Đêm Giáng Sinh



Noel, ngày lễ kỷ niệm Thiên Chúa tặng quà cho thế gian. Noel, ngày lễ Vượt Qua từ đêm tối tiến ra ánh sáng. Từ đó trở đi, tại hầu hết các nước, Noel là ngày lễ của ánh sáng, vui nhất, phổ biến nhất, tưng bừng nhất, ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với trái tim nhân loại, vì Noel nhắc nhở đến “Tặng Phẩm”, đến ân sủng Thiên Chúa đã ban cho thế gian là Đức Giêsu Kitô.

Vì vậy ngày ấy người ta cho nhau quà, cha mẹ tặng con cái, con cái tặng cha mẹ, cha mẹ tặng nhau, người khá giả tặng người thiếu thốn.

Vì vậy, ngày ấy người ta dễ làm hoà, quên đi những lỗi lầm của nhau; người ta ngưng chiến, vì người ta cảm thấy hơn bao giờ hết, chia rẽ, ghen ghét, tranh chấp là dại dột, điên khùng. Người ta hội nhau để hợp hát lên câu châm ngôn trích trong Bài Ca Thiên Thần: “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.

Thật đáng tiếc khi chúng ta thấy trong ngày Noel có một số lạm dụng, một số tập tục ngoài tôn giáo đã chiếm chỗ những tục lệ tôn giáo đáng quý.


ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO
trực thuộc
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM


GIỚI THIỆU CUỘC THI SÁNG TÁC CHO TUỔI THƠ

Trong các thư mục vụ những năm gần đây, Hội đồng Giám mục Việt Nam thường xuyên nhắc tới tầm quan trọng của việc giáo dục đức tin và nhân bản cho lớp trẻ. Giáo dục quả là một trách nhiệm chung, cần được mọi thành phần Dân Chúa quan tâm đóng góp, tùy khả năng và điều kiện của từng người, từng nhóm. Thay vì ngồi than phiền chỉ trích tiêu cực, người Công giáo chúng ta, nhất là những người có khả năng truyền đạt sứ điệp đến giới thiếu nhi, cần nỗ lực cách đặc biệt cho công việc này.
Theo hướng ấy, Ban Văn hóa Giáo phận Qui Nhơn có chương trình gom góp những bài viết vừa có tinh kitô giáo, vừa có tính nhân văn để thực hiện những tuyển tập văn thơ và truyện tranh định kỳ dành cho thiếu niên và nhi đồng. Đây là một sáng kiến thiết thực. Với những nội dung và hình thức hấp dẫn được thiếu niên nhi đồng ưa thích, những tuyển tập này sẽ có tác dụng giáo dục theo kiểu mưa lâu thấm đất.
Khởi đầu chương trình này, Ban Tổ chức đề ra cuộc thi SÁNG TÁC CHO TUỔI THƠ theo bản thể lệ đính kèm, nhằm tìm kiếm những tác giả có khả năng và giàu tâm huyết cho lĩnh vực này.
Nhận thấy chương trình này rất hữu ích cho các em thiếu nhi học đường, chúng tôi tha thiết ước mong sẽ có thật nhiều người, cách riêng những vị sống đời thánh hiến, các tác giả văn thơ, các họa sĩ, các Thầy Cô, các huynh trưởng và giáo lý viên tích cực hưởng ứng hoặc vận động người khác tham gia cuộc thi.
Cầu chúc cuộc thi quy tụ được nhiều người có kinh nghiệm và thu lượm được nhiều sáng kiến để thiếu niên và nhi đồng sớm có được những món ăn tinh thần thật bổ dưỡng.
Xin chúc mọi người một Mùa Giáng sinh 2018 và Năm mới 2019 an vui hạnh phúc trong tình yêu Thiên Chúa.

Ngày 08 tháng 12 năm 2018




+ Giuse Đinh Đức Đạo
Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo Giám mục Gp Xuân Lộc
---------------------------------------------------

Ban mục vụ Văn hóa Giáo phận Qui Nhơn
Cuộc thi SÁNG TÁC CHO TUỔI THƠ  2018- 2019



Hôm nay là sinh nhật của chồng tôi.

Gia đình nhỏ của tôi không có thói quen tổ chức sinh nhật. Chồng nhớ đến vợ con, con trai nhớ đến cha mẹ hoặc thỉnh thoảng tôi có mua cho con cái gì thì không phải đợi đến sinh nhật. Tôi quan niệm mình sống thật tốt với nhau mỗi ngày thì đó chính là những món quà vô giá và ý nghĩa nhất trong cuộc đời rồi. Quà sinh nhật, có cũng được mà không có cũng không sao.

Sinh nhật, nhắc nhau đi lễ và dành lời cầu nguyện nhưng lắm khi vì công việc cũng không thể đến nhà thờ.

Vậy mà hai năm trước, vào đúng ngày này, buổi tối cuối cùng tôi và con trai đang ở Myanmar, Chúa đã cho tôi được thấy sự hiện diện và quyền năng của Người. Tôi muốn được sống lại những giây phút thánh thiêng, tuyệt vời ấy.

*************

... Hai anh em Fieu (Myanmar) dẫn Kiuơ (Ấn Độ), Jong Ming (Hàn Quốc), tôi và con trai vào thăm chùa Shwedagon. Chùa Shwedagon lớn lắm.

Fieu dẫn chúng tôi đến nơi đặt hòn đá cuội, người dân Myanmar gọi là hòn đá linh thiêng. Ai thành tâm cầu khấn điều gì thì tùy theo ý nguyện, hòn đá sẽ trở nên nặng hay nhẹ. Hòn đá này không lớn cũng không nhỏ, trọng lượng tự nhiên ước tính khoảng gần 20kg. Fieu cầu trước và hòn đá được nâng lên khoảng 20cm, sau đó lần lượt đến Kiuơ, Jong Ming và con trai tôi. Kiuơ 23 tuổi, nặng 85kg, cao 1,8m nhưng chỉ nhắc được hòn đá lên khoảng 5cm rồi buông xuống vì quá nặng, cả con trai tôi và Jong Ming đều như thế. Không ai nhắc hòn đá lên cao được.


Jong Ming đang quì trước hòn đá

Trước hình ảnh đó, có một cái gì đó thôi thúc trong lòng, tôi đến trước hòn đá, chắp tay quì, tôi đã nói với Chúa mà những lời nói đó đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ rất rõ ràng, tôi đã nói như sau :

Lạy Chúa, con đang ở trong một ngôi chùa có rất nhiều tượng Phật, từ trước đến giờ con vẫn luôn ngưỡng mộ đức hạnh của Phật. Đức hạnh của Phật không ai sánh kịp. Con tin Phật là một vị thần linh, Chúa cũng là một vị thần linh. Nhưng với con thì Chúa là một vị thần linh trên tất cả các vị thần linh. Ngày hôm nay, con không xin gì cho con cả, con chỉ xin cho con được thấy quyền năng và sức mạnh của Chúa. Nếu Chúa chấp nhận lời con cầu thì xin cho con được nâng hòn đá này lên rất nhẹ nhàng, nếu Chúa không nhận lời thì con sẽ không nhắc hòn đá này lên được.

Sau lời thầm thì với Chúa, tôi im lặng khoảng 10 giây...

Và trong tư thế quì ngồi, tôi đã dùng hai tay nâng hòn đá lên cao khỏi mặt đất độ chừng 40cm, ngang vai tôi và từ từ đặt xuống rất nhẹ nhàng, tôi thấy rất rõ tôi không dùng sức, mà có dùng sức cũng không tài nào nâng lên được, hòn đá đi lên hay hạ xuống theo hai bàn tay tôi cử động.

Sự việc diễn ra như trong mơ, rất nhanh chỉ vài giây nhưng đủ làm cho tất cả những người chung quanh nhìn tôi và ồ lên với ánh mắt ngạc nhiên vô cùng. Tôi nói với con trai giải thích cho mọi người biết rằng mẹ và con theo đạo Chúa nên mẹ đã cầu nguyện như những lời trên và Chúa đã tỏ cho mọi người thấy quyền năng và sức mạnh của Người.

Lạy Chúa con! Lạy Thiên Chúa của con!

Con muốn dùng lời của thánh Tôma để kêu lên với Chúa khi người sống lại, hiện ra và cho Tôma được sờ tay vào dấu đinh, cho ngón tay của ông được thọc vào cạnh sườn của Người. Con biết Chúa đã tỏ cho con, không phải vì con là người đạo đức nhưng vì lòng tin của con yếu kém, con luôn bị chao đảo, sợ sệt quá nhiều trước phong ba bão táp cuộc đời. Con đã quên một Thiên Chúa giàu lòng xót thương nhưng rất quyền năng luôn đồng hành với mình.

Trong ngôi chùa này, trước nhiều người chưa nhận biết Chúa, Chúa đã dùng một người phụ nữ ốm yếu như con để thể hiện quyền năng và sức mạnh của Chúa.

Con cám ơn Chúa đã ban cho con hạnh phúc này, nó sẽ theo con trong suốt quãng đời còn lại để con luôn tin tưởng Chúa nhiều hơn và sống đẹp lòng Chúa hơn.

Con ước mong con trai của con nhìn thấy hình ảnh này cũng sẽ được như vậy...


*********************

Tôi đã thấy Chúa hiện diện như vậy đó.
Nhưng sau khi những cảm xúc qua đi, bản chất tham lam trong con người tôi trỗi dậy. Tôi muốn xin Chúa cho tôi được nhìn thấy một lần nữa điều kỳ diệu ấy.
Nếu Chúa đồng ý, chắc chắn tôi sẽ tự mãn, tôi xin là được.
Nếu Chúa không đồng ý, niềm vui sẽ vơi đi, niềm tin chắc cũng vậy.

Trong cuộc đời mỗi người, phải chăng ít nhiều đều cảm nhận được lòng Chúa xót thương, mấy ai Chúa cho thấy phép lạ, nhất là phép lạ tỏ tường mà Chúa dùng chính bàn tay tôi để thực hiện.

Vậy thì tôi phải bằng lòng, điều Chúa dành cho tôi là quá nhiều.

Có một lần trao đổi với Tú, tôi hỏi tại sao một thanh niên Saigon hai mươi hai tuổi, cái tuổi trẻ đang tràn đầy sức sống, năng động, đang học nhạc viện mà em lại bỏ tất cả để vào đan viện, sống đời chiêm niệm, cầu nguyện và lao động. Em trả lời tôi rằng trong một lần đi hành hương Đức Mẹ Tàpao, em thấy Đức Mẹ xoay tròn khỏang 30 giây. Trước hiện tương siêu nhiên ấy, đôi chân em như muốn khuỵu xuống, em phải dùng tay bám chặt vào người anh rể đang đứng trước em.

Mười năm em không xưng tội. Khi đọc kinh cáo mình em không bao giờ đấm ngực, dù em vẫn rước lễ vì em ở trong ca đoàn, ai lên rước lễ thì mình lên theo.
Vậy đó, chỉ một lần nhìn thấy phép lạ, em từ bỏ hết mọi sự để theo Chúa.
Mười tám năm rồi em đã là một đan sĩ.
Phép lạ thức tỉnh lòng người. Với Tú là như vậy.

Còn tôi...
Trước đây nhiều khi tôi đọc kinh như một máy cassette, chỉ cần bấm nút là bật lên tiếng, tôi tham dự thánh lễ, rước lễ như một thói quen không thể thiếu.
Nhưng sau lần ấy, mỗi lần tham dự thánh lễ, tôi cảm nhận sâu xa hơn sự hiện diện của Chúa trong tấm bánh nhỏ bé khi được linh mục đọc lời truyền phép.
Tôi trân trọng từng phút giây mỗi khi chầu Thánh Thể.
Tôi đón Chúa vào lòng khi lên rước lễ, không còn hời hợt mà thay vào đó là sự kính trọng hết sức có thể tôi dành cho Chúa.
Tôi thực lòng biết sợ, tôi hiểu được tại sao Ơn Kính sợ Chúa lại là một trong bảy ơn của Chúa thánh thần.
Tôi sợ, nhưng tôi tin nhiều hơn, tôi tin rằng với Chúa, không điều gì là không có thể, chỉ trừ khi Chúa không muốn.
Từ niềm tin, tôi trông cậy vào Chúa nhiều hơn.
Tôi hiểu đức tin đã trở thành niềm trông cậy.
Từ niềm tin, sự cậy trông, tôi thấy mình mến Chúa nhiều hơn vì những điều Người đã ưu ái ban tặng cho tôi.
Tôi xin cho tôi được mến Chúa qua người thân, bạn bè và những người chung quanh, dù thân quen hay xa lạ thì tất cả đều mang hình ảnh của Chúa.
Tôi tin rằng mình sẽ đi từng bước chân cho đến cuối cuộc đời trong yêu thương vì Chúa đã cho tôi và con trai thấy được sự hiện diện và quyền năng của Chúa trong ngày sinh nhật chồng tôi.
Một sự hòa quyện thân tình. Đó chẳng phải là món quà vô giá và đầy bất ngờ Chúa dành cho gia đình nhỏ bé của tôi sao ?

Lạy Chúa.
Hôm nay, con trai con đến một nơi xa để thực hiện công việc mới.
Xin Chúa cho nó dù đi bất cứ nơi nào cũng không quên thánh lễ, không quên lần chuỗi khi bắt đầu ngày mới, những việc mà trước đây khi ở nhà nó vẫn thường làm.
Xin Chúa thực hiện phép lạ trên đời sống và công việc khởi nghiệp của nó.
Con kính gởi đến Chúa niềm tin, sự cậy trông và tình yêu của gia đình chúng con.

04/6/2018
Thuy Nga 
Nguồn: http://thuyngapm.blogspot.com/2018/06/phep-la-cua-oi-toi.html

Kinh nghiệm bị chối từ

“…nhưng người nhà không chịu đón nhận” 

Có lẽ trong cuộc sống của mỗi người ai cũng có chút kinh nghiệm bị chối từ. Kinh nghiệm đó có thể đến từ bạn bè, từ bề trên, từ người thân hay từ chính cha mẹ của mình. Với tôi, kinh nghiệm đó là một vết thương ăn sâu trong tâm trí.

Một đêm nọ, khi ấy tôi 14 tuổi. Một đêm trăng đẹp nơi vùng quê yên bình, tụi con trai trong làng rủ nhau đi chơi. Chúng tôi đã rủ nhau ra bãi biển đầy gió mát để chơi những trò chơi quen thuộc của tụi nhỏ thường chơi mỗi dịp trăng về; nào là trò trốn tìm, nào là cõng vật…

Giáng sinh để chịu đóng đinh

Kahlil Gibran, Nguyễn Ước dịch




Lời người dịch:

Hằng năm, ngày Giêsu ra đời (Noël) được xem là một lễ hội hầu như trên khắp thế giới, có lẽ vì tính cách vui tươi, bình an, đại chúng và thậm chí thương mại của nó. Thế nhưng, đại lễ quan trọng nhất của Kitô giáo, mang tính căn nguyên và được giáo hội qui điển hóa hơn 300 năm trước lễ Giáng sinh ngày 25 tháng Mười hai, đó là lễ Phục sinh (Easter hay Pâques). Đức tin Kitô giáo đặt cơ sở trên mầu nhiệm Phục sinh. Lễ Phục sinh là cao điểm kết thúc tuần thương khó (khổ nạn, passion) tuẩn tử cứu độ và sống lại vinh quang của Giêsu mà theo thần học Kitô giáo, cũng là tiêu biểu cho diễn tiến đáng ao ước của cuộc sống Kitô hữu. Nếu không có tín lý Phục sinh, toàn bộ giáo thuyết Kitô giáo sụp đổ. Vì thế, lễ Phục sinh đầy lạc quan đó được tái hiện hằng tuần ở một qui mô nhỏ hơn, vào ngày Chủ nhật.

CHÚT TẢN MẠN: CHÂN CON MÃI ĐI TÌM


Giáo lý Hội Thánh Công Giáo dạy các tín hữu rằng Thiên Chúa có Ba Ngôi. Đó là một mầu nhiệm, mà mầu nhiệm thì trước hết phải tin. Tin trước đã, rồi mới đến lý trí. Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi luôn làm cho những người lần đầu nghe về Chúa phải thắc mắc. Và các Kitô hữu chúng ta, tin thì vẫn tin, nhưng suy tư, thắc mắc thì có bao giờ ngừng.

HOÀNG LAN TỰ SỰ

Hình minh họa (Phim Phận Làm Dâu)


1. Con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đấy

Huy bị xe đụng, phải đi cấp cứu. Cả thời gian cấp cứu, phẫu thuật và hậu phẫu có đến cả tháng trời. Cả tháng anh hôn mê sâu, bất tỉnh nhân sự. Ăn, mặc, tắm, rửa, lau, chùi, giặt giũ, giường cứt chiếu đái cho anh, một mình tôi lo hết. Anh là con một, chỉ còn cha mẹ già, nên tôi nghiễm nhiên trở thành điều dưỡng riêng, một thứ ô sin không công cho anh. Được cái “yêu nhau trăm sự chẳng nề”, nên tôi “chẳng nề” chi hết. Nhất là một lần trong cơn mê sảng, anh quờ quạng cầm lấy tay tôi: “Hoàng Lan ơi! Anh nhớ em lắm, người yêu lý tưởng, người tình tuyệt vời của anh”. Một lần, phải, chỉ một lần ấy thôi, một câu nói thôi, từ trong vô thức của anh, đủ để tôi sẵn lòng hy sinh cả cuộc đời cho anh, chết cho anh còn được nữa kìa.

Từ ngày thằng Đức bỏ nhà ra đi, bà Tâm, mẹ nó cứ như người thất thần. Suốt ngày đi ra đi vào, lải nhải trong miệng cái gì không ai hay. Có khi đang ngồi trong nhà, bà ngó nghiêng ra ngoài rồi chạy ầm ra cổng cứ như đang mong ngóng chờ đón ai về. Ông Đông, bố thằng Đức, những ngày đầu hay gắt gỏng, nạt nộ bà nhưng sau cũng chán vì bà ngày nào cũng thế. Đôi lúc bực quá ông quát: “Bà điên rồi à! Ngồi một chỗ cho tôi nhờ. Mà tôi xin bà đừng có lải nhải nữa. Thằng Đức nó đi được thì nó về được. Cái thằng đó chỉ ba bảy hai mốt ngày thôi.”



Ấy thế mà từ ngày thằng Đức bỏ nhà ra đi cũng đã được gần một năm rồi. Đó cũng là khoảng thời gian mà gia đình nó bị xáo trộn nhiều nhất. Thứ thì mẹ nó trở nên điên điên khùng khùng suốt mấy tuần liền. Thứ thì bố nó phải chạy đôn chạy đáo để tìm nó, rồi công việc đồng áng nữa. Chưa kể mấy đứa em nó cũng hụt hẫng vì ông anh tự dưng bỏ bọn chúng mà đi không nói một lời. Thực ra lúc đầu, ông Đông bực nó thật. Ông không thèm đi tìm nó vì ông nghĩ thằng này chưa ra ngõ lần nào sao dám bỏ đi xa được, chắc nó quanh quẩn đâu đó mấy ngày thôi. Thế rồi một tuần, hai tuần trôi qua ông Đông vẫn không thấy nó về. Hỏi bạn bè nó thì không đứa nào biết. Lúc đó ông mới cuống cuồng đi tìm. Tìm mãi cũng chán, vả lại gia đình còn nhiều chuyện đang đổ trên đầu ông nữa. Thế là ông Đông mới tin rằng thằng Đức đã bỏ nhà ra đi thật. Tuy nhiên, trong mỗi giờ kinh tối gia đình, ông vẫn không quên cầu xin Chúa, Mẹ, thánh quan thầy Giuse giữ gìn nó.

Dăm câu chuyện thật được kể lại trong mùa lễ. Có thể có người sẽ quên đi. Nhưng cũng có thể chúng lại khơi niềm cảm hứng và sự suy ngẫm nơi những tâm hồn thường rung động với cái đẹp, cái nghĩa cử của đời sống được bắt gặp đó đây. Bởi vì họ đồng cảm hay bắt gặp chính mình cũng sẽ hành xử tương tự như trong những câu chuyện. Hoặc chúng giúp họ sống tử tế và độ lượng hơn với tha nhân. Đời sống có quy luật của nó. Cứ làm điều gì đó nhỏ nhoi nhưng ý nghĩa, ít nhất một lần với ai đó. Hệt như những gì mà những người lạ nào đó đã từng làm cho mình. Để cái đẹp cứ vậy mà tiếp nối. Lan truyền. Bằng cái tâm tình mùa lễ Tạ Ơn.

Jim và công việc: 

Jim, người láng giềng của tôi đang đắn đo xem đã đến lúc nghỉ hưu hay chưa. Thế rồi ông gặp một người cha trẻ có ba con nhỏ và không tìm ra việc đã vài năm nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Ngày hôm sau ông đến văn phòng nộp đơn nghỉ hưu và đề nghị thu nhận người cha trẻ kia vào thế chỗ của ông. Người cha trẻ này vậy mà đã làm việc được ở đó đã sáu năm nay. (Miranda MacLean, Michigan)

BÉ BIỂN


Trên tường, lẫn trong nhiều bức hình rất đẹp được chụp từ một ống kính chuyên nghiệp là tấm hình của chiếc ghe mong manh, nhỏ bé, bồng bềnh trên đại dương. Trên khoang ghe, các thuyền nhân Việt Nam (những boat people đã đánh động lương tâm thế giới vào những năm 70s và 80s) mặt mày ngơ ngác mệt mỏi nhưng mắt sáng lên hy vọng. Đó là món quà tặng cho Bs. Huỳnh Quang Minh từ một thuyền nhân cùng tàu vượt biển năm xưa. 

Chiếc ghế cuối nhà thờ…


Mình còn nhớ trước ngày chịu chức linh mục, cha linh hướng của mình dạy rằng, “sau khi con chịu chức, con đừng quên chiếc ghế phía cuối nhà thờ mà thỉnh thoảng con vẫn ngồi… hãy quay lại ngồi vào chiếc ghế đó một vài lần trong tháng trước giờ lễ.” Mãi về sau mình mới hiểu sự sâu sắc của lời khuyên đó.

Sau ngày chịu chức, các linh mục của Chúa được ngồi trên cung thánh, mọi người đều hướng về linh mục, và người linh mục trở thành trọng tâm của tất cả sự chú ý. Vị trí ngồi trên cung thánh nói lên vai trò của người linh mục, là người mục tử dẫn dắt cộng đoàn, cử hành phụng vụ dâng lên Chúa.

Tuy nhiên, đó cũng là vị trí ẩn đầy cám dỗ và nguy hiểm. Một khi ngồi ở vị trí trên cùng, người ta dễ xa cách người khác vì vị trí cao trọng của mình, đôi khi người ta làm mọi sự để bám lấy vị trí đó, và nghĩ rằng ở bất cứ nơi đâu mình cũng phải được ngồi trên cùng, phải được chú ý, phải là người quan trọng nhất.

2014 CHA VÀO ĐẤT


-"Sáu mươi năm rồi con ạ!" 
– "Dạ, đã sáu mươi năm."

Im lặng.

- "Ba mươi chín năm rồi Ba ạ!"
 – "Phải. Đã ba mươi chín năm."

- "Mỗi năm mình đều phải làm toán lại Ba à! Con làm toán cộng. Con vẫn không tin ở tài làm toán của mình. Bài toán rất đơn giản. Chỉ có cộng một vào con số có sẵn."
- "Phải. Đơn giản mà rất hóc búa."

Cha con tôi lại im lặng. Tôi biết trong khối óc còn rất tinh tường của ba tôi, những tháng năm xa xưa đang trở lại. Như một đoạn phim. Tôi ước gì người ta có thể sửa đổi như sửa đổi những đoạn phim hoặc những đoạn thu âm một cách dễ dàng. Xóa đi và làm lại. Kỹ thuật, chuyện nhỏ! Nhưng những đoạn phim đời của chúng ta, không thể làm gì được. Không xóa đi và làm lại. Mỗi năm tôi đều phải làm một con tính cộng. Ba cũng vậy.

Tôi thu dọn căn nhà lại cho Ba. Trong căn nhà này, Ba và Mẹ đã có nhau. Sau khi Mẹ mất, Ba không muốn dời đi đâu cả. Ba sống thoải mái một mình. Mỗi ngày chúng tôi đều thay nhau đến với Ba. Vậy là Ba đã cảm thấy đủ. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa ngăn nắp. Tôi chỉ việc hút bụi, và trang trí một chút cho vui. Ba còn dặn khi nào Ba quá lú lẫn rồi thì các con cứ gửi Ba vào “nursing home”. Chúng tôi nói chắc không bao giờ đâu, vì Ba luôn khỏe khoắn mà. Nói thế rồi tôi cũng nghĩ rằng cho dù Ba có thế nào, chúng tôi cũng sẽ săn sóc Ba tại nhà. Ở nhà, Ba sẽ luôn "có" Mẹ bên cạnh.

- "Ba! Cái tấm hình này..."
- "Chi đó?"
- "Tấm hình nhà mình chụp chung... lâu lắm rồi, Ba xem này, giấy hình đã ố vàng."
- "Đưa Ba xem. À phải, tấm hình chụp năm 1954, trước nhà mình ở Hà Nội. Sau đó… gia đình mình đã ra đi."
- "Dạ. Lúc nhà mình ra đi, con mới có sáu tuổi, nhưng tới bây giờ con vẫn nhớ."
- "Con giỏi lắm!"
- "Con nhớ lắm Ba à! Lúc xuống tàu, cảnh thật là hỗn độn. Ba Mẹ chỉ mang một ít vật dụng thật cần thiết, và vài món quý giá. Con giành mang cái túi đựng những vật quý giá đó, chỉ là hình ảnh của gia đình. Sau này con thấy quý thật, vì vàng bạc mình còn sắm lại được, còn hình ảnh thì không.”
- “Đúng đó con! Quý lắm!”

Hai cha con giở lại quyển album. Những kỷ niệm êm đềm ở quê cũ Hà Nội lần lượt hiện ra. Tôi dạo đó còn bé quá, chỉ là một cậu nhóc mới vào tiểu học. Trí óc non nớt của tôi còn lãng đãng những câu chuyện Ba Mẹ kể về trận đói năm Ất Dậu 1945. Họ hàng của tôi nhiều người đã chết trong trận đói ấy, lúc tôi chưa ra đời. Thế nên tôi chỉ nghĩ về chuyện ấy như một sự kiện lịch sử mà mình được học. Nhưng với Ba Mẹ thì khác. Đó là những gì họ phải chứng kiến, nên tôi biết trong lòng Ba Mẹ không bao giờ nguôi được những nỗi kinh hoàng.

“Con xem, tấm hình này, chụp lúc mình mới về định cư ở Đà Lạt. Ba Mẹ làm vườn để sinh sống, nuôi các con. Vất vả lắm! Nhưng mình đã có một thời bình an.”

Tôi nghe như thật sâu trong câu nói của Ba có một tiếng thở dài. Phải, nhà mình đã có một thời bình an. Khi đã quen với cuộc sống mới, có một mái nhà, Ba bắt đầu đi làm lại tại công sở. Mẹ tiếp tục công việc vườn tược. Trời thương nên rau trái tốt tươi, Mẹ thuê được người cùng làm vườn nên đỡ vất vả hơn. Ba anh em chúng tôi lớn lên.

Nhưng mỗi khi nhìn bé An, em gái út, chúng tôi không khỏi tội nghiệp cho em. Cái cảnh cả nhà chen chúc lên “chiếc tàu há mồm” tại cảng Hải Phòng chúng tôi nhớ rất rõ. Mẹ lúc đó còn mặc áo dài, nách em An một bên, tay kia dắt em Thành. Ba và tôi mỗi người một cái túi. Ba xách cái túi to đựng vật dụng cần thiết của cả nhà, tôi vác cái túi nhỏ vừa đủ đè oằn vai thằng bé sáu tuổi. Có một lúc dòng người như sóng cuộn xô đẩy vô tình, em An bị đám đông làm ngộp thở. Em khóc không thành tiếng. Cánh tay em bị nhiều người xô mạnh, em đau đớn gần ngất xỉu. Em mang tật nơi khuỷu tay từ dạo ấy. Em Thành và tôi cũng suýt bị chẹn ngộp thở. Và cuối cùng, chúng tôi cũng lên được trên tàu. “Chiếc tàu há mồm”, kỷ niệm sâu đậm trong đời của chúng tôi! 

(Ảnh minh họa cuộc di cư năm 1954)

Bài toán đơn giản mà rất hóc búa. Không phải chỉ có cộng một vào con số có sẵn. Mà đúng ra là phải lấy năm hiện tại trừ đi năm đó. Năm đó là gì? Là cái mốc thời gian ai cũng nhớ. Ba thì trừ với năm 1954. Tôi thì trừ với năm 1975. Tôi rùng mình. Cái ý nghĩ mình cứ làm toán trừ hay toán cộng mỗi năm như vậy thật đáng sợ. Tôi bây giờ không phải là cậu bé sáu tuổi hay chàng thanh niên trẻ trung lanh lợi, mà đã thành một người có tuổi, mái tóc điểm nhiều sợi bạc, và cũng đang nặng gánh gia đình. Tôi sẽ làm toán cộng như thế này mãi ư? Và để làm gì? Một công việc, tuy chỉ là một động tác nhỏ, nhưng sao nặng nề quá, và đủ sức làm đau nhói trái tim.

Hôm nay tôi đưa Ba ra bãi biển. Cả hai cha con không hiểu sao bỗng dưng cùng muốn ra biển. Ba nói sắp đến Lễ Phục Sinh. Mùa Phục Sinh năm đó trùng với những ngày cuối của Miền Nam. Tôi cũng nhớ rất rõ chuyện ấy. Lúc đó tôi không phải là cậu nhóc con, mà là một thanh niên. Vâng, một thanh niên đang khoác màu áo lính. Những đoạn đường chiến binh gian khổ tôi hầu như đã nếm trải. Bước chân tôi đã đi khắp mọi miền. Cho đến ngày mất Miền Nam, tôi theo bạn bè chạy về chốn địa đầu. Tôi đã trôi dạt ra xứ biển. Nơi đó, đất mũi Cà Mau, tôi ẩn thân rồi ra khơi trong một ngày đầu tháng Năm…

… Biển ở đây lạnh. Cha con tôi không thể tắm. Ba cùng tôi ngồi trên cát, không ai bảo ai điều gì, yên lặng ngó ra chân trời phía tây nam. Đôi mắt Ba bỗng như dâng lên một chút sóng.
- “Ba!”
- “Gì con?”
- “Có phải… Ba đang nhớ…?”
- “Ừ. Ba nhớ quá, Việt Nam!”
- “Con cũng vậy.”
- “Những ngày đó, con đi đâu mất tích. Còn Đà Lạt của mình cũng đã thua. Mọi người kéo nhau về Sàigòn. Lại làm dân di cư. Ba Mẹ tiếc vườn rau trái của mình quá! Yêu Đà Lạt như yêu Hà Nội xưa vậy. Cho nên sau đó lại trở về. Trở về để phải chịu những điều cay đắng.”

Phải, Ba Mẹ đã chịu cay đắng. Ba phải đi “tập trung cải tạo” mấy tháng vì là viên chức chính phủ, Mẹ ở nhà chịu cảnh “đánh tư sản mại bản” vì nhà có chút của cải do kinh doanh nông sản mà có. Lại trở về hai bàn tay trắng. Thằng con trai lớn đi biệt tăm. Hai đứa còn lại học hành lay lắt, chán chường…

Bỗng Ba đổi giọng hơi vui:
-“Nhưng Trời sắp đặt cả con ạ, rồi con cũng đã đem hết nhà mình qua đây. Mình không còn được sống trong đất nước của mình nữa, nhưng đã hưởng một đời tự do. Mẹ con cũng có một khoảng thời gian sung sướng trước khi lìa cha con mình. Ba nghĩ Ba không có gì để luyến tiếc cả.”
- “Ba!”
- “Phải. Thật sự thì Ba vẫn luôn mong có ngày Ba về lại quê nhà. Nhưng nơi chốn này cũng gắn bó lắm chứ! Con có nhớ câu hát của Nguyễn Đức Quang không? “Xin nhận nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương.” Đất nước này cũng đầy thương khó, nào thiên tai, nào khủng bố, nào xung đột màu da… Nhưng đây vẫn luôn là một đất nước đẹp xinh và hào hiệp, ai mà không yêu mến?”

Ba vùi đôi bàn chân trong cát ướt, nói nhẹ:
- “Cát êm quá con ạ! Thật là dễ chịu!”
- “Dạ.”
- “Ba cứ ao ước cuối đời sẽ về Việt Nam, để được chết ở đó. Nhưng ngày nào còn chế độ độc tài, ngày nào chưa có tự do, Ba sẽ không về.”
- “Ba, ngày đó sẽ tới.”
- “Nhưng lâu quá con ạ! Chắc hết đời Ba vẫn chưa thấy đâu cả. Mỗi năm lại phải làm bài toán cộng, Ba thấy mòn mỏi quá!”
- “Ba, Ba đừng nghĩ tới chuyện đó nữa đi Ba!”
- “Ừ, Ba sẽ không nghĩ tới nữa. Ba thật sự thương cái xứ này.”

Tôi kéo Ba đứng dậy. Tôi thấy mình bé lại, như thằng nhóc sáu tuổi ngày xưa. Hai cha con đi dọc theo bờ biển. Những con tàu nhấp nhô phía xa tít ngoài khơi. Tôi nghe Ba nói như reo:
“Trông kìa! Chiếc tàu há mồm!”

**

Căn nhà của Ba, mỗi lần tôi đến, tôi đều dọn dẹp lại một chút. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa cũng ngăn nắp lắm. Những ngày khác, các em tôi cũng làm như vậy. Rồi hai cha con cùng nấu ăn. Ba thích công việc ấy. Chẳng bù với thời gian xưa, lúc Ba làm công chức, về nhà Ba chỉ đọc báo, nghe radio, rồi dạy các con học. Bây giờ chúng tôi đã “già đầu”, bay nhảy tứ phương, Ba nói “Ba không còn chữ để dạy”…

Lần này tôi đến, cũng dọn dẹp căn nhà cho Ba. Tôi thừ người nhìn đồ đạc hơi bề bộn một chút. Chẳng là trong cái đêm đưa Ba đi cấp cứu, chúng tôi đã không kịp thu dọn. Đêm đó là phiên tôi ở lại với Ba. Cả ngày Ba vẫn khoẻ, tự nhiên đến đêm Ba làm mệt. Ba nói ngực của Ba đau lắm. Tôi gọi xe cứu thương rồi báo cho hai em. Vào bệnh viện, Ba mất. Trái tim của Ba không muốn đập nữa. Ba ra đi rất an lành.

Những ngày trước khi Ba đi, trong tháng Tư, tôi thường được anh em bạn mỗi lần họp mặt yêu cầu tôi hát bản “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của Phạm Duy. Họ biết hoàn cảnh của gia đình tôi cũng giống như thế. Khi tôi hát, tôi thấy cả nhà mình đang ngồi san sát với các di dân trên “chiếc tàu há mồm”, bỏ quê. Tôi thấy khu vườn rẫy của nhà tôi xanh tươi ngút ngàn ở Đà Lạt. Tôi thấy anh em chúng tôi vui đùa học tập bên nhau, Ba Mẹ tràn trề hạnh phúc. Rồi tôi thấy tôi âm thầm đi về xứ biển địa đầu, lên chiếc thuyền nhỏ dập dềnh ra đi… bỏ nước.

Lúc Ba ra đi cũng là mùa Phục Sinh. Khi đưa Ba đi vào đất, tôi nhìn ảnh Ba, chợt cứ nghe văng vẳng như Ba đang nói với tôi “Ba thật sự thương cái xứ này… Cát êm lắm, thật là dễ chịu…”

Tôi vào phòng ngủ. Tôi bỗng muốn nằm lên chiếc giường của Ba. Mai mốt căn nhà sẽ đóng cửa, rồi được trả lại cho “housing”. Tôi thấy mình như đứa trẻ thơ đi tìm chút hơi hướm của mẹ. Tôi vùi mặt vào chiếc gối của Ba. Ba cứ như còn nằm bên tôi, khi tôi là một cậu nhóc con. Ba kể chuyện đời xưa cho tôi nghe cho đến khi tôi không biết Ba đang nói gì nữa. Bỗng tôi ước muốn ôm lấy chiếc gối như là ôm lấy Ba. Khi tôi nhấc chiếc gối lên để ôm vào lòng, tôi thấy một tấm ảnh nơi chỗ của chiếc gối. Tấm ảnh Đà Lạt. Một Đà Lạt sạch sẽ, nên thơ, chan hòa nắng ban mai. Ba hẳn đã ngắm tấm ảnh Đà Lạt mỗi ngày, vui trong từng kỷ niệm và đau xót với cái ý tưởng quê hương đất đỏ đang quằn quại trong các dự án bauxite. Tôi siết chặt chiếc gối. Như là Ba với tôi cùng đang khóc.

Cam Li NGUYỄN THỊ MỸ THANH, 5.2014
Ephata 807

TIẾNG ĐÀN MANG NGỌN LỬA TRÁI TIM

hình minh họa

- Thủy ơi, nhà anh bị cúp điện, trống vắng quá, anh đến nhà Thủy chơi đàn được không?
Đó là cú phone của anh Nghĩa, người bạn khiếm thị cụt một bàn tay mà tôi đã kể trong CHUYỆN NGƯỜI MÙ DẮT NGƯỜI MÙ, tôi trả lời phone:
- Được chứ , em sẵn sàng nghe anh đàn, có người chơi đàn miễn phí cho mình càng vui chứ sao!

Một lát sau, anh đã đến nhà tôi với một cây đàn guitar trên vai. Tôi ngồi nghe anh đàn trong lòng rất cảm động, tiếng đàn của anh còn thô sơ lắm. Tôi chẳng biết gì về nghệ thuật chơi đàn mà vẫn nhận ra được những lỗi nhạc trong tiếng đàn của anh, nhưng tôi thấy trong đó là cả một sự cố gắng vượt bậc. Anh nói:

NGÀY LỄ BẠC

hình minh họa

Tôi chết được 25 năm rồi. Hôm nay tôi trở lại tảo mộ lần thứ hai. Tôi gọi là Ngày Lễ Bạc.

Sau khi chết được ba năm. Tôi tảo mộ lần thứ nhất. Lần đó tôi kể trong tập sách Cô Ðơn và Sự Tự Do, đoản khúc số 59. Ngày đó mộ tôi không có hoa. Không có ai đến mộ tôi cả. Tôi đứng đó hồi hộp suốt buổi chiều. Mây xuống thấp, xám một hoàng hôn. Rồi trời tắt nắng phía sau hàng cây. Tôi còn nhớ rõ hôm ấy trời không gió. Nghĩa trang im lìm. Sau ba năm tôi chết, vẫn còn ít người nhớ và cầu nguyện cho tôi. Nhưng không ai ra nhìn mộ tôi.

Tôi biết nếu trở lại vào năm sau thì cũng thế. Thản nhiên như một cánh chuồn chuồn đậu hờ hững trên một bờ giậu thưa nào đó. Không có gì hồi hộp nữa nên tôi không trở lại. Ðợi 25 năm sau. Một kỷ niệm đặc biệt hơn. Ngày Lễ Bạc.


Một câu chuyện cổ lưu truyền trong vùng Volga

Khi cầu nguyện đừng lặp đi lặp lại như người ngoại, vì họ tưởng cầu nhiều lời sẽ được nhậm. Vậy, đừng bắt chước họ, vì Cha biết các con cần gì trước khi các con cầu xin.
(Mt 6: 7,8)

Một giám mục đi từ Archangel đến tu viện Solovétsk. Trên tàu, ngoài giám mục còn có nhiều người hành hương. Thời tiết tốt, chuyến đi thuận buồm xuôi gió. Những người hành hương tụ tập trên boong tàu ăn uống và tán gẫu. Giám mục cũng lên boong; khi đang đếm bước, ông nhận thấy một nhúm người tú tụm chỗ gần mũi tàu, chăm chú nghe một ngư dân vừa chỉ tay ra biển vừa kể chuyện. Giám mục dừng lại, nhìn theo hướng người đàn ông đang chỉ, nhưng chẳng thấy gì ngoài những làn nước lấp lánh dưới ánh mặt trời. Ông đến gần, lắng nghe; nhưng khi người đàn ông nhìn thấy giám mục thì vội cất mũ chào rồi im lặng. Những người khác cũng cất mũ cúi chào.

‘Đừng bận tâm, các bạn’, vị giám mục cất tiếng trấn an, ‘tôi đến để nghe chuyện mà thôi.’

‘Ông ấy đang kể cho chúng con nghe về những ẩn sĩ.’ một người đáp lời, đó là một thương nhân, anh dạn dĩ hơn những người còn lại.



Ting…Ting…Ting….

Nghe thấy tiếng báo tin nhắn, tiếng gọi âm thầm nhưng mãnh liệt trong thế giới riêng, Facebook, Hiếu thản nhiên để lại Thảo và đứa con nhỏ bên mâm cơm đang dang dở. Anh cầm chiếc Iphone sang giường nằm “chat” cùng bạn bè. Một lúc sau, anh cũng đi luôn mà Thảo không rõ anh đi đâu. Hai dòng nước mắt tuôn rơi đầy xót xa trên gương mặt thanh tú, Thảo nhớ lại những ngày tháng bên gia đình.

*** *** ***

Thảo sinh ra trong một gia đình đạo gốc, nhà có ba anh chị em, Thảo là con thứ hai. Gia đình Thảo cũng không phải là giàu có gì nhưng mọi người ai cũng biết yêu thương nhường nhịn nhau. Từ bé, Thảo được nuôi dưỡng trong một môi trường đạo đức, thánh thiện nơi giáo xứ thân yêu. Mọi người, ai ai cũng thân quen, tươi cười và gắn bó với nhau không chỉ vì tình anh em máu mủ, tình làng nghĩa xóm nhưng hơn cả là tình thương yêu nơi Đức Kitô. 
Thảo cứ thế được lớn lên bởi vòng tay yêu thương của cha mẹ, nhờ sự nâng đỡ dạy bảo của mọi người. Nhờ đó, cô mỗi ngày một ngoan ngoãn hơn, đạo đức hơn, siêng năng đi nhà thờ, đi lễ nhiều hơn. Chính môi trường thân thiện này đã uốn nắn và hình thành nơi cô những giá trị nhân cách cao đẹp. Được học hỏi giáo lý, được biết Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em, cô ngày càng cố gắng sống hiếu thảo với ông bà cha mẹ và làm sáng danh Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

Thấy quan tài... vài ngày lại cười hô hố...

Dụ Ngôn Trước Thềm Tháng Cầu Hồn


1. Anh nông dân chính hiệu, có đến mấy đời.

Về đàng cuộc sống, gia đình cũng thường thường bậc trung, không phải lo đói khổ- chạy ăn từng bữa, chẳng có điều kiện hưởng thụ phè phỡn. Anh nói thế là tốt, ‘biết đủ thế là đủ' ai đó đã nói thế.

Về đàng sống Đạo anh cũng làng nhàng, nóng chẳng nóng, lạnh chẳng lạnh. Ngày thường không thấy anh đi Lễ, nhưng ngày Chúa Nhật chẳng thấy anh bỏ Lễ. Kinh Tối chẳng khi nào đọc…

‘Giữ Đạo nhiều chi cho mệt… Đủ lên thiên đàng được rồi!’, Anh thường nói thế mỗi khi thấy ai- trong những ngày nông mùa nhàn rỗi, anh nhâm nhi, hay quần xà lỏn trần trục nằm võng xem ti vi vào giờ Lễ, dù là lễ Trọng- nhắc: ‘rảnh thế sao không đi Lễ’.



Chiếc xe con đổ đầu đường, An ngờ ngợ… Làng quê đây rồi, cây phượng vĩ trơ xương vẫn đó, An còn nhớ chếch sang 45 độ đối diện là căn nhà gỗ lợp tôn của cô Trơn… Không phải, một ngôi nhà lầu khang trang, cổng phủ giàn hoa giấy đỏ rực. Thế này thì lạ quá! Trời xế trưa, nắng tháng giêng ngay ngắt, vắng vẻ. Cũng chẳng thấy đám trẻ con xúm xít chỉ trỏ mỗi lần thấy chiếc xe hơi sang trọng chạy vào làng…

Một ông già chống gậy bán vé số bên vệ đường, ho lụ khụ, An bước lại thăm hỏi. Ông già đưa sập số còn khá dầy định mời, nhưng khi ngước lên nhìn An thụt tay lại, lắc đầu không biết, vội quay mặt dải bước nhanh. Cái dáng hơi cà thọt, ngón tay cái trái cụt một đốt, quen quen… Ơ, lẽ nào lại !…

Không thể!... Không thể!...

SƠ  VÂN

Hình minh họa: Sr Claret, từ ngôi sao truyền hình trở thành nữ tu

“Mày mà đi tu, tao thề tao sẽ cọc trọc đầu mày.” Đó là những lời cảnh cáo hay đúng hơn là những lời đe doạ mà mẹ Vân dành cho em mỗi khi em kể chuyện về các sơ đang phục vụ trên nhà thờ.

Kể cũng lạ, từ ngày bắt gặp và nói chuyện với hai sơ mới về phục vụ tại giáo xứ, tâm trí Vân lúc nào cũng nghĩ đến các sơ. Đến nỗi ngay cả những lúc tham dự thánh lễ, Vân cũng không sao cầm lòng cầm trí được, vì mắt bận hướng về các sơ. Không biết có phải vì chiếc áo dòng trắng tinh hay sự hiền lành, phúc hậu của các sơ đã hớp hồn Vân hay không. Cũng từ lúc đó em nung nấu ý định đi tu để trở thành một nữ tu. Và Vân mang ý định đó vào trong cuộc sống hằng ngày. Em không môi son, má phấn như các bạn cùng trang lứa. Em cũng không mốt này mốt nọ như cô bạn hàng xóm. Em giản dị, đơn sơ. Em nhỏ nhẹ, khiêm tốn.

CON MUỖI

Thân tặng quý Anh Chị trong Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình.
Ghi nhớ mười năm thành lập phong trào 1987-1997


Lần này tôi sẽ viết một bức thư lâm ly để lại cho vợ, rồi đi! Tôi đang giận vợ tôi ghê lắm, vừa bắt đầu thảo lá thư thì con muỗi vo ve bay đến. Cái tật ấy của nàng đã bao lần “chích’’ tôi cũng giống như con muỗi đang vo ve rình mồi kia. Không được đâu, tôi sẽ đập một cái cho nó chết !

Hà! Hà! Con muỗi kia, mày đến vo ve phá rối vào lúc tao đang viết “tuyệt mệnh thư’’ hả. Tao sẽ thanh toán mày ! Tôi chuẩn bị tiêu diệt kẻ thù thì nghe tiếng nó than thở. “Hôm nay đói quá, đói thế này thì chết mất”. A! Thì ra con muỗi biết nói! Thú vị quá, tôi cúi nhìn se sẽ. Cái bụng nó xẹp lép, trong như giấy bóng kiếng. Nó đứng run run. Tội nghiệp hết sức vậy đó. “ Hôm nay bị xua đuổi quá, hu... hu... Chúa ơi... hu... hu...” A! Thì ra con muỗi đang khóc, nó lại biết kêu cả Chúa ơi nữa. Ai mà không trắc ẩn trước tiếng khóc thê lương như thế, nhất là những người có tâm hồn nghệ sĩ như tôi! 

Tôi liền nhẹ nhàng đưa cánh tay ra. Nó sáng mắt lên khi ngửi thấy da thịt tôi. Như tôi thèm một tô phở thơm hơi vào lúc đói. Rung đôi cánh, nhẹ một đường bay êm như thiên thần, con muỗi đáp xuống bãi đậu. “Xin Chúa cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày.’’ À, thì ra con muỗi đọc kinh trước bữa ăn. Con muỗi này lạ quá. Một tí xíu nữa là tôi gọi nàng đến mà xem rồi. Nhưng chợt nhớ ra là tôi đang viết tuyệt thư để lại cho vợ. Tôi lại thôi, hừ, đây cũng là cách tôi trả thù nàng, không cho nàng biết con muỗi kỳ lạ thế này trên cõi đời. Một mình tôi với con muỗi thôi!
Được tạo bởi Blogger.