(Hội đồng mục vụ giáo xứ Đaminh- Ba Chuông)
Truyện số 1:
Nó vừa đi học về đã thấy người trong làng tụm năm tụm bảy bàn tán điều gì đó. Ra là chuyện ông Quý trùm xứ bị tai nạn giao thông phải nằm viện, lại đúng lúc nhà thờ đang xây dở nên ai cũng lo lắng, ngoại trừ… nó. Nó chẳng ưa gì ông trùm xứ: người thì gầy nhẳng, chột một mắt cụt một tay mà tham quyền cố vị làm gì thế không biết, hai nhiệm kỳ rồi vẫn không chịu nghỉ. Mọi người cũng kỳ, ổng ốm thì người khác thay, rồi kiểu gì nhà thờ cũng xây xong, cứ làm như cả xứ không có người ấy.

Thực ra nó cũng không phải là người vô tâm, độc ác, chẳng qua là nó đã có thành kiến với ông trùm xứ thôi, từ cái ngày ổng gây nên trận đòn đau cho nó. Tất cả bắt nguồn từ một sự hiểu lầm. Ở trong nhà thờ, nó luôn trang nghiêm và giữ tỉnh táo để nghe cha giảng, nhưng mấy đứa xung quanh thì thường xuyên ngủ gà ngủ gật, đặc biệt là trong thánh lễ sáng sớm. Bởi thế nó thường lay tụi kia dậy, có đứa dụi mắt nghe giảng, nhưng có đứa lơ mơ tỉnh rồi lại ngủ tiếp, cá biệt có đứa ngủ mê đến mức nó vừa chạm phải thì đã ngã lăn quay ra. Thể nào mà ông Quý lại mách với bố nó là ở trong nhà thờ nó là chuyên gia quấy rối, chọc phá bạn bè. Thế là nó bị bố đánh tướt xác, đến khi mẹ vào can bị bố lỡ tay quất trúng một roi thì ông mới dừng lại. Không thanh minh được, nó chỉ biết trút hết mọi căm hận lên ông trùm xứ. Thế nên nghe tin ổng bị tai nạn, nó càng mừng ấy chứ…

***

- Tắt ti vi đi ngủ sớm, bốn giờ sáng mai còn đi lễ cầu nguyện cho ông Quý!

Bố ra lệnh thế, nó ức lắm, miệng lủm bủm:

- Làm lễ hồi tử ổng luôn cho rồi! Tự nhiên mất xem tập phim lại còn phải dậy sớm cầu nguyện cho cái ông lắm mồm đó…

Chưa dứt lời, nó đã lĩnh ngay một cái tát như trời giáng. Tiếng bố nó rít qua kẽ răng:

- Thằng mất nết, tao dạy mày thế hả?

Vừa mắng bố nó vừa vơ cái thước xây định cho nó một trận nên thân. May là mẹ đã kịp cản lại:

- Con nó còn nhỏ chưa hiểu chuyện, để em khuyên bảo nó cho.

Rồi mẹ kéo vội nó xuống nhà dưới, sau lưng tiếng bố nó với theo: “Mười bảy tuổi rồi, nhỏ nhít gì nữa”…

Và mẹ đã kể cho nó nghe chuyện của ông trùm xứ…

***

Vào những năm cuối thập niên sáu mươi thế kỷ trước, ông Quý lúc đó cũng bằng tuổi nó bây giờ, là một chàng thanh niên trai tráng với khuôn mặt chữ điền và bộ râu quai nón, ai cũng phải công nhận là quá đẹp trai, đến mức nhiều người phải chép miệng:

“Cái gì quá cũng không tốt, đẹp đến thế thì kiểu gì cũng khổ”.

Anh chàng Quý này học rất giỏi, nhưng cái lí lịch “Catholic”, lại là “đạo gốc” nên chẳng được đi thi đại học chứ chưa nói đến chuyện đỗ hay không, hết lớp Mười phải ở nhà đi cày. Nhà đông con nên anh phải “lựa chọn” những thửa ruộng “nóng” nhất của xã để tính công, tính điểm cho cao, đó là những điểm máy bay Mỹ thường “đánh tọa độ”. Mặc cho nhiều người can ngăn bởi đẹp trai có tài thì… hay chết sớm lắm, nhưng “bom đạn tránh ngườii, sống chết Chúa định”, anh chẳng sợ. Các vị cán bộ xã “thương cảm” cho gia cảnh, cũng thấy “tiếc” vì anh có tài nên cho làm thêm cái chức kế toán hợp tác xã để thêm công điểm, lại đỡ phải ra “tọa độ” đi cày. Với Quý, làm kế toán cho cái hợp tác xã cỏn con này thì công việc cả tháng anh chỉ cần ngồi cộng một buổi là xong, nhàn tênh!

Con gái trong làng ai cũng say Quý như điếu đổ, nhưng người anh yêu và cũng rất yêu anh thì bị gia đình nhà bên đó cấm cản. Đơn giản vì “tình địch” của anh quá mạnh. Tín là con nhà khá giả, làm thợ sửa đồng hồ, là cháu của Cố Cụ, bác ruột của Tín là linh mục giám quản của Địa phận nên luận về gia thế, đạo nghĩa hay kinh tế đều hơn hẳn Quý. Bố mẹ của Hương thì kiên quyết không cho qua lại với Quý dù hai người đã yêu nhau từ thuở còn học chung lớp. Ngày cưới của Hương cũng là ngày Quý vác ba lô tòng quân, không phải “nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực” mà đơn giản là anh hận đời, hận người và quyết tâm đi bộ đội để sau này có cơ hội được học lên đại học, thành đạt để trả thù đời.

Ba năm sau, đơn vị lập được chiến công lớn cộng thêm bị thương nhẹ, Quý được nghỉ phép về thăm nhà và dưỡng thương tận hai tháng. Anh được chính quyền đón tiếp rất long trọng, và điều tuyệt vời hơn là anh đã tìm được tình yêu mới. Huyền, con gái của thầy hiệu trưởng cũ của anh, vừa mới tốt nghiệp y tá. Cô cũng đã thầm yêu anh từ thời còn đi học, nhưng biết anh và Hương yêu nhau nên lặng lẽ rút lui. Khi anh về quê dưỡng thương, cô được đặc trách chăm sóc anh và… “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Ai cũng mừng cho anh đã có được người yêu đẹp người đẹp nết, gia đình bên đó lại cho phép cô theo đạo nếu hai người nên duyên, chưa kể việc “bố vợ tương lai” là người trong ngành giáo dục, sau khi phục viên thì cơ hội học lên của anh càng rõ ràng hơn.

Thế nhưng, đúng là “cái gì quá cũng không tốt, đẹp đến thế thì kiểu gì cũng khổ”, Quý bị thương nặng sau khi quay lại đơn vị chiến đấu. Một mảnh đạn đã làm anh bị mù mắt trái, mắt phải thì chỉ còn năm độ, cánh tay phải cũng nằm lại Đất Mẹ bởi một mảnh bom trong trận đánh đó. Trở về quê thân tàn ma dại, anh còn nhận thêm vết thương lòng nặng nề hơn. Huyền chỉ đến thăm anh đúng một lần, ôm lấy ống tay phải được cột túm lại của anh và khóc rất to rồi nửa năm sau đi lấy chồng. Ngày Huyền lên xe hoa, anh lại bước lên tàu vào Nam với đôi mắt không còn lệ và cái đầu trống rỗng, thề sẽ không quay về khi chưa thành đạt.

Nhưng mười lăm năm lăn lộn ở mấy tỉnh miền Nam anh vẫn chưa thành đạt, hay đúng hơn là chỉ kiếm ăn qua ngày bởi sức khỏe quá kém, không bằng cấp, tứ cố vô thân lại không có vốn, thậm chí cả giấy tờ chứng nhận thương binh cũng không mang theo. Anh vẫn nhất quyết không về quê cho tới khi bạn của bố anh, lúc đó đang là trùm xứ nói

với bố anh: “Bảo nó về đi, tao gả con Xuân cho rồi cấp cho ít vốn mà làm ăn, chứ lang thang trong Nam mãi làm gì có tương lai”. Trong chuyện này ai cũng ái ngại cho Xuân (nay là bà Quý) phải vâng lời mà về ở với cái “ông già” hận tình và khuôn mặt đầy sẹo, cơ thể quắt queo đầy vết thương. Nhưng ít ai biết cô đã thần tượng anh từ nhiều năm trước, khi anh còn chưa tàn phế.

Đến những năm cuối thập niên chín mươi thế kỷ trước, khi đất nước mở cửa được hơn mười năm, gia đình ông Quý đã có một vốn liếng đáng nể là một cây xăng và một tiệm vàng ở thị trấn. Với “cái đầu siêu việt” của mình, không có lý do gì khi ông đã giàu lại càng không giàu thêm. Năm đứa con thì hai chị đầu đã học xong đại học và có việc làm ổn định trên thành phố, một anh vừa đỗ Đại chủng viện, một chị sắp Khấn trọn đời, đứa còn lại kém nó một tuổi cũng nổi tiếng học giỏi, nghe đâu ông tính cho “kế tục sự nghiệp”. Gần đây ông thậm chí đã sắm được ô tô riêng, dân trong vùng ai cũng biết đến với cái tên “ông Quý Vàng”. Người làm thuê cho ông đã lên tới con số hàng chục, trong đó ông ưu tiên thuê người Công giáo mà chủ yếu là người làng, để “mình yên tâm hơn” theo cách nói của ông. Nhưng ông đối xử với người làm rất công bằng, không ưu tiên ai, không ghét bỏ ai, kể cả với con trai bà Hương - tình cũ của mình.

Rồi khi bố vợ qua đời, ông Quý dù bận công việc kinh doanh vẫn kế tục sự nghiệp làm trùm xứ. Kể từ khi ông trực tiếp nhận nhiệm vụ, giáo xứ càng được xây dựng khang trang bởi ông với mối quan hệ làm ăn và tài ngoại giao của mình đã xin về được rất nhiều tài trợ, và cũng chính ông là người đã mạnh dạn xin xây lại nhà thờ vì đã quá cũ, năm nào cũng phải tu bổ mà vẫn mưa dột. Ngày khởi công, ông đã đóng góp hàng trăm triệu. Tai nạn giao thông hôm nay xảy ra khi ông lên miền núi để chọn gỗ cho nhà thờ…

***

Nghe mẹ kể chuyện, nó quá đỗi bất ngờ. Chắc mẹ hiểu nó hận ông Quý chuyện năm xưa nên mới kể cho nó nghe về ông. Vậy là bấy lâu nay nó vẫn hận một người luôn nhiệt huyết vì giáo xứ, mà lỗi lầm năm xưa của ông Quý đối với nó thực ra cũng chỉ là xuất phát từ cái nhiệt huyết đó mà thôi. Ừ, thì “thánh nhân” cũng có lúc sai lầm cơ mà. Nó vội vàng lên nhà trên xin lỗi bố. Nhất định ngày mai nó sẽ dậy sớm đi lễ cầu nguyện cho ông Quý, nó sẽ giữ mình tỉnh táo và lay mấy đứa hay ngủ gật dậy cùng cầu nguyện cho ông.

Thốt nhiên nó thấy sống mũi cay cay. Hình như đây là lần đầu tiên nó khóc mà không phải do bị đánh…




Ngày 31/5 tới đây Đức Thánh Cha sẽ chủ sự giờ đọc kinh Mân Côi tại Vườn Vatican nhân dịp kết thúc tháng “Marathon cầu nguyên” cho đại dịch Covid-19 chấm dứt và cầu cho các hoạt động xã hội và công việc trên thế giới được tiếp tục lại. Đức Thánh Cha yêu cầu đặt ảnh Đức Mẹ “Đấng tháo gỡ mọi nút thắt” trong buổi cầu nguyện trong Vườn Vatican, nơi sẽ là một đền thánh ngoài trời cho dịp này.

Đức Mẹ “Đấng tháo gỡ mọi nút thắt”

Đức Thánh Cha luôn có lòng sùng kính mạnh mẽ đối với bức ảnh có nguồn gốc từ thánh phố Augsburg của Đức. Bức tranh có từ thế kỷ 18 cho thấy Đức Trinh Nữ Maria đang tháo các nút thắt trong một dải ruy băng trắng được hai thiên thần nắm giữ, được bao quanh bởi các cảnh trong Kinh Thánh thể hiện niềm hy vọng, lòng thương xót và chiến thắng sự ác.

Đức cha Bertram Johannes Meier, Giám mục đương nhiệm của Augsburg, sẽ mang một bản sao của bức tranh gốc đến Roma cho sự kiện vào ngày 31/5; sau đó bức ảnh sẽ được tặng cho Đức Thánh Cha. Đức cha Meier sẽ dẫn đầu cuộc rước trọng thể để mở đầu buổi cầu nguyện, đặt bức ảnh ở một địa điểm trong Vườn Vatican.

Trong thông cáo, Hội đồng Tòa Thánh cổ võ tái truyền giảng Tin Mừng – cơ quan tổ chức “Marathon cầu nguyện” - lưu ý rằng Đức Thánh Cha và các tín hữu sẽ được trình bày với một “góc nhìn độc đáo”, với Mái vòm của đền thờ thánh Phê-rô được thắp sáng như để bảo vệ thành phố Roma, “biểu tượng của tất cả các thành phố trên thế giới.”



Ảnh Đức Mẹ “Đấng tháo gỡ mọi nút thắt”

5 ý cầu nguyện - 5 nút thắt cần được tháo gỡ

Đức Thánh Cha đã chọn 5 ý cầu nguyện đặc biệt - 5 “nút thắt” cần được tháo gỡ - cho buổi cầu nguyện kết thúc. Thứ nhất là “mối quan hệ bị tổn thương, sự cô đơn và sự thờ ơ”, những thứ đã trở nên tồi tệ hơn trong đại dịch.

Thứ hai là tình trạng thất nghiệp, đặc biệt là những thách đố đối với người trẻ, phụ nữ và những người cha trong gia đình, cũng như những doanh nhân đang phải bênh vực và bảo vệ nhân viên của họ.

Thứ ba là “bi kịch bạo lực, đặc biệt là bạo lực bắt nguồn từ gia đình, bạo lực đối với phụ nữ và bạo lực xuất phát từ căng thẳng xã hội đang trở nên trầm trọng hơn bởi cuộc khủng hoảng hiện nay.”

Ý cầu nguyện thứ tư của Đức Thánh Cha liên quan đến “sự tiến bộ của con người”, điều cần được hỗ trợ bởi nghiên cứu khoa học theo cách mà tất cả mọi người có thể tiếp cận được những khám phá, “đặc biệt là những người yếu nhất và nghèo nhất”.

Cuối cùng, Đức Thánh Cha sẽ cầu nguyện cho việc chăm sóc mục vụ, để các cộng đoàn Công giáo có thể có lại sự nhiệt tình của họ và cảm thấy một động lực mới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống mục vụ; và những người trẻ có thể kết hôn, xây dựng gia đình và tương lai.

Các đền thánh kết nối, đại diện cho toàn thế giới

Vào cuối giờ cầu nguyện, Đức Thánh Cha sẽ long trọng đội triều thiên cho ảnh của Đức Maria, “Đấng tháo gỡ mọi nút thắt”.

Buổi đọc kinh Mân Côi với Đức Thánh Cha sẽ được truyền hình trực tiếp qua tất cả các kênh truyền thông của Vatican, bao gồm Đài phát thanh Vatican và trang web Vatican News, Youtube Vatican News, và người khiếm thính có thể tham dự thông qua việc phiên dịch sang Ngôn ngữ ký hiệu Ý (LIS).

Một nhóm các đền thánh Đức Mẹ từ khắp nơi trên thế giới sẽ được kết nối với Roma trong buổi đọc kinh Mân Côi, bảo đảm cho sự đại diện trên toàn thế giới. Các đền thánh sau đây sẽ tham gia: Đức Bà Boulogne ở Pháp; Đức Mẹ Schoenstatt ở Đức; Đức Mẹ Sầu Bi ở Rwanda; Đền thờ Quốc gia Maipú ở Chile; Đức Bà Os Gozos ở Tây Ban Nha; Đức Mẹ Lộ Đức ở Carfin, Scotland; Đức Trinh nữ của các phép lạ ở Caacupé, Paraguay; và giáo xứ đền thánh Đức Mẹ Sức Khỏe ở La Spezia, Ý.




TÔNG THƯ

DƯỚI DẠNG TỰ SẮC
CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

ANTIQUUM MINISTERIUM
THỪA TÁC VỤ CỔ KÍNH

THIẾT LẬP
THỪA TÁC VỤ GIÁO LÝ VIÊN

1. Thừa tác vụ của Giáo lý viên trong Giáo hội là một thừa tác vụ cổ kính. Cách chung các nhà thần học cho rằng những mẫu gương đầu tiên đã có trong các bản văn Tân Ước. Việc dạy giáo lý đã khởi sự từ “các thầy dạy”, được Thánh Tông Đồ đề cập đến trong thư gửi cộng đoàn Cô-rin-tô: “Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ. Chẳng lẽ ai cũng là tông đồ? Chẳng lẽ ai cũng là ngôn sứ, ai cũng là thầy dạy sao? Chẳng lẽ ai cũng được ơn làm phép lạ, ai cũng được ơn chữa bệnh sao? Chẳng lẽ ai cũng nói được các tiếng lạ, ai cũng giải thích được các tiếng lạ sao? Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả” (1 Cr 12,28-31).

Thánh Lu-ca khởi đầu Tin Mừng của ngài bằng những lời này: “Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài, mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc” (Lc 1,3-4). Có lẽ Thánh sử ý thức rõ rằng những điều ngài viết ra cung cấp một hình thức giảng dạy đặc biệt vốn có thể mang lại sự bảo đảm chắc chắn cho những người đã được rửa tội. Còn Tông đồ Phao-lô thì nói với các tín hữu Ga-la-ta rằng: “Người được học Lời Chúa hãy chia sẻ mọi của cải với người dạy dỗ mình” (Gl 6,6). Như một chứng cứ, bản văn này còn cống hiến một chi tiết khác, khi nói về sự hiệp thông đời sống như dấu chỉ hoa trái của việc dạy giáo lý đích thực.

2. Ngay từ những ngày đầu, cộng đoàn Kitô hữu đã biết đến một hình thức thừa tác vụ phổ biến, được những người nam và nữ đảm nhận. Những người này, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, đã hiến trọn đời mình để xây dựng Giáo hội. Đôi khi, các đặc sủng mà Chúa Thánh Thần không ngừng tuôn đổ trên những người đã được rửa tội đã mặc lấy một hình thức phục vụ trực tiếp cộng đoàn Kitô hữu, cách cụ thể và rõ ràng, qua nhiều hình thức biểu hiện khác nhau, và được nhìn nhận như một công việc phục vụ không thể thiếu cho cộng đoàn. Tông đồ Phao-lô chứng thực điều này một cách đầy thẩm quyền khi nói: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người.” (1 Cr 12,4-11).

Vì thế, trong truyền thống đặc sủng rộng lớn của Tân Ước, chúng ta có thể nhận ra sự hiện diện tích cực của những người đã được rửa tội. Họ thi hành tác vụ thông truyền giáo huấn của các Tông đồ và các Thánh sử một cách có tổ chức, thường xuyên và gắn kết với những hoàn cảnh sống khác nhau (x. VATICANÔ II, Hiến chế tín lý về Mạc Khải Thiên Chúa [Dei Verbum], 8). Giáo hội muốn nhìn nhận việc phục vụ này như một diễn tả cụ thể đặc sủng cá nhân vốn góp phần to lớn vào việc thực thi sứ vụ phúc âm hóa. Việc nhìn vào đời sống của những cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên dấn thân vào việc loan báo và phát triển Tin Mừng, còn thôi thúc Giáo hội trong thời đại chúng ta biết nhận ra những hình thức mới mẻ khả thi, nhờ đó Giáo hội tiếp tục trung thành với Lời Chúa, hầu có thể rao giảng Tin Mừng của Ngài cho mọi loài thụ tạo.

3. Lịch sử của việc phúc âm hóa suốt hai thiên niên kỷ qua cho thấy rõ sự hữu hiệu của sứ vụ giáo lý viên. Các giám mục, linh mục và phó tế, cùng với những người nam và nữ sống đời thánh hiến, đã dâng trọn cuộc đời cho việc dạy giáo lý, để đức tin có thể trở nên sự nâng đỡ hữu hiệu cho đời sống của mỗi người. Một số trong các vị này cũng tập họp xung quanh mình những anh chị em khác có cùng đặc sủng, và lập nên những hội dòng toàn hiến cho việc dạy giáo lý.

Chúng ta không thể quên vô số giáo dân nam nữ tham gia trực tiếp vào sứ vụ rao giảng Tin Mừng qua việc dạy giáo lý. Họ là những người nam và nữ có đức tin sâu xa, những chứng nhân đích thực của sự thánh thiện, trong một số trường hợp cũng là những vị sáng lập các Giáo hội và cuối cùng đã chết như các vị tử đạo. Ngày nay cũng vậy, nhiều giáo lý viên có khả năng và tận tụy là những người lãnh đạo cộng đoàn trong những miền khác nhau của thế giới và thực hiện một sứ vụ vô giá là truyền thụ và làm tăng trưởng đức tin. Một dòng dõi thật dài các chân phước, các thánh và các vị tử đạo từng là giáo lý viên đã thăng tiến vượt bực sứ mạng của Giáo hội và đáng được công nhận, vì họ là nguồn phong phú không chỉ cho việc dạy giáo lý, mà còn cho toàn bộ lịch sử linh đạo Kitô giáo.

4. Từ Công đồng Đại kết Vaticanô II, Giáo hội đề cao tầm quan trọng của việc giáo dân dấn thân trong hoạt động phúc âm hóa. Các Nghị Phụ của Công Đồng nhiều lần nhấn mạnh đến nhu cầu lớn lao làm cho Kitô hữu giáo dân được tham gia trực tiếp vào việc gầy dựng Giáo hội (plantatio Ecclesiae) và việc phát triển cộng đoàn Kitô hữu, bằng những hình thức khác nhau, qua đó, đặc sủng của họ có thể được diễn tả. “Cũng thế, liên quan đến việc truyền giáo cho lương dân, phải thật sự đề cao công lao to lớn của đội ngũ giảng viên giáo lý, nam cũng như nữ, những người thấm nhuần tinh thần tông đồ, đã vất vả rất nhiều để mang lại sự trợ giúp đặc biệt và vô cùng cần thiết cho việc truyền bá đức tin và mở rộng Giáo hội. Hiện nay, vì số giáo sĩ không đủ để đáp ứng cho việc rao giảng Tin Mừng cũng như thi hành mục vụ cho lượng người quá đông, nên phận vụ của các giảng viên giáo lý lại càng trở nên quan trọng hơn” (x. VATICANÔ II, Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo hội [Ad Gentes], 17).

Cùng với giáo huấn quan trọng của Công Đồng, cần nói đến mối quan tâm thường xuyên của các Đức Giáo hoàng, Thượng Hội đồng Giám mục, các Hội đồng Giám mục và cá nhân các Giám mục là những người đã góp phần canh tân đáng kể cho việc dạy giáo lý trong những thập niên gần đây. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, Tông huấn Dạy giáo lý (Catechesi Tradendae), Hướng dẫn Giáo lý Tổng quát, Hướng dẫn Tổng quát việc Dạy giáo lý, và Chỉ nam Huấn giáo mới đây, cũng như những sách giáo lý cấp quốc gia, miền và giáo phận, đã minh định giá trị trung tâm của việc dạy giáo lý vốn dành ưu tiên cho việc giáo dục và huấn luyện thường xuyên các tín hữu.

5. Không làm suy giảm sứ mạng của Giám mục như là giáo lý viên đầu tiên trong Giáo phận của ngài, sứ mạng mà ngài chia sẻ với linh mục đoàn của ngài, cũng không làm suy giảm trách nhiệm riêng của các bậc cha mẹ trong việc giáo dục Kitô giáo cho con cái của họ (x. CIC 774 khoản 2; CCEO 618), nhưng cần công nhận vai trò của những giáo dân, nam cũng như nữ, trong tư cách những người đã được rửa tội, ý thức mình được mời gọi cộng tác vào việc dạy giáo lý (x. CIC 225; CCEO 401 & 406). Sự hiện diện của họ ngày nay còn khẩn thiết hơn, vì có sự tiến triển trong nhận thức về nhu cầu phúc âm hóa trong thế giới đương thời (x. Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng [Evangelii Gaudium], 163-168), và sự trỗi dậy của nền văn hóa mang tính toàn cầu hóa (x. Thông điệp về tình Huynh đệ và tình Bằng hữu xã hội [Fratelli Tutti], 100. 138). Điều đó đòi hỏi sự tương tác chân thực với những người trẻ, mà không quên nhu cầu phải có những phương pháp luận sáng tạo và những cách thế có khả năng thích ứng việc loan báo Tin Mừng với sự biến đổi mang tính truyền giáo mà Giáo hội đã đảm nhận. Trung thành với quá khứ và trách nhiệm đối với hiện tại là những điều kiện cần thiết cho Giáo hội thực hiện sứ mạng của mình trong thế giới.

Khơi dậy lòng nhiệt thành cá nhân của mọi người đã được rửa tội và hồi sinh nhận thức của họ về lời gọi thực thi sứ vụ riêng trong cộng đoàn, đòi hỏi phải lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần, Đấng luôn hiện diện và làm trổ sinh hoa trái thiêng liêng (x. CIC 774 khoản 1; CCEO 617). Ngày nay cũng vậy, Chúa Thánh Thần kêu gọi những người nam và người nữ ra đi và gặp gỡ tất cả những người đang mong đợi khám phá vẻ đẹp, sự thiện hảo và sự thật của đức tin Kitô giáo. Các chủ chăn có nhiệm vụ nâng đỡ họ trong tiến trình này và làm cho cuộc sống của cộng đoàn Kitô hữu được phong phú nhờ nhận ra những thừa tác vụ giáo dân có khả năng góp phần vào sự biến đổi xã hội, bằng cách “đem các giá trị Kitô giáo thấm nhập các lãnh vực xã hội, chính trị và kinh tế” (Niềm vui của Tin Mừng, 102).

6. Tông đồ giáo dân chắc hẳn có tính chất “trần thế”. Sứ vụ này đòi hỏi giáo dân “tìm kiếm vương quốc Thiên Chúa bằng cách dấn thân vào các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa” (x. VATICANÔ II, Hiến chế tín lý về Giáo hội [Lumen Gentium], 31). Trong cuộc sống thường ngày của họ, được dệt nên bởi các mối tương quan gia đình và xã hội, giáo dân phải nhận ra rằng họ “được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo hội hiện diện và tác động trong những nơi chốn và môi trường mà chỉ nhờ họ Giáo hội mới có thể trở thành muối của trần gian” (sđd., 33). Tuy vậy, chúng ta cần nhớ rằng cùng với hoạt động tông đồ này, “giáo dân cũng có thể được mời gọi góp phần trực tiếp hơn vào hoạt động tông đồ của hàng giáo phẩm bằng nhiều cách, giống như những giáo dân nam nữ đã từng lao nhọc trong Chúa Kitô để giúp đỡ Tông đồ Phao-lô rao giảng Tin Mừng” (sđd., 33).

Vai trò các giáo lý viên nắm giữ là hình thức phục vụ chuyên biệt giữa những hình thức khác trong cộng đoàn Kitô hữu. Các giáo lý viên được kêu gọi trước hết là chuyên viên trong mục vụ truyền đạt đức tin, được khai triển qua những giai đoạn khác nhau, từ việc loan báo tiên khởi lời rao giảng Tin Mừng đầu tiên (kerygma) đến việc hướng dẫn đời sống mới của chúng ta trong Đức Kitô và chuẩn bị cho các Bí tích khai tâm Kitô giáo, rồi đến việc huấn luyện thường xuyên vốn có thể cho phép mỗi người giải thích niềm hy vọng trong lòng họ (x. 1 Pr 3,15). Đồng thời, mỗi giáo lý viên phải là một nhân chứng của đức tin, một thầy dạy và một người khai dẫn vào mầu nhiệm (mystagogue), một người đồng hành và một nhà giáo dục, người giảng dạy nhân danh Giáo hội. Chỉ nhờ cầu nguyện, học hỏi và trực tiếp tham dự vào đời sống cộng đoàn, họ mới có thể lớn lên trong căn tính này cũng như trong sự toàn vẹn và trách nhiệm bao hàm trong căn tính ấy (x. HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG CHO VIỆC THĂNG TIẾN CÔNG CUỘC TÂN PHÚC ÂM HÓA, Chỉ nam Huấn giáo, 113).

7. Với tầm nhìn rất xa, Thánh Phao-lô VI đã ban hành Tông thư Ministeria Quaedam (Một số thừa tác vụ) với ý định không chỉ thích nghi các thừa tác vụ Đọc sách và Giúp lễ với những hoàn cảnh lịch sử thay đổi (x. Tông thư Thần Khí của Thiên Chúa [Spiritus Domini]), nhưng còn khuyến khích các Hội đồng Giám mục cổ võ cho các thừa tác vụ khác, bao gồm thừa tác vụ Giáo lý viên. “Thêm vào những thừa tác vụ chung cho toàn thể Giáo hội La Tinh, không có gì ngăn cản các Hội đồng Giám mục xin phép Tòa Thánh để thiết lập những thừa tác vụ khác, vì những lý do riêng, được xem là cần thiết hay rất ích lợi trong vùng miền của các ngài. Chẳng hạn, trong số những thừa tác vụ này, có các thừa tác vụ Giữ cửa, Trừ quỷ và Dạy giáo lý. Lời mời gọi tha thiết này cũng được tìm thấy trong Tông huấn Loan báo Tin Mừng [Evangelii Nuntiandi]; khi kêu gọi phân định những nhu cầu hiện tại của cộng đoàn Giáo hội trong sự tiếp nối trung thành với những cội nguồn của mình, Đức Thánh cha khuyến khích phát triển những hình thức thừa tác vụ mới cho hoạt động mục vụ được đổi mới. “Những thừa tác vụ như thế, tuy có vẻ mới mẻ nhưng gắn liền với những kinh nghiệm mà Giáo hội đã trải qua trong suốt lịch sử, chẳng hạn như thừa tác vụ giáo lý viên… đều quý giá cho việc thiết lập, cho đời sống và sự tăng trưởng của Giáo hội cũng như cho khả năng tác động của Giáo hội trên những người xung quanh và đến với những người ở xa Giáo hội” (THÁNH PHAOLÔ VI, Tông huấn Loan báo Tin Mừng [Evangelii Nuntiandi], 73).

Chắc hẳn “đã có sự ý thức ngày càng nhiều hơn về căn tính và sứ mạng của giáo dân trong Giáo hội. Thực vậy, chúng ta có thể cậy dựa vào nhiều giáo dân, dù hầu như vẫn chưa đủ, là những người có một cảm thức sâu xa về cộng đoàn và một sự trung thành lớn lao đối với các nhiệm vụ bác ái, dạy giáo lý và cử hành đức tin” (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng [Evangelii Gaudium], 102). Hệ quả là việc tiếp nhận thừa tác vụ giáo dân, như thừa tác vụ Giáo lý viên chẳng hạn, sẽ nhấn mạnh hơn nữa việc dấn thân truyền giáo vốn thuộc sứ vụ của mỗi người đã được rửa tội, dù việc dấn thân này phải được thực hiện một cách hoàn toàn “trần thế”, tránh bất cứ hình thức giáo sĩ hóa nào.

8. Thừa tác vụ này rõ ràng có khía cạnh ơn gọi, như được minh chứng bởi Nghi thức Thiết lập, và do đó kêu gọi sự phân định thích đáng của Giám mục. Thực vậy, thừa tác vụ này là một hình thức phục vụ bền vững dành cho Giáo hội địa phương, tương ứng với những nhu cầu mục vụ được Bản Quyền địa phương xác định, nhưng hình thức phục vụ này được thực hiện như công việc của giáo dân, như bản chất của thừa tác vụ đòi hỏi. Điều thích đáng là những người được kêu gọi vào thừa tác vụ Giáo lý viên được thiết lập phải là những người nam và nữ có một đức tin sâu xa và trưởng thành nhân bản, tham dự tích cực vào đời sống cộng đoàn Kitô hữu, có khả năng tiếp đón, quảng đại và đời sống hiệp thông huynh đệ. Họ cũng cần được huấn luyện về Thánh Kinh, thần học, mục vụ và sư phạm để trở thành những người có khả năng thông truyền sự thật của đức tin và là những người đã có kinh nghiệm dạy giáo lý (x. VATICANÔ II, Sắc lệnh về Nhiệm vụ Mục tử của các Giám mục trong Giáo hội [Christus Dominus], 14; CIC 231 khoản 1; CCEO 409 khoản 1). Là những cộng sự viên trung thành của các linh mục và phó tế, điều thiết yếu là họ phải sẵn sàng thi hành sứ vụ của mình bất cứ nơi nào cần đến sứ vụ này, và họ phải được thúc đẩy bởi lòng nhiệt thành tông đồ.

Vì vậy, sau khi đã suy xét mọi sự, và với năng quyền tông tòa,

tôi thiết lập thừa tác vụ Giáo lý viên giáo dân.

Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích sẽ sớm ban hành Nghi thức Thiết lập thừa tác vụ Giáo lý viên giáo dân.

9. Vì thế, tôi mời gọi các Hội đồng Giám mục làm cho thừa tác vụ Giáo lý viên nên hiệu quả, bằng cách xác định tiến trình huấn luyện cần thiết và tiêu chuẩn mang tính quy phạm cho việc tiếp nhận vào thừa tác vụ này, cũng như đặt ra những hình thức thích hợp nhất cho việc phục vụ mà những người nam và người nữ sẽ được kêu gọi để thực thi, phù hợp với nội dung của Tông Thư này.

10. Các Thượng Hội đồng Giám mục của các Giáo hội Đông Phương hay các Hội nghị Giáo phẩm có thể thích nghi thừa tác vụ được thiết lập ở đây với các Giáo hội đặc thù của mình, phù hợp với luật riêng của mỗi Giáo hội.

11. Các giám mục nên cố gắng tuân theo lời khuyên của các Nghị phụ Công đồng: “Các chủ chăn... biết rằng mình được Đức Kitô thiết lập không phải để chỉ riêng các ngài lãnh lấy tất cả sứ mệnh cứu độ của Giáo hội đối với thế giới, nhưng để nhận lãnh phận vụ cao cả là chăn dắt các tín hữu và nhìn nhận các phận vụ và đặc sủng của họ, để mọi người theo cách thức riêng của mình, đồng lòng cộng tác vào trọng trách chung này” (Hiến chế tín lý về Giáo hội [Lumen Gentium], 30). Ước gì sự phân định các ân huệ mà Chúa Thánh Thần không ngừng ban cho Giáo hội, sẽ nâng đỡ nỗ lực của các ngài trong việc làm cho thừa tác vụ Giáo lý viên giáo dân nên hiệu quả, vì sự tăng trưởng của các cộng đoàn của các ngài.

Tôi truyền rằng những điều được quy định trong Tông Thư dưới dạng Tự Sắc này có hiệu lực chính thức và bền vững, bất chấp tất cả những gì trái ngược, dù đáng kể tới đâu, đồng thời được công bố trên báo Quan sát viên Rô-ma (L’Osservatore Romano), có hiệu lực cùng ngày, và được phát hành sau đó trong Công Báo Tòa Thánh (Acta Apostolicae Sedis).

Ban hành tại Rô-ma, cạnh Đền thờ Thánh Gio-an La-tê-ra-nô, ngày 10 tháng 5 năm 2021, nhằm ngày lễ nhớ Thánh Gio-an thành A-vi-la, Linh mục và Tiến sĩ Hội Thánh, năm thứ Chín triều đại giáo hoàng của tôi.


© Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam
Được tạo bởi Blogger.