi Thắm, được chơi bạn lại với Thắm nhưng Thắm luôn nấp, luôn bỏ chạy khi thấy bóng dáng tôi. Những đêm khuya ngủ trong phòng phải chốt chặt cửa, run rẩy lo sợ dượng sẽ làm điều xấu với tôi như đã làm với Thắm. Và lang thang ra đài Đức Mẹ, dâng lên mẹ bó hoa dại tôi hái bên đường. Mong Mẹ chở che tôi và Thắm, nhưng nhường phần nhiều cho Thắm hơn tôi. Mong Mẹ xoa dịu nỗi đớn đau của Thắm. Tôi tin Mẹ sẽ chữa lành mọi vết thương, cả bên ngoài lẫn bên trong tâm hồn.

Hết mùa hè đó, khi tôi chuẩn bị xa nhà, lên phố trọ học. Mẹ báo cho tôi một tin vui. Mẹ bảo đã nói chuyện với chị thợ may trong làng. Chị đồng ý dạy nghề cho Thắm. Người ta học may mất hai chỉ vàng. Còn Thắm chị lấy một chỉ vàng thôi. Mẹ sẽ cho Thắm chỉ vàng đó. Mẹ bảo tự nhiên mẹ cảm thấy thương và quý Thắm. Mẹ chỉ muốn Thắm có nghề, nuôi được mình trong tương lai, không phải chăn bò thuê nữa.

Tôi chạy như bay ra đồng cỏ để báo tin cho Thắm. Tôi biết Thắm sẽ chạy. Nhưng tôi sẽ đuổi theo. Tôi cảm thấy Thắm sẽ được an ủi phần nào khi biết tin vui này vì hồi nhỏ khi chơi với nhau, Thắm đã ra hiệu cho tôi ước mơ của Thắm là lớn lên được làm thợ may, may những bộ quần áo thật đẹp cho tôi và mọi người mặc. Thắm còn thích may váy cho những búp bê công chúa của tôi.

Những con bò Thắm chăn kia rồi. Tôi chạy tới nhưng không nhìn thấy Thắm. Một thằng nhóc, người chăn bò mới của ông chủ tay cầm roi, đưa mắt nhìn tôi.

- Chị tìm chị Thắm hả? Chị Thắm nghỉ chăn bò cả tháng rồi.

- Chị Thắm còn ở làng mình không hay đi đâu rồi?

- Đi rồi. Đi xa lắm- Thằng nhóc bảo.

- Đi đâu?- Tôi hét lên.

- Không biết- Thằng nhóc cũng hét lên- Nhưng mà xa lắm.

Cánh đồng cỏ mênh mông không còn Thắm nữa. Thắm đã lớn rồi. Đôi chân đã biết đi xa và chọn đi xa thoát khỏi cái làng có cái người xấu hãm hiếp Thắm. Thắm làm gì ở nơi Thắm tới? Rửa chén, làm osin…bất kể việc gì. Có hạnh phúc không? Ai biết? Ở trong làng chăn bò cũng có hạnh phúc đâu? Ngày nào cũng gặp người xấu hãm hiếp mình mà không thể nói tên hắn, tố cáo hắn. Vợ, con hắn còn ra vẻ không biết, ráng đối xử tốt với mình. Oái ăm quá phải không Thắm? Thắm không biết nói, không biết trả thù. Thắm chỉ biết chạy trốn và ra đi. Đi xa thật xa, thoát khỏi nỗi buồn đau đó…

Gió trên đồng cỏ thổi bên tai tôi, bay ngược mái tóc tôi. Tiếng ụm bò thân quen làm tôi thấy buồn. Tôi òa khóc nức nở với những uất ức giấu kín trong lòng mình. Tôi biết tôi có lỗi với Thắm. Tôi là kẻ đồng phạm hay là nạn nhân? Tôi khóc, khóc thật nhiều trong gió. Gió lau khô những giọt nước mắt của tôi.

*

Đã lâu rồi tôi không mấy khi về làng. Học xong cấp ba, tôi vào đại học, rồi đi làm. Tôi cũng như Thắm, cao chạy xa bay. Tôi không muốn trở về làng để nhìn thấy dượng. Khi không thể tố cáo người xấu tôi chỉ biết tránh xa người xấu. Và tôi nhận xấu để người đó được tốt với cuộc sống của họ, dù thật hay giả.

Du học rất giỏi, đã đi tu như ước nguyện. Mẹ và dượng đã nghỉ hưu. Thỉnh thoảng mẹ đi hái hoa dại dâng lên đài Đức Mẹ dùm tôi. Mẹ cũng bảo rằng mẹ thường cầu nguyện cho Thắm, dù chẳng biết Thắm ở đâu.

Một ngày, mẹ thảng thốt gọi tôi về vì dượng bị đột quỵ, nằm liệt ở bệnh viện. Gom góp hết tiền bạc, mẹ chạy chữa cho dượng. Nhưng bệnh tình của dượng càng ngày càng nặng. Mẹ hết sạch tiền mà dượng vẫn không qua khỏi.

Đưa dượng về nghĩa trang xong, tôi định vào lại thành phố thì mẹ níu tay tôi và Du, bảo ở lại thêm một ngày. Một ngày đó, mẹ chỉ ôm hai chúng tôi và khóc.

Mẹ đưa cho tôi lá thư mẹ tìm thấy khi dọn dẹp đồ đạc của dượng. Dượng viết nó đã lâu. Dượng định đưa nó cho mẹ nhưng không có can đảm. Dượng đã giữ nó cho tới ngày mất.

Lá thư là lời xin lỗi với mẹ, với gia đình và với Thắm. Dượng đã nhận mình là kẻ tội đồ khi làm điều xấu với Thắm. Dượng còn viết: “Mình à, tôi không biết Quỳnh có biết tội tôi đã làm không? Nếu biết, sao con không tố cáo tôi? Còn không, sao nó cứ theo dõi tôi, nhìn tôi bằng ánh mắt sợ hãi và khinh bỉ? Tôi là kẻ có tội. Tôi rất xấu hổ với Chúa, với mình, với thằng Du, con Quỳnh. Tôi ngàn lần có tội với con bé Thắm. Tôi đã xưng tội với Chúa rồi, nhưng Thắm tôi không biết nó có tha thứ cho tôi không? Tôi thật sự ăn năn...”

Mẹ run run mở chiếc túi nhỏ mà mẹ cất kĩ trong tủ. Trong chiếc túi có một chỉ vàng.

- Đây là chỉ vàng mẹ định cho Thắm đóng tiền học may. Chưa kịp đóng thì Thắm đã bỏ đi rồi. Một tháng qua, dù trong nhà chẳng còn đồng nào nhưng mẹ vẫn không bán nó. Mẹ vẫn nghĩ có ngày mẹ sẽ gặp lại Thắm, cho Thắm chỉ vàng này. Điều này xuất phát từ tình cảm của mẹ. Mẹ không hề biết rằng chồng sau của mẹ lại làm điều có lỗi với con bé câm tội nghiệp.

Suốt một buổi chiều, mẹ ra cánh đồng cỏ hoang, ngồi nhìn đàn bò gặm cỏ và khóc. Người ta tưởng mẹ khóc vì nhớ dượng nhưng tôi biết mẹ khóc vì Thắm. Mẹ cũng như tôi, cố tìm bóng dáng Thắm ở những nơi trước kia Thắm gắn bó thân quen. Tôi thấy thương mẹ vô cùng. Một người đàn bà yêu chồng, hết lòng chăm sóc chồng con, vừa biết ra bí mật mình bị phản bội. Nhưng người đàn bà đó lại chẳng thể giận hờn. Chẳng thể trách móc chồng, vì có trách chồng cũng đã về với Chúa. Chẳng thể ghen mà còn thương nạn nhân tội nghiệp. Và lúc này chưa bao giờ mẹ mong gặp Thắm đến thế, để xin lỗi và bù đắp cho Thắm đến thế. Mẹ bảo mẹ linh cảm gia đình mình có điều gì đó có lỗi với Thắm, mẹ cũng có lỗi với Thắm. Đến hôm nay mẹ mới biết tại sao. Trái tim của mẹ làm bằng gì? Chẳng lẽ nó khác với trái tim của những người đàn bà khác? Trái tim mẹ không biết trách móc hờn ghen? Hay Chúa đã cho trái tim mẹ như thế để bù đắp cho Thắm? Ngoài mẹ, ai có thể hiểu và bù đắp cho Thắm đây?

Tôi và Du đi lang thang trên đồng cỏ, nhìn những chú bò, nhìn ngôi trường giờ đã đổi khác phía xa. Phía bên kia con đường làng, ngôi nhà thờ có tháp chuông cao cao xinh xắn. Bao nhiêu mùa hè đã qua. Bao nhiêu chú ve đã kêu mà không biết ve và người có chuyện gì vui, có chuyện gì buồn? Trường mở cửa vào mùa thu, đóng cửa vào mùa hè. Chuông nhà thờ ngân vang sáng tối. Những chú bò gặm cỏ bất kể mùa nào. Lũ trẻ lớn lên rồi ra đi tung cánh…Thời gian cứ thế mà trôi.

Tôi nhìn mẹ rồi nhìn ra xa. Tôi như thấy ba đứa trẻ đang chạy chơi trên cánh đồng đầy hoa cỏ dại. Tôi, Du và Thắm. Lúc đó chưa xảy ra chuyện buồn. Ba chúng tôi chạy giỡn với nhau, cười khanh khách cùng gió, trong tiếng ụm bò.

Tôi vẫn thấy hình ảnh đó trên cánh đồng cỏ này. Mẹ tôi cũng tìm kiếm hình ảnh đó. Tôi tin ở đâu đó Thắm cũng nhớ hình ảnh ấy. Tôi mong sao một ngày nào đó Thắm một lần quay về để mẹ và tôi cùng xin lỗi và bù đắp cho Thắm. Dượng tôi không chắc Thắm có tha thứ cho dượng không? Mẹ tôi cũng không dám nghĩ Thắm sẽ tha thứ. Nhưng tôi tin Thắm có một trái tim nhân ái và thứ tha. Biết đâu nhiều lần và nhiều cách Thắm có thể cho người khác biết người đã hãm hiếp mình nhưng Thắm đã không làm? Vì sợ giống như tôi và cũng vì thương gia đình của người đó. Thắm là bạn của tôi và Thắm biết gia đình tôi, nhất là mẹ, tốt với Thắm như thế nào. Thắm chọn đau đớn, tổn thương và không nói. Thắm cũng để cho người xấu được tốt, để những người thân của người xấu được bình yên?

Du chợt nhớ ra cái hốc nhỏ trong thân cây nơi chúng tôi hay cất đồ chơi ngày bé. Du rủ tôi đi tới. Do cánh đồng vắng vẻ, ngần ấy thời gian, hốc cây nhỏ vẫn còn. Du lôi ra những đồ chơi trong đó. Có đồ chơi hỏng hóc, có đồ chơi vẫn còn nguyên, chỉ cũ theo thời gian. Có một chiếc còng đá tôi và Thắm đã mất mấy buổi trưa hì hục đẽo gọt. Nó nằm lẫn trong đám đồ chơi, thô, xấu xí nhưng gợi cho tôi vô vàn kỉ niệm. Tôi cầm chiếc còng đá lên xem. Bên trong chiếc còng có khắc dòng chữ nghệch ngoạc: “ Matta Thắm- Maria Quỳnh mãi mãi là bạn”.

Tôi lặng đi một hồi lâu. Thắm không biết chữ. Thắm không đi học một ngày nào. Nhưng tôi quên mất rằng chính tôi đã vài lần dạy chữ cho Thắm. Thắm biết viết tên mình, tên người khác và viết được những câu đơn giản.

Vậy mà Thắm đã không viết tên dượng tôi.

Thắm đã cao thượng không viết tên dượng tôi.






Không ai ngờ giữa một ngôi làng dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn lại có một ngôi nhà nguyện. Nhà nguyện cất như một nhà sàn nằm kiêu hãnh trong ngôi làng của bà con Raglai. Một vị linh mục đã đến làng dân tộc, thăm bà con trong xóm. Bà con dân tộc nghèo quá. Những người chưa có áo ngài cho áo. Con nít đói ăn ngài cho gạo. Các cụ già ốm đau ngài cho thuốc. Những người Raglai hiền lành đã xúc động vì ngài. Họ truyền tai nhau, hết người này đến người kia theo đạo.

Rồi vị linh mục không còn ở ngôi làng dân tộc nữa. Ngài đi đến những ngôi làng khác, xa hơn và nghèo hơn. Trước khi đi ngài xây dựng một nhà nguyện nhỏ để những con chiên tội nghiệp đói ăn, thiếu ăn, thiếu cả nhiều thứ khác cuối cùng cũng có một nhà nguyện để thờ phượng Chúa hằng ngày. Khi vị linh mục đi nhiều con chiên đã khóc. Không ít người dân tộc bỏ đạo. Họ thất vọng vì người quan tâm tới họ đã bỏ họ mà đi. Nhưng cũng có nhiều người kiên quyết không bỏ đạo, một số người trở lại đạo. Vì họ hiểu rằng: niềm tin của họ là Chúa, dù vị linh mục không ở bên họ nữa nhưng Chúa vẫn ở bên và đồng hành cùng họ.

Nhà nguyện đã ở đó, nhỏ bé, ấm cúng như một lời cầu xin thầm thì. Đều đặn bốn giờ sáng, cha phó ở giáo xứ lân cận phóng xe tới làm lễ. Đường vào làng chưa rải bê tông, khô quắt vào mùa nắng, lầy lội vào mùa mưa, chưa kể phân bò, phân dê rải đầy đường. Nhưng cha phó vẫn chạy xe vào làm lễ vì trong ngôi nhà nguyện bé nhỏ, vào lúc bốn giờ sáng khi gà còn ngủ, bò, dê chưa thức dậy, khi những người không theo đạo trong làng còn đang say giấc thì đã có một đám đông người Raglai tập họp ở nhà nguyện. Những mái đầu đen, tóc đen, làn da ngăm đen, một màu đen tuyền háo hức ngồi chờ lễ sáng.

Khi chờ thánh lễ mọi người đọc kinh. Họ đọc kinh bằng tiếng Kinh và tiếng Raglai lẫn lộn. Nhiều người Raglai không biết tiếng Kinh nên họ đọc bằng tiếng Raglai. Khi hát thánh ca cũng là những âm thanh Kinh, Raglai vang lên cùng nhau. Người Raglai hát khá hay. Toàn thể những người dự lễ đều là ca đoàn. Mọi người cùng hát, cùng đọc kinh, cùng chờ cha phó đến.

Chúa có vui khi nghe bản hợp xướng trong ngôi nhà nguyện này? Không có dàn âm thanh nào xịn cả. Cây đàn trong nhà nguyện là cây đàn cũ xin được ở nhà thờ khác. Những cuốn sách hát thánh ca cũng là những cuốn sách quăn bìa. Người Raglai không biết chữ nên họ cũng chẳng cần cầm sách hát. Một người thuộc bài hát sẽ dạy cho người kia, rồi người kia dạy cho người nọ. Chúa không phàn nàn khi nghe những âm thanh lộn xộn vừa Kinh vừa Raglai. Dù không đồng đều nhưng gương mặt họ rất thành tâm, tôn kính, háo hức. Họ yêu Chúa và tin rằng Chúa cũng yêu họ. Chúa giống như vị linh mục đã đến làng họ: ai đói ngài cho gạo, ai không có áo ngài cho áo, ai thiếu tình thương ngài cho tình yêu thương của Ngài...

Những buổi lễ sáng luôn có mặt một cô bé Raglai chừng mười ba, mười bốn tuổi. Em đi lễ một mình, đều đặn, trong thánh lễ đứng nghiêm trang. Em giống như tất cả những cô bé Raglai khác: nhỏ con, gầy gò, bận quần áo cũ, làn da ngăm và đôi mắt rất sáng. Em còn ấn tượng bởi đôi chân không mang dép.

Có rất nhiều người Raglai trong ngôi nhà nguyện nhỏ bé này không mang dép. Sao lại lạ thế? Đã đi dự lễ thì phải mang dép chứ? Ở nhà hay ở ngoài đường mặc quần áo xấu xí cũng được. Nhưng bước vào nhà nguyện phải mặc bộ quần áo đẹp nhất để cho Chúa ngắm. Lẽ nào người Raglai không nghĩ như vậy?

Họ có nghĩ như vậy, chỉ có điều nhiều người...không có dép. Một đôi dép, một đôi giày hay là nhiều đôi giày đối với người Kinh quá đỗi bình thường. Nhưng nhiều người Raglai không có tiền mua dép. Họ giống như một bộ tộc nào đó ở Châu Phi. Bộ tộc này đi trong rừng, băng qua sa mạc với đôi chân trần không mang dép. Người Raglai họ cũng lên rừng, leo núi, đi rẫy, đi chăn bò, cừu, dê trong cái nắng chẳng khác gì sa mạc với đôi chân trần. Đôi chân Chúa ban cho họ khi họ sinh ra. Họ cứ thế bước vào cuộc đời mà chẳng cần trang trí nó. Có người không có tiền mua dép và nhiều người thì không quen mang dép.

Cô bé Raglai hay đi lễ sáng cũng không mang dép. Nhà em ở tít trên rẫy cao. Mỗi sáng, em thức dậy chính xác như một chiếc đồng hồ. Không nghe tiếng chuông nhà nguyện nhưng em luôn đi lễ đúng giờ. Em ra khỏi nhà khi trời còn tối, những vì sao còn lung linh trên bầu trời. Không ít lần ánh trăng lung linh sáng khi em tỉnh giấc và đi lễ cùng em. Con đường từ rẫy nhà em đến nhà nguyện không có nhiều người đi dường như chẳng có ai ngoài em đi. Đâu phải người nào ở ngôi làng nghèo nàn bé nhỏ này cũng giống như em: tin Chúa, siêng năng đi lễ. Nhưng em kiên trì với niềm tin và tình yêu trong trái tim bé nhỏ của em.

Khi vị linh mục tốt bụng và nhân ái đến làng thì em hãy còn là một cô bé nhỏ xíu. Em đã len vào dòng người đứng vòng tròn, nhìn ngắm gương mặt của vị linh mục. Một ông mặc áo dài đen (sau này em mới biết đó là áo dòng), gương mặt phúc hậu, mắt sáng ẩn sau cặp kính đã nhìn hết những người xung quanh và nhìn thấy em. Ông đã mỉm cười với em. Em luôn nhớ mãi nụ cười ấy.

Cả gia đình em đều theo đạo. Sáng nào cha mẹ em, chị gái và em cũng đi lễ sáng. Nhưng rồi cha em mất, chị gái em cũng mất, chỉ còn mẹ và em đi lễ. Nhưng giờ chỉ mỗi mình em đến nhà nguyện vì mẹ em bị căn bệnh thấp khớp không thể đi lại được. Con đường từ rẫy đến nhà thờ ban đầu là bốn người đi, sau còn hai, giờ chỉ còn một. Em rất buồn vì điều đó. Mùa gió lạnh em gần như co ro đến nhà nguyện trên đôi chân trần và chiếc áo phong phanh. Em không có áo lạnh cũng không có dép. Nhưng điều đó không ngăn được em đi dự lễ. Em đi một mình trên con đường vắng, đầy đá sỏi, phân bò, phân dê, lạnh lẽo và cô độc. Em muốn cầu nguyện cho linh hồn của ba và chị em ở thế giới bên kia. Em cũng cầu nguyện cho mẹ em nữa. Và em cứ đi dự lễ, trong đêm, lạnh lẽo, một mình, chỉ có trăng sao làm bạn.

Chúa thích nhìn cô bé Raglai trong ngôi nhà nguyện bé nhỏ này biết bao. Một cô bé không mang dép, có đôi mắt sáng, nghiêm trang và thành kính. Em yêu Chúa và tin Chúa. Em tin Chúa cũng yêu thương em giống như em yêu Chúa vậy.

Trong ngôi nhà nguyện này còn rất nhiều những gương mặt quen thuộc. Người đàn ông Raglai luôn mặc chiếc áo màu xanh đi lễ vì ông không có cái áo nào khác. Người phụ nữ Raglai bên kia đã đẻ đến mười đứa con vì không biết kế hoạch hóa gia đình. Chắc chị thiếu ăn vì gương mặt tái xám. Nhưng lúc nào chị cũng mỉm cười tin vào Chúa. Cậu bé một chân kia luôn có mặt trong nhà nguyện và hát rất hăng.

Cha phó đứng trên bàn thờ nhìn xuống, một màu đen tuyền đang hướng lên: tóc đen, da ngăm đen nhưng khi họ cười những hàm răng trắng sáng. Chắc cha cũng chạnh lòng khi nhìn những bàn chân không mang dép trong ngôi nhà nguyện bé nhỏ này.

Cha phó làm một việc hết sức cảm động. Cha mua những đôi dép nhựa, dép lào, đủ mọi kích cỡ để trước cửa ra vào nơi nhà nguyện. Những người Raglai dự lễ ai mang vừa đôi nào thì cứ lấy đôi ấy. Cha muốn tặng họ một đôi dép như một món quà.

Không có cảnh giành nhau những đôi “dép lạ”. Một số con chiên của Chúa bỡ ngỡ và rụt rè khi xỏ đôi bàn chân to xù vào đôi dép mới, cười bẽn lẽn rồi rộ lên. Lễ sáng đó nhà nguyện vui hơn bao giờ hết. Từ bàn thờ nhìn xuống cha phó thấy những đôi dép chứ không phải là những đôi chân trần trên sàn nhà nguyện nữa. Mọi người đều hoan hỉ với niềm vui bé nhỏ này. Cô bé Raglai cũng có dép. Suốt thánh lễ, thay vì đứng nghiêm trang như mọi ngày, lâu lâu em lại nhìn xuống dưới chân mình, mỉm cười e lệ như một bông hoa.

Nhưng khi đọc kinh thì vẫn như mọi ngày. Những âm thanh lộn xộn tiếng Kinh và Raglai hòa lẫn vào nhau như là một dàn hợp xướng. Ngày nào Chúa cũng nghe dàn hợp xướng đặc biệt này nên Ngài chắc cũng quen tai.

Cha phó mỗi ngày đi hai mươi cây số đến nhà nguyện làm lễ sáng cho các con chiên Raglai dù mưa hay nắng, mua dép cho những con chiên Raglai không có dép, nhẫn nại và hiền lành rao giảng Tin Mừng... Cha còn đặt một tượng Chúa bằng đồng đen vào nhà nguyện. Vậy là cả nhà nguyện đều có một màu đen tuyền. Cha muốn những con chiên Raglai thấy Chúa cũng có màu da ngăm đen giống như họ.

Nhưng không phải con chiên nào cũng thích Chúa...da ngăm. Có một bà cụ già, sáng nào sau khi dự lễ xong cũng tới trước tượng Chúa, lén lấy vạt áo lau trên mặt Chúa. Bà thấy rất lạ khi tượng Chúa bà tin yêu đã từng nhìn thấy trước đây màu trắng, giờ không hiểu sao lại màu đen. Bà tưởng rằng có sự nhầm lẫn. Bà lén lấy áo lau để Chúa...trắng lại như xưa. Bà không muốn Chúa đen. Bà muốn Chúa trắng. Lau hoài lau mãi tượng Chúa bằng đồng đen không thể nào trắng được, nhưng sáng nào bà cũng lén lau.

Thánh lễ sáng trong nhà nguyện luôn rất bình yên. Khi cha phó làm lễ, những con chim sẻ nhỏ đậu trên nóc nhà nguyện, hót ríu rít. Những con chiên Raglai của Chúa thành tâm và tôn kính dự lễ. Họ cầu xin điều gì trong thánh lễ? Họ có cầu xin những điều khôn ngoan giống như người Kinh khi đến xin Chúa không? Là sức khỏe, việc làm ăn thuận lợi, thu nhập khá hơn hay mơ hồ trừu tượng là có hạnh phúc? Những con chiên Raglai có xin những thứ đó không hay họ xin những thứ đơn giản hơn là có gạo ăn hàng ngày là đủ? Hay họ chẳng xin gì hết vì họ tin rằng Chúa nhìn thấy hết, Chúa muốn làm gì thì làm, không cần phải xin đâu...Cô bé Raglai cầu nguyện với Chúa và xin Chúa điều gì trong ngôi nhà nguyện bé nhỏ này? Em xin linh hồn ba em, chị em mau lên thiên đàng (chắc chắn rồi) và xin mẹ hết bệnh (điều này cũng chắc chắn luôn). Em có cầu xin điều gì cho em không? Em đã có một đôi dép nhưng lẽ nào đời em chỉ một đôi dép là đủ? Em xin Chúa điều gì trong những thánh lễ sáng?

Cuộc sống của ngôi làng dân tộc cứ bình yên trôi đi như vậy. Những người Raglai ít học, thánh thiện và hiền lành sáng nào cũng đi lễ trong ngôi nhà nguyện trước khi trở về ngôi nhà của họ để tiếp tục đi rẫy, đi chăn bò, dê, cừu...

Rồi một ngày ngôi nhà nguyện bé nhỏ như cái nhà sàn được dỡ bỏ. Thay vào đó một ngôi nhà thờ khang trang, xây bằng bê tông với tháp chuông cao vút. Ngôi làng dân tộc đã có nhiều người theo đạo hơn. Nhà thờ đã được xây. Một vị linh mục đã đến. Họ có ca đoàn, có giáo lý viên, có các hội đoàn khác, nói chung là một giáo xứ chứ không chỉ là một ngôi nhà nguyện bé nhỏ cô liêu của ngày trước.

Ngôi nhà thờ khang trang không còn đầy đủ những gương mặt quen thuộc. Nhiều người đi làm ăn xa, không ít người đi vào “chốn đông người nhất” với tên gọi mới là “những linh hồn”. Cô bé Raglai từng không mang dép đi lễ một mình cũng không còn đi lễ sáng trong ngôi nhà thờ mới. Chúa ơi cô bé đó đi đâu mới được? Lẽ ra em đã trở thành một thiếu nữ, lấy chồng, có con (người Raglai kết hôn rất sớm) và dẫn chồng con đi lễ trong nhà thờ khang trang này. Nhưng nhà thờ không có em trong khi em từng là một cô bé siêng năng đi lễ.

Có khi nào cô bé Raglai nản lòng rồi bỏ đạo? Có rất nhiều thứ để nản lòng: đói nghèo, bệnh tật, cảm thấy Chúa không yêu thương mình, không cho mình những thứ như mình kì vọng... Có khi nào mẹ em không hết bệnh và em nản không tin vào Chúa nữa? Hay em bị sóng gió cuộc đời vùi dập và cũng chán nhà thờ nhà thánh rồi?

Nhưng ơn Chúa nhiều người bảo rằng cô bé Raglai đã đi tu. Tin nổi không? Cô bé Raglai đi lễ không mang dép ngày nào giờ đã trở thành nữ tu. Em không kết hôn sớm giống như những cô bé Raglai trong làng. Em yêu Chúa và muốn trở thành nữ tu của Chúa. Em muốn trở thành “người gieo hạt” giống như vị linh mục khi xưa, đem tình yêu và ánh sáng Tin Mừng của Chúa đến cho những người khác. Em không biết chữ và chỉ có một đôi dép. Thời này có ma sơ nào xuất phát điểm như vậy không? Nhưng em có một lòng tin tuyệt đối vào Chúa. Em yêu Chúa và tin rằng Chúa cũng yêu em.

Chính vị linh mục khi xưa đến truyền đạo cho ngôi làng dân tộc đã làm cha đỡ đầu cho em, giúp em đi học và đi tu. Có một nữ tu Raglai với làn da ngăm đen, đôi mắt sáng. Chắc Chúa vui lắm với nữ tu mới của Ngài.

Lẽ nào trong ngôi nhà nguyện bé nhỏ lúc xưa cô bé Raglai không mang dép đã cầu nguyện Chúa để trở thành một ma sơ và Chúa đã nhận lời?

Ngôi làng Raglai vẫn còn nghèo. Người Raglai yêu Chúa theo kiểu của họ, tin Chúa theo kiểu của họ, đọc kinh theo kiểu của họ. Nhưng hay làm sao họ không coi Chúa phải là Chúa của riêng họ. Họ để Chúa tự do giống như Chúa từng có. Chúa không cần phải da...ngăm đen. Họ không ép Chúa phải thuộc về họ, giống như họ. Họ muốn Chúa luôn là Chúa, vẫn là Chúa. Họ yêu Chúa vì Chúa là Chúa.

Tính yêu như vậy thật văn minh, tự do và dân chủ. Nếu ai cũng yêu nhau theo kiểu như vậy chắc rất ít cảnh li hôn.

Sẽ có một ngày có một ma sơ Raglai đứng tập hát, cầu nguyện trong nhà thờ, đi vào các ngôi làng nghèo, đến từng nhà tắm cho các em bé dân tộc, cho áo những người không có áo, cho gạo những người đói ăn, cho thuốc những người bệnh tật không có tiền mua thuốc, chia sẻ niềm vui và nỗi buồn với những người cần chia sẻ và nói với họ về tình yêu mà ma sơ trải nghiệm. Một tình yêu vô vị lợi, tự do và văn minh của một Người đã xuống trần gian làm con người bé nhỏ. Tình yêu đó vĩnh hằng.

Ma sơ Raglai đang đi cùng hướng với vị linh mục ngày trước: gieo hạt giống Tin Mừng ở những mảnh đất khô cằn, bị lãng quên. Gõ những cánh cửa chưa ai từng gõ bằng ánh sáng Tình Yêu trong tim.

Ma sơ Raglai ấy đi bằng đôi chân đã từng không mang dép.


(Tác phẩm Đất Mới)

(Đọc truyện dài Đất Mới của Song Nguyễn )

Giá trị của một tác phẩm văn chương trước hết là ở nội dung câu chuyện được kể, ở thái độ diễn ngôn của tác giả, và ở nghệ thuật kiến tạo tác phẩm (sử dụng ngôn ngữ, tổ chức cấu trúc truyện, lựa chọn bút pháp, cách khắc hoạ nhân vật; ở việc đặt ra và giải quyết những vấn đề của thời đại). Nhưng cốt lõi giá trị của tác phẩm là tư tưởng, tác phẩm thể hiện tư tưởng tiến bộ hay suy đồi.. Ngòai Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Cao Bá Quát, ở Việt Nam có rất ít “nhà văn tư tưởng”. Không có tư tưởng thì tác phẩm chỉ là một lớp vỏ chữ.

Những tác phẩm lớn, sống lâu bền trong lòng người đọc là nhờ nó chưá đựng những tư tưởng tiến bộ. Những người khốn khổ của V. Hugo, Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du… là những thí dụ.

Tư tưởng Nhân văn là nền tảng làm nên giá trị nghệ thuật của mọi thời đại.

I. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN TRUYỀN THỐNG

Tư tưởng Nhân văn đã có trong ý thức của dân tộc từ xa xưa, nó thấm nhuần trong mọi ứng xử giữa người với người. Người Việt coi trọng con người: “Người ta là hoa đất”, con người là Cái Đẹp của cuộc đời này. Sự sống là vô giá: ”Người sống hơn đống vàng”. Quan hệ người với người là quan hệ yêu thương: “Thương người như thể thương thân”.

Tư tưởng Nhân văn đặc biệt phát triển thành trào lưu nghệ thuật từ thời Phục Hưng [thế kỷ XV-XVII] ở phương Tây. Ðặc trưng của Chủ nghĩa Nhân văn là sự suy tôn con người, là sự khôi phục lại con người (hay tính người), và con người bao giờ cũng được coi là tốt đẹp (con người chí thiện). Con người được đặt vào trung tâm thế giới, được đặt lên ngôi cao nhất (con người chí tôn)(1).

Văn học và nghệ thuật thời đó đưa “chất người” vào “chất thần thánh”, biến đời sống thần thánh thành đời sống bình thường của con người. “Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài” (Shakespear). Các nhà Nhân văn Chủ nghĩa lấy câu của Terence, một nhà hài kịch La Mã làm phương châm: ”Tôi là một con người, không có cái gì có tính chất người lại xa lạ với tôi” (1b). Con người là một bộ phận của tự nhiên, sống và chết theo quy luật tự nhiên, vì thế phải trả con người về tự nhiên để nó phát triển theo tư nhiên (2). Chiến tranh phong kiến, chủ nghiã khổ hạnh, đàn áp tư tưởng là trái với tự nhiên, là nguồn gốc gây ra bất hạnh, xấu xa, tội lỗi trên thế giới. Chủ nghĩa Nhân Văn sau thời Phục Hưng được làm phong phú hơn bởi tư tưởng dân chủ thời Khai Sáng [Thế kỷ XVII-XVIII], ý thức đấu tranh giải phóng con người cuả chủ nghiã Marx và ý thức về tồn tại của Chủ nghiã Hiện sinh.

Nhưng vượt lên trên tất cả là tư tưởng Nhân văn Công giáo mà cội nguồn là Kinh Thánh. Kinh Thánh đem đến cho nhân loại cái nhìn về bản thể con người, về cõi người, về ý nghiã sự sống của con người. Con người là gì? Con người không chỉ là vật chất thụ tạo, mà con người được nâng lên khỏi mọi loài thụ tạo, mang bản thể cuả Thiên Chuá, được thánh hiến và ở trong Thiên Chuá. Không có cái nhìn nào về con người siêu việt như thế. Đức Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chuá Cha cho con người: “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta(Ga.17.19-21).

Kinh Thánh nói Con người nhưng không phải là “con người” trừu tượng mà là con người cụ thể, đó là những người nghèo khổ.

Mở đầu bài giảng Tám mối phúc, Đức Giêsu dạy rằng: ”Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chuá là của anh em”(Lc 6.20). Trong cuộc phán xét chung, Đức Vua đã thưởng cho những người được chúc phúc, vì “xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”.”Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt.25.35-40). Kinh Thánh đã trân trọng con người ở thân phận bé nhỏ và khốn khổ nhất, lấy hành động vì con người làm thang bậc giá trị để phán xét ở ngày cánh chung.

Từ cái nhìn con người như thế, Kinh Thánh lấy lòng yêu thương con người làm điều răn quan trọng. Khi được hỏi điều răn nào quan trọng nhất, Đức Giêsu trả lời:”Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.(Mt.22.37-39). Đức Giêsu còn dạy: “Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”(Mt. 5:44).

Nhưng yêu thương như thế nào? Dụ ngôn về người Samari tốt lành là một lời giải đáp cụ thể (Lc.10.29-37): Thấy người bị nạn bên đường, thầy Tư Tế bỏ đi, thầy Lêvi cũng tránh xa, còn người Samari lại gần “lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, ông ta lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói:” Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”.

Người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, theo luật Môise thì phải bị ném đá. Thế nhưng Đức Giêsu đã cứu chị và nói với chị: ”tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"(Ga.8.11). Một lần khác, cảm thương tình cảnh cuả chị em Mácta và Maria, Đức Giêsu đã khóc thương Lazarô (Ga.11.33). Người truyền cho Lazarô từ cõi chết sống lại. Lại một lần nữa, Đức Giêsu nói với các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31).

Qua những trường hợp cụ thể ấy, Kinh Thánh đã chỉ ra, tư tưởng nhân văn Công giáo thể hiện ở cái nhìn trân trọng, yêu thương những con người “bé nhỏ nhất” trong cuộc sống, giải thoát họ khỏi đau khổ, tội lỗi và sự chết.

Vấn đề Con Người, giải phóng Con Người, và hạnh phúc của Con Người là vấn đề của muôn thuở. Bi kịch của con người vẫn còn nguyên đó. Đau khổ, thù hận, tội lỗi, cái chết vẫn bao trùm lấy con người. Chỉ tư tưởng Nhân văn Công giáo mới soi rọi ánh sáng hy vọng cho cuộc đời này.
(Hình ảnh do tác giả cung cấp)

II. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN TRONG ĐẤT MỚI

Đất Mới là truyện dài gồm 3 tập, in lần thứ 2, Nxb Hội Nhà văn 2018.

Đất Mới kể chuyện Lm Phương Toàn. Ngài xuất thân là giáo sự Đại Chủng viện. Sau 30/4/1975, Đại Chủng viện đóng cửa, Lm Phương Toàn cùng giáo dân đi xây dựng “kinh tế mới”. Trước đó, nhiều lần được mời gọi đi định cư ở nước ngoài nhưng ngài từ chối. Ở vùng đất kinh tế mới, ngài đã cùng giáo dân chịu đựng bao nhiêu gian khổ, khó khăn, thử thách; bao nhiêu hiểm nguy, nhiều lần kề cận cái chết, tưởng không qua khỏi. Kiên định lý tưởng theo Chúa, sống chết cùng đoàn chiên, và tín thác hết lòng vào thánh ý Chúa, ngài đã vượt qua những bi kịch cá nhân và đưa được đoàn chiên tới đồng cỏ xanh tươi, có suối mát trong ngọt lành. Ngài đã biến đổi thế giới hiện thực (khu kinh tế mới) và thế giới tâm hồn của đoàn chiên thành vùng “đất mới của đức tin và lòng yêu thương”.

Trong Đất Mới, tư tưởng Nhân văn Công Giáo được thể hiện đậm nét ở nhân vật Lm Phương Toàn.

Cái nhìn của Lm Phương Toàn về con người là cái nhìn trân trọng, hiểu biết và cảm thông sâu sắc. Ngài nhìn thấy vẻ đẹp thánh trên khuôn mặt bà Tương Ấn khi bà qua đời, “khuôn mặt gầy gò xanh mét dần dần trở nên đầy đặn hồng hào, với một vẻ bình an lạ lùng” (tập 2, tr.45) Trong bịnh viện, Ngài sống chung với anh thanh niên bịnh nặng nằm bên cạnh mình, và với những bệnh nhân cùi xung quanh như bạn hữu, cùng sẻ chia phận người trong cảnh ngộ ngặt nghèo. Ngài cũng ẩn nhẫn và trân trọng với những người đã gây ra cho mình sự khốn khó trong lúc nằm viện (Chương 4, tập 1) hay lúc bị tạm giam 75 giờ (Chương 11, tập 3) và cả lúc ngài phải hạ mình trước bọn xã hội đen khi đi tìm đòan con bị giữ ở đồi vàng. Trong hoàn cảnh khó khăn và đầy lo âu của những năm tháng sau 1975 (đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng), tương lai chưa biết thế nào, lòng người không nguôi xao xuyến, cái nhìn về con người của Lm Phương Toàn là cái nhìn tỏa sáng tư tưởng Nhân văn. Cái nhìn ấy làm thăng hoa những khó khăn, đau khổ, hoạn nạn, và hóa giải những nghịch cảnh tưởng không thể vượt qua.

Thái độ chọn lựa đứng về phía người nghèo khổ cuả Lm Phương Toàn mới thực sự thể hiện tư tưởng Nhân văn Công giáo. Ngài đi kinh tế mới với giáo dân, cùng lao động, cùng sẻ chia những khó khăn vất vả (bão lụt, cháy nhà, sốt rét, voi rừng về phá rẫy, kẻ xấu phá hoại…). Ngài sống giữa mọi người, như mọi người, nhưng quan tâm đến mọi người, chăm lo cả đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người. Lm Phương Toàn từ chối mọi mời gọi xuất cảnh (để sống một cuộc sống sung sướng), ngài hòa nhập với người nghèo, người đau khổ. Dù là lúc nằm viện hay là lúc được đưa đi chữa bịnh trên đất Mỹ, tiếng gọi của quê hương luôn vang lên trong tâm hồn ngài, lôi kéo ngài trở về với đòan chiên và dấn thân cho họ. Ngài vượt qua mọi điều tiếng dị nghị và làm hết sức mình cho cuộc sống no cơm ấm áo và đời sống tinh thần cuả họ được tốt tươi. Tinh thần nhập thể ấy của Lm Phương Toàn chính là lòng yêu thương nhân loại của Đức Giêsu trong đời thường.

Lý tưởng của Chủ nghĩa Nhân văn là hướng đến sự giải phóng con người khỏi trạng thái nô lệ, khẳng định giá trị làm người, đem đến hạnh phúc cho con người ngay trong cõi đời trần gian này, nhận ra cái đẹp của chính cuộc sống thế tục. Muốn vậy phải hành động để thay đổi những hoàn cảnh làm tha hoá con người. Đất Mới có đạt đến lý tưởng như vậy không?

Lòng yêu thương con người của Lm Phương Toàn đã biến đổi một vùng đất khô cằn sự sống thành một vùng “đất mới” (như Đất hứa trong Cựu Ước). Nơi ấy con người được giải phóng khỏi những hẹp hòi, ích kỷ, thù nghịch. Nơi ấy con người mở lòng ra với nhau để cùng góp sức xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, sẻ chia cơm áo và tình thương. Nơi ấy hóa giải mọi mâu thuẫn để cùng phát huy những nguồn lực vật chất và tinh thần. Nơi ấy cải thiện hoàn cảnh sống để nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp của con người.

Có thể thấy rõ tư tưởng Nhân văn Công giáo trong Đất Mới đã trổ sinh hoa trái trong hiện thực. Những định kiến ban đầu của nhân viên Nhà nước với Lm. Phương Toàn dần dần được thay thế bằng sự hiểu biết và trân trọng lẫn nhau. Những yêu thương vị kỷ của Mỹ Linh, Minh Nguyệt hay ông Trưởng Tuất được thay thế bằng tình yêu thương có tầm vóc xã hội rộng hơn để rồi sau đó chính gia đình Mỹ Linh, Minh Nguyệt đã có những đóng góp quan trọng và có ý nghiã giúp Lm. Phương Toàn hoàn thành ý nguyện của mình ở vùng kinh tế mới. Việc dời ấp Tân Hữu là một nỗ lực làm thay đổi môi trường, làm thăng tiến đời sống giáo dân, ngăn chặn được những yếu tố làm tha hoá con người, mà trực tiếp là nạn nghèo đói. Sự sẻ chia cơm áo cuả giáo dân Tân Hữu cho bà con di dân Tân Thành là hành động cụ thể của yêu thương Công giáo.

Đất Mới là bài ca yêu thương, bài ca ca ngợi Con Người. Ánh sáng tư tưởng Nhân văn Công giáo đem đến một niềm tin thực sự cho người đọc, niềm tin vào Con Người chí thiện, vào sức mạnh của Con Người có thể làm nên Nước Trời ngay trong cõi tại thế này, và hơn hết niềm tin vào người Mục tử “hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29) hết lòng vì đoàn chiên.

Hãy so sánh một chút với một truyện miêu tả con người qua cái nhìn của Chủ nghĩa Hiện sinh. Nhà văn Dương Nghiễm Mậu trong truyện Cũng đành (1958) kể lại cuộc chạy trốn cuả một con người từ Sơn Tây về Hà Nội. Không có giấy tờ tùy thân, anh ta phải trốn trên xe chở củ nâu. Về đến bến xe Kim Mã, trời tối, anh không biết đi đâu, đành chui vào một túp lều sống với lũ chuột… Cuộc sống trôi đi. Anh ta như như con chó ốm ghẻ, lang thang lẩn lút, không chốn nương thân. Không có tiền mua thuốc, anh ta phải nuốt giun để chữa sốt rét. Không có gì để ăn, anh ta phải nhét vào mồm từng chút cặn thịt hộp đã thiu moi trong ống lon ở bãi rác để khỏi chết đói. Rồi cũng tìm được việc làm phụ ở chỗ thổi thuỷ tinh. Lại bỏ việc, đi nhặt mảnh chai. Rồi dun rủi, lại sống chung với gái điếm, và sau cùng bị bắt. Khi bị tra hỏi, anh ta không biết mình là ai, kể cả tên mình. Bị đánh đập tra khảo mãi, anh ta đành chịu vì chẳng biết khai gì. Viên cố đạo đến giúp tù binh, bị anh ta chửi vào mặt. Rồi một hôm bọn lính dồn anh ta lên xe chở ra cánh đồng, bắt đào hố. Anh ta biết sắp được tự chôn mình. Có tiếng lên đạn lách cách, chúng bắt anh quay mặt vào hố. Anh ta nhớ câu hỏi: ”Cha mẹ mày tên gì”. Câu truyện kết thúc ở đó.

Nhà văn Hiện Sinh miêu tả con người như con vật trần trụi, bị săn đuổi, không chốn nương thân. Sống là đi về cái chết như một tất yếu bi đát. Cô đơn trong thân phận con người. Tuyệt vọng đến chối bỏ cả đức tin, và vô nghiã đến độ không còn biết mình là ai. Nhìn con người như thế, nhà văn tỏ ra hoàn toàn bất lực trong nhận thức về con người về sức mạnh vất chất và tâm linh cuả con người. Con người đành bó tay trong cõi chết từng ngày. Nếu nhà văn có yêu thương con người thì tình yêu thương ấy chẳng đem đến cho con người điều gì an ủi ngoài nỗi sợ hãi và tâm trạng bi đát.

Trái lại, tư tưởng Nhân văn trong Đất Mới soi rọi vào bên trong sức mạnh cuả con người, sáng lên những phẩm chất tốt đẹp của con người và đem đến Niềm tin Cứu rỗi cho con người khỏi tăm tối tuyệt vọng.

Tư tưởng Nhân văn Công Giáo cũng kết tinh trong việc xây dựng nhân vật Lm Phương Toàn, một người bình thường nhưng lại đạt đến những phẩm chất lý tưởng. Nhân vật Lm Phương Toàn là tiêu biểu cho vẻ đẹp cuả người sống đời dâng hiến (khác hẳn với sự miêu tả về Linh mục trong các tác phẩm thế tục). Đất Mới khẳng định chính người Mục tử Công Giáo, cùng với giáo dân “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, đang đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng Đất Nước.

Kiểu nhân vật như vậy là kiểu nhân vật mới, đóng góp cho văn chương Việt Nam đương đại. Đó là một công dân của Nước trời, như mọi công dân của đất nước này, nhưng tỏa sáng tư tưởng nhân văn Công giáo giữa đời thường,

III. VỚI VĂN CHƯƠNG VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI

Ngọai trừ một số ít tác phẩm văn chương đích thực (tác phẩm đề tài lịch sử, tác phẩm trong dòng văn chương Nhân văn và Dân chủ), thật khó tìm ra một nhân vật có lý tưởng sống tích cực trong văn chương Việt đương đại. Trái lại, không thiếu những tác phẩm miêu tả những mặt tiêu cực của đời sống, văn chương sex, những truyện ngôn tình…tác giả khắc hoạ những nhân vật tha hóa, thực dụng, vị kỷ, ngụp lặn trong bóng tối, vô vọng…(3). Khó tìm thấy những nhân vật tích cực, tỏa sáng vẻ đẹp Nhân văn, biết sống vì tha nhân, đem tin yêu đến mọi nơi, như nhân vật Lm Phương Toàn trong Đất Mới.

Thực trạng ấy của văn chương đương đại đang được báo động. Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị đã phê phán: ”Một số văn nghệ sĩ còn… chạy theo các đề tài nhỏ nhặt, tầm thường, chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí…Một số sản phẩm văn học, nghệ thuật tầm thường, chất lượng kém được phát hành, truyền bá gây tác hại, ảnh hưởng xấu tới công chúng, nhất là thế hệ trẻ .”

Đất Mới là đời sống thật được chưng cất bởi ánh sáng của tư tưởng Nhân văn Công giáo nên có thể chạm vào được tâm thức sâu xa cuả người đọc, nhất là những ai đã sống qua thời đất nước khủng hoảng (1975-1990), phải di dân đi Kinh tế mới. Đó là khát vọng về một “Đất Mới” trong đời thực, Đất Mới trong tâm hồn và niềm tin vào con người. Hoặc ít ra cũng đem đến cho người đọc cái nhìn nhân ái về cuộc sống, nhận ra sự tốt đẹp của cuộc sống ở cõi tại thế này và khẳng định sức mạnh cuả tình yêu thương có sức giải thoát con người khỏi những thảm cảnh, tội lỗi và sự chết.

Đọc Đất Mới dưới ánh sáng của tư tưởng Nhân văn Công giáo, người đọc sẽ nhận ra giá trị nhiều mặt của tác phẩm này. Cùng với những tác phẩm khác của Song Nguyễn, Đất Mới tạo nên bộ sử thi về đời sống người Công giao đương đại. Đó là những bài học suy nghiệm quý giá mà Song Nguyễn chia sẻ với chúng ta.
_______________________________________________

(1b) Terence [195-159 BC] in his play Heauton Timorumenos, reads: "Homo sum, humani nihil a me alienum puto", or "I am human, and I think nothing human is alien to me." https://en.wikipedia.org/wiki/Terence

(2) Tự điển Văn Học. tr.291

(3) Xin đọc: Bóng Đè, I’m Đàn Bà, Dị Bản, Nháp. Sợi Xích, Dại Tình…
Được tạo bởi Blogger.