https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg




“Tết”- có lẽ không có từ nào ngắn gọn để diễn tả niềm vui trọn vẹn cho bằng chữ “Tết”. Tết là một truyền thống tốt đẹp của người dân Việt. Đây là dịp thuận lợi để người người gặp gỡ, nhà nhà sum vầy. Tết còn là dịp, là khoảng thời gian quí giá để mọi người dừng lại, sống giây phút báo hiếu cho ông bà, tổ tiên, giữa cuộc sống nhộn nhịp, đầy những lo toan. Nhưng năm nay, khi nói đến Tết, thiết nghĩ ai cũng có cảm xúc riêng về gia đình, bạn bè và quê hương, nhất là trước tình hình đại dịch Covid-19 tái bùng phát, lòng người con xa quê không khỏi bồn chồn xao xuyến.

Thuở còn bé, mỗi khi xuân về, tôi được sum vầy bên gia đình: có những bộ quần áo mới; được đi chơi chợ Tết; cùng bạn bè với thú vui nổ pháo diêm, đốt đèn lồng… Niềm vui chơi Tết của những năm tháng đầu đời đã thổi vào tâm hồn tôi biết bao kỷ niệm đẹp. Có những lúc tôi thẩn thơ một mình nghĩ lại và cảm thấy vui biết bao.

Thời gian trôi qua, tôi đã lớn lên và chắp cánh bay rời xa vòng tay ấm êm của gia đình. Tôi còn nhớ cái ngày đầu tiên rời xa gia đình yêu dấu của tôi: tôi cảm nhận một nỗi buồn man mác ùa vào trái tim tôi. Nỗi buồn và cảm giác nhớ nhà càng gia tăng khi những ngày Tết sắp về. Tôi nhớ ông bà, nhớ gia đình tôi, nhớ quê hương; nhớ bạn học cũ, nhớ bà con lối xóm; nhớ cô bé năm xưa cùng sinh hoạt Thiếu Nhi Thánh Thể…Nỗi nhớ đó vẫn mãi tiếp diễn trong cuộc đời của tôi nhất là khi Mùa Xuân mới lại đến trong khi đại dịch Covid-19 tái bùng phát trên quê hương.

Thấm thoắt, vậy mà hơn mười năm tôi rời xa quê, xa mái ấm gia đình. Mười năm, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu nhớ thương dễ sao kể hết! Trước khung cửa vòm của Chủng viện, những cơn gió cuối cùng của mùa đông đang thổi nhẹ như muốn an ủi tâm hồn tôi. Giữa một khung cảnh bình yên nơi Phát Diệm địa linh lòng tôi lại bâng khuâng nhớ về quê nhà.

Hình ảnh cánh đồng no nước đổ ải phía bên kia đường gợi lên trong lòng tôi nhớ cha mẹ đang vất vả ngoài ruộng vườn, để nhanh chóng đón Tết mà không còn lắng lo. Xa hơn một chút, tôi nhận ra biết bao người đang hối hả cho kịp đón Tết. Bầu không khí Tết đã ập đến cánh cửa Chủng viện. Lòng tôi lại thêm biết bao gợi nhớ, bật lên khúc ca quê hương, nhẹ nhàng mà êm ấm: “Đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh, nhớ núi Hồng Lĩnh, nhớ dòng sông Lam, nhớ biển rộng và quê ta…”

Lời bài hát nhắn nhủ ai xa quê thì hãy nhớ đến quê mình. Lời nhắn nhủ đó càng da diết trong lòng tôi.Bây giờ là một đại chủng sinh, tôi không chỉ nhớ đến quê hương, nơi đã sinh thành và dưỡng dục tôi mà tôi còn nhớ đến biết bao lời nhắn nhủ của mọi người. Bao nhiêu lời động viên của cha xứ, ông bà, bố mẹ, anh chị em trong gia đình. Tôi vẫn còn nhớ câu hỏi thăm của ông hàng xóm: “Khi mô mi được mặc áo dòng? Cố gắng tu rồi bữa mô cho cả làng ta được ăn mừng”. Những đứa bạn thân nay đã yên bề gia thất cũng không quên hỏi dò: “Tết ni mi có về không? Nếu được về thì nhớ vô nhà choa chơi Tết nha”.

Những lời yêu thương bình dân mà đượm tình yêu, làm tôi càng nhớ về quê hương hơn bao giờ hết. Tết quê hương tôi, không có linh đình trang trí cây cảnh, đèn nến lấp lánh như ở thành phố. Tết quê hương chỉ có bánh chưng xanh, thịt đông, hành muối, mùi trầm hương nồng tỏa khói cùng cây đào treo thêm ít bóng bay. Chỉ có thế thôi, nhưng Tết quê hương đẫm niềm vui và tình yêu sum vầy. Bầu không khí ấy lại lôi tôi về với quê hương, để cảm nghiệm, để kín múc, để đón nhận thêm động lực cho hành trình đời tu của tôi. Suy niệm đoạn Tin Mừng (Mc 4, 26-34), tôi lại nhớ và biết ơn bao nhiêu người âm thầm, ngày đêm gieo vãi hạt giống đức tin vào tâm hồn tôi.

Nhận lãnh thì phải biết cho đi. Tôi đã đón nhận rất nhiều từ quê hương và gia đình. Nay với vai trò là một chủng sinh năm tu đức, tôi sẽ đem gì về cho quê hương và gia đình trong Tết năm nay?! Đó là suy nghĩ mà tôi đã tự hỏi và trả lời: Tôi đã ở với Chúa “trên núi” trong thời gian qua, giờ đây tôi “xuống núi” thì phải mang theo niềm vui có Chúa về với gia đình, quê hương. Tôi sẽ sống tinh thần của Chúa; viếng thăm hàng xóm, nhất là những người già cả, nghèo khổ, cô đơn, bệnh tật. Hơn nữa, tôi muốn nội tâm hóa niềm vui của “Tết đất trời” để cùng chia sẻ, cảm thông với những người đón Tết xa quê, vì không có điều kiện trở về quê hay bị dịch bệnh ngăn chặn. Đặc biệt, là một chủng sinh, tôi luôn hướng về cái “Tết vĩnh cửu”. Tôi muốn hòa chung niềm vui Tết đất trời để đi tới niềm vui của Chúa Xuân. Đó là niềm vui mà tôi hằng kiếm tìm, đồng thời muốn chia sẻ cho mọi người. Ước mong sao, niềm vui của Tết Nguyên Đán, sẽ không làm phai nhạt đi niềm vui của “Tết vĩnh cửu” trong lòng tôi, nhưng hòa vào làm cho niềm vui của Chúa Xuân thêm sống động, để tôi dễ dàng sống và chia sẻ niềm vui đó cho mọi người.

Bầu không khí của những ngày Tết Nguyên Đán gợi lên trong tôi biết bao nỗi nhớ như thế. Nỗi nhớ nhung ấy khiến tôi mong muốn sớm được về quê đón Tết. Hơn nữa, Tết cũng làm cho tôi mong muốn có cơ hội hàn gắn, thắt chặt các mối tương quan: với gia đình, hàng xóm, bạn bè…Nhất là mang Tết đến cho mọi người trong lối xóm, trước hết là những người nghèo khổ, già cả cô đơn. Nhưng tôi chỉ sợ tình hình đại dịch có thể sẽ không cho phép tôi thực hiện được ước mơ nhỏ bé ấy. Dù sao đi nữa, bầu không khí Tết cũng giúp tôi cầu nguyện, quy hướng và suy nghĩ về niềm vui trọn vẹn trong Chúa Xuân nơi “Tết vĩnh cửu”. Đó là niềm vui và hạnh phúc mà mỗi Kitô hữu đang ngày đêm tìm kiếm. Ước mong niềm vui của Tết Nguyên Đán năm nay, sẽ đưa tôi đến mối tương quan của yêu thương với Thiên Chúa và tha nhân hầu tôi và mọi người được chung hưởng niềm vui của “Tết vĩnh cửu” ngay trong giây phút hiện tại này.


Một chủng sinh lớp Tu Đức








ẢO TƯỞNG MÌNH BẤT KHẢ XÂM PHẠM


Tác giả: Lm. Ronald Rolheiser, OMI

Cái gì không giết được ta sẽ làm ta mạnh hơn. Đây là câu châm ngôn thiện chí vốn không phải lúc nào cũng đúng. Đôi khi chúng ta gặp chuyện xấu, mà đâu có học được gì. Mong là thời gian tồi tệ hiện thời, dịch Covid-19, sẽ dạy cho chúng ta gì đó và khiến chúng ta mạnh mẽ hơn. Tôi mong rằng Covid-19 sẽ dạy chúng ta điều gì đó mà các thế hệ trước không cần ai dạy nhưng đã tự học được qua kinh nghiệm sống, cụ thể là, chúng ta không bất khả xâm phạm, chúng ta không được miễn trừ những nguy cơ bệnh tật, suy nhược và cái chết. Nói tóm lại, mọi điều thế giới đương đại có thể cho chúng ta về công nghệ, y học, dinh dưỡng và sự bảo đảm về mọi mặt, đâu có miễn trừ được cho chúng ta khỏi sự mỏng manh và dễ bị tổn thương. Covid-19 đã dạy cho chúng ta như thế. Như mọi con người khác sống trên địa cầu này, chúng ta đều dễ bị tổn thương.

Tôi đủ lớn tuổi để biết thế hệ trước, thời hầu hết mọi người sống cùng nhiều nỗi sợ, không phải mọi nỗi sợ đó đều lành mạnh, nhưng tất cả chúng đều rất thật. Cuộc sống quá mong manh. Sinh con có thể khiến người mẹ mất mạng. Một trận cúm, một con virus có thể đoạt mạng người, và chúng ta chẳng có mấy cách đương đầu với nó. Chúng ta có thể chết trẻ vì bệnh tim, ung thư, tiểu đường, vệ sinh kém, và hàng chục thứ khác. Thiên nhiên cũng là mối đe dọa. Những cơn bão, gió lốc, hạn hán, dịch hạch, sấm sét, tất cả chúng đều đáng sợ vì trước mặt chúng con người gần như bất lực. Người ta sống với ý thức rằng sinh mạng và sức khỏe rất mỏng manh, không phải là cái mặc nhiên.

Nhưng rồi, nhờ vắc-xin, kháng sinh, chất lượng bệnh viện và thuốc men cải thiện, sinh nở an toàn hơn, chế độ dinh dưỡng tốt hơn, nhà ở, đường xá, xe cộ, đủ thứ tốt hơn, bảo đảm hơn cho chúng ta trước tình cảnh mất việc, trước hạn hán, lụt bão, dịch bệnh hay bất kỳ thiên tai gì. Và cùng với đó là một ý thức ngày càng lớn rằng chúng ta an toàn, chúng ta được bảo vệ, khác hẳn với các thế hệ trước, chúng ta có thể tự lo cho mình, không còn yếu ớt dễ bị tổn thương như các thế hệ trước.

Và xét phần lớn, điều đó đúng, ít nhất là về phương diện sức khỏe và an toàn thể lý. Về nhiều mặt, chúng ta bớt yếu ớt hơn các thế hệ trước nhiều. Nhưng, như Covid-19 đã phơi bày rõ, đây không phải là chốn nương ẩn tuyệt đối an toàn. Dù cho có chối bỏ và phản kháng nhiều đến mấy, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng giờ chúng ta đang sống như những thế hệ trước mà thôi, nghĩa là không thể nào bảo đảm về sức khỏe và sự an toàn của mình. Giữa muôn vàn điều quái ác mà Covid-19 gây ra, nó cũng giúp chúng ta bỏ đi ảo tưởng về sự bất khả xâm phạm của mình. Chúng ta mỏng manh, dễ bị tổn thương, và khả tử.

Mới nghe qua, có vẻ chuyện này thật tệ, nhưng không đâu. Vỡ mộng chính là gạt bỏ đi một ảo tưởng sai lầm, và bấy lâu nay, chúng ta đã sống quá lâu, quá hăng hái trong một ảo tưởng, một vui thích giả tạo khiến chúng ta tin rằng các mối đe dọa thời trước sẽ không thể làm gì mình. Chúng ta đã quá sai rồi! Lúc tôi viết bài này, đã có hơn 70 triệu ca nhiễm Covid-19 trên toàn cầu, và hơn một triệu sáu người đã chết vì virus này. Hơn nữa, tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong cao nhất lại nằm ở các quốc gia mà chúng ta tưởng là vững vàng nhất, những quốc gia có bệnh viện tốt nhất và tiêu chuẩn y tế cao nhất. Đấy chính là hồi chuông cảnh tỉnh. Thế giới hiện đại và hậu hiện đại có thể đem lại cho chúng ta quá nhiều điều tốt đẹp, và dù nó có khiến chúng ta cảm thấy như nó có thể bảo vệ chúng ta khỏi tất cả, nhưng đến tận cùng, sự thật không phải vậy.

Covid-19 là thứ thay đổi tất cả, nó đã phá tan ảo tưởng về sự bất khả xâm phạm của chúng ta. Vậy trong chuyện này, có bài học gì để chúng ta rút ra? Nói tóm lại, thế hệ chúng ta phải chấp nhận vị trí của mình bên cạnh các thế hệ khác, công nhận rằng mình không thể xem sinh mạng, sức khỏe, gia đình, công việc, cộng đồng, đi lại, giải trí, tự do tụ tập, tự do đi nhà thờ, tất cả, là những thứ mặc nhiên. Covid-19 đã dạy cho chúng ta rằng chúng ta không phải là Chúa của sự sống và con người vẫn rất mỏng manh, kể cả trong thế giới hiện đại và hậu hiện đại đi nữa.

Thần học và triết học Kitô giáo kinh điển luôn dạy chúng ta rằng, là con người chúng ta không tự đủ. Chỉ có Thiên Chúa mới như thế. Chỉ có Thiên Chúa mới là “Hữu thể tự đủ” (Ipsum Esse Subsistens, trong thần học kinh điển). Còn chúng ta đều phụ thuộc vào may rủi, lệ thuộc, đồng lệ thuộc… và khả tử, đủ để phải sợ mỗi lần trở bệnh phải đi gặp bác sĩ. Các thế hệ trước, vì không có kiến thức y khoa, không có những bác sĩ và bệnh viện như chúng ta, không có tiêu chuẩn vệ sinh và thuốc men như chúng ta, không có vắc-xin và kháng sinh, nên họ cảm nhận được sự lệ thuộc may rủi của mình. Họ biết mình không tự đủ, và sinh mạng cũng như sức khỏe của họ không phải là điều mặc nhiên. Tôi chẳng ghen tỵ với họ về những nỗi sợ sai lầm đi kèm tâm thức này, nhưng tôi ghen tỵ với họ vì họ không sống với sự an toàn giả tạo. Thế giới đương thời đem lại cho chúng ta đủ điều tốt đẹp, nhưng cũng dẫn dụ chúng ta ngủ quên, vô ý thức, về sự mỏng manh, yếu đuối dễ tổn thương và khả tử của chúng ta. Covid-19 là tiếng chuông cảnh tỉnh, không chỉ cho sự thật rằng chúng ta yếu đuối dễ bị tổn thương, nhưng đặc biệt là cho sự thật rằng chúng ta không được xem những món quà quý giá là sức khỏe, gia đình, công việc, cộng đồng, đi lại, giải trí, tự do tụ tập và cả tự do đến nhà thờ, là những điều mặc nhiên.

Nguồn: ronrolheiser.com(14.12.2020)

WHD

 

CHỊ ANÊ NGUYỄN THỊ VÀNG ĐÃ VỀ VỚI CHÚA

Lại thêm một cây bút Công giáo từ giã chúng ta để về nhà Cha. Chị Vàng đã dành cả đời mình để phụng sự Chúa bằng cách gieo rắc hạt mầm văn chương cho các em nhỏ vùng cao.

Cả những lúc bi quan nhất của bệnh ung thư, hễ nghĩ tới công tác mục vụ văn hóa phục vụ thanh thiếu niên các dân tộc Tây Nguyên, chị lại thấy phấn khởi, hy vọng và xin Chúa chữa lành để tiếp tục rong ruổi chăm lo cho các em có được con chữ, câu văn, bài viết…


Chị chia sẻ: “Sau 21 năm lớn lên trong Dòng Thánh Phaolô, với 6 lần khấn tạm, chỉ còn 10 hôm nữa khấn trọn thì con rời nhà dòng. Con đã suy nghĩ và chọn dấn thân lo mục vụ văn hóa cho các em dân tộc. Đã có những thế hệ thừa sai dấn thân vào rừng sâu nước độc để chăm lo cho họ nhưng, ngày nay hình như mọi người đều bận rộn những công việc khác, cho nên con muốn mình không bị ràng buộc vì một cộng đoàn nào để luôn được tự do rong ruổi lo cho các em.” (Trích thư mùa vọng 2020 của Lm Trăng Thập Tự).

Xin kính cần tiễn biệt chị.

Xin phó thác linh hồn Anê vào Lòng Thương Xót của Chúa.

Lm. Trăng Thập Tự


Cách đây dăm năm, mang trong mình những hoài bão của tuổi trẻ, tôi quyết tâm bỏ học đại học để bắt đầu sự nghiệp của mình. Lúc ấy, mọi thứ đối với tôi đều rất mới. Chân ướt, chân ráo, tôi bước vào chốn Sài Gòn phồn hoa, bước vào cuộc sống đầy những khó khăn. Cảm giác lúc đó khiến tôi thích thú, tôi bước ra thế giới đó với niềm hăng say và đầy sự tự tin. Tôi chẳng mấy quan tâm đến những thứ xung quanh mình ngoại trừ sự nghiệp, nên tôi cũng không có quá nhiều mối quan hệ tình cảm. Có vẻ đó cũng là một phần tôi cảm thấy tiếc nuối vào lúc này. Nhưng điều tôi cảm thấy tiếc nuối nhất là chưa năm nào tôi trở về nhà; nơi mà có bố có mẹ, có tình yêu thương, có sự chăm sóc, có những ước mơ hoài bão được ấp ủ và có cả những cuộc cãi vã giữa một tôi rất tự ái và một người bố rất nghiêm khắc nữa. Những điều đó không thể diễn tả hết được sự thiêng liêng của nơi mà tôi gọi là “Nhà. 

Bây giờ cuộc sống của tôi cũng đã rất ổn định với nhiều năm bươn chải giữa cuộc đời. Tôi đã tự lo cho bản thân mình được và có được một công việc mà tôi rất yêu thích. Nhưng có gì đó khiến tôi cảm thấy vẫn chưa đủ, có vẻ đó là sự ấm áp của gia đình, của những buổi tối ăn cơm cùng nhau, những buổi chia sẻ hay cầu nguyện.


Được tạo bởi Blogger.