Sách mới: THƯ ẤU NHI GỬI CHÚA



Xin được giới thiệu đến quý Phụ huynh,

quý Giáo lý viên, quý giáo viên đang dạy Mầm non và Cấp I ,

cùng các Huynh trưởng và đoàn sinh các cấp Thiếu Nhi Thánh Thể.

 

Năm 2007, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nâng lên bậc Đáng kính một chứng nhân đức mến tuổi thơ, Antonietta Meo, chỉ mới sáu tuổi rưỡi, chết vì bệnh ung thư xương, để lại 162 lá thư nồng nàn niềm yêu mến và nỗi khao khát rước Chúa ngự vào lòng. Những lá thư có sức truyền cảm hứng cho người đọc- cả trẻ em và người lớn -  tiến sâu vào kinh nghiệm cầu nguyện, mến Chúa và yêu người.

Sách được Tủ sách Nước Mặn thực hiện và Liên đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể Người Chứng Thứ Nhất Giáo phận Qui Nhơn phát hành trợ giá để cổ võ lòng yêu mến Thánh Thể. Đây là một món quà tuyệt vời và đầy ý nghĩa cho các em thiếu nhi trong thời hiện tại!

Sách dày 184 trang, khổ 13,5 x 20,5 cm; giá 30.000 đồng.

Mời xem 22 trang đầu trong file PDF đính kèm.

Để nhận sách xin liên lạc với: Trưởng  Antôn Dương Thành Thiêng, Sđt: 0905.340.307 (có Zalo); Email: [email protected].

 Lm. Trăng Thập Tự

Tải file sách PDF






Thánh Veronica, Mattia Preti vẽ. Ảnh: Public Domain


Thứ sáu Tuần Thánh tôi được diễm phúc góp phần vào một vai diễn để đi lại cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su. Bữa đó, tôi hiện thân lại bà Veronica. Ngày ấy, Veronica đã lau mặt Chúa Giê-su với chiếc khăn trùm đầu của Thánh nhân, khuôn mặt của Chúa Giê-su đã in ấn trên khăn ấy. Hôm tôi góp vai đi chặng Đàng Thánh Giá, “vai diễn” xuất hiện ở chặng thứ sáu. Trước khi “diễn thật” tôi đã có nhiều ngày tập diễn theo phim tài liệu “Cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su”. Việc chuẩn bị cho một chặng đàng ngắn ngủi nhưng xuất hiện để tái hiện rõ nét nhân vật ấy làm tôi không khỏi lo lắng. Nghĩ nhiều cũng vậy. Tôi thực hiện không trăn trở.

Tôi cắt mảnh vải mới mua để may áo ra làm chiếc khăn. Nghiệm lại khuôn mặt Người trên con đường lên đồi Gongotha ấy. Ngồi vu vơ, mân mê với cây chì và vài cây bút màu nên hình ảnh Chúa Giê-su cúi mặt, đầu đội mão gai, vấy vá máu. Màu đỏ nước khi khô thành hồng, màu đó là giả, mà màu máu Chúa có khi nào nhạt đi đâu, lại chẳng giả bao giờ. Tôi cũng không nghĩ nữa, để đó và lo chu toàn “vai diễn” của mình vào chặng thứ sáu.

Lúc tôi xuất hiện, bước vội lại bỏ chiếc khăn trùm đầu, lau mặt Chúa Giê-su, đưa cho Chúa cốc nước mà bị quân lính đá văng. Lúc ấy, “vai diễn” quân lính nhập tâm vào chặng Đàng nên vừa đá hất xa ly nước, vừa làm tay tôi bị thương, không nặng nhưng có máu. Quân lính lôi Chúa Giê-su đi tiếp để tôi ngồi lại hai tay đưa lên hôn sâu chiếc khăn, lúc này chiếc khăn đã có máu thật, không còn là màu máu phớt hồng từ bộ màu nước. Nước mắt tôi tự chảy và ánh mắt hướng nhìn Giê-su bị quân lính lôi đau thương.

Ngày cuối tháng 8 của mùa Thu sắp qua, khung cảnh trầm lặng của đại dịch như một cách vô hình nào đó thúc đẩy tôi mở chiếc hộp ngắm lại chiếc khăn mang khung hình Giê-su ở chặng thứ sáu Tuần Thánh đó. Giê-su cũng đang bị quân lính cho đội mão gai tê tái, bị đánh đòn, bị kéo lê da thịt lẫn sỏi đá trên đường thương khó. Giê-su ấy là những người nghèo, người vô gia cư, họ bơ vơ lang thang hay nép vào một góc nào đó không để bị phát hiện trên mọi nẻo đường giãn cách. Giê-su ấy là những người đang phục vụ ở những khu cách ly, họ chạy, chạy nhưng không chạy trốn. Họ cùng đi trong và đi với Giê-su lên đồi ấy, đồi Vinh Quang. Giê-su ở thứ sáu Tuần Thánh ấy là chính những người bị nhiễm bệnh. Họ quằn quại trong tư tưởng, điên đầu trong suy nghĩ và bế tắc hoang mang trong khu cách ly. Cũng có thể nhìn thấy rõ nét hình ảnh những y bác sĩ, những tình nguyện viên mang trên mình đồ bảo hộ ở trong các khu cách ly là hiện thân sống động của bà Veronica. Hàng giờ, hàng ngày họ đã “quên mình” đi, “bỏ mình” lại để chiến đấu cùng với những người nhiễm bệnh. Họ đã ôm chặt hơn những “chiếc khăn lau mặt Chúa” là ôm lòng người, ôm tình nghĩa và cho đi sự hăng say nhiệt huyết của sự dấn thân. Để rồi cùng hướng nhìn về Chúa trên con đường thương khó khi xưa Ngài đã đi và hướng tới ngày vinh thắng trên đồi Canve.

Sài Gòn đã giãn cách gần hai tháng, chuỗi ngày ở nhà đọc con số tăng dần ai nấy cũng cảm nhận được một sự tang thương của Sài Gòn ngay lúc này. Sài Gòn như đang sống trong bầu khí của thứ sáu Tuần Thánh, ngày mà hoàn vũ chìm mình vào sự cô tịch, tưởng niệm lại cuộc thương khó của Chúa Giê-su. Sài Gòn như đang vác trên thân phồn hoa của mình một thánh giá nặng trĩu, u buồn, đau thương như cắt vào từng lớp da thớ thịt. Sài Gòn như đang rướn cong mình lên đón lấy những rạng đông dù lấp ló ở chân trời xa xa. Sài Gòn yên tĩnh thì không còn là Sài Gòn nữa. Nhưng giờ đây, Sài Gòn yên tĩnh làm sao…bóng của những người phu đổ rác thầm lặng đẩy xe vào mỗi sáng trên các sống đường của Sài Gòn cũng chẳng còn, những cánh cửa nhà, tiệm hàng im hơi, những hàng cây vẫn ở đó thấy bình minh lên nhưng chưa tỉnh giấc sương…Hình như, Sài Gòn phải vội sống, chen chúc sống mới đúng là Sài Gòn.

Mưa ngâu của mùa thu tháng 7 âm lịch miền Bắc giờ cũng khác, nó đan vào màn trời một chiếc lưới xám, màu xám dội vào lòng người âm thanh xanh biếc của những nỗi nhớ trùng khơi mù mịt, màu xám đưa võng trước mắt người một điệu ru hiền hòa tinh khiết. Tôi chạy vào mưa, đứng hòa quyện vào dòng nước mưa ấy cho trôi đi những đau thương về Sài Gòn, tôi mộng tưởng; mơ giấc mơ liên lỉ và gói trọn những giấc mộng ấy lên trời xanh về Sài Gòn ngày “phục sinh”.

Anh Jena










CẢM NHẬN THƠ

Khi đợt bùng phát của đại dịch Covid-19 lên đến đỉnh điểm, việc bảo vệ sức khỏe của người dân và để ngăn chặn sự lây nhiễm, thì sự cách ly và phong tỏa càng ngày càng được siết chặt hơn. Trong tình cảnh này, biết bao câu chuyện thương tâm đến xót lòng giữa những người ra đi và những người ở lại.

Trước những tình cảnh bi thương đó, Sr Têrêsa Nguyễn Vui, Dòng Nữ Tỳ Chúa Giêsu Linh Mục, đã gửi cảm nhận của mình cho mẹ qua những lời tâm sự như sau:

Thương lắm mẹ ạ! Các bệnh nhân ở đây hầu như đều bất động. Con virus quái ác hành hạ họ khổ sở lắm. Họ thoi thóp trong từng hơi thở, không người thân bên cạnh. Họ phó thác mạng sống họ cho các bác sĩ và điều dưỡng ở đây chăm sóc…

Bây giờ con mới thấm thía câu nói: “Có một nơi để về, đó là nhà. Có những người để yêu thương, đó là gia đình. Có được cả hai, đó là hạnh phúc”.[1]

Rồi khi đọc bài thơ “Con lo không kịp về tối nay!” của thi sĩ Sơn Ca Linh, tâm hồn tôi lặng đi trong một cảm xúc cô lắng, đến xót xa. Bởi vì những câu thơ mang đầy màu sắc và ngọt ngào tình yêu của một người mẹ; những câu thơ đã khiến cho trái tim tôi run lên những nhịp rung mà nó đã lắng đi trong suốt 31 năm qua. Nay, những câu thơ chan chứa tình mẫu tử lại khơi gợi trong tôi nỗi nhớ người mẹ đã tần tảo nuôi tôi khôn lớn, và nên người cho đến hôm nay.

Tôi vẫn còn nhớ, sau những tháng ngày miệt mài ôn tập, mùa đông năm 1989, tôi nhận được quyết định của Sở Y Tế Đường Sắt lên đường sang Ba Lan làm công tác chuyên môn. Đó là một nhiệm vụ thật bất ngờ, bởi vì tôi không bao giờ nghĩ rằng, mình sẽ đại diện cho ngành Y tế Đường Sắt để qua làm công tác chuyên môn với nước bạn, ‘Kết hợp châm tê trong phẫu thuật’. Bởi vì, vào giai đoạn đó, việc chọn và cử cán bộ đi công tác nước ngoài không phải là điều dễ thực hiện, nhất là đối với một bác sĩ còn trẻ người non dạ như tôi.


1. CON ĐI KHI MẸ CÒN RẤT TRẺ

“Con đi khi mẹ còn rất trẻ,
Thân cò đâu nhớ nỗi chia xa.
Nếu có khi mùa xuân trở lại,
Mong con về Tết ở quê nhà!”

Ôm hôn mẹ, mà lòng con tràn trào nước mắt. Con có linh cảm, con sẽ không còn cơ hội gặp mẹ lần nữa. Tuy ánh mắt của mẹ đượm buồn, nhưng đôi môi mẹ vẫn nở nụ cười động viên khuyến khích. Năm ấy, mẹ đã bắt đầu luống tuổi vì đã vất vả trải qua 65 năm cuộc đời nơi trần thế. Tuy không đến nỗi hom hem, nhưng những tháng ngày tần tảo nuôi chồng, chăm con khi xưa, đã làm cho khuôn mặt mẹ bắt đầu hằn lên những nếp nhăn của tuổi tác. Để rồi, “Khi con đi, mẹ không còn trẻ nữa”.

‘Thân cò đâu nhớ nỗi chia xa’, làm sao mẹ không nhớ đứa con trai đầu lòng, mà mẹ đã từng khấn xin với Chúa. Mẹ nhớ lắm chứ, mẹ chỉ dối lòng mình thôi. Bởi con biết mẹ rất buồn, có chăng là mẹ dấu đi những giọt lệ, không muốn nó làm mềm lòng con, vì mẹ sợ nỗi buồn của mẹ có thể làm nhụt chí nam nhi. Mẹ tiễn con đi trong nụ cười tươi tắn, nhưng không nở trọn vẹn như cánh hoa đón nắng ban mai.

Mẹ rất mong mùa xuân mau đến, để cháu con có niềm vui được sum vầy bên ông bên bà, bên tình cha nghĩa mẹ. Nhưng không thể nào mùa xuân tuổi đời của mẹ trở lại được nữa, nó đã trôi qua theo năm tháng. Cho nên, “Nếu có khi mùa xuân trở lại”, bây giờ mùa xuân đó, không thể là ‘Nếu’, mà chỉ có thể là đứa con trai yêu dấu của mẹ, trở về với ‘lòng mẹ bao la như biển thái bình’. Chỉ có nó mới có thể làm tung lên những con sóng dạt dào yêu thương đang muốn tràn trào lên những bãi bờ xa vắng.

Mẹ ơi! Mẹ nói: “Thân cò đâu nhớ nỗi chia xa”, thế sao mẹ lại nhắn rằng, “Mong con về Tết ở quê nhà”. Con biết, chỉ không đầy hai tháng nữa là Tết đến xuân về, nhưng con không biết ‘Mùa Xuân’ của mẹ có về kịp hay không! Khi mà con chỉ mới bắt đầu nhận công việc, trong một môi trường vừa mới vừa hoàn toàn xa lạ, chưa quen người quen việc, chưa hiểu cả tiếng của người và chưa bắt kịp với tốc độ công việc, thì làm sao có thể được về thăm mẹ vào dịp đầu xuân.


2. NHƯNG RỒI GIÓ ĐÔNG QUA NẮNG HẠ

“Nhưng rồi gió đông qua nắng hạ,
Tóc mẹ đen rồi ngã hoa râm.
Con gió bụi trần vương sỏi đá,
Nhớ con mẹ khẻ giọt lệ thầm.”

“Nhưng rồi gió đông qua nắng hạ”, con đã không thể kịp về với mẹ vào mùa xuân năm ấy, để cùng anh chị em và con cháu chúc tuổi mẹ. Có lẽ mùa xuân năm đó, niềm vui của mẹ không được trọn vẹn, bởi vì vắng bóng một cánh chim đầu đàn, để cùng nhau hợp xướng ca khúc mừng xuân chúc thọ, bằng những tiếng hót líu lo mà mẹ vẫn thích nghe, mặc dù đôi lúc nó làm cho mẹ cười xòa vì chúng hót sai cung lạc điệu.

Đông qua, xuân đến và nắng hạ bắt đầu chói chang. Ánh nắng không nhuộm cho mái tóc mẹ thêm óng mượt và đen huyền được nữa, nhưng nó làm óng lên những sợi bạc lấp lánh trong ánh hoàng hôn tuổi tác, “Tóc mẹ đen rồi ngã hoa râm”. Vâng, con đã thoáng thấy vẻ đẹp yêu thương từ những sợi bạc đã ngày càng nhiều hơn khi con lên đường phục vụ. Và giờ đây, mẹ ơi! Con không biết đứa em hay đứa cháu nào sẽ nhổ cho mẹ những sợi quăn úa để cho mái tóc mẹ vẫn giữ được vẻ đẹp trời mây.

Nhưng rồi, “Con gió bụi trần vương sỏi đá”, đã không để cho mái tóc mẹ mãi óng mượt, mà cứ khô dần đi bởi những ‘Con gió bụi trần’. Không những mang bụi trần, con gió còn mang cả những ‘sỏi đá’ nặng nề của bệnh tật ập đến một thân cây đã bắt đầu cằn cỗi; và không chỉ làm cho lá vàng rơi rụng, mà cả những chiếc lá còn xanh cũng thay nhau rời cành.

“Nhớ con mẹ khẻ giọt lệ thầm”, không nhớ sao được, khi mà đứa con đã bao lần bị mẹ bảo nằm xuống, đánh những cái roi yêu thương, để nhắc nhớ con đừng lỗi phạm, mà mẹ lại chan hòa nước mắt. Bây giờ không chỉ, ‘Nhớ con, mẹ khẻ giọt lệ thầm’, mà ngược lại còn là, ‘Nhớ mẹ, con khẻ giọt lệ thầm’. Bởi vì, khi đã có con có cháu, con mới cảm nghiệm được những giọt nước mắt của tình mẫu tử – mẹ đau hơn cả con đau. Mẹ ơi! mẹ cứ đánh đều đều những chiếc roi theo từng nhịp yêu thương của mẹ nữa đi, để nương theo đó, tim con sẽ tấu thành bản hùng ca, mà mẹ muốn con hát lên trong chính cuộc sống của mình.


3. THỜI GIAN NỐI MÙA QUA LẶNG LẼ

“Thời gian nối mùa qua lặng lẽ,
Mắt mờ thấp thỏm cuối trời xa.
Đã mấy chiều hoang ai đứng đợi,
Con về môi mẹ bỗng trổ hoa!”

Không như thời đại hôm nay, có điện thoại thông minh, màn hình trực tiếp, muốn gọi, muốn gửi, muốn nhắn, muốn xem bất cứ lời thư hay hình ảnh nào cũng được. Khi đó, con đếm từng ngày để mong nhận được thư của mẹ. Càng đếm, con càng cảm thấy mỗi ngày như dài thêm, và con hiểu rằng, trái tim của mẹ cũng đang ngày càng trĩu xuống bởi sức nặng của thời gian, khi mong những ‘lời yêu’ của con hồi đáp, “Thời gian nối mùa qua lặng lẽ”.

“Mắt mờ thấp thỏm cuối trời xa”, ôi! câu thơ đẹp xiết bao. Nó vẽ lên trong tâm hồn con, hình ảnh của mẹ đang từng ngày trông ngóng đứa con yêu. Con không là họa sĩ để vẽ bức tranh ấy tặng mẹ. Nhưng hình ảnh ấy vẫn luôn in đậm trong trái tim con, suốt những năm tháng xa mẹ, và cho mãi đến hôm nay. Dù mắt mẹ không mờ vì tuổi tác, nhưng con bên tây, mẹ bên ta, thì cuối chân trời thăm thẳm, mẹ cũng chẳng nhìn thấy được con. Nhưng con biết rằng, trái tim mẹ vẫn luôn dõi bước theo con trên từng chặng đường cuộc sống.

Ai là người đã từng đợi con mỗi chiều về sau một ngày phục vụ! nếu không phải là mẹ, cho dù con đã không còn nhỏ nữa. Nỗi lo lắng cho sự bình an của con luôn trở thành niềm vui cho mẹ, khi mỗi ngày mẹ nhìn thấy con bình an đi làm về. Nhưng hôm nay nơi xứ người, con không biết ngày nào mới trở lại quê hương, nên chiều chiều, dù vắng bóng con, mẹ vẫn cầu cho con trong từng lời kinh chuỗi hạt “Đã mấy chiều hoang ai đứng đợi”.

Mẹ à! ai cũng thích ngắm những cành mai rộ hoa trong những độ xuân về, nhưng họ lại trầm trồ và tấm tắc khen những gốc mai sần sùi đầy nếp nhăn nhưng vẫn tươi những sắc hoa vàng óng ả. Mai càng già, gốc càng lớn, hoa lại càng quí. Giờ đây, mỗi lần ngắm hoa, con lại nhớ đến nụ cười của mẹ. Đôi môi của mẹ không còn căng tràn sức sống, nhưng những nếp nhăn lại tạo nên những họa tiết, những điểm nhấn sinh động, làm cho ‘nụ đông’ của mẹ trở nên ấm áp và đáng yêu lạ thường, cho dù nó không còn rực rỡ, “Con về môi mẹ bỗng trổ hoa”.


4. BÂY GIỜ MẸ KHÔNG CÒN BIẾT NỮA

“Bây giờ mẹ không còn biết nữa,
Thôi chiều ra ngõ mỏi mòn trông.
Hết nụ cười tươi, dòng nước mắt,
Quên mang nỗi nhớ ngập trong lòng!”

Rồi một ngày, con nghe tin sức khỏe của mẹ bắt đầu yếu dần sau những tháng năm chống chọi với bệnh tật. Mẹ sốt cao, ăn uống kém dần và tinh thần không còn tỉnh táo như trước, lúc tỉnh lúc mê. “Bây giờ mẹ không còn biết nữa”, không phải ‘mẹ không còn biết nữa’ vì tuổi già làm cho mẹ lú lẫn, nhưng con cảm thấy rằng, có lẽ sức đề kháng của mẹ với bệnh tật đã không còn mạnh mẽ như xưa.

Mẹ bắt đầu nằm liệt giường và không còn đủ sức đứng lên để có thể mỗi chiều – “Ra ngõ mỏi mòn trông”. Con nôn nóng, tìm đủ mọi cách xin phép về Việt Nam để chăm sóc cho mẹ, nhưng dễ gì được đâu. Khi mà mẹ, “Thôi chiều ra ngỏ mỏi mòn trông”, thì lúc đó, con lại là người ‘Mỗi chiều ra ngõ trông quyết định’, mong sao sớm được phép cấp trên để kịp về thăm mẹ hiền, nhưng lực bất tòng tâm.

Cơn sốt kéo dài làm nụ cười của mẹ thêm héo úa và khô kiệt cả dòng nước mắt, “Hết nụ cười tươi, dòng nước mắt”. Khi nơi quê nhà mẹ đang sốt cao, thì cùng lúc đó bên Ba Lan trời lạnh cóng, tuyết rơi trắng cả bầu trời, con cũng bị cơn sốt dằn vặt đến nỗi bạn bè nhìn bảo, sao thấy bạn mệt mỏi đến thế; và cả bệnh nhân cũng quan tâm hỏi, sao bác sĩ ủ ê đến vậy. Bởi vì, con cũng đã, “Hết nụ cười tươi, ai thăm hỏi ”, và, “Tràn trào nước mắt, lúc cầu kinh”.

Bệnh ngày càng trở nặng, mẹ mất dần khả năng nhận biết người thân trong gia đình và từ từ đi vào hôn mê, “Quên mang nỗi nhớ ngập trong lòng”. Làm sao tâm hồn của mẹ có thể quên được những đứa con mà mẹ đã mang nặng đẻ đau; nhưng cái thân xác mỏng dòn đã không cho phép mẹ mang theo nỗi nhớ ngập lòng. Mẹ phải buông bỏ tất cả để thanh thản ra đi. Và, “Nỗi nhớ ngập lòng” đã trở thành cơn đau làm cho con phát sốt mỗi khi đêm về.


5. MẸ NHƯ CHIẾC LÁ ĐANG CHỜ CỘI

“Mẹ như chiếc lá đang chờ cội,
Cây cau còm cõi đã lung lay...
Ai biết bao giờ khi Chúa gọi ?
Con lo không về kịp tối nay !”

Con nôn nóng chờ tin mẹ mỗi ngày, bởi con biết, “Mẹ như chiếc lá đang chờ cội”. Khi đó, những mũi kim châm tê của con có thể khống chế được cảm giác đau của bệnh nhân trong lúc phẫu thuật, nhưng nó trở nên hoàn toàn bất lực để gắn lại chiếc lá đang sắp rơi theo quy luật của tạo hóa. Chỉ có một ‘Người’ duy nhất có thể làm được điều đó – Đấng đã tạo thành nên nó. Và con chỉ còn biết tín thác mọi sự cho Ngài.

Lúc này, con mới cảm nhận được câu thơ của Nguyễn Du: “Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu”. Thời gian lo lắng trong nỗi mong nhớ khôn nguôi chẳng khác gì tù ngục, không những lê thê mà còn trĩu nặng, bởi vì con biết, “Cây cau còm cõi đã lung lay”. Mẹ đã yếu lắm rồi, không còn ăn được nữa, nước uống cũng đã ngưng, thì ‘Cây cau đã lung lay’ lấy gì nuôi dưỡng để đủ sức đứng vững mà không quỵ ngã.

Trong cuộc sống, Thiên Chúa luôn kêu gọi chúng ta trở về với Ngài mỗi ngày, và không một ai biết rõ giờ nào Ngài đến để gọi chúng ta lần cuối cùng, “Ai biết bao giờ khi Chúa gọi”. Nhưng linh cảm cho con biết một điều chắc chắn, mẹ sẽ sớm về cùng Chúa trong nay mai. Ngay lúc này, mẹ không còn làm chủ thời gian của mẹ được nữa, Thiên Chúa sẽ đón nhận lại Thần Khí mà Ngài đã ban cho mẹ trong suốt cuộc hành trình 66 năm nơi trần thế.

Con nài nỉ Chúa và khẩn cầu Đức Mẹ thương ban cho con diễm phúc được nhìn mặt mẹ lần cuối. Dù đức tin vẫn dạy cho con biết rằng, không sớm thì muộn, con cũng sẽ sum họp với mẹ trên Nước Trời. Nhưng sao con vẫn ao ước điều đó được Ngài thực hiện ngay hôm nay, trong cõi đời tạm này. Bởi trái tim con đang tăng nhịp đau với những nhát bóp giục giã khôn xiết – Con muốn được nhìn thấy nụ cười của mẹ. Nhưng, mẹ ơi!, “Con lo không về kịp tối nay”.



Nha Trang, ngày 28/08/2021

Lễ kính thánh Augustino, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Bình Nhật Nguyên


[1] Têrêsa Nguyễn Vui, Dòng Nữ Tỳ Chúa Giêsu Linh Mục, Thương lắm mẹ ơi!, Nguồn: https://tgpsaigon.net/bai-viet/thuong-lam-me-oi-64032





INÊ TỬ ĐẠO VÃN

Những vấn đề nhìn từ văn bản


Thánh I-nê, Trinh nữ tử đạo


***
NHỮNG VẤN ĐỀ

1.vi.wikipedia cho biết:
Năm 1838, trong Tự Điển Việt-La (Dictionarium Anamitico Latinum) của Jean Louis Taberd, phần phụ lục trang 110 đến 135 có in một bài thơ (vãn) tên Inê Tử đạo vãn về một vị tử đạo có tên thánh là Inê. Bài vãn gồm 562 câu, in song song với bản dịch tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Latinh. Vị tử đạo trong bài thơ này cũng là một người phụ nữ, cũng bị bắt vào tù, bị đánh đập tra tấn, chồng con cũng vào thăm khuyên bỏ đạo nhưng vẫn kiên quyết theo Chúa tới cùng. Vì lẽ đó cho nên có ít nhất hai tác giả đã cho rằng vị tử đạo này chính là Thánh Anê Lê Thị Thành. Tuy nhiên điều này không hợp lý vì Tự Điển Việt-La được in năm 1838, trong khi Thánh Anê Thành tử đạo năm 1841.
Về tác giả, Lê Văn Hảo nhận xét Inê Tử đạo vãn khuyết danh, nhưng Lê Đình Thông lại cho rằng chính Thánh Philipphê Phan Văn Minh (1815 - 1853) là tác giả đồng thời cũng là dịch giả ba bản tiếng Latinh, Anh và Pháp.
(https://vi.wikipedia.org/wiki/An%C3%AA_L%C3%AA_Th%E1%BB%8B_Th%C3%A0nh )
2. Lm Đỗ Quang Chính (Nhà Sử học)
Sau năm 1700, cha Loren Huỳnh Lâu (1656-1712), viết cuốn Inê tử đạo vãn, dài 560 câu, nói về em ruột của cha là bà Inê Huỳnh Thị Thành chết rũ tù vì đạo tại Nha Ru (phía Bắc Nha Trang ngày nay) 25-12-1700.
(http://loanbaotinmung.net/noidung/992)
3. Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng,
Căn cứ vào những nguồn tư liệu đáng tin cậy, trong cuốn “Văn học Công giáo Việt Nam, những chặng đường” trang 134, Lê Đình Bảng cho biết: Inê tử đạo vãn là một thiên trường ca bi tráng với 564 câu thơ Nôm lục bát và song thất lục bát phức hợp nội dung kể chuyện bà Inê Thanh chết rũ tù vì đạo năm 1700 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) ở Đàng Trong. Tác giả không ai khác hơn là thầy cả Lôren Huỳnh Lâu (1656-1712). Quê quán ở họ đạo Lâm Tuyền, phủ Diên Ninh (nay thuộc tình Khánh Hòa)
“Inê Huỳnh Thị Thanh (1670-1700) là con thứ 8 trong một gia đình đạo hạnh gồm 12 anh chị em. Thân phụ là ông Carôlô Huỳnh Lam, thân mẫu là bà Isave. Chính Carôlô đã bỏ công bỏ của lập một nhà phước chị em Mến Thánh Giá tại Lâm Tuyền lúc Inê mới 5 tuổi. Lên 16 tuổi, Inê mồ côi mẹ. 19 tuổi kết hôn với ông Mac-cô Hiền, sinh được hai con trai là Nabê 10 tuổi và Phaolo 7 tuổi. Bị bắt, bị giam và chết vì đạo trong ngục Nha Rư (Phía bắc Nha Trang ngày nay) vào ngày 25-12-1700.
Với những kết luận của các nhà nghiên cứu trên, vấn đề tưởng như đã rõ, song không phải là không có những điều còn cần xem xét lại.
Chẳng hạn, Inê tử đạo vãn được sáng tác vào thời gian nào? Ai là tác giả? Là Loren Huỳnh Lâu, anh của Inê Thanh hay tác giả là thánh Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853), người giúp Giám mục Taberd biên soạn tự điển Việt-La (in năm 1838)? Ngay cả văn bản chữ Quốc ngữ và ba bản dịch Anh, Pháp, Latinh của Inê tử đạo vãn in trong cuốn tự điển này là do ai thực hiện (là Giám mục Taberd hay Thánh Philipphê Phan Văn Minh) cũng chưa rõ.
TIẾP CẬN VẤN ĐỀ TỪ CHÍNH VĂN BẢN TÁC PHẨM
1. Nhân vật bà Inê (Agnes) trong bài Vãn.
Bài Vãn (gọi tắt cho Inê tử đạo vãn), kể lại sự việc xảy ra như sau: (câu 105-112)
“Canh thìn vừa thuở thiên khai
Nguyễn chúa trị đời hiệu lịnh cả ra:
Truyền cho thiên hạ gần xa,
Ai thờ đạo Phật thì ta dong tình,
Bằng ai giữ đạo thiên sinh,
Chẳng chừa thì bắt tội tình chớ tha.
Chẳng ngờ có đứa gian tà,
Lòng hềm độc dữ cáo bà Inê.”
Bản dịch tiếng Anh của bài Vãn trong tự điển Việt-La do Taberd biên soạn ghi rõ: “In
the commencement of the year Canh thìn. Nguyễn Minh, king of the realm issues an edict”. Vậy Nguyễn Minh là đời vua, chúa nào? Và ban chỉ dụ “Ai thờ đạo Phật thì ta dong tình,/ Bằng ai giữ đạo thiên sinh, /Chẳng chừa thì bắt tội tình chớ tha”.
Canh Thìn là những năm 1700, 1760, 1820. Chúa Nguyễn Minh là ai?
Sách sử cho biết Minh Chúa, Minh Vương là danh hiệu của Chúa Nguyễn Phúc Chu (16751725). Bài Vãn ghi: Bà Inê bị bắt vì chỉ dụ cấm đạo của Chúa Nguyễn năm Canh Thìn, tức là năm 1700. Đúng là trong khoảng 1700-1704 Minh Vương có nhiều hành động cấm đạo. “Nhà vương ra lệnh bắt tất cả các thừa sai và một số giáo hữu cốt cán, tuy nhiên đã không tuyên án tử hình nào, mà chỉ giam giữ và bắt nhịn đói nhịn khát để làm cho sờn lòng và cuối cùng phải ra lệnh phóng thích hoặc bắt đi lao dịch cắt cỏ cho voi ăn. Năm 1704, tất cả các thừa sai được trả tự do và vẫn được ở trong vương quốc”.(dẫn theo Nguyễn Ngọc Quỳnh:
http://chuaxaloi.vn/thong-tin/doi-song-ton-giao-o-dang-trong/2938.html).
Như vậy, về thời điểm của câu chuyện có thể được xác định là năm Canh Thìn (1700) đời Chúa Nguyễn Phúc Chu (16751725), bà Inê, bị cáo gian và bị bắt.
Nhưng bà Inê là ai? Là bà Huỳnh Thị Thanh hay bà thánh Anê Lê Thị Thành tử đạo 1841?
Trong bài Vãn (Câu 377-381), bà Inê làm thơ (viết thư) gửi cho con nói rõ về gia đình:
Mẫu thân Huình Thị mẹ là Inê:
Sinh hai con châu báu sánh kề.
Mẹ những ước đá vàng trượng mạo.
Mát cô danh ấy hiệu thật Nghiêm Hiền.
Cậu là Loren cha linh hồn thật.
Bà Inê trong bài Vãn là Huỳnh Thị Inê, chồng là ông Mac cô (Mark) Hiền, anh trai là Loren (Laurent). Bài Vãn nói rõ gia đình bà Inê như sau:
Ông Côrôlô Lam, ở Lâm Tuyền, Phủ Diên Ninh (Khánh Hòa), có vợ là Sa-ve (Elizabeth), sinh 12 con: bảy trai, 5 gái hiếu hòa. Loren (Laurent) là trưởng nam, dâng mình cho Chúa, đang chức thầy, coi sóc giáo dân. Inê (Hùinh Thị) là con thứ 8, trọn bề thảo ngay, khiêm nhường nhân từ. Năm Inê 16 tuổi, mẹ chết. Năm Inê 19 tuổi, cha định việc hôn nhân. Inê kết hôn với Mác cô Hiền (Mark) sinh hai con trai là Nabê (Barnabas) và Phaolô. Năm Inê 28 tuổi, cha chết (ông Côrôlô). Năm Canh Thìn thời Chúa Nguyễn, ba người: Inê, Mắt ta (Mattha) và Duminh (Dominique) có cáo trạng theo “đạo thiên sinh”. Họ bị bắt. Bị giam cầm, bỏ đói. I nê chết trong ngục.
Như vậy bà Inê trong bài Vãn là Huình Thị Inê không phải là bà thánh Inê Lê Thị Thành tử đạo 1841.
2. Loren Huỳnh Lâu có phải là tác giả bài Vãn không?
Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng viết: “Từ năm 1700 giáo dân kinh đô Huế và Quảng Trị sống trong cảnh chết chóc, bắt bớ tù đày, Loren phải giả dạng làm người đi bán thuốc dạo để giúp đỡ, an ủi giáo dân. Trong tình cảnh này, ông đã chứng kiến tận mắt cái chết kiên cường của em ruột mình là Inê Huỳnh Thị Thanh và viết trường ca Inê tử đạo vãn”(chú thích 72, tr. 134, sđd).
Bài Vãn cho biết gì về Loren?
Loren là trưởng nam, dâng mình cho Chúa và đang coi sóc giáo dân:
“Loren thứ nhứt thật là trưởng nam,
Phú dâng cho Chúa mặc làm.
Học hành thông suốt, chức đang nên thầy,
Vào ra xem sóc nước vầy.”(câu 14-17).
Sau 10 năm, khi ông Côrôlô chết (Inê 28 tuổi), được Inê viết thư báo tin, Loren mới trở về nhà cùng các em lo việc an táng cha, phân chia tài sản cho các em, dặn dò các em giữ đạo cho bền,
Mười năm cha ở phương nao?
Lòng em trông nhớ rày sao mới về?
Loren an ủi mọi bề:
Các em chớ dại lỗi nghì chẳng nên.
Mới phân gia nghiệp điền viên.
Phần anh phú để cầu nguyền cho cha…
(câu 60-80)
Sau đó Loren lại ra đi.
“Loren từ giã phăng phăng lại dời.
Bình Khương vừa đến nghỉ ngơi”.
(câu 100)
Bình Khương là tỉnh Khánh Hòa, gồm hai phủ: Thái Khương và Diên Ninh.
Khi nghe tin Inê bị án tử, Loren đến viếng và an ủi. Loren định ở lại cùng chịu chết với em nhưng Bề trên và Inê hết sứ can ngăn, ông lại trở về với giáo dân.
Khi được báo tin Inê chết, Loren cùng giáo dân đến xin đem xác về đất thánh an táng.
Hay tin bổn đạo tới nơi.
Loren đi trước các người đi sau,
Xin quân mở cửa cho mau,
Quân quan xem thấy mọi nơi chói lòa,
Tức thì đam xác người ra. [đam= đem]
…Đam về đất thánh một khi
(Câu 520-528)
Suy nghĩ về gương sáng của Inê, Loren viết một cuốn sách để dạy dỗ giáo dân và lưu truyền con cháu. Trong bản dịch tiếng Anh, đó là cuốn hồi ký (memoir):
“Linh hồn tới chốn lưu li,
Thanh nhàn tự tại oai nghi rỡ ràng.
Công danh ghi tạc bia vàng,
Trong đời có một nên gương trong trời.
Chép làm một bổn để đời,
Truyền cho thiên hạ người người học theo.”
(Câu 540-545)
Bản dịch tiếng Anh là:
“I have written her life to preserve it to posterity
That all may strive to imitate her

This memoir is written in clear language;
Read it with attention; pray with fervour”

Như vậy, Loren đã viết về cuộc đời của Inê. Tuy nhiên hồi ký (memoir) ấy có phải là “Inê tử đạo vãn” hay không thì chưa rõ.
3. Nhân vật Loren nhìn từ góc kiến tạo tác phẩm
Inê tử đạo vãn được viết như một truyện dài bằng thơ theo kiểu cổ điển. Truyện có lớp lang theo từng nhân vật. Mỗi lớp, tác giả tập trung kể hành động và lời nói của nhân vật, rất ít tả bối cảnh xã hội. Góc trần thuật là của tác giả, một người đứng ngoài câu truyện, nhìn về các nhân vật, các sự việc mà thuật lại khách quan. Nhiều đoạn tác giả để nhân vật trực tiếp trần thuật.
Câu trúc truyện như sau
1. Giới thiệu chung (4 câu)
2. Gia thế Inê: quê quán, cha mẹ, gia đình 12 anh em. I nê thứ 8. Kể lại sự việc, I nê từ nhỏ đến khi mẹ chết, lấy chồng, rồi cha chết (lúc Inê 28 tuổi).
3. Inê bị bắt, bị tống giam: Năm Canh Thìn, Chúa Nguyễn ra lệnh cấm đạo, I nê bị cáo gian, bị quan nghè bắt tra hỏi. I nê không chịu bỏ đạo nên bị tống giam.
4. Inê ở trong ngục. Loren thăm em và khích lệ em. Loren cũng đòi ở lại chịu chết cùng em. Mac cô đến thăm vợ, khuyên Inê trở về nhà. Quan lại tra hỏi Inê. Inê nhất mực theo Chúa dù phải chết. Từ đó Inê bị bỏ đói khát. Trong ngục, Inê viết thư gửi về nhà, nói đạo lý và dặn dò mọi người bền lòng giữ đạo. Mac cô lại dẫn con thăm Inê và khuyên Inê trở về.
5. Inê tử đạo. Inê bị bỏ đói. Sau hơn bốn tuần, quân canh không thấy gì. Loren đến viếng và giải tội cho Inê rồi ra đi. Sau đó Inê về với Chúa. Lúc ấy đang bão lụt, bỗng tạnh nắng. Ánh sáng chói lòa và đầy hương thơm (câu 523, 530)
Làm thinh thôi mới chấp tay,
Để qua trên ngực Chúa rày rước đi.
Giữa ngày bảo lụt đang thì,
Bỗng liền tạnh nắng tư vi như tờ.
(Câu 514-517)
6. Loren cùng giáo dân đến ngục xin đem Inê về an táng ở đất thánh. Loren suy nghĩ: Inê đã về nước Chúa, công danh ghi tạc bia vàng. Loren viết lại cuộc đời Inê để mọi người học theo và “Để truyền sách ấy nối dòng đời sau,” (câu 557)
Trong bài Vãn, Loren chỉ là một nhân vật, được miêu tả lại như các nhân vật Inê, Mac cô, quan nghè.
Loren không đứng ở ngôi thứ nhất (xưng Tôi) để thuật lại sự việc như trong một tác phẩm Hồi ký (thể memoir). Inê tử đạo vãn là truyện thơ (có một ít chất Ký). Bởi ngoài chi tiết về gia thế của Inê, thì phần còn lại: thời gian, không gian, sự việc không được đặt trong bối cạnh xã hội cụ thể.
Thí dụ: Tác giả không thuật lại trong 10 năm cách xa gia đình, Loren làm gì, ở đâu và sống thế nào? Loren là thầy tu sao không bị bắt, mà ra vào nhà ngục nhiều lần dễ dàng? Hoặc quan nghè tên gì, nhà ngục ở đâu, trong nhà ngục ấy còn giam những ai nữa, họ sống thế nào cũng không được ghi nhận. Nếu Loren là tác giả, ông sẽ ghi lại những điều ấy rất cụ thể. Đồng thời ông sẽ để lại dấu ấn nhân thân cụ thể trong suốt tác phẩm. Chẳng hạn, trong Thượng kinh ký sự (viết xong năm 1783), Hải Thượng Lãn Ông (Lê Hữu Trác) đã để lại dấu ấn nhân thân rất rõ trong chuyến ông lên kinh chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm và thế tử Trịnh Cán. Trong Inê tử đạo vãn, người đọc không tìm thấy dấu tích nhân thân của Loren.
Vì thế, có thể nhận ra Loren chỉ là một nhân vật. Ông gặp và chia sẻ công việc, suy nghĩ với Inê. Ông không biết những chuyện khác, như chuyện quan nghè tra hỏi Inê, chuyện Mac cô dẫn con đến thăm Inê hay chuyện Inê viết thư gửi về nhà…
Chính tác giả Inê tử đạo vãn là người xây dựng những tình huống truyện xoay quanh Inê, như trong cách viết tiểu thuyết (sử dụng hư cấu).
Như vậy, căn cứ vào yêu cầu kiến tạo tác phẩm, xây dựng nhân vật, có thể xác định Loren không phải là tác giả của Inê tử đạo vãn.
GIÁ TRỊ CỦA INÊ TỬ ĐẠO VÃN
1.Về tôn giáo
Inê tử đạo vãn là một dạng truyện “Hạnh các thánh”. Loại truyện này có từ thời Girolamo Majorica (1591-1656). Hạnh các thánh kể lại các hạnh đạo đức thánh thiện của các thánh để làm gương cho giáo dân học tập. Inê nêu gương đức tin trung kiên theo Chúa dù có phải giam cầm và chết rục trong tù. Thái độ của Inê trước quan nghè thật vững vàng. Inê làm sáng danh đạo Chúa, cậy trông vào Chúa, hết lòng và khao khát nước trời hơn tất cả mọi sự. Inê chiến thắng mọi yếu đuối của con người và ra đi bình an với những biểu hiện khác thường của một linh hồn được Chúa đón về: Mọi nơi chói lòa, hương thơm ngào ngạt.
Đây là đoạn Inê đối thoại với quan nghè:Ông nghè mới hỏi vân vi:
Nàng cùng nam tử toan nghi một lời,
Bay mà bỏ đạo Chúa trời,
Trở về đạo Phật, giày nơi ảnh nầy,
Thì tao thứ tội cho bay;
Chẳng thì tao giết bỏ thây oan mình.
Nước nầy Chúa thánh thần minh.
Nào ai giữ đạo thiên sinh bao giờ,
Chúa trời bay thật đạo vơ,
Bỏ đi tao đặng thứ tha dong tình,
Chẳng thì tao giết bỏ mình,
Phước đâu chẳng thấy, tội tình nhuốc nha.

Inê đặt gối trình qua:
Chúng tôi giữ đạo Chúa cha nhơn từ,
Thật đàng công chính chẳng tư.
Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người?
Mặc ông tha giết hai lời;
Tôi thà chịu chết, cõi trời nên công.
Giết tha thì mặc lượng ông,
Kim thạch là lòng chẳng chậy mỗ phân.
(Câu 141-160)


2. Về văn chương Công giáo
Bài Vãn dài 562 câu lục bát Nôm, có xen kẽ những “cáo trạng” viết bằng chữ Hán, thể tự do (Văn bản tôi tham khảo là bản Quốc ngữ in trong tự điển Việt-La của Taberd năm 1838).
Mặc dù bài Vãn có một số chữ Nôm cổ ngày nay không còn sử dụng, nhưng nhìn chung, ngôn ngữ của bài Vãn dễ hiểu, gần với văn nói bình dân, không dùng điển tích Trung Quốc như văn chương bác học. Xen kẽ cũng có những câu giàu tính văn chương.
Cấu trúc truyện mạch lạc, lớp lang sắp xếp theo hành trạng của các nhân vật. Nổi bật là việc miêu tả cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh cho lý tưởng giữa Inê với quan nghè, với Loren, Mac cô và với chính mình (mà Inê gọi là sự các dỗ của ma quỷ). Đức tin mạnh mẽ giúp Inê chiến thắng. Chính những cuộc đấu tranh này tạo nên sự hấp dẫn cho câu truyện.
Nhân vật Inê hiện lên như một người phụ nữ vừa truyền thống, vừa rất mới.
Truyền thống ở đạo nghĩa hòa hiếu với cha mẹ, chồng con, anh em, làng xóm, nhưng rất mới ở đức tin theo Chúa, trung kiên đến cùng, đối mặt và vượt qua mọi hoàn cảnh; mới ở sức cảm hóa tất cả (Mac cô, Loren, Duminh và mọi người đều nghe theo lời Inê căn dặn, giữ đạo cho bền). Inê còn nghĩ đến giáo hội khi khuyên Loren trở về với giáo dân. Giáo hội đang trong cơn bịu bách hại, cần có chủ chăn hướng dẫn đoàn chiên. Và mới ở sự hiểu biết (lẽ đạo), ở sự đối đáp lý lẽ với quan nghè mà quan nghè phải chịu phục. Tầm vóc Inê đã vượt xa kiểu người phụ nữ cũ chỉ biết công, dung, ngôn, hạnh, nội trợ trong nhà.
Về nghệ thuật, Inê là một nhân vật phụ nữ Việt, được miêu tả trong bối cảnh xã hội Việt đương thời (1700). Cách xây dựng nhân vật này đi trước Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du (1765-1820), và Kiều Nguyệt Nga trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiều (1822-1888). Cả Thúy Kiều và Kiều Nguyệt Nga đều là nhân vật Trung Quốc, được miêu tả ước lệ, xa lạ với người dân Việt.
Thể truyện thơ Nôm trong bài Vãn này cũng đi trước Truyện Kiều và Lục Vân Tiên. Cách dựng truyện, cách khắc họa nhân vật, cách dùng tiếng Việt đã có những phẩm chất của văn chương hiện đại.
VẤN ĐỀ CÒN LẠI
Chúng ta cần tìm kiếm tư liệu để xác định cho được tác giả chính thức của Inê tử đạo vãn; đồng thời tìm kiếm tác giả đã chuyển bài Vãn sang chữ Quốc Ngữ cùng với bản dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, La tinh in trong tự điển Việt-La năm 1838 của Taberd.
Mặc dù đã có những chứng liệu, rằng Thánh Philipphê Phan Văn Minh giúp Giám mục Taberd biên soạn tự điển, song đến nay chưa xác định được Taberd hay Phan Văn Minh, ai là người chuyển ngữ Inê tử đạo vãn bằng chữ Nôm sang Quốc Ngữ, và ai dịch bài Vãn này sang tiếng Anh, Pháp và La tinh?
Các nhà nghiên cứu cần xem xét nhiều mặt của bài Vãn này để khẳng định những đóng góp quý báu của văn học Công giáo vào văn học dân tộc ngay từ buổi đầu.


Tháng 8/ 2021
Được tạo bởi Blogger.