Biến cố ngã ngựa trên đường đi Đa-mát đã biến đổi cuộc đời Saul

Với 28 tuổi đời, sự nghiệp văn chương của Hàn Mạc Tử trải dài mười năm cuối, với hai giai đoạn trước và sau 1937, năm nhà thơ biết rõ mình mắc bệnh phong.
Trong bài viết tựa đề: “Nửa đêm đi tìm Hàn Mạc Tử”, một người bạn của nhà thơ là Bùi Tuân nhấn mạnh rằng ông ngạc nhiên khi được đọc những bài thơ có khuynh hướng về Kitô giáo xuất hiện trong vài năm cuối đời Hàn Mạc Tử, và ông nôn nóng tìm gặp nhà thơ để trao đổi về chuyện này. “Lâu nay, tôi vẫn biết bạn tôi là người Công giáo, tính tình rất tốt. Nhưng tôi chưa thấy chàng viết gì có liên lạc về tôn giáo của chàng cả... Khi trợ bút cho trang văn chương của báo Công Luận cũng như vào lúc chàng vào Nam kỳ biên tập trang văn chương của báo Saigon, dưới tên ký Lệ Thanh và Hàn Mạc Tử, những ý tưởng về tôn giáo vẫn chưa xuất hiện dưới ngòi bút của chàng. Rồi trên đường xuôi ngược, ở xa, tôi được nghe và thấy Hàn Mạc Tử bước lên đài danh vọng của làng thơ với những tập thơ không in, trong ấy có cả tập Xuân như ý mà chàng gọi là thơ cầu nguyện”.


Câu hỏi nêu ra là tại sao có sự đột biến trong thơ Hàn Mạc Tử? Tại sao trước khi biết rõ mình bị bệnh phong (1937), Hàn Mạc Tử làm thơ rất hay, và sau khi biết điều ấy anh lại làm thơ cực hay? Tại sao trước đó anh chỉ làm thơ đời là chính còn sau đó anh lại nghiêng về thơ đạo? Sự đột biến là do bệnh phong hay cái gì khác?

Tiếp nối những câu trả lời khác nhau của nhiều người từ nhiều phía, tôi xin được góp phần lý giải theo một kinh nghiệm huyền học[1] Kitô giáo, kinh nghiệm của các vị thánh dòng Cát Minh Têrêxa về sự hiệp nhất tạo biến đổi: Con người chúng ta càng hiệp nhất với Thiên Chúa càng được biến đổi nên Thiên Chúa.

Ngay từ những trang đầu tiên, Kinh thánh Cựu Ước khẳng định rằng Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Thiên Chúa ban cho con người một mầm mống để có thể ngày càng trở nên giống Thiên Chúa. Mầm mống ấy là tự do, một sự tự do triệt để đến nỗi con người có khả năng tự nguyện đáp lại những gợi ý của Thiên Chúa lẫn khả năng không vâng phục, từ chối Thiên Chúa và chống lại Ngài. Hai chọn lựa đưa tới hai kết quả trái ngược:
- Nếu từ chối Thiên Chúa và theo đuổi ý riêng, người ta sẽ rơi vào ngõ cụt của đau thương khốn khổ và chết chóc, cả sự chết thể lý và cả sự chết tâm linh đời đời.
- Ngược lại, nếu từ chối ý riêng để đón nhận ý Thiên Chúa, người ta sẽ triển nở thành tuyệt tác theo ý định của Thiên Chúa.

Kinh thánh dùng hình ảnh nắm đất sét trong tay người thợ gốm. Nếu không chịu để cho người thợ gốm uốn nắn, đất sét sẽ mãi mãi là đất sét. Chỉ khi nào sẵn lòng để cho nghệ nhân tự do thao tác theo ý ông, từ uốn nắn, đẽo gọt, phơi nắng, nung trong lửa nồng cho đến sơn phết rồi đánh bóng, vv... thỏi đất sét kia mới trở thành một công trình tuyệt mỹ.

Cũng nơi những trang đầu tiên, Kinh thánh ghi lại kinh nghiệm bi đát: nguyên tổ loài người đã từ chối Thiên Chúa để gặt lấy đau khổ và trầm luân (tội nguyên tổ). Thế nhưng Thiên Chúa không bỏ mặc con người. Ngài hứa ban cho họ một Đấng Cứu Thế, chính là Con Một của Ngài, mặc xác phàm làm người như mọi người, trở nên người anh của mọi người và mở đường cho mọi người được làm con cái Thiên Chúa như Ngài. Với Tân Ước, ta không chỉ thành những bình gốm tuyệt phẩm mà còn trở nên giống Thiên Chúa, theo mẫu Người Con duy nhất của Ngài là Đức Giêsu Kitô. Nhờ có tự do, ta hưởng ứng sự sáng tạo của Thiên Chúa như đứa con đón nhận sự giáo dục đào tạo của cha mẹ (x. Dt 5, 7; 12, 5-7). Con cái càng gần gũi cha mẹ càng nhận được ảnh hưởng tốt của cha mẹ và việc giáo dục càng đạt hiệu quả cao.

Cũng thế, ta càng gần gũi Thiên Chúa càng nhận rõ ý Ngài và càng thuận theo ý Ngài lại càng gần gũi Ngài hơn và nên giống Ngài hơn. Nói cách khác, ta càng nên một lòng một ý với Thiên Chúa là Cha, càng được biến đổi nên giống Ngài. Sự hiệp nhất với Thiên Chúa trong một lòng muốn là sự hiệp nhất tạo biến đổi.

Tuy nhiên, được sinh ra dưới ảnh hưởng của tội nguyên tổ và giữa môi trường đáng thương của một nhân loại đang chối từ Thiên Chúa, ta thường kẹt vào chủ quan lầm lạc. Cả khi ta khao khát hướng thiện, cái nhìn của ta vẫn rất giới hạn. Vì thế, một đàng ta cần biết cương quyết vươn lên (chủ động) vừa cần biết ý thức rõ thân phận đáng thương của mình và để cho Thiên Chúa lôi ra khỏi cái chủ quan hạn hẹp của ta để đưa vào chương trình rộng lớn của Ngài (thụ động). Càng vâng phục Thiên Chúa, ta càng sớm thoát khỏi hình dạng xấu xí và thân phận nô lệ của con sâu để mặc lấy vẻ đẹp và sự tự do của cánh bướm.
Kinh nghiệm huyền học của các vị thánh Dòng Cát Minh Têrêxa là kinh nghiệm về cả hai mặt chủ động và thụ động ấy.

Con người chúng ta mang xác thịt nặng nề cho nên dễ bị giác quan đánh lừa, rơi vào lầm lạc. Bên cạnh đó, từ trước khi con người xuất hiện, đã có những thụ tạo vô hình của Thiên Chúa, tự cao tự đại chống lại Thiên Chúa Tạo Hóa nên không còn được hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa và bị trầm luân đời đời. Đó là các thần dữ hay ma quỷ. Những thụ tạo hư đốn này ghen tức khi thấy con người được phúc làm con cái Thiên Chúa, cho nên tìm mọi cách đạp đổ hạnh phúc ấy. Chúng kích thích trí tưởng tượng, phóng đại cái tôi của ta khiến ta tưởng mình là nhất. Thiên Chúa ban cho ta ba quan năng bên trong là trí năng (hiểu biết), ký ức (ghi nhớ và dự phóng) và ý chí (muốn) để ta hướng về Ngài. Thế nhưng thần dữ kích thích trí tưởng tượng và giác quan của ta để ta chạy theo các thụ tạo hữu hình và quên lãng Thiên Chúa. Ba quan năng bên trong bị lệch lạc, trở thành ba chướng ngại, ba xu hướng hủy diệt là tham, sân và si (tức ham hố, ghen ghét và ngu muội) kìm giữ ta trong cái chủ quan chật hẹp. Cái chủ quan không chỉ có tính cá nhân mà do ảnh hưởng của tội nguyên tổ và tội nhân loại, còn được dệt thành cái chủ quan tập thể. Cả cái chủ quan cá nhân và chủ quan tập thể hợp lại thành một thách đố cố hữu rất khó vượt qua.

Với ánh sáng lương tâm còn sót lại trong cõi lòng, ai cũng có thể trực giác thấy cái hay cái dở, cái lành cái dữ và biết rõ phải lánh dữ làm lành. Thế nhưng đang khi theo đuổi đường lành, mỗi người lại bị não trạng chủ quan làm lệch hướng, rơi vào chỗ tìm mình thay vì thực sự kiếm tìm Thiên Chúa Tạo Hóa.

Lộ trình tiến về hiệp nhất với Thiên Chúa có hai đoạn đường: phần trước là phần luân lý có tính chủ động, và phần sau là phần huyền học có tính thụ động. Ở phần thứ nhất có rất nhiều người cố gắng tiến bước, thế nhưng đến cuối đoạn đường thứ nhất (sự hoàn thiện luân lý), cái chủ quan sẽ khiến họ dừng lại, do tưởng mình đã đạt tới tột đỉnh. Chỉ những ai biết hưởng ứng ơn Thiên Chúa soi sáng và trợ giúp mới có thể ra khỏi mình, được giải thoát khỏi mình và được dẫn lên đoạn đường thứ hai. Mấu chốt để tiến bước là sự buông bỏ ở cuối đoạn đường thứ nhất, buông bỏ sự chủ động của tài sức riêng để nhường chỗ cho sự thụ động chiều theo ân sủng, tức là ánh sáng và sức mạnh của Thiên Chúa.

Giáo huấn về ơn hiệp nhất với hai nhịp chủ động và thụ động ấy được vị sáng lập Dòng Cát Minh Cải Tổ, Thánh nữ Têrêxa Avila, trình bày trong quyển Lâu Đài Nội Tâm.

Thánh nữ Têrêxa Avila hay Têrêxa Chúa Giêsu (1515-1582), người Tây Ban Nha, là nữ tu Cát Minh. Khi 7 tuổi đã được ơn yêu mến Chúa đến độ rủ người anh trốn nhà tìm đường chịu tử vì đạo, bởi vì muốn “chết để được thấy Chúa”. Đến 14 tuổi, mồ côi mẹ, cô quên lãng tình Chúa, chạy theo tình đời phù phiếm. Ông bố buộc lòng phải gởi con vào nội trú trường các nữ tu. 17 tuổi, cô bị bệnh kỳ lạ. Cô được soi sáng nhờ vài quyển sách về tâm linh và có dịp đào sâu kinh nghiệm. Khỏi bệnh, trốn bố vào Dòng sống đời tu Cát Minh. Ít lâu sau, bệnh tái phát, ngày càng nặng, tưởng chết, sắp đưa vào quan tài thì tỉnh dậy. Chị nhiều lần được ơn xuất thần, nhìn thấy Chúa. Thế nhưng cuộc sống tu viện ở đó không đủ nghiêm túc, chị lại phai nhạt tình Chúa, chạy theo tình đời. Chúa Giêsu xuất hiện, đứng sau lưng người đàn ông, nghiêm khắc nhìn chị. Chị hoàn toàn được ơn đổi mới đời sống. Chị xin phép Bề Trên thực hiện cuộc cải cách đời tu và lập ra Dòng Cát Minh Têrêxa ngày nay. Tác phẩm: Đời Tôi[2], Đường Hoàn Thiện, Ký Sự Lập Các Đan Viện, Lâu Đài Nội Tâm (1577), những bài thơ và nhiều thư tín.

Lâu Đài Nội Tâm: Năm 62 tuổi, tác giả được yêu cầu viết thêm về việc cầu nguyện. Bà đã dựa theo một thị kiến để viết nên quyển này. Bà nhìn thấy các mức độ linh hồn tín hữu được ở với Thiên Chúa như những dãy cư xá nhiều tầng nhiều lớp trong một lâu đài hình quả cầu. Bên ngoài quả cầu là tăm tối với đủ thứ rắn rít và muông thú hung dữ. Bên trong là bình an. Tại tâm điểm, chính Thiên Chúa vinh quang cao cả và đầy yêu thương ngự trị. Càng vào sâu, ta càng được gần Thiên Chúa. Càng vào những dãy bên trong, các phòng ốc càng được vinh quang Thiên Chúa từ tâm điểm tỏa ra chiếu sáng. Mỗi người đều được mời gọi tiến vào gặp gỡ và sống thân mật (hiệp nhất) với Thiên Chúa tại tâm điểm lòng mình. Trên mỗi thời điểm của hành trình cuộc sống, mỗi chúng ta ở tại một mức độ nào đó trong lâu đài hiệp nhất. Nếu chạy theo thụ tạo, không quan tâm tới Thiên Chúa, ta có thể lọt ra bên ngoài tòa lâu đài. Lúc ấy dù Thiên Chúa vẫn ở trong sâu thẳm lòng ta, ta không hưởng được sự thân mật với Ngài.

Tác phẩm Lâu Đài Nội Tâm là sách giáo khoa dạy đường tâm linh, cụ thể là đời sống cầu nguyện cao độ, viết cho các nữ đan sĩ chiêm niệm. Tác giả là một nữ đan sĩ đã miệt mài hoạt động lo thiết lập các đan viện Cát Minh cải tổ. Khi trình bày về những người bị dừng lại ở dãy cư xá thứ ba, tác giả minh họa bằng hai nhân vật ngoài đời. Chi tiết ấy cho thấy, trong mắt tác giả, quyển sách không dành riêng cho các nữ đan sĩ nhưng chung cho mọi tín hữu muốn tiến bước trên đường tâm linh, không phân biệt nam nữ, già trẻ, chiêm niệm hay hoạt động.

Tình trạng hiệp nhất giữa Thiên Chúa và linh hồn được tác giả mô tả như một tòa lâu đài có bảy lớp cư xá[3] hay bảy mức độ ở lại. Để độc giả dễ hình dung, tôi xin trình bày giản lược như sau: Cửa vào lâu đài là sự cầu nguyện, đem lại mức độ ở lại thứ nhất, mức đ này đòi phải vượt thắng các tội trọng; mức độ thứ hai đòi phải vượt thắng các tội nhẹ; mức độ thứ ba đòi phải bỏ mình và ra khỏi chính mình (thoát khỏi chủ quan, không tự hào về sự hoàn thiện luân lý). Mức độ thứ tư là đón nhận hiện tại, chu toàn bổn phận với lòng yêu mến. Mức độ thứ năm: Hiệp nhất cùng một lòng một ý với Chúa. Mức độ thứ sáu là nên giống Chúa Kitô trong thử thách đau thương và mức độ này trực tiếp dẫn vào đỉnh điểm (mức độ thứ bảy) là sự hiệp nhất trọn vẹn với Thiên Chúa.

Nếu hiểu là một lộ trình từ thấp lên cao, bảy mức độ của nó sẽ như sau (xin đọc từ dưới lên):
7 - Hiệp nhất trong tình yêu
6 – Đêm tâm linh
5 – Hiệp nhất một lòng một ý với Chúa
4 – Ra khỏi mình - Vui nhận ý Chúa trong hiện tại
3 – Hoàn thiện luân lý (nguy cơ chủ quan)
2 – Thắng tội nhẹ
1 – Thắng tội trọng

Ta có thể hình dung lộ trình ấy như những vòng tròn đồng tâm có cửa từ ngoài vào trong, hoặc thành đường xoắn ốc của hoàng thành Cổ Loa có Đức Vua ngự ở chính giữa, như đồ hình dưới đây:


Cựu Ước cho thấy Thiên Chúa muốn con người được sống hạnh phúc trong sự gần gũi hiệp nhất với Ngài. Con người vốn bất toàn bất xứng với hạnh phúc ấy nhưng Thiên Chúa ban ơn thanh tẩy để họ có thể đến với Ngài. Tân Ước cho thấy sự thanh tẩy trước hết phải là thanh tẩy tận cõi lòng. Trong dòng chảy Tân Ước, các vị thánh Dòng Cát Minh Têrêxa đã khám phá và nhấn mạnh sự thanh tẩy ý muốn. Nhờ đó, khoa sư phạm thần bí Kitô giáo đã xác định được một lộ trình tiến lên dần với 6 bước tiến về tâm điểm hiệp nhất như đồ hình trên đây. Trước khi đạt được sự hiệp nhất trong tình yêu tại mức độ ở lại cuối cùng, linh hồn phải đi qua sự hiệp nhất một lòng muốn với Thiên Chúa tại mức ở lại thứ năm.

Sự hiệp nhất với Thiên Chúa nói đây không chỉ ở đời sau, trong cõi đời đời, mà đã khởi sự ngay ở đời này: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em... Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái” (Ga 15, 4-5). “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14, 23). “Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một” (Ga 17, 23).

Thách đố nơi kinh nghiệm Kitô giáo là mở lòng ra với ơn Chúa, dùng tự do của mình để chiều theo tự do sáng tạo của Thiên Chúa. Con người ở trong tay Thiên Chúa Tạo Hóa trổi vượt hơn khối đất sét trong tay người thợ gốm ở chỗ có thể kháng cự những thao tác sáng tạo của Ngài. Tuy nhiên, là một thụ tạo thấp hèn, con người động não đến mấy cũng chỉ vẽ được cho mình một dự phóng mấp mé số không. Tới khi vui lòng để cho Thiên Chúa tước đoạt, cái mấp mé số không ấy chợt trở thành vô tận.

Như thế, sự khôn ngoan trong kinh nghiệm huyền học là xóa bỏ ý riêng để nhường chỗ cho ý Chúa, khước từ sức riêng để nhường chỗ cho ơn Chúa. Nói cách khác, thay vì chủ động, ta sẽ xóa mình, hoàn toàn thụ động đón nhận điều Thiên Chúa muốn thực hiện cho ta.

Trên lộ trình bảy bước, ba diễn biến quan trọng có sức giúp ta ra khỏi mình để được biến đổi là:
- Bước vào mức ở lại thứ nhất nhờ đức tin và sự đối thoại với Thiên Chúa (cầu nguyện).
- Tại mức ở lại thứ ba: xóa bỏ niềm tự hào về hoàn thiện luân lý để tập trung kiếm tìm và thể hiện ý Chúa.
- Tại mức ở lại thứ sáu: Ta gặp cảnh bị bỏ rơi và bị sỉ nhục như Chúa Kitô trên thập giá, nhưng chính khi vui lòng đón nhận, ta sẽ được sự bình an sâu thẳm.

Có nghĩa là, sự hiệp nhất với Thiên Chúa chí thánh đòi thụ tạo phải được gội sạch hết mọi bất toàn, bất xứng. Song song với sự thanh tẩy chủ ý và trước khi mỗi người nỗ lực tự thanh tẩy, chính Thiên Chúa đã có một chương trình giúp người ấy được thanh tẩy để có thể được đưa vào hiệp nhất với Ngài. Ngài thanh tẩy vượt hơn cả điều họ mong chờ. Tựa như người ta nấu chảy quặng, luyện sạch hết những tạp chất để hứng lấy quý kim tinh ròng. Cuộc thanh tẩy này là sáng kiến của Thiên Chúa nên được các tác giả huyền học Kitô giáo gọi là cuộc thanh tẩy thụ động.

Như thế, trên cả 7 bước hay 7 vòng tiến của đường vào nội tâm, chính Thiên Chúa đích thân hành động và mời gọi con người hưởng ứng hành động của Ngài. Mỗi người vừa được mời gọi vươn lên (chủ động) vừa được Thiên Chúa kéo lên (thụ động). Cùng lúc, vừa có công cuộc của Thiên Chúa vừa có nỗ lực của con người, cả hai đẩy đưa con người tiến vào càng lúc càng gần gũi Thiên Chúa và hiệp nhất với Ngài. Trừ đỉnh điểm (mức độ 7), sáu mức độ có thể chia thành hai đoạn đường. Đoạn đường đầu (luân lý) gồm ba bước 1, 2 và 3. Đoạn đường sau (hiệp nhất) gồm ba bước 4, 5 và 6. Ở ba bước sau, nét thụ động nổi rõ hơn ba bước đầu, dù vậy, sự thụ động ở bước thứ ba sẽ tạo nên bước nhảy vọt để tiến vào đoạn đường thứ hai. Rồi sự thụ động của bước sáu sẽ là bước nhảy vọt đưa vào sự hiệp nhất trọn vẹn ở đích điểm (bước bảy).

Tới đây ta có thể đối chiếu kinh nghiệm của nhà thơ Hàn Mạc Tử với lộ trình Lâu Đài Nội Tâm để tìm được lời giải đáp cho câu hỏi nêu ra ở đầu: Tại sao sau khi biết rõ mình bị bệnh phong, thơ anh như bay vượt lên và nghiêng nhiều về thơ đạo?
Với những bài thơ còn lại quá ít của Hàn Mạc Tử, ta không dễ minh họa đầy đủ các chi tiết về hành trình tâm linh của anh. May thay, ta còn giữ được tên các tập thơ của anh và hướng đi chính của các tập ấy. Với 28 tuổi đời, sự nghiệp sáng tác văn thơ của anh trải dài mười năm cuối (1931-1940) với sáu tập thơ và một số bài văn.
Dựa trên bảng niên biểu Hàn Mạc Tử[4] và trình tự giới thiệu Thơ Hàn Mạc Tử[5], ta được biết thứ tự các tác phẩm và qua đó cũng có thể thấy được bước tiến rất nhanh của anh trên đường tâm linh (xin đọc từ dưới lên):
6. Tấm linh hồn thanh khiết (1940)
5. Cẩm châu duyênQuần tiên hội (1939)
4. Xuân như ýThượng thanh khí (1939) – Quan niệm thơ (1939)
3. Đau thương hay Thơ điên (1938)
1937: Biết rõ mình mắc bệnh phong, cắt đứt thư từ và xa lánh bạn bè.
2. Gái quê (1936)
1. Thơ đăng báo - Lệ Thanh thi tập (1931-1935)

Đem đối chiếu, ta có:
Lâu Đài Nội Tâm
Hàn Mạc Tử
7 - Hiệp nhất trong tình yêu
Tấm linh hồn thanh khiết
6 – Đêm tâm linh
Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ và Quần tiên Hội
5 – Hiệp nhất một lòng một ý với Chúa
Xuân như ý và Thượng thanh khí/ Quan niệm thơ
4 – Vui nhận ý Chúa trong hiện tại

3 – Ra khỏi mình
Đau thương
2 – Thắng tội nhẹ
Gái quê
1 – Thắng tội trọng
Thơ đăng báo – Lệ Thanh thi tập

Trong bảng đối chiếu trên đây, thời điểm 1937 tương ứng với mức ở lại thứ ba của Lâu Đài Nội Tâm, để rồi từ đó nhà thơ tiến thẳng vào kinh nghiệm hiệp nhất.

Hàn Mạc Tử đã có được bước tiến nhảy vọt không do sáng kiến hay sức riêng của anh nhưng do sức mạnh lôi kéo của Thiên Chúa, Đấng ưu ái thanh luyện anh qua khổ đau thể xác và tinh thần; đồng thời cũng do bởi anh đã không hề hẹp hòi tí nào trước những gọt giũa của Ngài.

Trước khi đảm nhận cái chết hằng ngày của giai đoạn thứ ba, Hàn Mạc Tử đã hoàn tất giai đoạn thứ nhất và thứ hai.
Ở vòng thứ nhất, những người thiện chí tự thanh tẩy những tội lỗi sống sượng; sang vòng thứ hai, họ tự thanh tẩy những tội lỗi nhẹ. Hàn Mạc Tử đã tiến vào vòng đầu khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, rồi anh đã vượt khỏi vòng thứ hai như thế nào?[6]

Khi ở đường Espagne Sài Gòn, có lúc đám bạn bè nhà báo, nhà văn đã định lôi kéo Hàn Mạc Tử vào lối sống buông thả, trụy lạc, “nhưng tâm hồn anh trinh trắng quá ngay cả cái Sài Gòn ăn chơi tội lỗi này cũng không cám dỗ anh sa ngã được” (Chia sẻ của Hoàng Trọng Miên, trích theo PCĐ-1, t.68).
Giáo sư Phan Cự Đệ kết luận: “Hàn Mạc Tử đã có một cuộc đấu tranh để không bị cám dỗ, để tạo một khoảng cách với luồng thơ đồi trụy của thời đại” (x. PCĐ-1, t. 68).
Ta hãy nghe lời Hàn Mạc Tử tâm sự với Bùi Tuân: “Bao giờ tôi cảm thấy mình đau đớn, trong xác thịt và trong tâm hồn, và nhất là tôi thấy mình bình tĩnh trong sạch thì mới làm ra những bài thơ đạo hạnh. Không phải lúc nào mình cũng làm được lối thơ ấy”[7].

Cuộc vượt thoát ở giai đoạn ba

Tới dãy cư xá thứ ba của Lâu Đài Nội Tâm, những người thiện chí tự thanh tẩy cả những khuyết điểm và bất toàn nho nhỏ. Đang khi họ nỗ lực như vậy, Thiên Chúa đẩy cuộc thanh tẩy đi xa hơn. Ngài gởi đến những điều bất ngờ và trái ý, những thử thách lớn. Chẳng hạn một người vừa viết xong một quyển sách dày thì bị hỏa hoạn hủy sạch, cả bản in thử cuối cùng lẫn những phác thảo và tư liệu nhặt nhạnh từ bao năm. Thử tưởng tượng khoảng cách và tác dụng của hai phản ứng trái ngược. Điều gì xảy ra nếu người ấy than trời trách đất, phẫn uất phản kháng Thiên Chúa? Và ngược lại, điều gì xảy ra nếu sau một phút thoáng buồn, người ấy tự nhủ: Có lẽ thế lại hay, có thế mình mới chịu viết lại quyển sách cho thật ngắn gọn, vừa xuyên suốt vừa sáng rõ dễ hiểu hơn. Bao năm ông cứ chắp vá, cứ phải níu lấy khuôn khổ cũ, không thoát ra được, nay nhờ công trình bị hủy diệt, ông mới thật sự tự do để viết được quyển sách thật mới, gọn nhẹ và thanh thoát, đem so với quyển cũ khác nào bướm sánh với sâu. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12, 24).

Thái độ trước chỉ đem lại đắng cay thất vọng. Thái độ sau mở ra một chân trời hoàn toàn mới. Tác giả không thể nào hân hoan trước sự mất mát quá lớn nhưng cùng lúc ông cảm nghiệm được một an ủi lớn: nhất định quyển sách viết lại sẽ hay hơn trước nhiều. Đây cũng là điều Thánh nữ Têrêxa Avila nhắc đến khi mô tả vòng thứ ba trên đường vào Lâu Đài Nội Tâm (3Cư 2, 10): ơn an ủi là điều khác với sự hoan lạc tâm linh, người ta có thể được an ủi cả khi không hề cảm thấy ngọt ngào hoan lạc.

Đừng nghĩ rằng người thứ hai là một kẻ bi quan: cam lòng, đành phận. Thái độ “cũng đành” hay “cam chịu” che tối chân trời, khiến cuộc đời thành ảm đạm, ngược với thái độ của Đức Khổng Tử là “thuận theo ý Trời”, mở ra một chân trời tươi sáng.

Đó cũng là thái độ của Hàn Mạc Tử. Thái độ được người viết niên biểu lược ghi gãy gọn nhẹ nhàng: “1937:... biết rõ mình mắc bệnh phong, cắt đứt thư từ và xa lánh bạn bè”. Đàng sau mấy chữ đơn giản ấy là biết bao đấu tranh để quảng đại đáp lại ý Thiên Chúa, khiến ta lặng người đi nếu không bật khóc. (x. PCĐ-2 giữa trang 38)

Mai Đình chỉ là người bên cạnh nhưng đã phản ứng trước những chuyện ấy bằng những lời “căm giận”:
Em muốn phá tan cả đất trời
Cho lòng nhẹ bớt nỗi bi ai
Thương Anh càng thấy căm trời đất
Gieo bệnh nan y để hại người.
 (PCĐ1, t. 366)

Đang khi đó suốt tập Đau thương, 48 bài thơ, ta không hề thấy Hàn Mạc Tử thốt ra một từ nào mang ý nghĩa phiền trách. Những phút sáng láng như hôm nay, soi sáng linh hồn tôi, và giải thoát cái “ta” của tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt...” (Chơi giữa mùa trăng).

Và phút chốc, ta thấy xảy ra phép lạ của sự từ bỏ: thơ của an bình và là thơ gieo an bình. Đang khi mọi người chỉ nhìn thấy mặt trái nham nhở của tấm thảm, nhà thơ được ơn vượt khỏi thế giới này, nhảy vào một cõi khác, nhìn thấy tuyệt tác phía mặt phải tấm thảm. Anh được ơn nhìn mọi sự từ cõi vĩnh hằng và kể lại cho chúng ta, những người đang sống ở cõi đời tạm bợ. Xem lời tựa Đau thương (PCĐ-1, 159-160)[8].

70 năm qua, không thiếu người đã mô phỏng ngôn từ, âm điệu và hình ảnh của Hàn Mạc Tử, lắm khi hết sức tài tình, nhưng chưa thấy ai có câu nào tồn tại với thời gian. Đang khi đó, sau ba phần tư thế kỷ, thơ Hàn Mạc Tử cả lời lẫn ý vẫn không một chút cũ mòn. Vì đâu? Vì mấu chốt để hoàn tất giai đoạn thứ ba là sự khiêm nhường. “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (Thư Thánh Giacôbê 4, 6). Trong hồi ký về những ngày cuối đời Hàn Mạc Tử, ông Nguyễn Văn Xê viết: “Trên đường trở về nhà thương, vừa đi tôi vừa suy nghĩ về Trí, về sự khiêm nhường của Trí là từ ngày vô cho đến chết, Trí chưa hề nói một tiếng Pháp với bất cứ mẹ nào. Lúc nào tôi cũng là người thông ngôn” (PCĐ-1, tt. 380-381).

Vì mấu chốt để hoàn tất giai đoạn thứ ba là sự khiêm nhường

Khiêm nhường đây không phải là vẻ từ tốn bên ngoài nhưng là sự “hiền lành và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11, 29). Học khiêm nhường với Chúa Giêsu là học sự xóa mình triệt để đến mức độ tự hủy (x. Pl 2, 6-8). Như thế, giai đoạn ba gắn liền với giai đoạn sáu. Để hoàn tất giai đoạn ba, ta cần hướng tới giai đoạn sáu, khao khát nên giống Chúa Giêsu trong nghèo hèn, bị cô đơn, bị bỏ rơi, bị sỉ nhục. Làm như thế là ta đang đong cho Chúa những đấu thật đầy và Chúa sẽ trả lại những đấu tràn đầy gấp bội (x. Mc 4, 24). Theo hướng ấy, với chút kinh nghiệm hướng dẫn các linh hồn qua sứ vụ linh mục, tôi có thể xác quyết rằng: bất cứ thi sĩ nào càng thêm khiêm nhường thì thơ sẽ càng hay, cái hay từ ơn Chúa.

Đón nhận thử thách và sẵn sàng từ bỏ tất cả để dấn thân theo Chúa, nhà thơ Hàn Mạc Tử của chúng ta được gấp trăm và còn hơn gấp trăm (x. Mc 10, 29-30), bởi lẽ anh được lôi lên một tầm cao hoàn toàn mới. Chẳng hạn, từ tuyển tập Đau Thương trở đi, Hàn Mạc Tử vẫn nhắc nhiều đến phụ nữ nhưng cái nhìn của anh hoàn toàn thanh thoát: Khác với Beaudelaire, “trong khi làm thơ, Trí đã tận hưởng những phong vị của nhạc, của hoa, của trăng, của gái một cách vô tội... Tình cảm là sự thanh bạch hồn nhiên, không một chút gì bợn nhơ, tội lỗi; còn dục tình là cả một sự ham muốn phi thường, ngoài điều răn của Đức Chúa Trời...” (Quan Niệm Thơ).

Càng vô tội, người thơ càng có cảm thức sâu xa về tội:
Tôi van lơn thầm nguyện Chúa Giêsu
Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối.
Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng.
(Đêm xuân cầu nguyện)

Nghe hai tiếng “tội lỗi”, những đầu óc vụ luân lý dễ vẽ vời ra những chuyện gì đó có lẽ xấu xa ghê gớm lắm. Họ khó mà hiểu được tâm thức một người đã đạt tới chỗ tận hưởng phong vị của mọi sự một cách vô tội. Phải là những ai đã rung động mãnh liệt trước tình yêu của Chúa Cứu Thế Giêsu và tha thiết khát khao đáp lại mới hiểu được cái tế nhị của tình yêu, chỉ một sơ suất rất nhỏ cũng vô cùng áy náy với Đấng yêu mến ta vô cùng và ta hết sức yêu mến.

Trong Cựu Ước, ngôn sứ Isaia đã có một cảm nghiệm kinh hoàng về sự thánh thiện của Thiên Chúa (x. Is 64, 5). Với tâm hồn Tân Ước, khi đã yêu mến Thiên Chúa cách tế nhị, người tín hữu không kinh hoàng trước sự thánh thiện nhưng khổ đau vì những điều nhỏ mọn xúc phạm đến Tình Yêu.

Nói về cuộc vượt thoát của Hàn Mạc Tử, Nguyễn Mộng Giác viết: “Giêsu Christ đã chịu đau khổ, đã chịu chết để cứu chuộc tội lỗi của nhân loại. Hàn Mạc Tử đã chịu đau khổ để hiểu ý nghĩa của đau khổ, từ đó vươn lên cõi đạo”[9].

Tuy nhiên, không chỉ có thế. Hàn Mạc Tử đã tâm sự với Bùi Tuân: “Tôi dự định viết ra nhiều tập thơ về tôn giáo. Trong thi giới nước ta chưa ai nghĩ đến việc đem truyện Sinh Nhựt, truyện Phục Sinh để làm thi đề. Đó là những tài liệu không còn gì thú vị bằng”.[10] Hồi nhỏ tôi rất ngạc nhiên khi đọc lời ấy, tự hỏi tại sao nhà thơ nhắc tới mầu nhiệm Giáng sinh và Phục sinh mà không nhắc tới sự Thương khó và cái Chết của Chúa? Nay thì tôi mới hiểu: một khi đã qua lúc nửa đêm, ta không còn nghĩ đến bóng tối vây phủ mà chỉ hướng tới hừng đông.

Để độc giả không nghĩ rằng tôi đang tìm cách chứng minh một học thuyết, tôi xin phép được trích dẫn bút tích của chính Hàn Mạc Tử. Nhà thơ vừa rao: “ai mua trăng tôi bán trăng cho” thì đã vội vàng đính chính: “không, không, không, tôi chẳng bán hòn trăng... trăng vàng trăng ngọc bán sao đang”. Nhà thơ đã từng ghép tên những phụ nữ mình yêu mến vào các câu thơ cách thật tài tình, thì ở đây thủ thuật của anh cũng tương tự. Hònngọc cộng với ý tưởng nơi triệt thứ hai của bài thơ cho thấy anh đang nói về hòn ngọc Nước Trời: “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy. Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy” (Mt 13, 44-46). Hàn Mạc Tử đã gặp được ngọc quý của Nước Trời và trả mọi giá để mua cho bằng được. Ngọc quý vô cùng vô tận, trả giá nào đi nữa vẫn rẻ, dù đó là giá của “lời phụ rẫy” hay của bệnh phong cùi. Nguồn thơ anh bắt gặp là “Thơ mầu nhiệm”, vượt trên mọi thứ thơ, là chính Con Thiên Chúa nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ để ra đời làm người (x. Ave Maria, câu 35). Để mua sắm Thơ mầu nhiệm cho đời, anh sẵn sàng trả giá đau thương: “Máu tim ta tuôn ra làm bể cả” (Biển Hồn Ta, câu 1).

Trong bài Quan Niệm Thơ gởi Trọng Miên, Hàn Mạc Tử viết: “Đức Chúa Trời đã tạo ra trăng, hoa, nhạc, hương là để cho người đời hưởng thụ nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận hưởng một cách say sưa, và nhân đấy chiêm nghiệm lẽ mầu nhiệm, phép tắc của Đấng Chí Tôn. Vì thế trừ hai loài trọng vọng là thiên thần và loài người ta, Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: Loài thi sĩ. Loài này là những bông hoa quý và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mệnh rất thiêng liêng: Phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi những quyền phép của Người và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho, rất tinh sạch. Bởi muốn cho loài thi sĩ làm trọn nhiệm vụ ở thế gian này, nghĩa là tạo ra những tác phẩm tuyệt diệu, lưu danh lại muôn đời, Người bắt chúng mua bằng giá máu, luôn có một định mệnh tàn khốc theo riết bên mình...” (Trích theo PCĐ-1, tt. 178-180).

“Loài người hãy cám ơn thi nhân đã đổ ra biết bao nhiêu nguồn máu lệ, đã từng uống mật đắng cay trong khi miệng vẫn tươi cười sốt sắng...” (Lời tựa Xuân như ý: PCĐ-1, tr. 161-162).

Những lời trên đây của chính Hàn Mạc Tử giúp ta hiểu rõ tại sao trước khi biết rõ mình bị bệnh phong (1937), anh làm thơ rất hay, và sau khi biết điều ấy anh lại làm thơ cực hay, tại sao trước đó anh chỉ làm thơ đời là chính còn sau đó anh lại nghiêng về thơ đạo.
Tuy nhiên sự vui lòng ở bước ba chỉ mới đẩy nhà thơ lên hẳn bình diện hiệp nhất chứ chưa khiến kinh nghiệm hiệp nhất nở hoa. Sự nở hoa chỉ xảy ra ở bước sáu, tức ở đoạn cuối của phần đường thứ hai.

Hãy đọc Lời tựa Xuân như ý. Như ý là chặng thứ năm trên đường vào nội tâm, là được ơn hiệp nhất một lòng một ý với Thiên Chúa. Theo Đức Khổng Tử, đây là kinh nghiệm “lục thập nhi nhĩ thuận” và “thất thập nhi tòng tâm”. Ta chiều theo ý Trời và Trời chiều theo ý ta. Như một tác giả minh triết trong Cựu Ước: “Trong tay Chúa, lòng Đức Vua tựa dòng nước chảy” (Cn 21, 1). Hoàn toàn tự do. Chúa muốn gì, mình muốn nấy; và mình muốn gì, Chúa muốn nấy, bởi một lẽ rằng mình chỉ còn muốn những điều Chúa muốn. Từ đó mà có Xuân như ý, cả một mùa xuân, cả một trời hạnh phúc trong ý muốn của Thiên Chúa.

Giữa những thử thách ở giai đoạn thứ ba, linh hồn tín hữu vẫn nhận được bình an và an ủi nhưng thiếu vắng những hoan lạc tâm linh

Giữa những thử thách ở giai đoạn thứ ba, linh hồn tín hữu vẫn nhận được bình an và an ủi nhưng thiếu vắng những hoan lạc tâm linh. Còn giữa mùa Xuân như ý của ơn tòng tâm ở giai đoạn thứ năm thì có nhiều hoan lạc ngọt ngào. Vị Chúa của linh hồn là vị Chúa chịu đóng đinh tức tửi nhục nhã trên thập giá và bị ruồng rẫy đến tận cùng, thế nhưng linh hồn tín hữu cứ say đắm yêu Ngài trong hân hoan. Tuy nhiên tình trạng này cũng có thể dẫn đến một sự mập mờ mới. Họ say sưa yêu Chúa vì Chúa hay vì những ngọt ngào hoan lạc? Làm sao để linh hồn có thể khẳng định mình yêu Chúa chỉ vì Chúa chứ không vì những hoan lạc và ủi an? Với thân phận thụ tạo, linh hồn biết mình rất yếu đuối. Dù có quyết gỡ mình khỏi những hoan lạc ngọt ngào, có quyết khước từ chúng, để tự chứng minh một tình yêu tinh ròng thanh khiết, linh hồn không sao thực hiện được. May thay, Thiên Chúa thấu suốt nỗi khắc khoải thầm kín ấy của linh hồn nên chính Ngài sẽ đích thân can thiệp. Chính Ngài sẽ tước đoạt hết mọi ngọt ngào hoan lạc trong một thời gian và để mặc cho linh hồn điêu đứng khốn khổ. Nếu linh hồn ấy là một kẻ chuyên cầu nguyện giữa tu phòng cô tịch, vùi sâu sau các bức tường nội cấm, nó sẽ bị để cho rơi vào chỗ hoài nghi chẳng biết có đời sau hay không (như thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu), Thiên Chúa có thương xót thứ tha hay không (như thánh nữ Têrêxa Margaret Thánh Tâm Chúa Giêsu). Nếu linh hồn là một nhà truyền giáo bôn ba rong ruổi chân trời góc biển hay một mục tử luôn nằm giữa tầm nhắm của dư luận khen chê, nó sẽ bỗng chốc bị vùi sâu giữa muôn vàn sỉ nhục bất công; truyền thông đa chiều bỗng dưng nhất loạt kết án, đòi khử trừ nó khỏi cuộc đời như xưa đám đông người Do Thái chuyển từ chỗ công kênh Chúa làm vua đến chỗ đồng thanh đòi đóng đinh Ngài vào thập giá. Chân phước Têrêxa thành Calcutta, vừa chiêm niệm vừa hoạt động, cảm thấy Thiên Chúa vắng mặt những năm dài. Cha Damien, tông đồ người phong, những tháng cuối đời tưởng như mất đức tin, mãi đến những ngày chót mới được bình an trở lại. 

Dù giữa nội cấm lặng im hay giữa lòng đời náo động, lúc ấy linh hồn kẻ Chúa yêu vẫn rơi vào thảm cảnh của Gióp trong Cựu Ước.

Đó là đêm đức tin, là đêm tâm linh giữa chiêm niệm hay giữa cuộc đời hoạt động, là cơ hội ngàn vàng để linh hồn được minh oan trước mọi gièm pha vu khống, để linh hồn có cơ may tự tỏ rõ rằng nó yêu Chúa chỉ vì Chúa chứ không vì một hoan lạc ủi an nào. Đặng Tiến viết: “Mâu thuẫn tâm cảm của nhà thơ là vừa yêu bóng đêm – vũ trụ Hàn Mạc Tử là một vũ trụ về đêm – vừa yêu ánh sáng và vươn tới một nguồn chói lọi” (PCĐ-1, tr. 419). Ghi nhận của tác giả Đặng Tiến khá trùng khít với học thuyết của Thánh Gioan Thánh Giá, theo đó, đêm có ba phần: đầu hôm (cuộc thanh tẩy từ ngoài vào trong), nửa đêm (thách đố đức tin) và hừng đông (hướng về hiệp nhất trong ánh sáng). Bởi yêu hừng đông để hiệp nhất trong ánh sáng chính ngọ, linh hồn tín hữu khao khát vượt qua những thử thách lớn nhất của phần nửa đêm.

Bước thứ sáu được gọi là đêm đức tin, tương ứng với cảnh Chúa Kitô bị bỏ rơi trên thập giá. Một nhà thơ Tây Ban Nha, Thánh Gioan Thánh Giá, đã diễn tả tâm trạng vị Chúa bị bỏ rơi qua bài thơ sau đây:

1.
Một chú bé chăn cừu lẻ loi đau khổ,
Chú chẳng thiết vui, chẳng thiết đùa,
Chỉ nghĩ tới cô bé chăn cừu của chú,
Trái tim tan nát vì yêu.
2.
Chú không khóc vì tình yêu đã làm chú bị thương,
Cũng không phải vì thấy mình buồn đau mà chú khổ.
Dù đúng là chú đã bị đánh vào tim,
Nhưng chú khóc vì nghĩ mình đã bị lãng quên.
3.
Chỉ vì một ý nghĩ là mình
Bị cô bé chăn cừu xinh đẹp lãng quên,
Mà hết sức đau khổ, chú đã để mình bị đánh tả tơi nơi đất lạ,
Trái tim tan nát vì yêu.
4.
Và chú bé chăn cừu nói: Thật bất hạnh
Cho ai xua đuổi tình tôi khỏi trái tim
Và không muốn hưởng niềm vui được có tôi ở với
Bên trái tim đã vì người ấy mà tan nát vì yêu.
5.
Và sau một hồi lâu chú đã lên
Trên một thân cây, ở đó chú đã giăng đôi tay xinh đẹp,
Và chú chết treo ở đó bởi đôi tay ấy,
Trái tim tan nát vì yêu.

Đó là thảm cảnh bị bỏ rơi. Chỉ mới mấy ngày trước, cả một rừng người nghênh đón và tung hô Ngài là vua (x. Mt 21, 9); thế nhưng hôm nay cũng chính những môi miệng ấy hô to: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mt 27, 22). Giuđa bán nộp Ngài, Phêrô chối Ngài và các môn đệ khác bỏ trốn. Chúa Giêsu cảm thấy trơ trọi. Ngài ngước nhìn Chúa Cha, Cha cũng im lặng, cho nên Ngài thốt lên: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nghĩa là “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 46).

Tiếng kêu ấy là câu mở đầu của Thánh vịnh 21. Thật bất ngờ, sau 22 câu than thở, 10 câu còn lại của thánh vịnh này là những lời tạ ơn vì được Thiên Chúa cứu thoát. Chính vì thế, một lát sau, “Đức Giêsu kêu lớn tiếng: ‘Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha’. Nói xong, Ngài tắt thở” (Lc 23, 46).

Nơi trường hợp Hàn Mạc Tử, cuộc thử thách ở giai đoạn thứ sáu đã khởi sự ngay từ giai đoạn thứ ba. Cả trong bầu khí Kinh thánh lẫn trong tâm thức người Việt nửa đầu thế kỷ 20, cùi hủi là một điều đáng ghê tởm. Tác giả Trọng Miên viết: “Cuộc đời của Hàn Mạc Tử là cả một bài thơ ghê gớm rùng rợn, có một không hai trong những thi sĩ đông tây. Thần tai họa đã gieo vào chàng một chứng bệnh tàn ác trong lúc thi sĩ rơi xuống cõi đời bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng” (PCĐ-1, t. 357).

Thế nhưng không lâu sau khi biết mình bị bạo bệnh, Hàn Mạc Tử đã hiểu mình được ơn nên giống Đấng đã tự hủy ra không (Pl 2, 5-11) để cứu chuộc nhân loại, như được báo trước trong sách ngôn sứ Isaia:
“Ngài bị khinh khi, và là đồ phế bỏ của người đời, con người đớn đau và những ốm o xo bại, như một kẻ có gặp chúng tôi thì lo giấu mặt, bị khinh bỉ, và chúng tôi đã chẳng thèm đếm xỉa. Trái lại, chính các bệnh tật của chúng tôi, Ngài đã mang, chính các đau khổ của chúng tôi, Ngài đã vác. Còn chúng tôi, chúng tôi lại kể Ngài như kẻ bị trời đánh, bị Thiên Chúa trừng phạt và đày đọa. Nhưng Ngài đã bị đâm vì những sự ngỗ nghịch của chúng tôi, và vì tội vạ của chúng tôi, Ngài đã bị nghiền tán. Đã giáng xuống Ngài hình phạt đổi lấy an bình cho chúng tôi, và nhờ những vết hằn Ngài chịu, chúng tôi có phương được chữa lành. Chúng tôi hết thảy đã xiêu lạc, như chiên cừu mỗi người quay mỗi ngả, nhưng Thiên Chúa lại để Ngài phải lụy vì chúng tôi. Bị tra tấn, Ngài đã chịu đựng, và không mở miệng, như cừu bị dẫn đến lò sát sinh, như chiên mẹ ngậm câm, không hề mở miệng. Bị bắt giam và lên án, Ngài đã bị đem đi. Nào ai màng nghĩ đến vận mạng của Ngài? Ngài đã bị chặt phăng khỏi đất người sống, chính vì sự ngỗ nghịch của dân Ngài, Ngài đã bị sát phạt” (Is 55, 3-8).

Sâu xa hơn những khổ nhục bên ngoài, còn có cả sự phụ bạc, phản bội, ruồng rẫy. Chúa Giêsu tin cậy bạn hữu mình là các Tông đồ nhưng chính họ đã lìa bỏ, phủ nhận và cả đến dùng cái hôn để bán nộp Ngài (Mt 27, 48-49; Mc 14, 44-45; Lc 22, 47-48). Mỗi lần tưởng niệm cuộc Thương Khó Chúa Kitô, Giáo hội lại thốt lên bài ca của Đavít khóc người con phản bội:
Giả như tên địch thù phỉ báng, thì tôi cũng cam lòng,
hay kẻ ghét ghen lên mày lên mặt, tôi có thể lánh đi.
Nhưng đây lại là bạn, người đồng vai đồng vế,
chỗ thân tình tâm phúc với tôi,
đã cùng tôi chia ngọt sẻ bùi,
trong đền Thiên Chúa, giữa hội vui cùng sánh bước.
Tv 54/55, 13-15.

Hàn Mạc Tử đã phó thác đứa con tinh thần của mình cho ba người mà anh yêu mến tin cậy nhưng có hai người đã xử hết sức tệ với thơ anh. Một người ít học đã xé bỏ thơ anh đem gói hành gói tỏi hoặc dùng làm giấy vệ sinh (x. PCĐ-1, tt. 383-384). Còn người kia là bạn thân, lại để di sản đã được phó thác biến thành hư không.
Từ cõi trời cao nhìn xuống, thấy những chuyện ấy, nhà thơ của chúng ta có buồn không? Thưa không, một lần nữa đang lúc lẽ ra phải buồn thì anh lại rất vui, vui như các Tông đồ, “lòng hân hoan, dạ vui mừng bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” (Cv 5, 41). Vâng, Đấng yêu thương anh là Con Thiên Chúa đã si mê loài người đến độ trở nên giống hẳn con người và chịu chết vì con người, đã bị loại trừ cách tàn bạo, thì anh phải vui biết bao khi được chia sẻ cùng số phận với Ngài.

Trong trích đoạn Isaia trên đây, Đấng thụ nạn ngậm câm không mở miệng, chẳng phải vì bất cần đời, chẳng phải vì bất lực không thể làm gì, nhưng Ngài câm lặng với cuộc đời để liên lỉ đối thoại với Thiên Chúa tận cõi lòng. Người thơ của chúng ta cũng thế:
Đây phút thiêng đã khởi đầu...
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem trời giải nghĩa yêu...
Cả trời say nhuộm một màu trăng
Và cả lòng tôi chẳng nói rằng
Không một tiếng gì nghe động chạm
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng.
(Đà Lạt trăng mờ)

Từ giai đoạn thứ ba đến giai đoạn thứ sáu, thử thách nơi Hàn Mạc Tử tăng nhanh cả bên ngoài (sau khi tự cô lập nơi lều tranh, anh đã xin vào bệnh viện phong Qui Hòa), lẫn bên trong (gia đình Thương Thương yêu cầu ngưng viết kịch bản Quần tiên hội[11]).

Một tác giả đương thời, nhà phê bình văn học Hoài Thanh chỉ nhìn bằng con mắt thường cũng đủ nhận ra tình cảnh ấy: “Tôi nghĩ đến người đã sống trong một túp lều tranh phải lấy bì thư và giấy nhựt trình che mái nhà cho đỡ dột. Mỗi bữa cơm đưa đến, người không sao nuốt được, vì ăn khổ quá. Cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng đã bắt người chịu bao nhiêu phũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy. Sau cùng người bị vứt hẳn ra ngoài cuộc đời, bị giữ riêng một nơi, xa hết thảy mọi người thân thích. Tôi nghĩ đến bao nhiêu năm người bó tay nhìn thể phách lẫn linh hồn cùng tan rã...” [12].

Ô không. Không sao. Không sao đâu. Ta có thể trích một đoạn Duyên kỳ ngộ để thấy tâm tình của Hàn Mạc Tử trong hoàn cảnh bị bỏ rơi thật khác lạ:

Dẫu đau đớn vì lời phụ rẫy
Nhưng mà ta không lấy làm điều
Trăm năm vẫn một lòng yêu
Và còn yêu nữa rất nhiều em ơi.
(Muôn năm sầu thảm)
Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm.
(Duyên kỳ ngộ)
Hoặc trong bài Những giọt lệ:
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?
Sao bông phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?
Hết sức bi thương sầu thảm mà vẫn bình an biết bao! Vâng, mọi thử thách đều phải chào thua người tín hữu trẻ đã nồng nàn yêu Chúa. Anh vẫn không ngừng ca hát, không ngừng viết để ngợi mừng tình yêu cũng như ngợi mừng ơn hiệp nhất, và gọi đó là Cẩm châu duyên, là Duyên kỳ ngộ, là Quần tiên hội. Kìa muôn dân thiên hạ, sao lại xót thương, hãy vỗ tay reo mừng Thiên Chúa vì Ngài đã sắm được cho mình một anh hùng của tình yêu, một tấm linh hồn thanh khiết đang ngợi ca những tấm linh hồn thanh khiết khác.

Hẳn một số Kitô hữu khó chịu khi thấy các tác phẩm Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộQuần tiên hội được đặt vào dãy cư xá thứ sáu của Lâu Đài Nội Tâm. Có lẽ họ quên rằng hai chữ tiên tri trong Kinh thánh không có nghĩa là người biết trước tương lai nhưng chỉ là ngôn sứ của Thiên Chúa, là người diễn đạt thông điệp của Thiên Chúa bằng chính cuộc sống bản thân trước khi giải thích bằng lời. (x. Giêrêmia và chiếc đai lưng, Gr 13,1-11; Êzêkiel được lệnh không than khóc khi vợ chết, Êd 24,15-24; cuộc hôn nhân của Hôsê, Hs 1,1-3,5).

Tiến vào cảm nhận tâm linh, các tầng lớp ý nghĩa có thể chồng chéo lên nhau... Một đàng nhà thơ có thể thấy mình là thụ tạo mọn hèn nhưng lại được tiến dâng lên làm bạn lòng của Ngôi Lời Thiên Chúa (x. 2Cr 11,2)... Một đàng khác, nhà thơ lại có thể dùng chuyện tình yêu đôi lứa của mình để diễn tả cuộc tình của Thiên Chúa đối với nhân loại. Câu chuyện Quần tiên hội có thể là phiên bản Diễm ca riêng của nhà thơ...

Nhiều người dễ chấp nhận cái nhìn của giáo sư Phan Cự Đệ, tách đôi Hàn Mạc Tử thành một nhân vật thi sĩ và một nhân vật tín đồ đi bên cạnh nhau, và tưởng rằng “Hàn Mạc Tử nghệ sĩ bao giờ cũng phóng túng hơn, hào hoa hơn Nguyễn Trọng Trí tín đồ” (PCĐ-2, tr. 17). Những người ấy sẽ không nghĩ như thế, nếu họ biết rằng vị thánh nữ đan sĩ tôi trích dẫn đây khi làm thơ về Chúa thì nhiều bài đọc qua ta cứ ngỡ là thơ tình của những bạn trẻ đang yêu đương đắm đuối. Hoặc nếu như họ biết rằng Thánh Gioan Thánh Giá, một linh mục khất sĩ, có bốn tác phẩm giáo khoa dạy đường tâm linh và cả bốn đều chỉ minh giải những bài thơ đắm đuối yêu thương[13].

Tác phẩm thứ nhất và thứ hai minh giải bài thơ có đoạn như sau:
Ôi đêm! Ngươi đã hướng dẫn ta!
Ôi đêm! Đáng yêu hơn rạng đông!
Ôi đêm! Ngươi đã phối hợp
Đức Tình-Quân với tình-nương
Một tình-nương đã được biến đổi nên Tình-Quân!
Trên lòng tôi đầy hoa,
Được giữ vẹn cho một mình Chàng,
Chàng lưu lại đó, say ngủ,
Và tôi vuốt ve Chàng,
Và quạt mát cho Chàng bàng quạt bá hương.

Bài thơ cho tác phẩm thứ ba mở đầu:
Người ẩn nơi nao, Hỡi người Yêu Dấu,
Mà bỏ em rên rỉ?
Như một con nai, Người trốn biệt,
Sau khi đã làm cho em bị thương,
Em chạy ra, gọi với theo Người, thì Người đã đi.

Bài thơ cho tác phẩm thứ tư mở đầu:
Ôi ngọn lửa tình nồng
Thì ra Người đã
Đốt giữa lòng em
Vết phỏng thật êm ái.
Ôi ngọn lửa tình nồng
Ngủ quên sao chớ
Xé nốt giùm em
Tấm thân này lụa đào.

Chẳng phải là Gioan Thánh Giá khi làm thơ thì phóng túng, bởi lẽ đây là những bài thơ được ông dùng để triển khai thành những giáo trình dạy đường tâm linh! Vị thánh viết nên những sự thật mà người ngoài cuộc không hiểu được.

Đơn giản hơn, những người viết về Hàn Mạc Tử tách đôi tình yêu với đức tin vì họ không biết rằng một trong những sách làm nên bộ Cựu Ước là Diễm Ca, là một chuỗi thơ tình với những câu như:
1 Hỡi bạn lòng, em đẹp biết bao,
Đôi mắt như bồ câu.
Sau lớp khăn choàng mỏng,
Làn tóc em mơn mởn
Như bầy dê bên sườn Galaát tung tăng.
2 Và hàm răng,
 Hàm răng em tựa chiên mới tắm,
Không lẻ loi, toàn sinh đôi bụ bẫm.
3Môi thắm chỉ hồng, miệng mới xinh sao.
Đôi má em, hai nửa quả đào,
Dưới khăn choàng e ấp.
4 Cổ em như bảo tháp
Của Đavít tiên vương
Được xây làm kho tàng
Treo muôn thuẫn khiên của ngàn dũng sĩ.
5 Tuyết lê em như nai tơ,
Một cặp sinh đôi của linh dương mẹ
Đang gặm cỏ non bên khóm huệ.
(Diễm Ca 4,1-5)

Làm sao quan niệm được Thánh kinh lại viết như thế nếu chưa một lần hiểu rằng Thiên Chúa là Tình Yêu và là nguồn mạch của mọi tình yêu trong lịch sử.

Xin đan cử tác phẩm Quần tiên hội. Khi chiều theo yêu cầu của gia đình Thương Thương, ngưng viết kịch bản này, Hàn Mạc Tử viết thư chia sẻ với Trần Thanh Địch như sau:

“Ba đoạn sau mà tôi tính viết, nó như thế này: bọn tiên xúm lại vây hai người trong vòng vây mà bảo rằng “người con trai” ấy là của trời cho, là “của chung” chứ không phải riêng gì của Thương Thương. Nếu không bằng lòng, phải “chia” ra. Chia ra chín phần cả thảy, thế thì còn chi người ta nữa! (Nguyên văn của Hàn Mạc Tử). Thế rồi bọn tiên nổi ghen lên. Hai người ấy phải rủ nhau đi trốn. Bọn tiên hay được liền hè nhau đang đêm “hạ san” tìm bắt cho kỳ được cặp uyên ương ấy, nghĩa là bọn tiên chạy theo tình yêu, trở về thế gian, bỏ lại những động mây bây giờ thành ra hoang vu cô độc. Và những động ấy tủi thân than kể không biết bao nhiêu mà nói. Với lại, ở động tiên con trai hay tin bọn tiên con gái về thế gian lấy chồng, chúng hẳn cũng đâm buồn bực rồi cùng trở lại đời cả. Và vì thế người ta mới hiểu rằng tại làm sao bây giờ, ngày nay còn dấu tích tiên động mà tiên đực, tiên cái thì đi mô hết cả thảy. Ha! Ha!”. (PCĐ-1, tt 333-334)

Ha! Ha! Những tình tiết ấy cộng với kết luận hết sức diễu cợt của Hàn Mạc Tử phải chăng ngược hẳn 180o với điều tôi đang viết? Thưa không, cần hiểu rằng trong đầu óc người tín hữu Kitô, chỉ có Thiên Chúa đã ngỏ lời với loài người trong Kinh thánh là Thiên Chúa thật, còn mọi thần thánh của các dân tộc đều chỉ là trò đùa giả trá do con người nghĩ ra hoặc do con người phong thần, bất cứ ai thờ phượng các thứ giả trá ấy đều mắc tội chống lại Thiên Chúa. Như thế, trong đầu óc của tín hữu Hàn Mạc Tử, cõi trần giá trị hơn cõi tiên, vì cõi tiên là cõi giả, cõi trần là cõi thật. Khi nhà thơ lồng chuyện tình của bản thân vào đó, nếu anh muốn dùng nó để diễn tả quan hệ tình yêu giữa anh và Thiên Chúa, câu chuyện sẽ mang thêm một tầng ý nghĩa mới mà người bạn Trần Thanh Địch của anh không sao ngờ được.



Huyền Tiên giả gái hòa mình vào đám tiên nữ.
Ngôi Lời, Con Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô nhập thể làm người ở giữa chúng ta.
Bọn tiên đòi xé xác Huyền Tiên mỗi đứa giành một phần.
Loài người giết chết Chúa Giêsu – Ngài trở thành tấm bánh bẻ ra đến vô tận để nuôi sống mọi người.
Quỳnh Tiên theo Huyền Tiên bỏ cõi giả về cõi thật.
Linh hồn nhà thơ yêu mến Ngôi Lời Thiên Chúa và theo Ngài bỏ cõi tạm về quê thật đời đời.
Bọn tiên cũng theo chân bỏ cõi giả về cõi thật.
Mọi người cũng theo chân, bỏ cõi tạm về quê thật đời đời.

Chuyện thật cứ như đùa. Tôi chợt nhớ câu nói Chúa Giêsu thường lặp đi lặp lại: “Ai có tai để nghe, hãy nghe” (Mt 11, 15; 13, 9; 13, 43, vv...)

Để kết thúc, có lẽ không gì bằng ghi lại mấy câu trong đoạn cuối bài Quan Niệm Thơ của Hàn Mạc Tử viết cho Trọng Miên: “Miên ơi, như thế là Miên đã hiểu thế nào là quan niệm của Trí về thơ. Thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt... Nếu để thơ trơ trọi một mình, thơ sẽ lạt lẽo vô duyên, không có phong vị gì nữa.
Baudelaire thuộc về phái vô thần, nên không tin Chân lý, không nhận Chân lý làm tiêu chuẩn cho thơ văn. Còn Trí phải lấy Đức Chúa Trời làm chân lý, làm tiêu chuẩn cho văn thơ. Văn thơ không phải bởi không mà có”.

Lm Trăng Thập Tự

Bài viết này được trích từ bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, linh mục Trăng Thập Tự chủ biên, tập I, trang 405-432.




[1] Cũng gọi là kinh nghiệm thần bí hay kinh nghiệm hiệp nhất – và trong bài này, kinh nghiệm được biến đổi.
[2] Đã được đan viện Cát Minh Sài Gòn phiên dịch và ấn hành dưới tựa đề “Tiểu sử tự thuật” – Đan viện này cũng đã in hai bản dịch Đường Hoàn Thiện và Lâu Đài Nội Tâm. Các phần khác đang được thực hiện dần để kịp mừng 500 năm sinh nhật của tác giả (1515-2015).
[3] Trong bài này khi nói về những bước tiến trên đường vào nội tâm, tôi sẽ dùng nhiều từ khác nhau: giai đoạn, bước, chặng, mức ở lại, vòng, cư xá, lớp cư xá… tất cả đều cùng một ý nghĩa, không có gì phân biệt.
[4] Nguyễn Toàn Thắng, trong Hàn Mạc Tử, Về Tác Gia Và Tác Phẩm, Nxb Giáo Dục 2002, trang 36-42.
[5] Phan Cự Đệ, Hàn Mạc Tử, Tác Phẩm, Phê Bình Và Tưởng Niệm, Nxb Văn Học 2002, trang 189-334.
[6] Cuộc chiến đấu thắng tội nhẹ:
Vì chưng tất cả vẻ ngây thơ
Quyến rũ mê hồn của gái tơ
Chỉ lộ nên tình trong sạch được
Là nhờ đứng lặng cảnh trong mơ.
Tôi chỉ yêu em như thế này
Luôn bây giờ với mãi sau đây
Lòng tôi áy náy trong khi gió
Rủ rỉ bên tai chuyện nước mây…
(Nước Mây, 21-28).
[7] Bùi Tuân, Nửa Đêm Đi Tìm Hàn Mạc Tử, nguyệt san Vinh Sơn (Huế) số 22, ngày 1-2-1951, tr. 7.
[8] Cũng có thể ví như bước nhảy từ thơ cũ sang thơ mới. Xem “Không nên có luật thơ mới” của Hàn Mạc Tử (PCĐ-1, tt. 148-149).
[9] Nguyễn Mộng Giác, Tình và Đạo trong thơ Hàn Mạc Tử. Luận văn tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế, 1963 (Trích lại theo Lê Đình Bảng, Miền Thơ Kinh Cầu Nguyện, Nxb Phương Đông 2009, tr. 323).
[10] Bùi Tuân, Nửa Đêm Đi Tìm Hàn Mạc Tử, nguyệt san Vinh Sơn (Huế) số 22, ngày 1-2-1951, tr. 7 (Trích lại theo Lê Đình Bảng, Miền Thơ Kinh Cầu Nguyện, Nxb Phương Đông 2009, tr. 215).
[11] Xem PCĐ-2, tr. 128-129.
[12] Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi Nhân Việt Nam, trích lại theo PCĐ-2, t. 171-172.
[13] Một trong bốn tác phẩm đã có bản dịch tiếng Việt: Khúc Linh Ca, Nxb Tôn giáo 2003.
Được tạo bởi Blogger.