(Mã số 18-148)
(Phóng tác dựa trên bài báo trên trang vtc.vn, tựa đề: “Xôn xao câu chuyện bi thảm về người nữ tài xế xe bus”

Chuông chiều vang... Trời đã loang bóng. Bồn chồn không yên! Ông cứ đảo qua đảo lại quanh gốc cây mận trắng bông đầu mùa. Ông thường thế! Đứng đó… Chỉ để thu vào tầm mắt: Biển xanh thẳm dội hương vị mặn nồng mơn man theo làn gió nhẹ... Con đường mòn quanh co chạy dọc xuống chân đồi, sát lối  ngôi tháp chuông mục nát, vữa rã, nghiêng mình như sắp tách làm đôi. Nắng lòa màu trên vài chòi nhà liêu xiêu, nghèo nàn, âu sầu trong làn khói lam chiều phảng phất. Hai bên đường, vài lùm hoa dại vàng xác xơ mọc xen giữa cả đám xương rồng vô giác. Rồi xuất hiện một đứa trẻ con bông đùa, tung tăng cầm những bông hoa dại ấy, dâng lên Đức Mẹ mỗi khi đi lễ chiều, miệng nghêu ngao những bài thánh ca quen thuộc mà ca đoàn thiếu nhi thường hát...
Bóng chiều tà lan dần khắp triền núi, vài tia vàng ám trên đỉnh đèo… Sau ngày dài vật vã, ông trở về, lại đứng đợi và mang theo một niềm vui. Hôm nay, ông thấy những cây tràm gió đã nhú mầm. Giống cây ẩn chứa bên trong sinh lực quý báu, thiêng liêng, tồn tại trong những điều kiện khắc nghiệt: dù mưa dầm hay nắng say, dù là trên đất cát khô cằn hay trong vùng trũng lầy lội. Nó mạnh mẽ vươn mình hướng thẳng lên ngoan cường, ngạo nghễ... Khoảng khắc lần đầu tiên khi thấy cả một cánh rừng bạt ngàn tràm gió, lòng nôn nao, xao xuyến và muốn dành phần đời sau này của mình ẩn náu lại vùng đất thanh bình, cô vắng ấy. Thời gian trôi qua, dẫu có sinh lực dồi dào đến đâu thì từng ngày, từng ngày, chúng vẫn ngã xuống trong tư thế hiên ngang bởi tàn tích của con người. Giờ đây cả cánh rừng trơ thân, thô kệch như người đàn bà không mảnh vải. Thật xót xa! Và… ông muốn bảo tồn những giá trị thiên nhiên vốn có, những gì mà thế hệ ta đang vay mượn của con cháu mình. Ông muốn gầy dựng lại cánh rừng tràm gió ưỡn ngực đón nắng gió trời như lúc ông còn bồi hồi xao xuyến.  Đang mải nghĩ ngợi về dự định ấy, đứa trẻ hớt hải, hổn hển gọi:
- Cha ơi, Cha ơi!


(Mã số 18-147)
Những ngày nghỉ sau lễ thụ phong, không ai biết anh đi đâu? Trong Dòng anh vẫn có biệt danh là “họa sĩ bí hiểm”. Anh ít nói nhưng khi cần pha trò thì nói rất nhiều, nói một cách dí dỏm khiến cho người nghe muốn nghe hoài và nhiều lúc phải bật cười. Chẳng ai có thể đoán được những sáng kiến của anh. Anh “tỉnh” đến nỗi dám chế lại cả cái tật “rằng... thì... là...” của cha giáo. Ngày tiến lên bàn Thánh, anh là người duy nhất không có ông bà cố đi bên cạnh, chỉ có mấy người bạn thân và nhóm sinh viên anh giúp.
“Các con hãy nhận lấy Phúc Âm Đức Kitô mà các con sẽ trở thành người rao giảng, con hãy biết là con phải tin điều con đọc, dạy điều con tin và thi hành điều con dạy”. Lời của Đức Giám mục vang lên chầm chậm như ba giọt nước nhỏ vào tai, nó man mác len lỏi vào mọi ngõ ngách từng thớ thịt trong anh. Bên ngoài, vẻ mặt an nhiên vẫn toát ra trên đôi mắt và vầng trán rộng. Bỗng hình ảnh “người họa sĩ” vẽ chiếc lá thu vàng cho người phụ nữ bất hạnh trong “chiếc lá cuối cùng” của O’Henry hiện ra trong tâm trí anh. Vẽ là đam mê của anh từ thủa nhỏ, nhưng anh còn một khát vọng lớn hơn là có thể vẽ được niềm “Hy Vọng” trong tâm hồn những người nghèo của Chúa. Họ có thể nghèo đức tin, nghèo ân sủng, tình thương, sức khỏe, tự do, tri thức hay vật chất... Nhiệm vụ ấy cao cả mà cũng đầy thách đố cho anh trên lối đường đã chọn. 
Kinh tạ ơn kết thúc, Đức Giám mục ban phép lành cuối lễ, người người ùa ra chúc mừng các tân chức. Họ đi mà chẳng khác gì chạy. Mai thúc khuỷu tay Lan Anh và nháy nhìn cả nhóm.
- Chúc mừng Thầy... À, mà... con quên...- Tuấn chỉnh lại- Chúc mừng cha. 


(Mã số 18-146)
Tôi và em đều ở với nội, chúng tôi thân nhau từ cái thủa ấy, cái thủa bắt đầu đến trường làng, bắt đầu biết mình có cái gì đó giống giống nhau mà chưa thể gọi tên. Tuổi thơ của chúng tôi đẹp nhưng cũng có lúc không được trọn vẹn. Đẹp bởi những tiếng cười trong trẻo, hồn nhiên không bao giờ đượm chút lắng lo. Còn điều không trọn vẹn cứ loáng thoáng như giấc ngủ chập chờn chợt đến rồi chợt đi bởi cái giọng chửi oang oang từ bà, người hàng xóm của tôi và cũng là nội của em.
Ở cái xóm đạo hẻo lánh này, có ai mà không biết đến danh bà, người đàn bà uống rượu như “sáo tắm”. Cứ nhắc đến tên bà Nhép là lũ trẻ trong làng nín thinh. Thấy mặt bà là chúng cắm đầu đi cho thật nhanh như thể sợ lây một thứ dịch bệnh. Hai đứa cháu của bà cũng bị bọn nhóc ấy “bo xì” hoặc “cấm chơi”. Một tháng thì có đến hai mươi ngày bà trong tình trạng say. Khi say bà chửi. Người ta bảo bà chửi không thua Chí Phèo là bao. Bà chửi trời, chửi đất, chửi đời cạn tàu ráo máng, rồi bà chửi luôn cả đạo. Tôi cũng sợ bà giống bao đửa trẻ khác. Sợ cái khuôn mặt nặng trịch, đôi mắt gườm gườm, lạnh lùng của bà. Tôi ghét những tiếng chửi đổng, chửi thề của bà nhưng tôi không thể “bo xì” em, vì em đã cho tôi thỏa mãn cái ước mơ được “làm anh” của mình. Mỗi lần chờ em đến trường làng hay muốn rủ em đi chơi, tôi thường tìm mọi cách để tránh gặp bà. Khi thì leo lên cây sung và huýt sáo hai tiếng. Khi thì đứng tuốt bờ ruộng giả vờ bắt cào cào cho chim…  
- Tao xích hết lũ chó rồi, làm gì mà ngó nghiêng vậy mày?
Tiếng bà khản đục làm tôi giật bắn. 
- Cháu, cháu chờ Mai…
- Hôm nay chủ nhật học hành gì mày?
- Dạ, tụi cháu học thêm, cha già nhờ thầy mở lớp học thêm đằng nhà thờ bà ạ!
- Con Mai chắc đang nhóm bếp… Chờ đó, tao gọi.
Bà quẩy đôi quang gánh trĩu cỏ bò vào trong, tôi thở phào nhẹ nhõm. Rồi  lại thấy bà đi ra, tay vẫn cầm cái liềm cắt cỏ, còn tay kia mang theo cái bịch gì đó. Bà móc nó lên bờ rào rồi hất cằm, buông một câu cộc lốc: “Mang lại lớp mà chia nhau, khoai mật đấy”. Hình như đây là lần đầu tiên tôi nói chuyện với bà. Tôi bớt sợ bà từ đó. 
Người ta gọi làng tôi là vương quốc nửa đồng nửa núi, nghe thì lãng mạn, nhưng tôi chỉ thấy duy nhất một ngọn đồi là đặc biệt hơn cả. Ngọn đồi ấy không thấp, cũng không quá cao. Mùa hè, đồi tím ngát hoa sim, lưng chừng có ngôi nhà thờ mái lá bé tẹo teo, không Thánh giá, chỉ có tiếng kẻng thay tiếng chuông để báo hiệu giờ kinh tối của xóm. Những ngày gió mùa đông bắc tràn về, thổi lùa vào bụi tre già rì rào, lập tức những cơn mưa lá nhẹ bẫng trút xuống mặt ao Nhà chung. Em tưởng tượng ra biển, còn tôi thì ước rằng mình có thể biến thành thủ thủy tí hon để ra khơi trên những chiếc thuyền con ấy... 
Chúng tôi cùng nhau chơi, cùng nhau lớn lên và cùng nghe riết những tiếng chửi của nội em. Chị Linh của em thường xuyên phải đi mua rượu cho bà. Dường như hai đứa trẻ sống chung với lũ nên cũng quen với lụt. Còn với người trong làng này, bao năm rồi họ không lạ gì những tiếng chửi của bà, nghe hoài, nghe mãi thành quen nên chẳng ai buồn quan tâm, thắc mắc hay hỏi tại sao nữa. Bà giống như một nhân vật trong phường chèo mà người ta đã quá nhàm chán bởi thuộc lòng kịch bản từ trước.
Nội nói: Khi say người ta thật nhất. Tôi hỏi nội: Tại sao? Nội bảo: Vì rượu vào thì lời ra. Hạnh phúc thì xa xỉ mà nỗi đau lại thường khoét sâu vào ký ức…
Tôi mập mờ hiểu được câu trước của nội, còn câu sau phức tạp quá, người lớn phức tạp quá! Chắc vì lẽ đó mà không bao giờ nội kể cho tôi nghe về cuộc đời của nội em.
Nội chỉ kể về em. Ngày em sinh, bệnh viện là gian nhà lá trống huơ, trống hoác, căn buồng nhỏ là phòng hộ sinh. Nội tôi là bà đỡ. Mẹ em vỡ ối và kiệt sức mà em “không chịu ra”. Với kinh nghiệm đã từng chứng kiến chị lớn tôi bị ngạt khi mới chào đời. Nội vội lấy con dao sắc lẹm trong cơi trầu của bà Nhép, rạch một đường ở cửa mình mẹ em và lôi em bé ra. Người em tím ngắt, không kêu, không khóc, nhưng vẫn thở. Trong đêm, vài người hàng xóm khiêng mẹ em đi trạm xá, nhưng vì mất máu quá nhiều, mẹ em bất tỉnh. Nhiều ngày sau đó, người ta phát hiện ra mẹ em bị giun móc suốt thời gian mang thai em. Hồng cầu tụt xuống ngưỡng quá thấp. Mẹ em mất sau đó ba tháng. 
Năm em sáu tuổi, chị Linh em nghe lời dụ dỗ của người họ hàng xa, bỏ làng lên thành phố và biệt tích từ đó. Bà Nhép nuôi em bằng nước cơm gạo cùng khoai sắn, tương cà với người chồng bị liệt bán thân… Khi đó cái nghèo, cái gia cảnh éo le của hai đứa rưa rứa nhau, nhưng vì còn là trẻ con nên những bận tâm ấy chưa thể nào chạm vào được những ước mơ xinh xắn của chúng tôi. Cho đến khi tôi lớn, tôi mới biết rằng cái nghèo đeo bám quê tôi lâu lắm rồi. Nó trùm lên những mái nhà lụp xụp, thiếu ánh đèn điện khi màn đêm ập về. Nó trêu đùa trên tấm lưng người nông dân ngoài đồng, ngoài bãi. Nó luôn hiện diện trong tiếng thở dài của nội và cả những tiếng chửi cay đắng của bà Nhép. Rồi cái nghèo cũng trở nên quen thuộc, dân làng vui vẻ chấp nhận cuộc sống ấy nhưng cũng có những người nghĩ khác. Như bố mẹ tôi, như vợ chồng chú Khánh và cả chị Linh của em… Họ lần lượt đi xa để tìm kiếm những thứ khá hơn cho cuộc sống. Có người lên thành phố, có kẻ bỏ làng đi làm Osin bên Đài Loan… Làng chỉ còn lại những đứa trẻ trâu và người già như các nội.
Sau cái lần chạm mặt với bà Nhép, và kỷ niệm về củ khoai mật, tự nhiên tôi thấy bức bối trong lòng và muốn khám phá cái ẩn khuất đằng sau tâm hồn người bà của em. Tại sao ai cũng ghẻ lạnh, né tránh bà? Tại sao chẳng ai chịu chơi với em? Không phải vì tôi đọc Conan đâu, nhưng là một cuốn sách cũ rích mà cha xứ già đã tặng tôi trong dịp chịu phép Thêm sức. Sách viết về cậu bé chăn cừu ham khám phá, mang tên Phanxicô Bêsuccô.
Khi nghe bà chửi, tôi mập mờ hiểu ra có thứ gì đó thật cay đắng và khắc nghiệt đã đi qua cuộc đời bà. Bà nguyền rủa mẹ con nhà bà Tình vì đã bóp chẹt bà trong lúc túng quẫn bằng những lần cho vay nặng lãi. Khi thóc lúa chưa kịp phơi ráo thì mẹ con mụ đã hăm he mang bao sang đòi nợ. Mụ tên Tình mà vô tâm, vô tình quá chừng… Tai nạn của mẹ con mụ, làm bà hả hê. Bà gọi đó là “quả báo”, là chết “đầu đường xó chợ”. 
Tôi gặp rất nhiều lần những ngôn từ như thế, nhưng cũng đâu thấy đời bà khá hơn được. Bà Nhép đã bỏ nhà thờ lâu lắm rồi. Bà gọi mấy bà sồn sồn cùng hội đoàn gì đó với bà Tình là đồ đạo đức giả, là mồ mả tô vôi, là “quân du dêu” tối ngày ba hoa, nói xấu… Bà Nhép không biết chữ nghĩa nhưng bà thuộc rất nhiều những bài vè về đạo lý ở đời. Mỗi lần say, chửi chán mà không bao giờ có ai chửi lại, bà đến nhà thờ, ngồi thu lu trong bóng tối, đẫn đờ nhìn tượng Chịu Nạn khi thì đọc vè, khi thì hực hực khóc như trút đi khối ức hận trong lòng. Tôi và em đã gặp bà trong cái đêm ấy, đêm Giáng sinh đầu tiên được xem hang đá ở làng bên cùng nhóm thằng Hữu.
Tôi không tìm thấy điểm tương đồng nào giữa em với bà của mình. Em hiền và ít nói, nhưng học rất sáng dạ. Không bao giờ thấy em kể lể hay kêu ca về bà. Về sau, khi đức tin của tôi không còn là thứ đức tin cậy dựa mà đã qua trải nghiệm, tôi mới biết được rằng: Nếu Chúa muốn thì một đứa trẻ dù sống trong hoàn cảnh cơ cực đến mấy, nó vẫn có thể miễn nhiễm và vượt qua được nghịch cảnh để sống quên mình vì người khác. 
Bà Nhép không bao giờ chửi hay đánh cháu mình. Lúc say, cùng lắm bà chỉ ngoắc mắt và bặm môi nhìn hai chị em Mai sợ sệt co rúm ở góc nhà. Bà thà ăn vay chứ không bao giờ dạy cháu ăn cắp, thà chửi thẳng mặt chứ không bao giờ à uôm, nói xấu sau lưng người khác. Bố em chết vì căn bệnh siđa. Bà hận đời cũng vì đời len lỏi quá nhanh trong cái xóm đạo bé nhỏ này. 
Những trưa hè, dưới bóng mát của cây sung già ngoài cổng, tôi hay cùng em chơi đủ trò. Thi thoảng tôi thấy bà cười, nụ cười hiếm hoi khi nhìn chúng tôi nô đùa. Kỷ niệm với em trải rộng hết quãng tuổi thơ tôi. Từ ngày học thuộc lòng bài thơ đầu tiên có tên “Làm anh” trong sách Tiếng Việt lớp Hai, không hiểu sao tôi thích làm anh vô cùng? Dù bằng tuổi, nhưng em vẫn ngoan ngoãn cho tôi xưng anh. Tôi vào lớp một đúng tuổi, còn em phải đợi năm sau vì nhìn em nhỏ thó quá, người ta cho rằng nội em khai “gian” để cho cháu được đi học. Nhưng lần đầu tiên tôi nắn nót viết chữ cũng là lần đầu tiên em có thể hát vài câu đơn giản, rồi ghép vần, rồi làm văn, rồi nhẩm phép tính. Dường như tôi học đến đâu là em học đến đó. Tôi thấy mình oai phong hơn khi có trách nhiệm “dạy học”. Nhưng nói gì thì nói, trẻ con khi nào cũng ham chơi hơn ham học. Sau giờ ở lớp là giờ ở đường, ở đồng. Có khi long nhong giữa mùa gặt bắt chuột đồng, bắt muỗm, cào cào… Có khi hai đứa lại vót vót, dán dán những con diều giấy rồi thả vút lên bầu trời căng gió. Đêm về, chúng tôi cùng nhau bắt đom đóm thả vô ống lon làm đèn lồng. Hễ đứa nào có củ khoai, cái bắp cũng chia đôi để phần… Chúng tôi đã lớn lên bên nhau và có lúc tôi nghĩ chúng tôi sẽ mãi mãi như vậy.
Rồi vào một chiều hè, khi tiếng ve kêu rạc cả thân mình, tôi - mười tám. Làng vẫn nghèo, nhưng đã bắt đầu thay da đổi thịt. Mái lá nhà thờ được thay bằng mái ngói. Mỗi lần ở trường huyện về, tôi thích đạp xe lại đó chỉ để nói với Thầy mấy câu, người Thầy mà vị cha xứ già đáng kính đã giới thiệu cho tôi trong những ngày được ở với ngài. Tôi ngồi chống cằm nhìn trời, nhìn đất nhớ lại những buổi học kinh tối của xóm nhỏ. Chợt thấy những con kiến kiên trì men dọc chân tường ngay dưới chỗ tôi ngồi. Tôi chặn lại một con cầm lên tay, tự hỏi và trả lời:
- Mày có biết đọc kinh không kiến? 
- Thưa anh, tôi thuộc lòng. Nhà tôi ở xó đằng kia, xin để tôi tiếp tục cuộc hành trình.  
Tôi xin lỗi và trả nó về chỗ cũ, chỗ của nó đã được thay thế bằng một chú kiến khác. Tôi đặt nó xuống và tự lẩm bẩm: Bắt đầu lại từ đầu nhé kiến! 
Bỗng có tiếng khúc khích sau lưng như nghe hết câu chuyện “tự kỷ” của tôi. Quay người lại, là em…
Sau những ngày ôn thi cuối năm cấp ba, tôi nhận ra nhiều thay đổi nơi bản thân mình. Tôi không còn thời gian chơi với em nhiều nữa. Em kết thúc giấc mơ chữ nghĩa của mình khi lớp tám vì đôi vai của nội đã quá nặng gánh. Hằng ngày em phải ra đồng sớm, em trồng rau và tự mang ra chợ bán. Thi thoảng em có viết cho tôi vài dòng. Nhưng bận rộn bài vở làm tôi quên mất cô bé của mình. Tôi kịp nhận ra điều ấy trong một buổi chiều về thăm nội. 
Trông em thật đẹp trong nắng chiều, khuôn mặt em tròn như trăng mười sáu. Những tia sáng nơi đáy mắt ánh lên rắn rỏi kỳ lạ. Tuốt lại mái đầu lù xù, chưa kịp nở nụ cười thì em đã nắm vạt áo tôi như thói quen của những ngày xưa:  
- Em muốn cho anh xem cái này…- Vừa nói em vừa kéo tôi ra con đường mòn dẫn lên đỉnh đồi sim.
Càng lên cao, cái thoáng đãng càng làm tôi dễ chịu, lâu rồi cứ vùi đầu vào sách vở, tôi quên mất những khoảnh khắc đẹp ngay cạnh mình. Phía bên kia đồi là xóm lương dân nhấp nhô những mái nhà tôn đỏ, tôn xanh. Phía bên này là cánh đồng “cầu biêng” nằm lọt dưới lũng, những ruộng lúa đang lên xanh non đầy sức sống. Bất giác tôi nhận ra chỗ tôi và em đang đứng có bóng mát của hai cây Hoàng nam cao vút. Em chạy lại, đứng giữa hai thân cây, dang tay rồi nhìn tôi nở một nụ cười mãn nguyện: 
- Nó đấy anh, mười tuổi rồi…
Ngày đó, giữa tàn tích của một đám cháy nhỏ, không biết em kiếm ở đâu được hai cây Hoàng nam bé xíu. Em rủ tôi lên đó bới đất trồng chúng để đánh dấu mùa hè lớp Bảy. Quay về phía mặt trời, cây bên trái là của em, cây bên phải là của tôi. Nếu em không dẫn tôi trở lại, có lẽ tôi đã quên mất nhiều thứ mà tuổi thơ đã đi qua…
Mới đấy mà đã mười năm, thời gian là thế, như con thoi đong đưa. Đường nó, nó cứ trôi, chẳng khi nào dừng lại. Người lữ khách có trễ giờ, nó cũng mặc kệ.  
- Thiệt lạ anh ha!- Tiếng em rủ rỉ trong tiếng lá lao xao của đồi chiều. 
Em kể: 
- Mỗi tháng, làng mình có một Thánh lễ, cha xứ trẻ măng mới về nhận xứ quen biết rất rộng. Hôm đó, cha dẫn theo hai người khách lạ, lịch sự lắm, nhìn là biết người thành phố, ông ấy thấy hai cây Hoàng Nam có dáng đẹp, định xin cha bứng đi… Nội em biết chuyện, bà lại nhà thờ làm ỏm tỏi. Cha xứ xụ mặt, có vẻ khó chịu vì hổ thẹn với hai vợ chồng vị khách nhưng đành chịu.
Tôi cười ha hả và chợt nhớ đến những kỷ niệm về em, về nội em. Tôi đùa: 
- Sao em không giống nội mà giống cây Hoàng nam này ghê! Nhỏ bé mà hiên ngang. 
Em im lặng, chỉ đỏ mặt vì thấy tôi vừa chọc, vừa khen. Tôi nhìn cây Hoàng nam thật lâu rồi thu hết can đảm nói tiếp:
- Cho anh xin lỗi vì dạo này không thể giúp gì được cho em.
Em cười hiền: 
- Anh không phải xin lỗi chi hết, mỗi tháng anh đều tranh thủ về thăm làng là được rồi, khi không về được thì nhớ cầu nguyện cho mọi người. Tuy không nói chuyện nhiều như trước nhưng anh vẫn quan tâm em còn gì? Vậy là dư rồi…
- Ừ ha!- Tôi ngửa mặt thở phì một cái và thầm nghĩ.
Vậy ra em hiểu tôi hơn là chính tôi nữa. Tôi yêu thương và quý trọng những thứ, những con người liên quan đến cuộc đời mình. Nhưng tôi cũng thích được vươn cao, vươn xa mãi trong ơn gọi kia.
Chiều hôm đó, chúng tôi ngồi ngắm mặt trời lặn, chúng tôi nói rất nhiều như thể để bù lại những ngày đã qua. Nói về làng, về những ngày thơ bé, về hai người nội đã nuôi lớn chúng tôi, và cả những ngày sắp tới khi tôi thi vào Chủng viện… Trước khi chia tay, em cho tôi vỏn vẹn hai câu nhưng ấm áp hơn cả một cái ôm. 
- Anh sẽ đậu, vì điều đó xứng đáng với anh. Tu cả phần của em đấy nhé!
* * *
Tôi vào Chủng viện, ước mơ được theo Thầy đã thành hiện thực. Những lần về vội vã chỉ đếm trên đầu ngón tay, dẫu xác tín đó, quyết tâm cao độ trên đường tu tập đó, nhưng có những giây phút tôi vẫn buông lơi vì bao nỗi nhớ: Nhớ nội, nhớ em và cả những buổi chiều trên cánh đồng quê. Tôi chợt nhận ra khi gửi tình cảm cho một ai đó hay một nơi nào đó, chẳng hạn như những người ta thương yêu, như mảnh đất ta sống, khi rời xa ta mới biết ta đã yêu quý chúng nhiều hơn ta nghĩ. 
Sau khi kết thúc năm nhất Chủng viện, tôi về nhà một ngày cuối tháng tám. Trở về đúng mùa bão, chợt thấy thương dân làng trong cái cảnh lao đao đi vớt lúa, đắp đập. Miền trung du ít bão lũ, nhưng khi bão lũ ập về thì cũng dữ dội lắm! Bởi địa hình dốc mà rừng đầu nguồn bị chặt phá nhanh quá. Nơi dòng nước đi qua luôn để lại những vũng sâu lồi lõm với cát đá và sỏi dăm. Tôi vừa về đến đầu ngõ, ngửa nhìn mới biết có đám mây vần vũ kéo theo phía cuối trời, báo hiệu một cơn mưa to. Cảnh vật làng tôi vẫn như bao mùa lũ mọi năm nhưng rõ ràng trong không khí có điều gì đó không ổn. Nó làm tôi bất an. Chạy lại ôm nội vào lòng, mọi thứ tan biến, chợt thấy mình như bé lại như cậu nhóc mười hai. Nội nói: 
- Chúa thương con lắm đó, không thì phải đứng chờ dưới mưa bão rồi.
Thấy nội vui nhưng không cười, tôi thắc mắc: 
- Nội mệt phải không? Để đó con nấu cơm nhé nội!
Tôi cất balô và ra sau giếng. Nội cầm nắm rơm, bật quẹt rồi nói vọng ra từ bếp: 
- Năm nay, lũ về sớm, vất vả lắm con! 
Tôi vớt nước lên mặt, vừa tận hưởng cái mát lành ùa lên trán, lên đầu, vừa sẵn sàng nghe nội kể chuyện. Thấy im lặng hồi lâu, tôi quay lại, nội đứng đó, bàn tay khô rạc chạm vào vai tôi. Nội chậm rãi: 
- Con à, nhỏ Mai mất rồi.
Tôi lặng người như chưa tin vào tai mình. Nội nói tiếp:
- Nội sợ con buồn lòng, ảnh hưởng đến việc học hành nên giờ mới báo. Hôm đó, có mấy đứa nhỏ xóm bên đi học về qua cái cống đầu làng, thấy nước dâng, thích thú xuống rửa chân, vầy nước dưới chân cầu. Có ai ngờ được chỗ nông sâu, hai đứa trượt chân bám vào gốc mua lềnh bềnh cạnh dòng nước xoáy. Mai đi chợ về, nghe thấy tiếng kêu cứu, liền vứt tung gánh rau bán ế, nó vội lao xuống kéo được một đứa lên bờ, còn một đứa bị dòng nước hất văng xuống ghềnh đá, Mai cố níu thằng bé lại nhưng không thể vì sức nó yếu hơn sức nước, Mai cũng bị cuốn trôi. 
Tai tôi ù đi, chếnh choáng, lạnh toát. Tôi đứng đó mà như có cơn bão đẩy ngược chiều gió.. Không còn là cái lạnh của làn nước quê trong lành nữa mà là cái lạnh từ con tim và khối óc toát ra. Dường như nội biết tôi đau, nên để tôi một mình với sự thinh lặng bao la.
Sáng sớm, tôi không sang nhà em mà đi ra phía con ngòi đầu làng. Cây cầu dài có dăm mét, không thành vịn, ngồi xuống, nhìn mặt nước hiền hòa, lòng tôi trống rỗng. Cuốn sách cầm trên tay là để tặng em nay cũng như trống rỗng, trắng tinh tang tóc. Trước giờ, tôi vẫn nghĩ con người có thể làm chủ thiên nhiên như việc dân làng, khai hoang, đắp đập, cày cấy trên những cánh đồng. Vậy mà lũ đã mang em đi, thế mới biết thiên nhiên dễ thương nhưng có lúc chúng cũng giận dữ, vô tình… Vì con người muốn kiểm soát, điều khiển và lợi dụng chúng quá mức. Chợt nghĩ đến đám cháy nhỏ trên đồi sim và hai cây Hoàng nam thủa nào. Tôi lang thang trở lại nhà thờ. Từ sau cánh cửa ọp ẹp, bóng bà Nhép đờ đẫn như mất hồn. Nội bảo, từ ngày em mất, không ai còn thấy bà Nhép say và chửi nữa. Ngày nào bà cũng quanh quẩn ở nhà thờ, khi thì lẩm bẩm vài câu kinh không đầu không cuối, khi thì ngủ gục bên gốc Hoàng nam. 
Lần chuỗi xong với nội, dưới ánh đèn dầu đỏ quạch chỉ đủ soi thấy khuôn mặt hiền từ gục xuống của Thầy. Bỗng nhớ có lần tôi đã khích lệ em bằng lời của một nhà văn rằng: “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”. Và hôm ấy trong nỗi đau mất em, tôi mới thấm thía hơn câu nói ấy. Thì ra cái chết chỉ là nút bấm “dừng” cho một kiếp người. Phía bên kia mùa đông là mùa xuân tràn ứ mật và sữa. Phía bên kia thập giá là sự sống mới. Đức tin thủa nhỏ dạy tôi thế! Kinh nghiệm của Thầy tôi dạy tôi thế! Ngước mắt nhìn Thầy, tôi thấy biết ơn làng và muốn cám ơn em thật nhiều - một người và một nơi mà những giới hạn cùng bao nỗi nhọc nhằn vô hình, không tên vẫn còn đó. Nhưng cũng chính những con người ấy, chính nơi ấy, đã cho tôi những bài học mà trường lớp không thể dạy.
Sớm mai, trong ánh nắng ấm áp của bình minh ngày mới, cạnh mộ em sẽ có một cây Hoàng nam con làm bạn. Nhất định, tôi sẽ sống luôn phần của em, nhé Mai!


(Mã số 18-143)
“Ôi! Tắc đường thế này thì bao giờ mới đến nơi, muộn mất!”
Tôi vừa lầm bầm vừa nhón chân lích từng tí một giữa biển người với cơ man là xe cộ trên đường lên Thái Hà tham dự thánh lễ. Cảnh tắc đường quá quen thuộc ở cái nơi đường chật xe đông này, đã tính đi sớm hơn tận hai mươi phút, ấy thế mà chỉ còn có mười phút nữa là Thánh Lễ bắt đầu, tôi vẫn mắc kẹt ở cái ngã tư đèn đỏ định mệnh. “Chết! còn phải lên tầng ba mặc áo nữa, phải liều thôi”. Nói rồi, tôi bon chen lên vỉa hè, lao một mạch ra khỏi đám xe cộ đang bấm còi inh ỏi. 
“Phù…uuuu! May quá! Vẫn kịp”. Ba chân bốn cẳng vắt hết cả lên, cuối cùng tôi cũng leo lên được phòng mặc áo. Giờ này chắc chỉ còn mình tôi trên này thôi, mọi người có lẽ đang ngồi chiễm chệ trên gác đàn nghe lịch phụng vụ hết thảy rồi. Căn phòng đối diện tủ quần áo hắt ra một chút ánh sáng ít ỏi đủ để tôi mò mẫm chiếc áo chùng vàng của Ca đoàn Tê-rê-sa Hài Đồng Vinh đang treo gọn gàng trên móc. Tôi mặc vội mặc vàng chẳng kịp nhìn gương, toan quay xuống thì anh chàng nào cũng đang đi về phía tủ gọi tôi quay lại. “Đã muộn thì chớ…”, đang định cằn nhằn thì hắn ta đưa tay ra sau lưng tôi, kéo tấm dải yếm đồng phục ca đoàn màu đỏ quay về đúng vị trí của nó, rồi tiện thể sửa luôn cả chiếc cổ áo đang nằm lệch. Tôi ngây người ra như vừa bị ai thôi miên. “Xong rồi đấy, em đi xuống đi kẻo muộn”- Nói rồi hắn quay đi, tiến về tủ áo như đã định. Mặc kệ tôi đứng chết dí với cái mặt ửng như quả cà chua đến mùa thu hoạch.


(Mã số 18-141)
Cái nắng công trường như thiêu như đốt. Mấy anh em công nhân nghỉ trưa dưới vòm cây, lâu lâu phá lên cười. Có lẽ ai đó trong nhóm kể những câu chuyện dí dỏm, hài hước để xua tan cái mệt nhọc giữa cái nóng gay gắt này. Anh đi riêng ra một chỗ. Anh mở điện thoại. Anh quay số của vợ, có tiếng vọng sang:
- Anh hà! Đươc nghỉ trưa rồi hở anh?
- Ừ! Vừa được nghỉ. Ở nhà bình an chứ em?
- Vâng, mọi sự đều ổn anh à! Con bé nó cứ hỏi anh miết.
- Vậy à! Con khỏe chứ em?
- Khỏe, khỏe lắm cơ, nghịch như quỷ sứ ấy! Suốt ngày không làm đổ cái này cũng làm vỡ cái kia. Mà anh ơi…
- Gì em?
- Khi nào anh được nghỉ phép? Anh vắng nhà cũng bốn tháng rồi…
- Anh… anh cũng chưa biết nữa. Hy vọng thi công công trình xong sẽ được nghỉ vài tuần. Mà chắc cũng hai tháng nữa mới xong em à!
- Vầy à?
- Ừ! Thôi hết giờ nghỉ rồi, anh gọi anh em ra làm tiếp đây. Em và con nhớ giữ gìn sức khỏe nhé!
- Dạ vâng! Anh cũng vậy, ở một mình, phải chăm lo cho mình tốt đó, đừng để bệnh. Anh cần gì cứ nói em gởi ra.
- Ừ! Thôi anh cúp máy nghe!


(Mã số 18-138)
Đêm đã điểm hồi yên ắng nhất và càng tĩnh mịch hơn nơi tu viện vùng ngoại ô, mọi vật đang chìm vào giấc ngủ. Không gian yên tĩnh đến nỗi dường như ta có thể nghe được tiếng thở đều của đất trời đang say ngủ. Những cơn gió thu nhẹ rón rén len qua khe cửa ru giấc cho con người. Tiếng lá khẽ chạm vào nhau, tiếng róc rách từ con suối xa tận chân trời vọng về, tiếng ngái ngủ của muôn vật... tạo nên dàn đồng ca êm ái, ngọt ngào.


(Mã số 18-137)
Ông trùm Tam hốt hoảng chạy vào nhà xứ gọi cha cố già:
- Thưa cha, anh Ba vừa bị thằng Quân Tủn xóm dưới đâm. Xin cha đến ngay kẻo không kịp.
- Ôi! Chúa ơi!
Cha già vội lấy hộp dầu thánh, leo lên chiếc Honđa của ông trùm rồi cả hai phóng thật nhanh qua mấy con hẻm. Chưa kịp bước vào sân, cha già đã nghe tiếng khóc thét đau đớn của nhiều người nên cũng hiểu tình hình. Tiếng khóc than hãi hùng đó là của vợ con anh Ba và bà con lối xóm. Cha cố bước vào căn nhà với nỗi xót xa bao trùm. Ngài ngấn lệ tiếc thương. Thương cho anh Ba và gia quyến, cha cũng thương cho kẻ gây nên chuyện động trời ấy. Trong vai trò là một linh mục, cha cố mời gọi mọi người dâng lên Chúa lời kinh cầu nguyện cho linh hồn mới qua đời. Xin Người thương ban cho Giuse phần thưởng nước thiên đàng.
Anh Ba không đáng chết. Anh ấy chết oan do cuộc ẩu đả giữa thằng Quân Tủn và Thành Mun. Số là nhà hai tên này ở cạnh nhau. Trước đây hai gia đình gắn kết, thân thiết. Thế nhưng, khi hai ông cụ thân sinh qua đời, hai cậu con trai chẳng màng đến tình làng nghĩa xóm. Lối sống hưởng thụ mỗi ngày tăng cao. Ai cũng chỉ biết của mình, mình giữ. Giữa hai nhà là một lối đi chung và phần đất ấy được chia đôi. Thành Mun muốn xây lại ngôi nhà cho khang trang, nhưng hắn lại cố ý lấn sang đất nhà Quân Tủn, dẫn đến nhiều cuộc đàm phán không mấy vui vẻ. Cái mẫu thuẫn ứ đọng dần dần. Rồi một ngày kia, ứ đọng bắt đầu bùng nổ. Khi cả hai đã thấm mùi men rượu, lời ra tiếng vào, thốt ra những lời tục tằn. Chưa dừng lại ở những lời rủa xả khó nghe, họ còn đi xa hơn nữa. Thành Mun xuống bếp cầm con dao lên hăm dọa. Bà con chạy ra coi đông lắm. Nhưng chẳng ai dám can thiệp. Người vô cảm, người dửng dưng, kẻ sợ phiền toái. Duy chỉ một mình anh Ba, người hàng xóm nhà đối diện, con người tốt bụng như sứ giả của hoà bình, đã vội chạy lại lên tiếng can ngăn và mong muốn dàn xếp, giải hòa.


(Mã số 18-135)
1. 
Ông Kiệt và bà Nhân là hai vợ chồng về hưu, sống trong một ngôi nhà khá khang trang ở giáo xứ Gò Thị. Ông là kỹ sư chế tạo máy bậc thầy. Những thứ đồ trong nhà đều do ông sáng chế. Mỗi thứ có một tác dụng riêng rất tiện lợi như cái máy tưới nước tự động, cái máy giặt liên hợp không cần phơi ủi gì hết, cái máy bắt muỗi, cái lò vi ba, cái bếp điện từ hẹn giờ...  Còn bà là một nhà văn có tiếng dù chưa đạt giải Nobel hay giải Viết Văn Đường Trường. Tuy nhiên, sách của bà bán chạy vào hạng nhất nhì trong cả nước. Cho đến bây giờ, bà vẫn không ngừng sáng tác. Mỗi tác phẩm là một ý tưởng rất tự nhiên nhưng mang đầy ý nghĩa. Hàng tháng bà vẫn hưởng một khoản tiền kha khá từ các đầu sách của mình. Các nhà xuất bản không ngừng đặt hàng để bà có thể liên tục cho ra đời những “đứa con tinh thần” hầu đáp ứng nhu cầu của độc giả. Cũng bởi thế mà tính bà lãng mạn còn tính ông thì khuôn khổ. Ấy thế mà hai ông bà lại rất hợp nhau. Âu cũng là ơn Chúa sắp xếp. Cho nên, mọi chuyện trong nhà đều ổn thỏa, con cái đều trưởng thành và ăn nên làm ra. Bây giờ, hai ông bà trở về quê an hưởng tuổi già bên nhau và bên Chúa.
Sáng hôm nay, khi ông ra vườn bật máy tưới nước tự động thì phát hiện vườn ổi bị trộm. Ổi rơi rụng đầy gốc, cành lá tả tơi. Nhìn là thấy bực! Ông quát lên om sòm. Mà biết chửi ai bây giờ. Kẻ trộm đã đi tám mươi đời. Cho nên, ông chửi rồi ông tự nghe. Bực quá, ông chạy nhanh vào nhà, ngồi xuống bàn, lấy giấy ra thiết kế ngay một hệ thống bẫy để “bắt trộm”. Thấy ông cặm cụi và có vẻ bực tức, bà mới đến bên hỏi khẽ.


(Mã số 18-134)
Sài Gòn, mùa thu năm 1990.
Trên trang giấy úa vàng màu thời gian…

Mỹ tự nhủ sẽ không bao giờ nhớ lại quá khứ.
Nhưng nếu như đã quyết định ngồi vào bàn viết, cô sẽ cố gắng kể lại câu chuyện một cách bình thản và tuần tự. Cô muốn viết lại toàn bộ câu chuyện này một cách chân thành, cởi mở, chân tình, không giấu giếm một điều gì cả. Nếu như cô không thể xua tan đi cơn ác mộng đang theo đuổi mình thì cô sẽ cố gắng làm cho nó trở nên dễ chịu hơn. Có những hồi tưởng được viết lại bằng một tình cảm dịu dàng sẽ không cay đắng bằng chính sự thật đã xảy ra. Rất nhiều sự việc bây giờ hiện lên trước mắt Mỹ dưới một ánh sáng khác, chúng trở nên đơn giản hơn và không còn quan trọng như trước nữa.
Mỹ sinh ra trong một gia đình Công giáo. Ngoài việc thường xuyên nghe người ta gọi “Con nhà điếm” thì mảnh đất ấy đối với Mỹ cũng chẳng có gì là đặc biệt. Người đàn bà ra ngoài hàng đêm, vội vã. Còn người đàn ông gục đầu bên chai rượu, thêm đầy và rót thêm đầy. Cô vẫn luôn chờ tiếng cửa phòng cha mình đóng lại. Sáng ra lại đầy những mảnh vỡ. Cho đến một ngày khi có đoàn nhạc kịch ngang qua làng, hy vọng lóe lên trong đôi mắt của đứa trẻ. Đó là lần đầu tiên Mỹ khao khát đi khỏi nơi đây trỗi dậy, đầy những tăm tối và tổn thương. 
Mỹ rời bỏ quê hương ở cái tuổi trăng tròn.
Ít lâu sau đó, cô lấy con trai của ông chủ đoàn nhạc kịch và tin vào sức mạnh tình yêu. Cô đã tin. Niềm tin dẫn tôi đến những chuỗi ngày đau đớn...  Từ một cô đào hát hay nhất đoàn nhạc kịch, đem tiếng hát làm vui lòng người, cô tự mặc lấy cho mình kiếp vợ lẽ của ông chủ tương lai. Những tưởng cuộc đời cô sẽ khác... Khác thật... Đòn roi và sự mắng chửi nhục mạ của bà vợ cả khiến cô người chẳng ra người, ma chẳng ra ma. Vì chồng cô là con trai một nên áp lực sinh con nối dõi đè lên cô, có lần mẹ chồng Mỹ đổ chậu nước muối ngâm chân lên đầu cô mà đay nghiến:
- Ôi giời ơi, đúng là cái thứ không biết đẻ, nhà tôi thật vô phúc... vô phúc! Cưới cô về chỉ để ăn cho tốn cơm, thà tôi nuôi con chó còn biết coi nhà.


(Mã số 18-133)
- Tại sao Chúa Giêsu chết trên cây Thánh giá hả bố?- Đứa con gái ngây thơ hỏi. 
- Vì Chúa yêu con!
- Sao Chúa lại yêu con? Thế Chúa có yêu bố không ạ?
Một phút lặng, ngước nhìn Thánh Giá, Chúa Giêsu vẫn ở đó. Đôi mắt xa xăm...  
* * *
Hắn - tên gọi của Thiện, đang là học sinh lớp 9 nhưng hắn cũng chẳng rõ còn bao nhiêu kì thi nữa để tốt nghiệp xong Trung học cơ sở. Hồi lớp 5, hắn cũng phải đúp 2 năm mới đỗ. Hắn chẳng rõ cái sự nghiệp “học mãi” này đến bao giờ mới kết thúc. 
Thiện sinh ra trong một gia đình Kitô giáo, mẹ Thiện là một người phụ nữ đảm đang, và sùng đạo. Từ khi hiểu chuyện, cha hắn đã là kẻ nát rượu. “Người đàn ông thất bại”, đó là cách Thiện nói về cha mình. 
Hắn lớn lên theo phong cách riêng, khiến cho cả trường, cả làng phải nhớ đến là kẻ đầu đàn của những trò nghịch tai quái. 
Hắn mới chỉ sống chưa đầy 20 năm, va vấp không nhiều, quan hệ ít, tư chất kém cỏi, bất cần. Người hắn quan tâm duy nhất là mẹ. Chỉ có mẹ không nghĩ hắn hư. Với một người chồng thất bại và lặng lẽ, bà chỉ có hắn đi ra đi vào để nhớ để thương, để biết còn cần phải cố gắng, còn phần ý nghĩa để sống tốt trên đời. Bà nghĩ phải sống tốt để làm gương cho hắn, biết đâu một ngày nào đó Thiện tỉnh ngộ, quay về với Chúa. Bà Tạ ơn Chúa hằng đêm đã cho con được bình an, bà nài xin Ngài gìn giữ hắn. Một mực tin tưởng Chúa không để bà cô đơn.


(Mã số 18-132)
Căn phòng chật hẹp và lạnh tanh. Cái lạnh là từ bức tường đá? Hay là từ ánh mắt sắc lẹm của những gã đàn ông đang chễm chệ trên chiếc giường sắt cũ kĩ? Bốn tên tù nhân im lặng ngồi bên nhau trong căn phòng chật hẹp, ẩm ướt. Tên cao to nhất không mặc áo, trên ngực đầy hình xăm nào rồng nào rắn nào hổ nào báo. Hình xăm chèn với cả những vết thẹo do bị chém, bị rách, bị trầy xước cả mảng lớn... trông đến tởm! Hai tên bên tay trái, một tên cao ốm mặt mày gian xảo, ánh mắt láo liên, một tên mập béo đen đúa mặt mày hung tợn. Còn bên tay phải một tên hổ báo không kém gã ngồi giữa. Tên này mặc áo phanh ngực, trên người không có hình xăm nhưng lại có một vết thẹo dài chạy xéo từ cổ xuống gần rốn. Chúng cứ ngồi đó, chẳng nói với nhau lời nào mà cái lạnh tanh tỏa ra từ chúng khiến con người ta phải khiếp sợ. 
Một vài tia nắng ép mình chui qua những khe hở trên tường, lọt vào căn phòng chật chội, đầy mùi của chuột của gián và cả mùi tiểu tiện. Người thanh niên ngồi trơ trọi giữa căn phòng u tối, dơ bẩn; trong đầu cứ vang vọng những câu hỏi không có cách nào trả lời: Tôi đang ở đâu?... Tôi là ai?... Tôi đã làm gì?... 
“Rầm”... Tiếng cánh cửa sắt dập vào tường.
- Này thằng kia, đi theo tao!- Tiếng dõng dạc của tên cai tù với bộ mặt hung dữ, thân hình phì nhiêu đến nổi cái bụng đi trước thè lè, ngực có chạy theo cũng chẳng hơn được.
Người thanh niên giật bắn mình, cơ thể bất giác co lại, tay đưa lên đầu che chắn. Rồi vài giây định thần cậu cũng ngước mắt lên, buông lỏng đôi tay, đứng lên bước đi như người vô hồn. Xoạc... xoạc... xoạc... Bước từng bước nặng nề, chàng trai trẻ đi theo tên cai ngục như người bị thôi miên. Sau lưng hắn là những tiếng la hét đòi giải oan, đòi phóng thích...  Hai bên lối đi sau song sắt, những con người gầy guộc như thây ma ườn người ra, vươn những đôi tay gân guốc cố bám víu bất cứ thứ gi có thể nắm giữ được. Những nụ cười hả hê của mấy tên tù cũ và những cái liếc mắt trông gớm giếc. Hắn cúi đầu lê bước trong vô vọng, nhìn chiếc còng tay giờ lại càng nặng hơn. “Mình xong rồi!”, hắn thầm nghĩ.
Đi hết đoạn thẳng hành lang, hai người đàn ông dừng lại trước một căn phòng hôi hám, bẩn thỉu. Mùi từ căn phòng ấy xộc vào cứ như mùi rác thải sinh hoạt. Tên cai tù quát thẳng vào mặt chàng thanh niên và xô cậu về trước:
- Vào đi, đây là chỗ của mày. Cố mà ngoan ngoãn đi thằng cặn bã!
- Chào người anh em.- Tên tù nhân có bộ mặt gian xảo lên tiếng.
Chàng trai kia im lặng không nói gì, định ngồi xuống.
- Thằng chó này, câm rồi hả?- Tên tù nhân mập béo túm lấy cổ hẳn, nhấc lên, thộn xuống như trái bóng. Hắn đau điếng nhưng miệng vẫn không thể nào bật ra chút rên rỉ.
- Thôi, để im tao ngủ.- Tên tù nhân hung dữ nhất lớn tiếng rồi tiếp tục say giấc.
- Mẹ mày, không có “lão đại” lên tiếng thì mày chết với tụi tao rồi, liệu hồn mày đấy!- Tên mập béo vừa nói vừa khạc nhổ vào người chàng trai kia.
Sau màn ra mắt đầy đau đớn, hắn trở thành con chó sai vặt của bọn tù cũ cùng phòng. Sáng ra phải dọn dẹp hết giường chiếu và những thứ dơ bẩn tụi nó bày ra. Công việc công ích hắn một mình làm cho năm người. Cơm ăn lúc có lúc không, chúng thích thì chúng để yên cho ăn, chúng ghét thì chúng đạp đổ. Khay cơm thì rửa lần bốn năm chục cái cho cả những tên tù nhân khác. Thân thể trở thành nơi cho bọn đó khạc nhổ, chà đạp, hành hạ. Nhưng hắn vẫn không dám kêu la. Hắn nghĩ là hắn đang chịu sự trừng phạt từ ông trời. Đời này hắn đã quá dơ bẩn, đến hắn còn tự ghê tởm bản thân mình. Bây giờ thì hắn phải cắn răng chịu cảnh bị cười nhạo, bị chế giễu, bị đem ra làm trò đùa cho thiên hạ. Đó là sự trừng phạt cho hắn, như vậy mới công bằng với những người hắn đã hại.
- Dọn phòng đi!- Tên tù nhân mập đấy lại tới- “Hưng lão đại” sắp tới rồi. Cái phòng này mà không sạch thì mày nhừ xương với đại ca.
Hắn chẳng nói gì, chậm chạp nâng người dậy đi dọn dẹp phòng. Hắn dọn sạch sẽ, sạch sẽ đến khó tin là một đứa con trai lại có thể gọn gàng hơn như vậy nữa. Tay hắn run run, đôi chân lê từng bước mệt nhoài đến gần bàn ăn, xin phần cơm của mình. Nhận khay cơm xong, hắn toan bước đi thì:
- Này, trông mày làm được nhiều việc như vậy chắc không cần phải ăn thịt đâu, đưa đây cho tao!- Tên ốm ốm cùng phòng tiến tới lấy đi khay cơm của hắn và đưa lại cho hắn một khay cơm trắng. Hắn vẫn im lặng nhận lấy. Rồi hắn đi ra phía góc trong cùng của nhà ăn mà ngồi. 
- Này, ăn xong chưa, đi rửa hết khay chén dĩa của tụi tao đi!- Một tên tù nhân nào đó lên tiếng. 
Hắn ngồi đó, còn bọn chúng thì từng đứa một đến ném khay cho hắn. Cái trúng đầu, cái trúng mặt...  đồ ăn thừa bắn tung tóe. Hắn ăn nốt miếng cơm trắng cuối cùng rồi đứng lên nhặt từng cái khay và bê hết đi thẳng ra chỗ vòi nước. Hắn không hề lên tiếng phản bác hay chống chọi với tụi tù nhân cũ bất cứ việc gì, ai cũng nghĩ rằng hắn không nói được nên gọi hắn là là “thằng câm”. Ngày lại ngày trôi qua cứ như thế, một mình hắn bé nhỏ gầy yếu phải làm hết phần việc của tất cả người trong phòng, ngày nào cũng bị đấm đá đến thảm thương. Những hắn vẫn im lặng. Vì hắn im lặng nên chúng càng lấn tới, càng đánh đập nhiều hơn và bắt hắn phải tự chịu mọi thứ. Không ít lần người ta nhìn thấy hắn với thương tích đầy mình lết đi xin thuốc. Nhưng cũng chẳng ai dám can thiệp. Vì đây là nhà tù mà, bọn chúng toàn là những tay anh chị, những tên tử tù đợi ngày chết. Chúng có hề sợ ai.
* * *
- Số 77392, có người gặp.- Viên cai tù hét lớn.
- Đang bữa cơm trưa, sếp làm gì la toáng lên thế!- Tiếng trầm khàn của tên Hưng lão đại. 
- Không phải việc của mày, ai là 77392, có người gặp.
- Ê thằng câm, nó gọi mày đấy!- Một tên nào đó lên tiếng.
Có ai như hắn, người ta bảo câm thì nghe còn người ta nói tới mình mà dùng cách khác thì cũng chẳng biết. Số áo của mình hắn còn chẳng biết. 
Hắn cúi nhìn áo một phút rồi đứng lên lủi thủi đi theo tên cai ngục. Hơn ba tháng rồi, cũng quen dần với lối sống trong cái xã hội thu nhỏ này. Nhưng hắn vẫn chưa nghĩ ra là ai? Là ai mà lại đến thăm hắn lúc này. Ba mẹ thì qua đời từ khi hắn mới 12. Dì hắn nhận nuôi hắn. Nhưng người ta bảo dì hắn chịu nuôi hắn là vì số tiền của ba mẹ hắn để lại quá nhiều. Chẳng cách nào chiếm đoạt nên bà ta nuôi hắn để bào dần đống tiền đó. Bởi vậy nên bà có tốt lành gì với hắn đâu. Từ nhỏ đã chẳng được quan tâm, dạy dỗ. Lớn lên thì hắn theo bè theo bạn tập tành gây gỗ, đâm chém nhau. Vài lần bị bắt vì ăn trộm, vài lần bị người ta đuổi bắt vì quỵt tiền... Cũng vài ba lần đi trại giáo dưỡng mà cũng chẳng khá hơn được.
Vừa đi vừa suy nghĩ, bước chân của hắn có vẻ nặng nề đầy đau thương, mệt mỏi đi đến tới phòng chờ. Đập vào mắt hắn là một người linh mục, người mà hắn đã từng lãng quên trong quá khứ và nghĩ sẽ không còn thân quen gì nữa. Nhìn chiếc áo chùng đen tinh tuyền, thứ đã từng là một ước mơ, một hy vọng cả đời của hắn. Đôi mắt sâu trũng xẹt qua một tia tiếc nuối…
- Con ơi, con sao rồi, ở có quen không, họ có bắt nạt con khổng hả con?- Cha xứ lao vào hết nắm tay lại xoay người hắn. Hắn nhìn thấy trên vai áo của cha còn đọng vài giọt sương mới sớm, quay đầu đi hắn cảm thấy đôi mắt của mình cũng đẫm sương.
Cảm xúc vỡ òa, hắn nhìn cha xứ rồi chợt lao mình đến nằm sấp xuống, một tay ôm chân cha, một tay đấm thụp thụp vào ngực mình.
- Cha ơi, con sai rồi... Con sai rồi... Con đáng lẽ phải biết nghe lời cha.- Hắn thút thít như một đứa bé, nước mắt cứ tuôn dài, tuôn dài.
Cha xứ vội vàng đeo một tràng chuỗi vào tay hắn: “ Đọc kinh đi con”.
Hắn nhìn chằm chằm vào sợi chuỗi óng ánh trên tay rồi nhìn lại thân phận mình. Hắn đã làm biết bao nhiêu điều xấu xa, tội lỗi. Hắn còn mặt mũi nào mà được đeo sợi chuỗi ấy. Hắn định toan trả lại, nhưng không biết điều gì khiến hắn cứ ngập ngừng mãi. Hắn cũng muốn được tha tội, hắn cũng muốn được ăn năn, hắn cũng muốn được nhẹ lòng dù chỉ một chút thôi. Hắn bắt đầu làm dấu đọc kinh. Hắn đọc kinh ăn năn tội. chỉ mỗi một kinh ăn năn tội mà hắn đọc đi đọc lại cả chục lần. Vị linh mục nhẹ nhàng vuốt vai hắn:
- Giờ cha giải tội cho con. Con xét mình đi nhé.
- Không. Không được! Tội lỗi của con quá lớn... Thiên Chúa sẽ không còn muốn chấp nhận con nữa, tội lỗi của con... con... 
- Như cha đã từng nói, Thiên Chúa là một người đầy tình yêu, Thiên Chúa là tình yêu, cớ vì sao mà con lại muốn chối bỏ Ngài? Chỉ cần con có thể buông những đam mê xác thịt, một lòng hướng thiện thì chính Thiên Chúa sẽ không bao giờ buông bỏ con.
Hắn muốn được tha tội, dù là ai đi nữa hắn chỉ xin người ta đừng oán hận hắn, xin người ta đừng trù dập hắn. Lời của cha xứ như ánh sáng chiếu rọi vào cuộc đời tăm tối của hắn, hắn bắt đầu xét mình. Rất lâu... rất lâu rồi hắn mới có khoảng thời gian bình lặng như vậy. ngẫm nghĩ về cuộc đời mình. Cuộc đời này, hắn đã sai quá. Mọi điều hắn làm đều xấu xa, bỉ ổi, độc ác. Hắn đau buồn, hắn muốn từ bỏ hết, hắn muốn làm lại cuộc đời này. Hắn bật khóc trong im lặng. Hắn cứ ngồi đó, mắt đăm chiêu nhìn vào sợi chuỗi mà nước mắt chảy ra không ngừng. Rồi hắn cũng sẵn sàng đễ xưng tội.
Hắn đứng dậy, phủi phủi bộ quần áo tù nhân và run run bước về phía cha sở. Lại một lần nữa hắn quỳ sụp xuống gào thét trong nước mắt:
- Thưa cha con xưng tội đã được 5 năm, xin cha làm phép lành cho con. Con đã phạm tội giết người thưa cha... Con đã phạm tội giết người... 
Hắn cứ khóc rồi lặp đi lặp lại tội lỗi của hắn. Từ những cái chửi nhau ở ngoài đường đến cái đánh đấm trong trường học, hắn đều kể ra. Hắn tự kể tội mình. Hắn vạch trần mình sạch sẽ trước mặt cha, trước mặt Chúa... 
- Bất cứ lúc nào con quay lại thì Thiên Chúa vẫn luôn chờ đợi con.- Vị linh mục ôn tồn.
Hắn vui mừng bước về trong sung sướng, trên tay còn cầm một bịch thức ăn mà cha xứ gửi cho mình. Những bước chân như nhanh hơn, vui hơn. Trên miệng luôn mỉm cười... 
- Mày có thứ gì trên tay đó?- Nói rồi một tên lao đến đoạt cái chuỗi trong tay hắn. Vội đưa tay tới giằng lấy cái chuỗi, tên “lão đại” bước tới và đạp vào bụng hắn một cái thật đau. Hắn thả tay ra và ôm lấy bụng, cũng nhanh chóng đẩy túi thức ăn đưa tới cho lũ người kia.
- Mày muốn đổi hả?- Một trong số đó lên tiếng.
Hắn gật gật đầu. Tên đó bước qua kiểm tra túi thức ăn sau đó đem chia cho mọi người trong phòng, đồng thời một tên khác cũng ném cái chuỗi qua cho hắn. Hắn nhận lấy cái chuỗi cầm nâng niu mà lau chùi sạch sẽ... Đám người kia nhìn hắn cười cợt.


(Mã số 18-131)
Lâu lắm, hôm nay anh mới thấy tâm hồn bình an trở lại. Ngồi trong nhà nguyện đã hơn năm giờ mà anh cứ ngỡ mới vào, ngôi nhà nguyện rộng, tĩnh lặng, chỉ có một mình, nhưng anh thấy rất ấm áp. Những tia nắng chiều len lỏi xuyên qua lớp kính màu của vuông cửa sổ, chiếu vào lòng nhà nguyện, tạo nên những giọt nắng nhảy múa trước Nhà Tạm. Một cơn gió lướt qua, lật tung những trang Kinh Thánh anh đang mở đặt trên chiếc bàn quỳ. Anh cúi xuống định gấp cuốn sách lại thì gặp ngay đoạn Kinh Thánh Ga 8,1-11. Chầm chậm đọc từng câu cho đến khi đọc hết đoạn Tin Mừng, hình ảnh người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình làm anh nhớ đến người vợ của mình, anh lại khóc, nhưng đây không còn là giọt nước mắt của ghen tức, của thù hận, nhưng là giọt nước mắt của tình yêu và thứ tha.
Chưa bao giờ anh đọc đoạn Tin Mừng mà thấy nó hay và ý nghĩa như lúc này, không phải vì khung cảnh đoạn Tin Mừng giống với khung cảnh vợ anh bị người ta đánh ghen, mà vì anh đã đọc ra được tình thương và sự tha thứ của Chúa. Anh cảm động trước tấm lòng bao dung, nhân từ của Ngài, cho dù “Đời” bỏ rơi và đánh đuổi người phụ nữ đến tả tơi, bầm dập; thì Chúa vẫn đón nhận, yêu thương và sẵn lòng tha thứ. Anh lại nhớ đến câu Kinh Thánh: “Cho dù cha mẹ có bỏ con, thì vẫn còn có Chúa đón nhận con”. Nhìn lại mình, anh thấy hổ thẹn vì đã hèn nhát bỏ rơi người vợ tội nghiệp trong lúc chị cần đến anh nhất. 
Hôm đó, chứng kiến cảnh vợ bị người ta giằng ném, quăng quật trên nền đất, quần áo bị xé rách tả tơi, thay vì bao bọc chị như Chúa Giêsu đã bênh vực người phụ nữ thì anh lại bỏ đi trước đám đông đang hiếu kỳ, hừng hực, trút cơn giận dữ xuống tấm thân bé nhỏ của vợ. Không hiểu sao lúc đó anh không thấy động lòng mà chỉ thấy giận dữ, sự ghen tuông sôi sục trong lòng làm anh trở nên ích kỷ. Anh không còn muốn nhìn thấy chị, muốn chị biến khỏi cuộc đời anh... Nhưng khi chị bỏ đi, anh lại thấy đau khổ, mất mát. Anh sống trong dằn vặt, giằng co giữa việc tha thứ và thù hận. Chính trong đau khổ ấy, anh đã tìm đến với Chúa.


(Mã số 18-129)
- Mẹ tôi bỏ nhà đi là do cô, cô đúng là đồ thất hứa, bất nhân...
Mẹ chồng tôi là một Phật tử mộ đạo. Bà là người hiền lành và có tấm lòng nhân ái, nhưng bà không mặn mà gì đối với đạo Công giáo. Bởi vì bà có hai người con trai, và bà muốn con bà trở thành một Phật tử để tiếp nối công việc lưu giữ bàn thờ kính Phật Thích Ca như bà đang làm. Thế nhưng, con trai lớn của bà kết hôn với một người Công giáo, và không lâu sau, bất chấp lời ngăm đe của bà, anh ta quyết định gia nhập đạo Công giáo. Kể từ đó, sự ác cảm của bà dành cho Công giáo ngày càng lớn dần lên. 
Thời gian cứ thế trôi đi, mẹ chồng tôi không còn trông mong gì nơi người con trai lớn, nhưng bà đặt hết hy vọng nơi người con trai út. Vì thế, ngày ngày bà tận tâm tận lực giáo dục con trai út của bà bước theo con đường của một Phật tử chân chính. Người con trai út đó chính là chồng tôi, anh tên Hùng.


“BÔNG HỒNG NHỎ”, MỘT TUYỂN TẬP THƠ VĂN CHO THIẾU NIÊN-NHI ĐỒNG

Thưa quý độc giả và quý tác giả,
Ba năm trước ngày phát động cuộc thi truyện ngắn “Giải Viết Văn Đường Trường”, Ban Văn hóa Giáo phận Qui Nhơn chúng tôi đã tổ chức một Giải văn thơ hằng năm cho các bạn trẻ ở độ tuổi Chương trình Giáo lý Phổ thông thuộc Giáo phận Qui Nhơn, với tên gọi: Giải Văn thơ Linh mục Đặng Đức Tuấn. Các em đạt giải mỗi năm được quy tụ thành một câu lạc bộ luyện văn, bên cạnh đó là tập hợp sáng tác của các em để cho ra đời một nội san in vi tính mang tên Hoa Biển. Giải văn thơ dành cho các bạn nhỏ này cũng nhằm hướng tới Năm thánh 2018 của Giáo phận. 
Vào dịp Hội trại trao giải Đặng Đức Tuấn sắp tới, cũng là lần tổ chức giải cuối cùng để chuyển sang những chương trình mới, sẽ phát hành Hoa Biển số cuối, số 30. Sau đó, chúng tôi sẽ tập trung chuẩn bị để kịp phát hành số đầu tuyển tập Bông Hồng Nhỏ, dành cho Thiếu niên và Nhi đồng vào Mùa Vọng 2018.


(Mã số 18-126)
Mặt trời đã nằm sẵn trên đường chân trời nhưng chưa vội lặn. Người ta có thể nhìn thấy nó to như một chiếc nong lớn, nhuộm màu đỏ rực. Ánh sáng của nó làm đỏ bừng cả một vùng trời, kéo dài trên cánh đồng đã gặt sạch lúa. Ít tia sáng yếu ớt chiếu thẳng vào khuôn mặt Giuđa Itcariốt, làm hiện rõ những nét đau khổ tột cùng. Nước mắt đã dần cạn, vài giọt còn sót lại, từ từ chảy trên gò má gầy sạm và rơi xuống đất. Giuđa vẫn cứ đứng im hướng về mặt trời, hai mắt nhắm lại, cay sè sau khi đã trút hết những giọt nước mắt cuối cùng. Lúc sau, anh quay người lại, bước chân lên tảng đá đã kê sẵn, hai tay run run nắm lấy dây thòng lọng đã cột chặt vào cành cây sung, từ từ đưa vào cổ của mình. Cái dây oan nghiệt này sẽ giúp anh kết thúc cuộc đời tội lỗi của mình: “Một người môn đệ dám bán rẻ Thầy mình cho quân dữ”.


(Mã số 18-125)
Cơn gió bấc thổi mạnh, xô cánh cửa nhà nguyện dập ra dập vào nghe chát tai. Chánh lật đật chạy từ căn nhà bếp ra nhà nguyện để đóng cánh cửa. “Chà, sắp mưa rồi đó!”. Tụi nhỏ đang chơi trước sân nhà nguyện thấy trời sắp mưa liền chạy về tán loạn, kêu réo inh ỏi như giặc sắp đến. Chánh nhặt từng lá bài mà tụi nhỏ hất văng tứ tung, chậc lưỡi: “Giới trẻ mà lao vào trò này thì hỏng hết!”. Anh nhớ lại một thời sống chết với những là bài này.
* * *
Khắp Sài thành, phàm là dân chuyên đánh bài đều biết đến tên anh: Chín Sảnh. Thật ra anh tên là Chánh. Cha mẹ mất sớm, anh ở với ông Dượng. Suốt ngày anh cứ lông ngông ngoài đường, sáng xỉn chiều say nên tên anh gọi là Chánh Xỉn. Về sau, khi bước chân vào con đường cờ bạc, đàn em của anh đã đổi biệt hiệu cho đại ca thành Chín Sảnh, vừa có nghĩa là tay tốt bài, vừa có nghĩa là nhà cửa của anh có tới chín căn lận. Anh lấy làm khoái chí, khen đàn em có óc sáng tạo. Có được tiền đồ như ngày hôm nay, anh đã nhờ vào mấy ngón bài mà anh đã học được, cùng với vận may giúp anh dần dần trở thành chủ của một sòng bài. Theo cái nghề này thì làm ăn nhanh có, nhưng bại sản có thể trong một sớm một chiều nếu không biết cách bám trụ. “Nhân nhượng với đối thủ là tàn nhẫn với bản thân”, anh vẫn thường dạy cho đàn em bài học đó. Cho nên anh tìm cách loại trừ dần những sòng bài khác cạnh tranh việc làm ăn với anh. Muốn yên với chính quyền, anh cũng “đi đêm” với các sếp lớn, nhờ đó công việc làm ăn của anh được ổn định và địa bàn ngày càng mở rộng ra.


(Mã số 18-124)
Ánh trăng nhạt nhẽo in cái bóng của cành lá đung đưa lên mảng tường giống như bóng của một con quỷ đang thập thò. Đó là chút ánh sáng duy nhất của cả dãy phòng tối om, tối đến nỗi mà người ta cảm giác có thể sờ được bóng tối. Cần gì phải tiết kiệm đến thế. Cần lắm một ngọn đèn hay một bóng điện thì không gian sẽ bớt nghẹt thở hơn thế này. Tại sao lại không thêm ánh sáng ở nơi dành cho những người sống trong bóng tối? Nhủ thầm cho đỡ tức thôi, chứ biết là chẳng làm được gì. Vì mình là tù nhân, vì nơi đây là nhà tù.
Căn phòng chật ních chứa mười mấy người. Tiếng dế cứ vang từng chập, rồi lại im thin thít. Tiếng rên của thằng Giang cũng đều đều như thế. Hồi chiều nó bị tụi thằng Thiện đập cho nhừ cái thân chỉ vì cái tội không vâng lời. “Chú mày phải biết cái luật này: cá lớn thì nuốt cá bé, đừng có mà nghênh mặt với lũ này nhé!”. Tưởng bài học gì xa lạ lắm, ngoài đời người ta vẫn đối xử với nhau theo luật này. Ngoài đời thì tranh nhau tiền tài, danh vọng còn trong này choảng nhau cũng vì chút quyền lợi hơn thua, vì ít đồ mà người nhà ở bên ngoài gởi vào. Thằng Giang bị no đòn cũng vì cái tội giấu giếm mấy gói thuốc lá mà chị nó hồi chiều gởi vào. Chẳng biết kêu ai, trách ai. Đời là thế!
Hay là do đói quá, khổ quá nên mới sinh chuyện tranh giành nhau như thế. Ở một xã hội phát triển, dư đầy cơm gạo chắc chẳng gặp những chuyện lôi thôi này. Không biết người ta sao chứ tôi bị nhốt ở đây cũng vì nghèo đói mà ra cả. Sau năm 1975, nhà cửa, ruộng vườn của tôi đều được đưa vào của chung hết. Thời thế đến bất ngờ quá nên trong nhà chẳng còn trữ được gì đáng giá. Cả ngày hai vợ chồng cứ phơi thây ngoài đồng để mong có được vài điểm từ hợp tác xã. Thương mẹ già, xót xa vợ hiền nên tôi không đành chấp nhận số phận. Đêm đến, hai vợ chồng tôi mon men đến cái sân lúa to đùng mới gặt về chiều nay. Vào được 2 bao lúa, rồi cứ thế, tôi một bao lớn, vợ một bao nhỏ, hai cái bóng đen lao thăn thoắt trong màn đêm tĩnh mịch về nhà. Nhiều lần trót lọt, cho đến cái hôm, khi hai vợ chồng tôi chỉ vừa kịp đặt chân đến cái sân lúa, thì một bóng đen lù lù ở đâu nhào tới, sủa ác úa. Con becgiê lao tới tấn công tôi. Tôi chỉ kịp bảo vợ vứt bao lúa chạy đi, rồi lăn xả vật lộn với con vật hung dữ đó. Nghe tiếng chó sủa, ông thủ kho hợp tác xã cùng mấy người nữa ập đến. Nghèo rồi mà lại gặp cái eo! Chỉ là trộm vài bao lúa nhưng để cảnh cáo những ai có ý định lười biếng lao động, ăn cắp của chung, nên tôi bị nộp cho công an, đưa ra tòa án, rồi được gởi vào trại giam này nhằm cải tạo để trở thành một công dân tốt. Chỉ tội nghiệp cho mẹ và vợ phải tự nuôi thân.
Nghĩ lại thấy mình cũng chưa phải là bất hạnh nhất ở đây. Ít ra là vẫn còn hơn thằng Giang hay bị đánh đập và cũng hơn cái người đang ở xà lim cuối dãy hành lang đằng kia. Nghe nói hắn ta đã phạm một tội gì nặng lắm, đang bị biệt giam chờ ngày xét xử. Tôi thì cố gắng sống qua ngày, chỉ vài tháng nữa thôi là được trả tự do, được về với mẹ già và vợ hiền. Nghĩ đến đó, tôi thấy một tia sáng hy vọng lóe lên trong cái phòng u uất này.


(Mã số 18-123)
Chị đến nhà thờ thì trời đã tối sẫm. Lúc đặt chân đến vùng núi rừng trùng điệp này, chị không nghĩ ở đây lại có sự hiện diện của một ngôi nhà thờ nhỏ. Ban đầu chị không có ý định ghé thăm bất cứ địa danh nào ở cái nơi xa lạ mà lần đầu chị tìm tới, bởi trong tâm tưởng của chị chỉ có một mong muốn duy nhất là tìm đến cái chết, điều mà chị đã nhen nhóm từ trước khi bắt đầu cuộc khởi hành. Chị đã hình dung ra cảnh tượng cơ thể mình lao xuống vực và nằm bất động ở đó, và nếu không có gì thay đổi thì có lẽ cũng chẳng ai biết đến cái chết của một người phụ nữ xa lạ như chị nơi xó núi heo hút này. Một cái chết âm thầm. Nhưng rồi hình ảnh của ngôi nhà thờ nằm trên con đường chông chênh đá sỏi gồ ghề đã thôi thúc chị, như một bản năng còn sót lại của một người Kitô hữu khi đối diện trước ngưỡng cửa cuộc đời.
Chị đến tìm Cha và bảo rằng mình muốn xưng tội. Cha nhìn chị ngạc nhiên quá đỗi, làm sao một cô gái nhỏ nhắn tìm đến nhà thờ vào lúc tối muộn chỉ với mong muốn được xưng tội? Rất điềm nhiên, cha hỏi chị:
- Con không phải là người vùng này?
Chị lặng lẽ gật đầu, người chị như muốn lả đi. Theo lộ trình trong trí nhớ, chị leo lên một chiếc xe đò chạy dọc theo tỉnh lộ Đường Trường đến vùng núi này thì xuống xe. Rồi chị cuốc bộ một quãng dài đến lưng chừng núi, chị cố gắng tìm kiếm một nơi thật vắng vẻ cho cái chết của mình. Chị không muốn phiền lụy ai, chị đã suy tính rất kĩ lưỡng mọi chuyện. Người ta tưởng chị đến đây một mình nhưng không, chị còn mang theo một sinh linh bé bỏng trong bụng. Đó dường như là một lộ trình hoàn hảo mà chị cố vạch ra nhưng cái thai khiến chị mệt nhoài. Lúc chị đứng nghỉ mệt ở một góc đường, cái thai không ngừng quẫy đạp không cho chị tiến bước. Chính lúc đó, chị rảo mắt nhìn về xa xăm và nhìn thấy một ngôi nhà thờ cùng ánh đèn leo lét, hình ảnh cây thập giá đập vào mắt khiến chị tỉnh ra và quên đi ý định ban đầu. Chị từng nhớ một câu trong giáo lý, “chính Thiên Chúa là Đấng ban sự sống và là Chủ tối thượng của sự sống, chúng ta là người quản lý chứ không phải là chủ của sự sống mà Chúa đã trao ban, do đó, chúng ta không có quyền định đoạt về mạng sống của mình”. Vậy mà suýt chút nữa chị đã phạm phải lệnh cấm của Thiên Chúa. Là đứa trẻ hay hình ảnh ngôi nhà thờ đã giúp chị nhận ra điều đó?


(Mã số 18-122)
Chuông nhà thờ đổ dài từng hồi rộn rã. Mười hai giờ trưa. 
- Chuông gì thế anh?- Hồng Yến đang rửa chén ngoài sân chợt ngoảnh lại hỏi chồng vẻ ngạc nhiên lắm, nhưng Minh chưa trả lời vợ.
Chưa kịp nhận được câu trả lời cô chợt thấy ngoài ngõ già trẻ lớn bé lục tục kéo nhau đi. Trong nhà, Minh đang phụ má đỡ cha ngồi dậy hướng ra cửa ngó lên nhà thờ. Dáng vẻ yếu ớt nhưng rất nghiêm trang của cha chồng làm Yến cũng nghiêm trang theo. 
- Chuông đọc kinh Truyền tin chung trong xứ đó con.- Giọng bà Sáu ấm áp vang lên.
- Hồi cha còn khỏe, cha với má giờ này cũng hay lên nhà thờ lắm đó mình. - Minh tiếp lời má như để bồi đắp thêm cho sự ngạc nhiên của vợ. 
* * *
Về làm dâu mới ba bốn tháng mà Yến ốm bớt vài kí lô, lại còn chịu nhiều điều tiếng thua thiệt nữa chứ. Tình cảnh hiện thời của cô ai không biết cũng bảo “chó chui gầm chạn rồi”. Như mới hôm qua lên xóm trên mua đồ ăn sáng cho cha má chồng, cô nghe người ta xì xầm bàn tán. Nào là con nhỏ đó bị khùng... đang yên đang lành, con gái thành phố có học hành sao lại chịu về làm dâu cái xứ khỉ ho cò gáy này... Hay là nó có chửa trước... hay là... Yến nghe hết, biết hết, nhìn ánh mắt dòm ngó soi mói của họ làm máu nóng trong cô dồn dập, nhưng cô cũng kịp thời trấn an mình.
Hôm qua cha cô đánh điện xuống nói cô về gấp vì má cô bị bịnh nặng. Thiệt tình cô biết cha cô chỉ lấy cớ kêu cô về lại Sài Gòn chớ má cô chẳng bịnh đau gì. Ngày cô xách giỏ theo Minh về dưới miệt dưới thì cha má cô cũng từ mặt, nhưng cô biết cha má còn thương cô lung lắm. Dù gì với gia cảnh bề thế của tiệm buôn kim hoàn Mi Hồng trên phố Bùi Hữu Nghĩa Sài Gòn thì cha má cô cũng ưng cho cô mấy mối môn đăng hộ đối, nhưng cô kiên quyết từ chối chỉ để yêu Minh và hơn thế nữa. Nhưng nguyên do cha má cô từ mặt không nằm ở chuyện cô cãi cha má để yêu Minh... 


(Mã số 18-120)
Hè đã về thật rồi… Dù đã về nhà nghỉ hè được hơn một tuần, hôm nay, Sơn mới cảm nhận rõ mùa hè nơi làng quê quen thuộc. Chưa cần nghe tiếng chuông báo hiệu thánh lễ bốn giờ sáng, Sơn đã bị đánh thức bởi tiếng ve inh ỏi. Tiếng ve ấy mỗi ngày một rõ khi những bước chân của Sơn tiến gần hơn đến cổng nhà thờ xứ, nơi có hai cây hoa sữa cao hơn cột điện của làng. Ngày xưa, thời Sơn còn đi học xưng tội rước lễ lần đầu, cái cây hoa sữa này mới cao bằng nửa bức tường dãy phòng giáo lý cấp bốn, có một cành nằm ngang vừa tầm với của một đứa trẻ như Sơn. Vì thế, cành cây này là chiếc xà đơn lý tưởng để Sơn đu lên cây hít thở, hít thở. Hồi đó, khuôn viên này bình yên và tĩnh mịch lắm, có nhiều cây và hoa, có những vườn cỏ mà mỗi Chúa nhật Sơn và các bạn lớp giáo lý thường đến để cắt tỉa và quét dọn. Còn bây giờ, sau hơn một thập kỉ, khu đất này bị thay đổi liên tục và chóng mặt qua nhiều đời cha sở. Cha này đến chặt mấy hàng nhãn để mở rộng nhà xứ; cha khác tới cho xây bể nuôi cá và làm thêm cái ga-ra ô tô; cha khác nữa về lại lấp hồ cá làm sân cho giáo dân đậu xe, cha nữa thì xây thêm mấy cái chòi để đám trẻ đi nhà thờ ra có chỗ nói chuyện, hội họp. Chỉ có hai cây hoa sữa đặt ngay trước cổng nhà thờ là không bị chặt đổ hay di dời, nhưng nay nó đã lớn lắm rồi, chẳng còn có cành xà đơn lý tưởng cho Sơn hít thở. Tán của hai cây hoa này tỏa rợp và trở thành tổ của “ca đoàn ve sầu mùa hạ”, trung tâm điểm của tiếng ồn lúc canh khuya. 
Thánh lễ sáng kết thúc. Trời vẫn còn tờ mờ, chưa rạng hẳn. Có nhiều người đang ngồi lại trong nhà thờ cầu nguyện, nhiều nhất là các ông bà Hội Légio và các em nhỏ lớp ơn gọi. Sơn cũng ngồi lại một góc cuối nhà thờ, gần cái tòa giải tội của cha tiền nhiệm để lại. Tòa giải tội này được thiết kế như một ngôi nhà sang trọng có mái che, làm bằng gỗ sồi, có lẽ đắt tiền lắm. Nhìn tòa giải tội, nhìn lên Thánh Thể Chúa, Sơn lại suy nghĩ về ơn gọi và lý tưởng của mình. Liệu có nên tiếp tục theo đuổi mơ ước trở thành một Linh mục giáo phận, để làm “nghề chăn chiên” như Chúa Giê-su? Chỉ còn ba tuần nữa thôi là diễn ra kì thi vào Đại Chủng Viện. Đơn đăng kí dự thi thì đã nộp, nhưng sau một năm giúp xứ và nhiều lần chứng kiến đời sống và cách hành xử của các Linh mục, Sơn vấp ngã. Giờ này, tâm trí Sơn cũng ồn ào như tiếng ve ngoài kia. Càng cố tĩnh lặng, những hình ảnh trong đầu lại hiện ra trước mắt.
- Quân khốn nạn!... 
Được tạo bởi Blogger.