Bàn thờ ở các gia đình Công giáo


Tôi có nhiều dịp thăm các gia đình người công giáo Châu Âu. Điều khiến tôi ngạc nhiên là nhà họ không có bàn thờ như ở các gia đình Việt Nam. Với họ, bàn thờ chỉ có ở những nơi thờ phượng như nhà thờ hoặc nhà nguyện. Và họ cũng không cầu nguyện tại tư gia như các gia đình Việt Nam, đọc kinh sớm tối.

Tuy nhiên, khi đạo Công giáo từ Châu Âu đến Việt Nam (khoảng 1615), các nhà truyền giáo đã rất khéo léo hội nhập và “rửa tội” cho những truyền thống con rồng cháu tiên. Một trong những nét đẹp ấy phải kể đến: bàn thờ ở mỗi gia đình.


TM CN C Thường niên 30

Kiêu Căng & Khiêm Hạ

(Cảm nhận từ Lc 18. 9-14)


Người biệt phái và người thu thuế
Theo dụ ngôn Chúa kể rõ ràng:
Trước bàn thờ Chúa cao quang
Người này đứng thẳng, hiên ngang nguyện rằng,
Tôi lạy Chúa, tôi hằng khấn giữ,
Không như người khác cứ tham lam,
Ngoại tình, bất chính tràn lan,
Và tên thu thuế chuyên gian mọi ngày.

Mỗi tuần lễ ăn chay hai bữa,
Dâng phần mười hoa lợi thu về
Tôi dâng tiếp tục kể chi,
Miễn là việc thiện mọi bề hanh thông…
- Người thu thuế một lòng khiêm tốn,
Đứng xa xa đầu cúi thật sâu
Khấn rằng: Lạy Chúa nhiệm mầu,
Xin thương tha tội, con hầu sạch trong…
Dụ ngôn kể vừa xong, Chúa phán:
Tội người này ắt hẳn được tha,
Còn, vô phúc cho người kia,
Vì lòng kiêu ngạo chẳng hề ai thương.

Tiếng Mỹ và tiếng Việt



Tôi tình cờ quen một anh bạn Mỹ, người Mỹ chính cống, mắt xanh mũi lõ, tên Johnson William, quê ở bang Ohio của xứ Cờ Hoa nhưng Johnson đã hơn 16 năm sinh sống ở Việt Nam, nghiên cứu về dân tộc học Ðông Nam Á, nói tiếng Việt thông thạo, phát âm theo giọng Hà Nội khá rõ, hắn học tiếng ở Ðại học Ngoại ngữ Hà Nội rồi làm Master of Art về văn hóa xã hội Việt Nam ở học Khoa học Tự nhiên Sài gòn, rành lịch sử Việt Nam, thuộc nhiều câu thơ lục bát trong truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Ðồ Chiểu. 
Johnson ăn mặc xuềnh xoàng, cái đầu rối bù, chân mang một đôi giày bata cũ mèm, lưng quảy một ba lô lếch thếch, sẵn sàng ăn uống nhồm nhoàm ngoài vỉa hè. Johnson có thể quanh năm suốt tháng ăn cơm với chuối thay cho bánh mì và phomát, xịt nước tương vào chén rồi cứ thế mà khua đũa lùa cơm vào miệng. Ðối với Johnson, thịt rùa, rắn, ếch, nhái, chuột đồng, … hắn xơi ngon lành. Bún riêu là món khoái khẩu của Johnson, hắn còn biết thèm hột vịt lộn ăn với rau răm chấm muối tiêu chanh. Ai có mời đi chén thịt cầy với mắm tôm, Johnson chẳng ngần ngại mà còn biết vỗ đùi đánh cái phét khen rượu đế mà nhắm với thịt chó ngon “thần sầu quỉ khốc” !!! Chẳng biết Johnson khéo tán tỉnh thế nào (hoặc bị tán) mà vớ được một cô bé Hà thành tóc “đờ-mi gác-xông”, sinh viên ngành văn chương hẳn hoi. Ngày cưới, Johnson vận áo dài khăn đóng, dâng trầu cau và quì lạy bàn thờ tổ tiên nhà gái thành thạo làm đám thanh niên, thiếu nữ, cả lũ con nít và mấy ông cụ ông, cụ bà trong làng suýt xoa, kinh ngạc, xúm đen xúm đỏ coi muốn sập nhà.

Bà Năm ơi!

.
Vừa mở điện thoại lên thì mẹ nhắn tin báo: ‘ba nam mat roi, Teresa’. Lật đật gọi lại cho mẹ ngay hỏi về cái tin buồn bã đó. Thế là người cao niên nhất xóm tôi đã qua đời, người bà lớn nhất của dòng họ nội đã ra đi, người chăm nom đức tin cho tôi đã về với Chúa.

8 năm đi tu, những lần được về quê thật hiếm hoi, nhưng lần nào về, dù bận thế nào tôi cũng phải chạy qua thăm Bà Năm một chút. Trong thâm tâm, Bà Năm không chỉ là người trong dòng họ nhưng trên hết BÀ LÀ NGƯỜI CHĂM NOM ĐỨC TIN CỦA TÔI TỪ THUỞ BÉ. Tôi có thể nói như thế bởi vì Bà Năm hơn cả một cha xứ, hơn cả một giáo lý viên, bà là người cho tôi BIẾT GIỮ ĐẠO.
Được tạo bởi Blogger.