Mã số: 17-156
Mưa, cơn mưa mù mịt phủ trắng cả vùng đồi, mưa như trút từng lớp, từng lớp nước. Mưa như muốn nhổ bật từng gốc cây, ngọn cỏ. Nhìn mưa, nó nhớ về tuổi thơ với những buổi chiều đội mưa đá banh.
Nhớ...
- Ngân ơi, đến giờ chơi rồi. Tiếng thằng Tý thúc nó từ ngoài hàng dâm bụt.
- Chờ tao chút, đi liền đây.
Nó cứ nghe tiếng bạn gọi là vội đi ngay, nó ham chơi, ham vui có khi chẳng để ý giờ giấc, công việc. Ngày còn bé, vào buổi chiều, mỗi khi bố nó đi làm về là ba bố con bước vào một “trận đấu”, dù chỉ có ba cầu thủ trên sân nhưng trận nào cũng sôi nổi, hào hứng... Một mình bố một phe, hai anh em nó một phe, bố cho nó giữ vị trí tiền đạo quan trọng nhất, và tạo cho nó cơ hội ghi bàn thắng. Còn bố kiêm luôn hậu vệ, trung vệ và thủ môn, có bàn thắng là nó cười giòn rã. Những ngày tuổi thơ êm đềm hạnh phúc biết bao. Dường như những kỷ niệm đẹp của nó gắn chặt với trái bóng tròn. Mùa hè đến là nó được nô đùa với chúng bạn thỏa thích, chẳng kể gì nắng mưa. Có lần giãi nắng cả buổi, nó bị sốt hầm hập, mẹ cấm nó ra sân làng, nó ngậm ngùi ở nhà mà hồn thì đi chơi xa... Và những ngày sau đó, chỉ những khi cái nắng chói chang tà tà ngả bóng sau bụi tre làng, mẹ mới cho nó “sổ lồng”. Cái nắng nóng trên sân chưa kịp nguôi, tiếng lũ trẻ làng đã vang rộn. Không cuộc chơi nào thiếu mặt nó. Nó chơi hết mình, chơi vô tư thoải mái, trên sân cỏ, cái nết na thùy mị của một đứa con gái chẳng thấy đâu nhưng nó cũng không hề bận tâm nghĩ ngợi. Nó chơi cho thỏa đam mê, thỏa khát vọng, sở thích. Cổ động viên nhiệt thành nhất của nó là bố. Bố luôn bên nó trong tất cả các cuộc thi đấu thể thao. Nó tự hào, hãnh diện vì sự có mặt của bố tiếp thêm sức mạnh, động lực cho chiến thắng của nó, đặc biệt là cuộc thi marathon tổ chức ở huyện. Khát vọng trở thành một vận động viên thể thao chuyên nghiệp cứ lớn dần trong nó. Bố cũng là người ủng hộ sở thích ấy của nó. Tiếc thay giấc mơ ấy không thành bởi nó không đủ điều kiện.

Mã số: 17-155
Trên bến xe, có nhiều chiếc xe sẽ chạy về thành phố Ban Mê Thuột, nhưng các xe ấy không đi cùng một lúc và không đi chung tất cả các đoạn đường, vì có nhiều lối rẽ…
Chiếc xe tôi đi đã bắt đầu lăn bánh. Sau khi đọc kinh tối, tôi định ngủ một giấc cho đỡ mệt. Đi xe đường dài mà ngủ được là hạnh phúc, chứ không thì cái đầu lắc lư thế nào cũng phải nôn ra một trận. Vừa đeo cái tràng chuỗi vào cổ thì cái túi mang trước người tôi rung lên. Có lẽ là tin nhắn của anh Việt (Viettel) ấy mà, tôi nghĩ vậy. Từ khi đi tu đến giờ, tôi ít liên lạc với mọi người, có chăng chỉ những ngày lễ tết, tôi xin phép dùng điện thoại hỏi thăm bố mẹ, gia đình mà thôi. Đợt này, khi đi đường xa để đến một vùng đất mới, nhận một sứ vụ mới, tôi mới mở điện thoại trở lại, để tiện liên lạc xe cộ. Vì thế, tin nhắn đến thường chỉ là từ cái tên quen thuộc mà tôi thường gọi là anh Việt. Nghĩ thế, nhưng tôi vẫn mở ra để xem.

Mã số: 17-153

Bước vào căn phòng trọ nhỏ hẹp, thả ba lô lên giường, Thư ngồi bệt xuống sàn nhà, từ từ nhìn lại mọi thứ khắp phòng trọ. Đập vào mắt Thư là khung hình Thư và Linh chụp từ hồi mới ở dưới quê lên, treo trên tường, đối diện với ô cửa sổ nhỏ của căn phòng. Đã 9 giờ sáng, những tia nắng rọi vào ô cửa làm Thư chói mắt. Bức hình với những nét sáng, tối đang nhảy múa như gam màu cuộc đời của Thư và Linh.
Là đồng hương lên thành phố nhập học, những ngày đầu Thư và Linh khắn khít như hình với bóng. Hai đứa đã từng rất tự hào vì cả xóm Lạc Siêu chỉ có hai người đậu đại học và được lên thành phố. Thư nhắm mắt lại như muốn dập tắt thứ ánh sáng ấy, Thư không muốn nghĩ về Linh nữa. Thư vẫn ngồi đó và khóc.



Thưa quí độc giả và quí tác giả,
Vì nhiều nguyên do khách quan và chủ quan, cuộc thi năm nay diễn tiến khá chậm so với các năm trước. Dù vậy, đến nay việc chấm sơ khảo đã hoàn tất và việc chấm chung khảo đang tiến hành. Tổng kết vòng sơ khảo đã chọn ra được 71 bài (trong số 175 bài dự thi) vào chung khảo.


Mã s: 17-152

“Cũng như sao mai dn ti mt tri thế nào, thì M Maria cũng dn ta đến vi Chúa Giêsu như vy. Người tr cho chúng ta hướng v Chúa Giêsu, mt tri công chính, và gic chúng ta hãy tìm đến ngun sáng và ngun sng”. Trích conggiao.info

Đi vi mt người ngoi đo như tôi thì vic gp mt người xa l nhiu ln trong gic mơ là mt điu l lùng.
Thu mười tám, đôi mươi, tôi hay nm mơ thy mt người ph n tr, khuôn mt thanh tú và đc bit là vng hào quang trên đu bà y luôn sáng ngi. Mi khi xut hin trong gic mơ, bà y luôn mm cười vi tôi. Bà tht đp!


Mã s: 17-149

Tôi không theo đo. Tôi cũng chng tin vào thánh thn. Tôi chng đt quá nhiu nim tin vào ai c. Tôi ch tin tôi.
Nhưng tôi yêu em, mt người có đo.
Màn đêm trùi tri ánh trăng khuya. Tôi đoan chc rng mình chưa h tin vào nhng mu nhim ca tôn giáo. Tôi càng không d b thuyết phc bi nhng ý nim xa vi vi lý trí đòi thc chng ca mình. Dưới ánh trăng lõa l, tôi c gii thích xem ti sao li có nhiu người tin vào mt Đng to hóa ti vy. Tôi ch nghĩ đơn gin, là h mù quáng đến ng ngn. Nhưng còn biết bao bc vĩ nhân, nhng nhà bác hc kit xut tin theo, thì qu là tôi đang bế tc.
Ánh trăng như bong tróc tng mng xung mi ngn sóng đang gm g kia ri loang ra khp mt bin. Sóng ngom sâu vào nhng ghnh đá l r như mun nut chng chúng. Lòng tôi vng li nhng cung bc ca tình yêu.
– Anh yêu em ch?
– Em biết anh nghĩ gì mà
– Anh s tôn trng và gi gìn cho nhau ti ngày mình cưới ch?
– Tt nhiên ri.

Em nép vào tôi. Em hay nói v Chúa, v Kinh thánh, v nhng điu hết tht xa l vi tôi. Em tng tôi mt bc tượng nh, em bo đó là tượng Đc M Fatima, M s che ch cho tôi. Không v vp, tôi min cưỡng nhn ly. Tôi có mt suy nghĩ hơi ác ý mt chút lúc đó, đây ch là mt khi đá được chế tác, không có gì là thiêng liêng hay mu nhim gì c.



(Mã số: 17-147)
– Thế tóm lại anh có chịu đi không?
– Dạ, lạy cha, con không ngại bất cứ việc gì, nhưng việc này thì…
– Chứ ở đây anh không chịu đi thì ai đi?
– Nhưng thưa cha…
– Ý anh là tôi đi à, thế anh thay tôi quản Xứ nhé?
– Dạ, lạy cha, con không dám, ý con là…
– Thôi không nói nhiều, cho anh thêm mười phút để suy nghĩ. Nhớ! Đây là lệnh, không còn là chuyện thương lượng, xung phong gì nữa nhé…
Cha Xứ bước ra cửa. Phòng họp Giáo lý viên nhốn nháo. Chiến ngồi thừ người ra, mặt tái xanh tái xám. Là “lệnh” rồi nhé, coi như “xong”, còn bàn với cãi gì nữa!
– Ông hơi bị liều nhé, dám cãi cả Cha…
– Thôi, “vâng lời hơn của lễ”, mà Cha nói rồi đấy, ông không đi thì ai đi…
– Ông làm gì mà căng thẳng thế, cứ như Chúa đi chịu nạn không bằng ấy…
Chiến quay ngoắt lại:
– Ông nào vừa nói câu đó, ông nào nói?
– Là tôi, là tôi đấy!
– Ông giỏi thì đi đi, sao lúc nãy cha bảo “tinh thần xung phong” không thấy cánh tay ông giơ lên…
– Tôi mà giỏi như ông, được tín nhiệm như ông thì khỏi phải bàn luôn ấy…
– Hừ…
hình Hội Thánh Tin Lành Việt Nam

(Mã số: 17-146)

Tàu về ga chập choạng tối, Nam đứng đó tự bao giờ. Quyên bất ngờ vì gặp lại ánh mắt ấy, ánh mắt mà cô luôn thấy mình còn mắc nợ. Đang lẩm bẩm tự hỏi sao Nam lại biết được ngày mình về thì Nam đưa tay kéo chiếc vali từ tay Quyên vừa hỏi: Quyên mệt không? Chị Mai nhờ Nam đón Quyên… Quyên thuộc lòng ý đồ của người chị gái, lâu nay chị vẫn khăng khăng cản Quyên đi tu chỉ với một lý do là sợ em khổ. Có lẽ chị nghĩ rằng trái tim Quyên dù gì vẫn làm bằng thịt, mà nó đã một lần rung động, khi có cơ hội, ai dám chắc được nó sẽ không rung thêm một lần nữa. Chị hy vọng…

hình minh họa (internet)

Hà Nội về đêm đẹp lãng mạn lạ thường. Nam nói hai giờ nữa mới có chuyến xe về Thái Nguyên. Vậy là Nam có dịp chở Quyên đi lòng vòng Hà Nội như thủa sinh viên. Quyên ngồi sau không còn tự nhiên như trước nhưng vẫn nhỏ nhẹ:

– Đáng lẽ giờ này Nam phải chở một cô bé dễ thương nào đó rồi chứ nhỉ?

– Cô nào hả Quyên?

– Thì một em trẻ trung xinh đẹp nào đó…

– Có ai đâu! Nam cười hiền lành. Mặc cho dòng xe cộ ồn ào chảy qua, hai con người lâu ngày gặp lại cứ đua nhau đuổi theo những khoảng không trống rỗng trong mình.


Mã số: 17-145

Lần đầu tôi gặp hắn là một buổi chiều thứ Sáu lộng gió. Tôi xuống vườn hoa dưới nhà để hóng mát. Chọn một chiếc ghế đá, tôi châm một điếu Ba Số và nhìn lũ trẻ chơi đùa. Bỗng nhiên hắn xuất hiện.
– Chào anh.
– Vâng, chào anh.– Tôi đáp.
– Tôi ngồi đây được chứ?– Hắn hỏi.
– Được chứ. Tôi xích qua một bên nhường chỗ cho hắn.
Hắn rút một điếu Marl đỏ từ bao thuốc mang theo, đưa lên miệng, rồi loay hoay tìm bật lửa, miệng lẩm bẩm:
– Ủa, đâu rồi ta?
– Chắc anh quên hoặc đánh rơi đâu đó rồi. Cầm của tôi mà dùng.– Tôi đoán chắc hắn tìm bật lửa nên lấy bật lửa của mình đưa cho hắn.
– Cảm ơn anh.– Hắn cười và cầm lấy cái bật lửa từ tay tôi. Châm lửa xong, hắn trả lại và cảm ơn thêm lần nữa. Người đâu mà lịch sự.




(Mã số: 17-139)

Trời Tây Nguyên về đêm lạnh giá, tiếng cú kêu nghe âm u thảm buồn. Con đường dốc chạy lòng vòng quanh rặng núi vào bản T’hine không có lấy một ngôi nhà, khiến cảm giác của người đi đường trong đêm càng thêm ớn lạnh.
Đi sâu vào trong làng, có khoảng ba chục nóc nhà ở quây quần với nhau. người Chu Ru sống hiền hòa đơn sơ chất phác. Họ sống dựa vào thiên nhiên núi đồi. Làm nương làm rẫy trồng hoa màu, săn bắt thú rừng kiếm thức ăn.

viết văn đường trường
hình minh họa

Cuộc sống thanh bình của họ dần bị xáo trộn bởi sự xuất hiện của người Kinh. Với dã tâm làm giàu trên mồ hôi nước măt của người khác bằng nhiều hình thức, từng bãi đất khai hoang màu mỡ của người Chu Ru dần mất vào tay họ. Đã đói nghèo lại càng nghèo đói hơn.
Gia đình K’vương là một gia đình lớn nhất ở thôn T’hine. Bố K’vương làm già làng. Cái khôn ngoan của ông không đủ sức ngăn sự lôi cuốn của đời sống vật chất mà xã hội hiện đại mang đến. Thủ đoạn của người Kinh là cứ bán chịu cho người trong làng tất cả những gì họ thích, rồi đến mùa họ sẽ thu nông sản để khấu trừ. Ai không đủ nông sản thì bán rẻ nương rẩy cho họ, hoặc săn bắn được những thú vật qúy hiếm thì bán cho họ trừ nợ.

Tuy đời sống vật chất được nâng cao nhưng cái nét dân dã nơi đây không còn nữa. Những thủ tục cưới xin ma chay cũng bị ảnh hưởng rất lớn, người ta không còn dựa trên những vật phẩm như chóe rượu cần, gùi gạo nếp, dây cườm hạt cây, con trâu cái tơ và nhiều thứ khác nữa. Thay vào đó là dùng tiền làm đơn vị thách cưới của nhà trai đối với nhà gái. Tập tục của người Chu Ru là đi bắt chồng, một người con gái muốn lấy dược chồng phải chấp nhận số tiền bao nhiêu tùy bên nhà trai đưa ra, tiền thách cưới ít nhất cũng hai cây vàng.

K’vương và Ma năng lấy nhau không theo tập tục mới. Hai gia đình thống nhất với nhau theo tục cũ. Họ cũng là đôi vợ chồng đầu tiên được cử hành nghi lễ cưới xin theo nghi thức Công giáo, dưới sự chủ trì của Ama Quang. Gia đình K’vương là gia đình đầu tiên tin đạo. Cái đám cưới đơn sơ mộc mạc của hai bên gia đình khiến cho người trong làng bàn tán xôn xao. Kẻ trọng tiền bạc thì cười, người giàu tình nghĩa thì khen. Nhưng đó quả thực là một bước ngoặc lớn mà nguời tông đồ của Chúa đang âm thầm thực hiện.

Là một người đã từng sống chung với người bản xứ nên cha Quang rất am hiểu văn hóa người Chu Ru. Được bề trên dòng đặc trách sai về mở rộng vùng truyền giáo, cha không biết phải làm gì với cánh đồng hoang vu mà cha được sai đến, cha chỉ biết dâng lên Chúa tất cả qua sự chuyển cầu của Đức Mẹ.

Cha ở lại nhà già làng K’mia bố của K’vương, cùng đi rẫy, cùng làm, cùng ăn với họ, cùng tham gia mọi hoạt động tập tục văn hóa của họ, qua đó cha dần giải thích cho họ hiểu về sự hiện diện của Chúa trong tín ngưỡng của họ mà họ vẫn gọi Thượng Đế là Giàng.

Bước ngoặc lớn nhất của cha là gỡ bỏ được cái bàn thờ ma làng trong góc bếp của già làng K’mia, và thay vào đó là bàn thờ Thiên Chúa.
Cả nhà K’vương được rửa tội, đó là một sự kiện trọng đại trong việc truyền giáo tại đây. Họ trìu mến và gọi cha là Ama. Tiêng Chu Ru nghĩa là bố, là cha. Một khi già làng đã tin theo thì tất cả người trong buôn làng đều dễ dàng tin theo.

Đối với cha Quang, điều khó nhất là làm sao để họ thăng tiến trong đời sống vật chất nhưng vẫn giữ được thuần túy cái nét văn hóa của họ, tránh khỏi những dụ dỗ của các con buôn người kinh.
Đời sống vật chất dần được cải thiện, người trong làng không còn đem đất bán cho người kinh nữa, những tập tục mê tín dần được bỏ, thay vào đó là niềm tin vào Chúa.

Mất miếng ăn nên các con buôn quay ra làm khó cha. Đứng đầu các con buôn là Ba Sẹo. Họ báo cho chính quyền và vu khống cho cha tội tuyên truyền mê tín và chống phá nhà nước.
Ở đời không ăn được thì đạp đổ là lẽ thường tình. Vì muốn điều tra thực hư như thé nào cho rõ ràng nên chính quyền nhà nước đã vào can thiệp và yêu cầu cha ngưng lại các hoạt động tôn giáo. Lòng ngậm ngùi đầy buồn phiền không biết phải làm sao, cha chỉ biết dâng lên Đức Mẹ Fatima lời thở than. Chính quyền yêu cầu cha rời khỏi đây, cha đành gạt nước mắt ra đi để lại đàn chiên bơ vơ giữa cánh đồng đầy sói dữ.

Cha đi rồi, một mình già làng K’mia phải cố gắng duy trì đời sống đức tin cho những người đã tin đạo, nhưng với niềm tin còn non nớt mà già làng mơi lãnh nhận không đủ khả năng để giữ lấy đàn chiên không có chủ chăn, từng con bỏ đàn và gia nhập lại với truyền thống tập tục cũ.

Ba Sẹo lại cầm đầu bọn con buôn tràn vào làng làm đảo lộn nếp sống nơi đây. Dù cố gắng thế nào đi nữa thì già làng vẫn không thể biết được những mánh lới làm ăn của các con buôn . Lúc có cha Quang thì cha hiểu được vì cha thừa biết kiểu cách làm ăn của người Kinh.

K’vương có được chiếc xe máy cha Quang để lại nên cứ cuối tuần anh lại chạy ra ngoài thị trấn cách làng cả trăm cây số để trình bày sự việc trong làng với cha và xin bánh lễ về cử hành cầu nguyện chung.

Nhìn cảnh thanh niên trong làng ngày càng trở nên hư hỏng vì rượu chè và cờ bạc, lòng K’vương nặng trĩu nổi lo. Họ không còn siêng năng việc nương rẫy. Những trò vui mà người kinh mang đến lôi kéo thanh niên khỏi những buổi đọc kinh chung. Lòng đầy thao thức mà không biết làm sao. Anh chỉ mong cha chóng quay trở lại, chỉ có cha nói thì may ra người trong làng mới chịu nghe.

Đã qua hai cái mùa khô, khắp trên nương rẫy người ta chất từng đống củi rác để đốt, dọn đất để chờ một vụ mùa mới. Riêng nhà K’vương thì đã có hai mẫu đất trồng cà phê, năm nay đã được hái bói. Niềm vui rạng ngời trên gương mặt già làng K’mia, đó là kết quả của sự vâng lời mà ông có được khi nghe Ama Quang.

Cái văn hóa du canh du cư đã ăn sâu vào cách sống của con người nơi đây. Họ chỉ trồng cây ngô, cây sắn, và một số nông sản địa phương, ngoài ra họ còn trồng lúa ở các chỗ trũng thấp của các thung lũng trong dãy núi mà thôi. Cha Quang biết được chỗ này có thể trồng các loại cây như cà phê, sầu riêng, và trà, cho nên đã kêu gia đình già làng cùng với bà con trong làng giữ đất trồng cà phê. Nhưng cả làng không chịu nghe, chỉ có mình già làng K’mia chịu làm theo lời cha Quang chỉ.

Ngoài việc vẫn canh tác các vạt đất khác làm hoa màu, già làng K’mia dành riêng hai mẫu đất và bảo K’vương cùng vợ là Ma năng trồng cà phê. Vì chưa có hệ thống tưới nước cho cây nên họ phải hạ giống vào mùa mưa. Sau đó cha Quang xin được một chiếc máy bơm nước chạy bằng dầu về, mùa khô mới giữ cho cây được tươi tốt.

Trải qua hai mùa khô, đối với người Chu Ru, họ không quen chờ đợi để thu hoạch. Và họ cũng chưa biết cây cà phê là thứ cây gì. Có lúc K’vương cũng chán, anh không muốn chăm sóc cho mảnh vườn nữa, nhưng được sự động viên từ xa của Ama Quang nên anh vẫn giữ cho mảnh vườn được tươi tốt.
Ba Sẹo thấy được cái lợi trước mắt nên đã tìm cách để chiếm mảnh vườn. Một mặt hắn mua chuộc các thầy mo, thầy cúng trong làng phao tin lên rằng, vì gia đình già làng K’mia trồng thứ loại cây lạ nên Giàng không ưng cái bụng, Giàng phạt mất mùa khiến năm nay sâu bọ phá hết hoa màu.

Chiều nay trên rẫy, hai vợ chồng K’vương đơn phương chống chọi với cả làng, thầy cúng Ja-tao lại là bố của Ma năng, tức là bố vợ của K’vương lên tiếng:
– Ơ! … K’vương…. Mày trồng thứ cây này không được rồi… đất này Giàng chỉ cho trồng ngô sắn thôi… Giàng không ưng cái bụng. Mày làm cả làng bị Giàng phạt rồi… năm nay bị mất mùa rồi.
– Ơ!…mày nói không đúng rồi…. Giàng không ưng cái bụng khi mày bán đất cho người Kinh trồng thuốc phiện nên Giàng phạt… Đất là của người Chu Ru….bọn mày đem bán cho người Kinh nên Giàng không ưng cái bụng đó thôi.- K’vương mạnh mẽ đáp lại.

– Không phải đâu thằng K’vương ạ… Tao cúng cho ma làng, ma làng bảo mày bỏ không thờ Giàng, không thờ ma làng nữa nên Giàng phạt đó.- Thầy cúng Ja-tao lại nói.

– Không phải đâu Ja-tao…. Tao biết Giàng tên gì rồi. Tao vẫn thờ Giàng nhưng tao thờ tên của Người. Người chỉ cho tao cách thờ phượng người như thế nào cho đúng thôi. Tao không có bỏ Người…. nên Người chúc phúc cho gia đình tao…. Năm nay nhà tao được mùa… cây cà phê Ama Quang bảo tao trồng giờ có trái rồi… tao không gạt mày đâu Ja-tao ạ.
– Thế Giàng tên gì?
– Giàng tên là Giê-su.
– Thế Giàng có mẹ không?
– Có chứ… Mẹ Người tên là Maria.
Nghe thế cả đám người bên kia cười ồ lên. Thầy cúng Ja-tao nói lớn:
– Cả làng nghe chưa…. Giàng làm gì có mẹ…. phá nát cái rẫy cây của nó đi… tại nó mà Giàng phạt đấy cả làng ạ.
Đám người xôn xao, kẻ dao người búa chực xông vào phá rẫy cà phê đang chuẩn bị cho thu hoạch. Hai vợ chồng K’vương rất lo sợ. Đang lúc không biết làm gì thì từ đàng xa, con voi Phia của nhà K’vương lao nhanh tới, nó gầm thét lên có vẻ đầy giận dữ, rồi lao vào đám người đang hung hăng chực phá nát đám rẫy cà phê của K’vương. Đám người vội bỏ chạy tán loạn. Họ không hiểu tại sao con Phia thường ngày rất hiền lành ai tới gần nó vuốt ve đùa giỡn đều được, vậy mà hôm nay nó lại hung dữ như thế để bảo vệ cho K’vương. Chỉ duy nhất già làng K’mia mới được phép sử dụng voi. Và đó cũng là đặc ân của mọi người dành cho vị trưởng làng.


Con voi Phia đã cùng với K’vương bảo vệ rẫy cà phê cho đến hết ngày thu hoạch. Cha Quang đã nhờ người thân quen vào tận nơi thu mua cà phê cho già làng K’mia. Vụ mùa đó Già làng đã có thể đủ tiền để mua được một cái máy xới và cất được một căn nhà khang trang. Người trong làng đã chuyển thái độ thù ghét sang lòng ngưỡng mộ. Từ đó nhiều người đã trở lại với niềm tin vào Chúa.

Mã số: 17-135


Câu hỏi ấy tôi đã nghe từ chị nhiều lần, chẳng phải là tôi thông minh hơn chị nhưng có lẽ là vì tôi là một người ngoài cuộc nên chị mới hỏi tôi chăng?

Chị là một người con gái tên Vân, tôi quen chị kể từ khi tôi bắt đầu bước chân ra Hà Nội. Tôi là một sinh viên năm đầu còn chị là một sinh viên năm cuối học cùng trường với tôi nhưng khác ngành học. Chị và tôi chung nhau một xóm trọ chín phòng. Tôi vào sau nhưng có được vị trí ở giữa xóm nên chuyện gì tôi cũng biết mà cũng là vì tôi là một thằng con trai nhiều chuyện nữa. Sinh viên mới vào trường nên bài vở cũng chưa có nhiều để làm, các môn học chủ yếu là các môn đại cương và lý thuyết nên ít bài tập lắm. Tôi thường hay chơi và nói chuyện phiếm với mọi người trong xóm mỗi khi tôi ở nhà. Còn chị, tôi rất ít nói chuyện với chị nhưng mỗi khi chúng tôi nói chuyện thì lại rất chân tình vì chị và tôi có vẻ rất hợp nhau. Chị cũng là một người theo đạo Công Giáo như tôi, một người xinh xắn và ngoan hiền nhất trong xóm tôi hoặc ít nhất thì trong cái nhìn của tôi là như thế; chăm chỉ đi lễ và chịu khó lần chuỗi Mân Côi vào mỗi buổi tối. Tôi có ấn tượng rất tốt về chị cũng như các bạn của chị đã đến xóm tôi chơi. Học kỳ một đã qua, tôi bắt đầu thân thiết hơn với chị và chị cũng đã nhiều lần tâm sự cho tôi những nỗi niềm của chị. Điều đó làm cho tôi vui thích vì thấy mình được tin tưởng và từng tràng cười với nhau khi tôi nghe những câu truyện cười của chị. Sau đó ít lâu, tôi bận rộn với mấy bài kiểm tra giữa học kì II nên tôi ít có thời gian nói chuyện với mọi người trong xóm cũng như với chị. Nhưng đến sinh nhật của chị, tôi vui lắm và muốn tìm cho chị một món quà nào đó mà chị thật thích. Và khi bắt đầu, tôi cũng như mọi người ở đó ai cũng vui mừng gửi tới chị những món quà cũng những lời chúc tốt đẹp. Nhưng nét mặt của chị thì tôi nhận ra có cái gì đó chỉ gượng gạo một niềm vui nhỏ mà nỗi buồn thì lớn hơn. Khi tiệc đã tan, tôi lạ lùng khi thấy trong buổi tiệc chẳng có ai khác ngoài cô bạn thân của chị và mọi người trong xóm. Thật lạ khi người bạn trai của chị sao không thấy đâu cả. Tôi chợt chú ý đến chị nhiều hơn, nét mặt của chị thì buồn và xanh xao, có thể chị đã mất ngủ nhiều ngày lắm không biết là do học tập hay một chuyện gì đó đã làm cho chị phải lo lắng như thế. Tôi đến bên chị và như một sự liều lĩnh, tôi hỏi chị về điều đó. Chị không trả lời tôi nhưng chị lại quay mặt đi và khóc. Thêm một lần nữa, tôi hỏi chị. Lần này, chị quay lại nhìn tôi trong sự ái ngại rồi gục đầu xuống hai đầu gối của chị mà rưng rưng nước mắt. Chị kể cho tôi nghe về cuộc đời đau buồn của chị cũng như nỗi sợ của chị trong suốt những ngày qua.

Chị đã chia tay với người bạn trai mà tôi đang thắc mắc. Tôi cũng đã có lần nói chuyện với người bạn đó của chị. Anh là một người cùng quê với tôi và cách nhà tôi tuy xa nhưng tôi cũng biết đến chỗ đó và là một người cùng tôn giáo với chị và tôi nữa. Anh chị yêu nhau đã ba năm và dường như gần đây họ có chuyện gì khúc mắc với nhau. Chị nói tiếp trong sự ngần ngại. Chị đã có thai với người bạn trai đó. Nhưng khi biết điều ấy, thì anh chàng không muốn chịu lấy cái trách nhiệm nặng nề ấy mà muốn chị phá bỏ nó đi. Chị buồn lắm. Phá thai, chuyện mà trước đến nay chị chỉ nghe nói nhưng bây giờ chị phải đối diện với nó. Chị bắt đầu cảm thấy gờn gợn và lạnh người. Chị sợ! Nhưng vì là một sinh viên năm cuối, vì một tình yêu không thành, chị đành quyết định phá bỏ. Anh dẫn chị tới trung tâm y tế với những lời an ủi và những hứa hẹn cho tương lai. Nhưng khi mọi chuyện đã xong xuôi, anh đã bỏ rơi chị mặc cho những nỗi sợ hãi và cô đơn cứ đeo đuổi chị. Sau thời gian đó, chị hoàn toàn đau khổ và tuyệt vọng, không còn chú ý đến học tập hay bất cứ công việc gì nữa. Chị cũng không đi dự lễ và cũng không lần chuỗi như mọi ngày nữa. Chị thấy mình bất xứng hay một tâm trạng lo lắng đang đè nén chị. Nhưng một ngày kia, thói quen cũ lại đến với chị, chị lấy chuỗi Mân Côi ra và bắt đầu lần chuỗi. Nhưng khi kết thúc bằng lời kinh: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con… chị oà khóc. Hoảng hốt và sợ hãi, trong tâm trí chị lúc này hiện lên một hình ảnh đáng sợ và thậy cay đắng. Một đứa trẻ chưa bằng bàn tay người đang nằm cố cựa quậy trong một vũng máu. Chị la lên trong đêm tối mà không một ai đến bên chị an ủi hay chia bớt cùng chị nỗi sợ hãi ấy. Đến đây chị hỏi tôi:

- Bây giờ chị phải làm gì?

Tôi cứ thần người ra mà không biết nói gì nữa. Nói gì đây khi chính tôi không biết mình phải làm gì cho dù là kẻ ngoài cuộc.Trong thâm tâm của tôi chị là một người ngoan hiền và đạo đức, vậy mà giờ đây, hình ảnh tốt đẹp ấy về chị gần như không còn nữa. Tôi luôn có một cái nhìn và tôi lên án việc phá thai. Bởi cho dù thế nào và bằng cách nào thì đó cũng là một hành động giết người và tôi ghê tởm việc đó. Nhưng nay đối diện với chị và hoàn cảnh của chị, tôi cũng muốn khóc lên cùng với chị và khóc lên cho chị nữa. Tôi tự đặt mình vào hoàn cảnh éo le của chị và tôi tự hỏi mình sẽ làm gì. Nhưng khi vừa vào trong hoàn cảnh ấy, tôi đã sợ hãi và gục đầu muốn trốn chạy. Quả thực là sợ hãi, bởi hình ảnh ấy cứ bám đuổi lấy chị và làm cho chị phải run lên mỗi khi nghĩ về nó. Tôi cũng cảm thấy một điều gì ghê gớm lắm. Tôi cố gắng thoát ra, bởi chính lúc này, hình ảnh ấy cũng ám ảnh cả tôi nữa. Đến lúc này, tôi cũng cảm thấy lạnh người và dường như tôi cũng muốn thông cảm với nỗi đau mà chị đang phải mang chịu nữa. Lúc này tuy rằng tôi không đồng tình với hành động của chị nhưng tôi không còn ghét chị nữa mà thấy mình thương chị nhiều hơn. Tôi chỉ biết cúi xuống mà cầu nguyện và không hiểu tự bao giờ nước mắt cũng tràn đầy trên khoé mắt của tôi. Đến đây, tôi chỉ thầm trách anh chàng người yêu của chị và như một phản ứng của một thanh niên, tôi muốn đánh cho anh một trận tơi bời nữa. Nhưng tôi chợt trở lại với chính bản thân mình và tự hỏi khi tôi là anh, tôi có sẵn sàng chịu lấy trách nhiệm hay cũng chạy trốn như anh. Tôi tự vấn lương tâm mình và thấy sao cuộc đời này nhiều chuyện quá. Tôi suy nghĩ hồi lâu rồi tôi quay sang chị muốn an ủi chị một vài lời. Tôi khuyên chị lại đi xưng tội và làm một việc gì đó để đền lại lỗi lầm đó. Tôi biết chị còn mặc cảm nên sẽ không tự mình đi đến nhà thờ, nên Chúa Nhật tuần đó, tôi nhờ chị chở tôi đi chơi, cố ý thật muộn và tôi cùng chị vào nhà thờ. Tôi nói chị chờ tôi trong khi tôi đi xưng tội, nhưng tôi cố kéo chị vào cùng tôi xưng tội luôn. Thoạt đầu chị ngần ngại nhưng rồi chị cũng đi. Tôi cho chị vào trước tôi vì lý do tôi mắc một chuyện khá bận. Chị vào trong đó thật lâu mà chưa thấy chị ra, tôi tự hỏi tại sao vậy? Tôi không biết phải làm gì lúc này nữa nên tôi cầu nguyện thêm cho chị mà thôi. Lát sau, tôi thấy chị từ trong toà giải tội đi ra, tôi thấy chị thay đổi trong cách đi đứng cũng như trên nét mặt có vẻ chị vui hơn và lúc này tôi cũng thế.

Cuộc sống nhiều biến động cứ trôi đi, tôi đã học xong năm học đầu tiên với nhiều biến động trong tâm lí cũng như cá tính của tôi thay đổi khá nhiều. Còn chị, lúc này chị đã tốt nghiệp và sẵn sàng đi làm. Tôi nghe nói chị đã đi làm ở quê công việc đúng với chuyên ngành của chị - là giáo viên cấp II - một công việc mà chính tôi đã từng ao ước khi còn nhỏ. Tôi vẫn quan tâm tới chị mỗi khi có thể, tôi hỏi mọi thông tin về chị khi biết có người từ quê chị mới lên. Năm đó, tôi tốt nghiệp, tôi không đi làm như những sinh viên ra trường khác, tôi về nhà và bắt đầu theo đuổi mội công việc mà nhiều người không hiểu nổi. Tôi hỏi thăm về chị và biết chị đã xây dựng gia đình với một giáo viên trẻ khác cùng trường với chị. Tôi coi chị như người chị của tôi và tôi luôn lo lắng cho chị nhưng giờ đây tôi cũng yên lòng hơn. Ít năm sau, trong một chuyến công việc của mình, tôi về quê của chị và ghé thăm chị. Tôi tin tưởng rằng sẽ có một cuộc gặp gỡ trong niềm vui và nụ cười trên môi chị. Nhưng thật chua chát, khi thấy chị và chị thấy tôi, chị bật khóc không biết vì niềm vui hay nỗi buồn nữa. Có thể tôi chỉ mang đến cho chị những nỗi đau và những nỗi bất hạnh mà thôi, nhưng tôi hy vọng đây là nước mắt của niềm vui khi chị em gặp nhau. Nhưng khi tôi vào trong nhà thì thấy ảnh của một người đàn ông đang được đặt trên giá. Tôi bàng hoàng và sợ hãi. Tôi đã phải tự hiểu người ấy là ai. Tôi tìm hiểu thêm và biết anh đã mất sau vụ tai nạn giao thông hồi năm ngoái. Lúc này tôi nhìn chị buồn lắm, chị chỉ khóc mỗi khi chị nhìn sang bên tôi. Tôi lại gần chị, nâng bờ vai chị tôi an ủi:

- Cứng rắn lên chị.

Nhưng chị nói với tôi đầy chua xót:

- Làm sao mà gượng lên được. Chị tưởng rằng cuộc sống ở quê với những êm đềm sẽ làm cho chị quên đi cái nhục nhằn ngày xưa ấy. Nhưng bây giờ chị thật khổ. Chồng chị đã ra đi để lại cho chị hai đứa con trai. Chị không coi đó là gánh nặng nhưng với chị đó là niềm an ủi của chị trong những lúc cô đơn tủi nhục. Nhưng thật cay đắng thằng con lớn của chị cũng mới ra đi theo người cha xấu số trong một cái chết thương tâm khác…

Chị tuyệt vọng, ôm mặt khóc và quay đầu xa tôi hơn. Nhìn chị đau đớn khi chị nói rằng đó là cái giá mà chị phải trả cho những lỗi lầm ngày xưa của chị. Tôi nhìn chị, nhìn thẳng vào đôi mắt đang run lên của chị tôi nhận thấy không chỉ một nỗi buồn mà cả một nỗi sợ hãi đang chế ngự tâm hồn chị. Có thể chị sợ một ngày nào đó người con còn lại duy nhất của chị cũng sẽ bị lấy đi mất. Đến đây tôi bùi ngùi vì số phận của một con người. Thiên Chúa không giáng phạt con người và chị cũng không đáng phạt. Chị thật buồn và thật khổ. Chị làm cho những nỗi buồn, những đau khổ tôi phải chịu ra cát bụi, chẳng có gì đáng kể so với những chuyện mà chị đã và đang trải qua. Tôi không phải chịu cảnh éo le như chị, tôi thương cảm cho chị cũng như số phận của bao nhiêu con người khác như chị nữa. Tôi lại một lần nữa khóc vì chị. Rồi ngay lúc này đây, chị lại nhìn tôi và hỏi:

- Bây giờ chị phải làm gì?

Nghe câu hỏi của chị, tôi ngã quỵ. Tôi không dám đặt mình vào hoàn cảnh của chị nữa, tôi còn biết làm gì trong tình cảnh này. Khuyên chị điều gì khi nếu chính tôi là chị thì chắc tôi đã ngã rồi. Tôi khâm phục chị nhiều lắm. Lúc này ngoài Thiên Chúa ra, tôi không dám khuyên chị điều gì khác nữa, bởi chính Ngài đã một lần an ủi chị thì cũng chính Ngài sẽ lại an ủi chị nhiều hơn thế nữa, và tôi tin là như thế. Tôi chỉ nói chuyện thêm cho chị về một vài điều khác nữa, chẳng dám mong chị sẽ không buồn nữa, nhưng tôi mong chị sẽ tìm ra một điều gì đó. Tâm sự với chị hồi lâu, tôi trở lại với công việc của tôi. Tôi không quên cầu nguyện thêm cho chị vào mỗi ngày sống của tôi. Và cũng không thể nào quên đi việc suy nghĩ về cuộc đời đầy cay đắng của những con người.

Được tạo bởi Blogger.