https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg


(Nhà thơ Bùi Công Thuấn và nhà thơ Lê Đình Bảng)

Những khuôn mặt thơ ca Công giáo đương đại
LÊ ĐÌNH BẢNG - HÀNH HƯƠNG
(Nxb Tôn Giáo. 2011)

Hành Hương có 57 bài thơ và 5 bài thơ phổ nhạc. Nhà thơ Lê Đình Bảng nói về sinh mệnh của tập thơ: “Hành Hương là một trong những tập thơ đã kinh qua nhiều trường đoạn nhất. Nó ra đời ở dạng chép tay (1972-1975). Được đánh máy, chuyền tay trong nội bộ bạn bè, sinh viên học sinh các Đại Chủng viện, dòng tu (1976-1992. In vi tính (có hoạ sĩ vẽ bìa, in thử 1000 tập,1992-1994). Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển viết Vào Đề và họa sĩ Choé ký hoạ. In chính thức (1994), tái bản (1999) và (2006), ra mắt tại Hoa viên Hiệp Nhất, nhà sách Đức Mẹ, 38 Kỳ Đồng, Q.3 Tp.HCM, với công chúng yêu thơ Công giáo chừng 300 người”[1] .

Không những thế, Lê Đình Bảng còn in cuốn “Hành hương với Hành Hương”[2], ghi lại cảm nhận của rất nhiều “Đấng bậc” có thế giá, ý kiến của các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, biên tập viên các báo Công giáo, và nhiều bạn bè tác giả đã đọc tập thơ. Tôi ghi nhận được 35 bài viết về tập thơ của: Đức Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống, Đức Tổng Giám mục Têphanô Nguyễn Như Thể, Lm GB Cao Vĩnh Phan, Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Lm Antôn Hà Văn Minh, Lm Vinc Phạm Trung Thành, Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ-họa sĩ Bàng Sĩ Nguyên, nhà văn Trần Thị Trường, nhà thơ Trần Vạn Giã, Nhà thơ-Linh mục Trăng Thập Tự, Nhạc sĩ Phanxicô, Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển, Lm-Nhạc sĩ Ân Đức, Lm Giuse Nguyễn Hữu duyên, Lm Vinc Nguyễn Minh Chu, Lm. Rô cô Nguyễn Tự Do, các bạn hữu Nguyễn Văn Dậu, Nguyễn Ngọc Phách, Vũ Lưu Xuân, Bạch Châu, Huỳnh Hay, Dom. Trinh, Nguyễn Đình Đầu, Bùi Ta Ngọc, Phan Nhi, Kim Lệ và Lê Kim, Thế Hùng, Đỗ Lộc Hưng, Kiều Giang, Đào Đăng, Hoàng Minh Thức, P. Phạm Gia Thuận, Lan Giao.

Hành Hương quả là một tập thơ “nặng ký” của một “tác giả có thế giá” trong thế giới nghệ thuật Công giáo. Tất cả những điều hay, những câu thơ bài thơ đẹp, những tư tưởng sâu sắc của thơ Lê Đình Bảng đã được khám phá. Là người đi sau, tôi không biết những điều mình viết có góp thêm được gì cho Hành Hương không?

Có lẽ phải lên đường “hành hương” một chuyến nữa với nhà thơ.

Thơ trong tập Hành Hương hầu hết là thơ tự tình, thơ là tiếng nói trực tiếp của Tôi. Phẩm chất của Cái Tôi trữ tình trong thơ quyết định giá trị thơ.

CÁI TÔI TRỮ TÌNH CÔNG GIÁO

Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện
Hồn reo vui trong từng chữ từng lởi
Trong đất mầu đương vỡ vạc sinh sôi
Trong cây lá vươn sức dài vai rộng
(Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện)

Có thể đó là một “tuyên ngôn thơ” của Lê Đình Bảng, là “ý thức sáng tạo” của một nhà thơ Công giáo:
Cảm ơn Chúa đã cho tôi tắm gội
Lớn dần lên trong hương sắc của người
Ngày lại ngày hoa trái cứ sinh sôi
Mỗi gieo vãi là một lần đẫy hạt
(Giữa bao la đất trời )

Nhưng Cái Tôi trữ tình của một “nhà thơ đạo” khác với Cái Tôi của “nhà thơ đời” thế nào? Chẳng hạn Cái Tôi trong thơ Thiền, trong Thơ Mới (1930-1945), thơ kháng chiến (1945-1975) và thơ đương đại?

Lê Đình bảng có nỗi niềm của nhà thơ thế sự:
Tôi nghe rõ mỗi gập ghềnh trôi nổi
Trĩu trên vai gánh nặng của đời mình
Của phận người của một kiếp phù sinh
Như thiếu phụ nửa khuya chờ trở dạ
(Lời kinh chiều Emmaus)

Thơ Lê Đình Bảng cũng thấp thoáng Cái Tôi của nhà thơ lãng mạn (Thơ Mới 1930-1945):
Tôi nhìn tôi giữa trong xanh
Tôi heo may tựa chỉ mành treo chuông
Xin mời em cứ lên nương
Rừng phong thu ấy vừa hương sắc đầy
(Lời buồn của đất)

Cái Tôi ca dao:
Lạy trời mưa cứ vây quanh
Để em cuống quýt đợi mình ngoài hiên
Tôi chong đèn, thức thâu đêm
Khi đong đưa hát, khi mềm mại ru
(Kinh cầu mùa)

Tôi trong bóng dáng một Thiền sư vân du:
Tôi loài vượn cổ trên non
Lưng vai gió cuốn đầy truông lá ngàn
(Bên kia Biển Hồ)

Và cái “ngông tài tử” từ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đến Tản Đà, Xuân Diệu và Bùi Giáng:
Neo thuyền đi, người viễn khách yêu ơi
Ta mở miệng và cười vang phố xá
(Đêm rất thánh)

Tôi là một kẻ du ca
Lang thang phố chợ, xa nhà đòi phen
Khi lên, nhạc ngựa vang rền
Trống chầu như thoảng mùi sen đầu hồ
Thì ra đời quá nhung tơ
Áo xiêm còn bận chào đưa khách về…
(Nhã ca)

Điểm một vài nét như thế để thấy sắc thái thẩm mỹ trong Cái Tôi trừ tình của thơ Lê Đình Bảng là rất phong phú và có cội nguồn trong thi ca dân tộc.

Nhưng nếu chỉ như thế thì thơ Lê Đình Bảng không đứng được ở một cõi riêng. Cái Tôi trữ tình của nhà thơ Công giáo Lê Đình Bảng có gì riêng và có gì mới hơn đã có trong thi ca dân tộc?

Lê Đình Bảng khởi đi từ hạt cơm nhà Chúa (thời ở Chủng viện):

Nhiều khi tôi hỏi riêng tôi
Bát cơm nhà Chúa hạt vơi, hạt đầy
Hạt nào tôi giữ trong tay
Của riêng, xin để dành ngày cánh chung
(Tự tình khúc)

Điều này chi phối toàn bộ thế giới tâm hồn nhà thơ. Thế giới ấy đầy ắp những tín lý thần học, luân lý Đức Tin; chi phối thế giới quan, nhân sinh quan nhà thơ. Với người Công giáo, Thiên Chúa là đấng tạo dựng đất trời, tạo dựng nên Tôi. Tôi chỉ là hạt bụi. Tôi được Cứu Độ trong tình yêu thương của Chúa. Hạnh phúc hay đau khổ cũng như sinh mệnh của tôi là thuộc về Chúa. Tôi chỉ biết cám ơn Người và ăn năn sám hối. Tôi hằng mong được an nghỉ trong Người.

Cám ơn Ngài đã cho tôi sự sống
Từ cõi hư không, nên vóc nên hình
(Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện)
Mỗi phút hân hoan, từng giây thảng thốt
Đây kho tàng ân sủng Chúa ban cho
Từ thở hồng hoang, trái đất nguyên sơ
Tôi trú ngụ trong tay Ngài êm ái
(Lời dâng)

Lạy Chúa Trời từ muôn thuở xa xưa
Ngài dẫn đưa tôi đi qua Biển Đỏ
(Xuất hành)

Mỗi con chữ, mỗi lời kinh bịn rịn
Của kẻ ăn xin hát xẩm đầu đường
Tôi như vậy, mà sao Chúa vẫn thương
Ơi giọt nước ở đầu ngành dương liễu
(Sao Chúa vẫn yêu tôi)

Lạy Chúa trời, tôi rõ phận đời tôi
Mỗi thương khó, mỗi mừng vui, tàn héo
(Một chút tình cỏ hoa)

Có đôi lúc, vì cơn đau, nỗi chết
Tôi như người đãng trí, rất ngây ngô
Muốn liều thân làm kẻ đốt đền thờ
Vừa khao khát đức tin, vừa thèm thuồng cơm bánh
(Lời kinh chiều Phục sinh)

Sao đời tôi lắm gian nan
Mải mê trăm mối, đa mang bời bời
Tạ ơn Người, vẫn yêu tôi
Áo cơm từng ba, một đời nặng vai
(Ơi người cố quận Sion)

Từ vực thẳm, tôi trông lên, lạy Chúa
Mảnh trời nghiêng, sao rét mướt linh hồn
Suốt dặm dài xa tít tắp Sion
Chong mắt đợi, đêm muộn màng, góa bụa
(Lời kinh chiều Emmaus)

Cứ để tôi là hạt bụi, tấm cám
Hạt lúa mì rơi vãi giữa đồng không..
…Biết đến bao giờ tôi được kéo lên
Khỏi kiếp bùn nhơ như người trộm ấy.
(Khổ hạnh ca)

…Nhỡ mai một khi lỡ lầm va vấp
Hỏi Chúa còn dung tha đỡ vực tôi không?
Đã bao lần tôi chết đuối trên sông
Mơ chiếc bè lau, ngọn lửa chài hiu hắt
(Lời trần tình trước hừng đông)

Lạy Chúa Trời, đến bao giờ đá nát vàng tan
Cho tôi sự nhớ ra mình-con-chim-lìa-tổ
Hãy cột dây và điệu tôi đi vòng quanh phố chợ
Gặp từng người, xin đấm ngực ăn năn
(Hãy xé lòng, đừng xé áo)

Tôi quỳ lạy Chúa trên cao
Dẫn dìu tôi kẻo sa vào tối tăm
Thế mà tôi tưởng xa xăm
Hóa ra Người ở âm thầm trong tôi
(Chúa ở trong tôi)

NHỮNG CHIỀU KÍCH CỦA HỒN THƠ

Nếu chỉ nhìn Cái Tôi nhà thơ Công giáo qua lăng kính Thần học và tín lý Công giáo thì không thấy được phẩm chất thi sĩ và cá tính sáng tạo rất riêng của Lê Đình Bảng. Hồn thơ của ông còn có những chiều kích khác.

Ngoài chiều kích tâm linh đã phân tích ở trên, Nhân vật Tôi còn hiện diện trong trường thời gian lịch sử và hoạt động trong không gian Kinh Thánh, Tôi vượt qua thời gian và không gian hiện hữu. Những chiều kích này khác với thơ truyền thống. Nhân vật Tôi vừa hướng nội, lại vừa hướng về tha nhân để đối thoại, chia sẻ.

Nhà thơ hóa thân thành một người đang sống vào thời cách đây hơn 2000 năm, đi tìm Đức Giêsu, ngồi đợi Ngài, và đã gặp Ngài. Con người thơ ấy không phải là người trong đám đông đi theo Chúa để nghe giảng hay cầu chữa bịnh, cũng không phải môn đồ kề cận Chúa để được huấn luyện trở nên thánh, mà là một người rất đời, rất thân tình với Chúa.

Lê Đình Bảng đã tạo dựng được không gian lịch sử, không gian Kinh Thánh, với những con người, những sự kiện như đang xảy ra trong hiện tại, có những liên hệ mật thiết với hiện tại. Nhà thơ đắm mình trong thế giới ấy để chia sẻ với mọi người.

Hình ảnh Đức Giêsu thật trẻ trung và mới lạ, lại rất đỗi gần gũi, quen thuộc. Lê Đình Bảng có khả năng tái hiện những trình thuật của Kinh thánh về Đức Giêsu bằng cảm quan riêng, kết hợp với không gian thơ Việt, tạo nên sự ngạc nhiên thú vị. Đặc biệt thú vị ở sự sáng tạo những tứ thơ mới so với những gì được miêu tả trong Kinh Thánh.
Hay tin Ngài ở Canaan
Ngựa tôi đi một ngày đàng, còn xa
Tới nơi vừa lúc trăng tà
Mới hay, thuyền mới vừa qua Biển hồ
(Bên kia Biển Hồ)

Nếu có một ngày
Tình cờ, em gặp chàng thanh niên tóc bay tiền sử
Áo vải, chân không giữa đám trẻ thơ
Hay một hừng đông Biển hồ
Ngồi trên mạn thuyền, giữa nơi nhà hội
Mùa sương sa, em về may áo mới
Gọi mưa trên bờ cuội trắng như tơ
Gió sa mạc cơ hồ
Đang thổi mấy chiều hơi nước
Tôi đợi Người
Miệng lưỡi khát khô
(Người hát rong trên đồng cỏ)

Ở bên kia sông, chiều nay giữa phường mua bán
Tôi đã gặp Người giữa tuổi ba mươi
(Trên sông Jordan)

Tôi đã gặp Người ở xóm nghèo Nazareth
Chắt chiu từng mảnh đời vừa tuổi lớn khôn
Rồi một hôm đi lễ về, cha mẹ lạc con
Giục giã về đâu? Jordan ơi, sông chảy ngược dòng
Bồ câu nghiêng xuống trên đầu người trai trẻ
Những xóm chài mấp mé sườn non.
(Những chứng từ có thật)

Một đoạn thơ ngắn nhưng có thể thuật lại sống động và mới mẻ đoạn Kinh thánh từ lúc Đức Giêsu ở Nazareth, Chúa lên đền thờ bị lạc cha mẹ, đến khi Chúa chịu Phép Rửa trên sông Jordan.

”Jordan ơi, sông chảy ngược dòng” là một tứ thơ rất thú vị, là một lời gọi thân thương dòng sông nơi Đức Giêsu chịu Phép Rửa của Gioan. Điều lạ lùng mà Kinh Thánh không miêu tả là sông Jordan chảy ngược dòng. Thực ra đó là một ẩn dụ. “Bấy giờ Đức Giêsu từ miền Galilê đến sông Jordan, gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng Gioan một mực can Người và nói: “Chính tôi mới cần được Ngài làm Phép Rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !”(Mt 3,13-17). Lẽ ra Gioan phải được Chúa làm pháp rửa cho, nhưng lại làm ngược lại, như sông Jordan chảy ngược dòng.

Tứ thơ: ”Bồ câu nghiêng xuống trên đầu người trai trẻ” thuật lại đoạn Kinh Thánh: “Khi Đức Giêsu vừa chịu phép rửa xong, Người lên khỏi nước. Lúc ấy các tầng trời mở ra; Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,13-17 đd). Nếu chỉ có vậy thì không lạ. Câu thơ kết đọan đem chất phương Đông vào bối cảnh Kinh Thánh tạo mên một tứ mới lạ:
“Bồ câu nghiêng xuống trên đầu người trai trẻ
Những xóm chài mấp mé sườn non”.

Xưa nay trong thi ca, những xóm chài thường ở ven sông. Xóm chài của Lê Đình Bảng lại “mấp mé sườn non” tức là nằm chênh vênh trên sườn núi. Đức Giêsu bây giờ là một người trai trẻ của xóm chài trên sườn núi. Người là hiện thân của niềm vui và sự bình an bên chim bồ câu hiền lành. Sáng tạo này làm mới hẳn hình ảnh Đức Giêsu trong Kinh Thánh.

Hành Hương có nhiều sáng tạo như thế. Hành Hương là đi tìm và gặp gỡ Đức Giêsu, Đức Vua của yêu thương và hòa bình; đồng thời gặp gỡ mọi người ở những nơi đau khổ vì chiến tranh vì tội lỗi, để chia sẻ niềm vui mà nhà thơ tìm được nơi Đấng Cứu Độ.

Nhà thơ đối thoại với người phụ nữ Samari bên giếng Giacop (Ga 4, 5-42), và người đàn bà tội lỗi lấy dầu thơm xức chân Chúa, dùng tóc mình lau chân Chúa (Luc 7, 36-50). Cả hai đều đã được thấy Ơn Cứu Độ.
Ngày mai, em có lên đền thánh
Nghe những tường nghiêng vai núi cao
Lệ đã xanh rêu bờ giếng cũ
Ơi, người thiếu phụ có xôn xao

Dầu thơm, hay tóc em thơm nhỉ
Khi trái tim muốn nói, thật gần
Trong cõi vô ngôn thần khí ấy
Lệ rưng rưng là lệ ăn năn
(Bên bờ giếng cũ)

Nhà thơ nói chuyện với người thiếu phụ Nivinê thời tiên tri Giona rao giảng (khoảng 8 thế kỷ trước Công nguyên), nhưng cùng lúc chia sẻ những đau thương của người dân Vùng Vịnh hôm nay.
Sao em không về
Vùng Vịnh tháng giêng bão táp
Vùng Vịnh quặn đau theo từng hồi còi báo động
Lưới lửa đầy trời, choàng tỉnh cơn mê?
Tôi hằng đợi em người thiếu phụ Nivin ê
Quê em đó cổ thành Babilon

Sao em không về
Ngôi nhà xưa ngó ra biển cả
Chập chờn đầy lũ ma trơi
Trôi giạt xác người!
Bốn phía rừng dương tơi tả
Đâu những mẹ già, vợ góa, con côi?
Và trẻ thơ chưa kịp làm người
Gục chết trong hầm trú ẩn…

Tôi vẫn đợi em về
Dù cổng thành Nivinê không mở
(Tháng Giêng ở Vùng Vịnh)

Nivinê là một thành lớn, nghe lời Giona rao giảng đã sám hối và được Chúa thứ tha.

Tất nhiên vùng Vịnh hôm nay không phải là Nivinê ngày xưa nên em không về. Nhưng nhà thơ vẫn đợi em về “Dù cổng thành Nivinê không mở”.
Chúa vẫn đứng 2000 năm ngoài cửa
Từ Giêrusalem, từ mỏm đất Gaza
Có một người bị bắn chết hôm qua
Chỉ vì dám ngồi chung bàn với người anh em ngoại đạo…
(Lời trần tình trước hừng đông)

Nhà thơ đợi chờ người trai trẻ của xóm chài trên sườn núi với những cánh Bồ câu nghiêng xuống trên quê hương mình:
Em có thấy lũ trẻ thơ ùn ùn trên đường sơ tán
Những mẹ già góa bụa long hong
Từ căn nhà tối om, từ phiên chợ nhếch nhác, bão giông
Tóc bạc trắng bông lau, đêm đêm chong đèn đợi cửa

Quê hương ta
Cũng một thời, mài mực ru con, mài son đánh giặc
Kẻ xuôi về phương Nam, người lên non Tây Bắc
Mẹ dỗ dành con, cơm cháo qua ngày
(Mặt trời ở phương Đông)

Nhà thơ nói chuyện với em gái Belem và bộc lộ tình yêu quê hương một thời lửa đạn.
Ở bên ấy pháo hoa hay đạn lửa
Và giờ này im tiếng súng chưa em
Con đường nào, về hang đá Be Lem
Hai phòng tuyến, hai làn ranh đối đầu thù hận …


…Quê hương ta cũng một thời đạn bom rực lửa
Có thương đau, gian khổ mới thành người
Các em về, thả nghé, hát rong chơi
Ngửa mặt, đếm đầy trời sao chi chít
(Bài du ca của gã Tuần phiên)

Từ Hebron đến bờ Tây cát bụi
Hắt hiu trông, mồ mả lấp ơ hờ
Những mẹ già rét mướt áo tơi mưa
Xác trẻ cháy đen bên đống đồ chơi vương vãi
Ở Gaza, những chiều đông xa ngái
Em heo may sang xứ lạ quê chồng…
(Gửi người thiếu phụ chăn chiên)

(Hebron là một thành phố của Palestine nằm ở phía nam Bờ Tây, cách Jerusalem 30 km về phía nam)


Như vậy, chiều kích\ của hồn thơ Lê Đình Bảng không chỉ là không gian Kinh Thánh mà còn là hiện thực chiến tranh Vùng Vịnh, hiện thực của Việt Nam một thời rực lửa.

Trong chiều kích này hồn thơ Lê Đình Bảng sâu sắc tư tưởng nhân ái và tình yêu quê hương sâu nặng.
Như cây đước ở trong rừng ngập mặn
Tôi mang ơn đất nước dưới chân mình
Cả đại ngàn sơn dã những mùa xanh
Cả mưa móc dạt dào muôn suối tưới
(Giữa bao la đất trời)

Cái Tôi của nhà thơ đi về trong một thế giới vượt thời gian, vượt không gian, từ lòng tin vào Ơn Cứu Độ trong Kinh Thánh (thời Giona khoảng 800 năm trước Công nguyên) đến thế giới hiện thực của Vùng Vịnh và hiện thực Việt Nam hôm nay “Các em về, thả nghé, hát rong chơi/ Ngửa mặt, đếm đầy trời sao chi chít”. Thế giới nghệ thuật này trong thi ca Việt Nam đương đại chưa có.

THI PHÁP CỦA HÀNH HƯƠNG
(Tập thơ Hành Hương)

Điều làm nên cốt cách thơ Lê Đình Bảng không chỉ ở chiều kích tư tưởng và thẩm mỹ của nhân vật trữ tình Tôi, mà còn ở thi pháp của Hành Hương.

Tôi không có ý định viết về Thi Pháp thơ Lê Đình Bảng, mà chỉ tập chú vào một vài yếu tố Thi pháp làm nên đặc sắc của tập thơ Hành Hương.

Đọc Hành Hương, người đọc được đưa vào thế giới của Kinh Thánh cả Cựu Ước và Tân Ước. Điều này là hiệu quả nghệ thuật của việc dùng các điển ngữ Kinh Thánh. Văn học Trung đại Việt Nam dùng nhiều điển ngữ của lịch sử và văn học Trung Quốc. Lê Đình Bảng góp vào thi ca dân tộc những hiệu quả nghệ thuật của điển ngữ Kinh Thánh.

Điển ngữ Kinh Thánh gợi ra không gian lịch sử, sự việc, con người được nói đến trong Kinh Thánh, đồng thời thể hiện được tư tưởng, tình cảm của nhà thơ ẩn trong điển ngữ. Điển ngữ làm cho câu thơ trở nên sâu sắc, sang trọng, nhưng cũng cản trở người đọc nếu không có tri thức lịch sử, địa lý mà điển ngữ nói đến.

Lê Đình Bảng dùng điển ngữ Kinh Thánh khởi từ nỗi buồn của Cain thời Cựu Ước đến cuộc đời Đức Giêsu từ khi ở Nazareth đến khi Chúa sống lại hiện ra với tông đồ trên đường Emmaus trong Tân Ước. Thi thoảng Lê Đình Bảng kết hợp điển ngữ Kinh Thánh với điển ngữ trong văn học Trung Quốc (sông Dịch, nơi Kinh Kha qua sông đi hành thích Tần Thủy Hoàng; bến Tầm Dương trong Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị…), và ngôn ngữ Thiền.
Cain sầu năm xưa
Đưa nhau lên đền thờ
(Bồng bềnh bao nỗi nhớ)
Tôi ngồi tôi nhớ Sion
Treo đàn lên, ngó Tầm Dương bạt ngàn
(Ơi người cố quận Sion)

Về phương ấy khấn xin đời dâu bể
Là Canaan hay bằn bặt Tầm Dương
(Hành hương)

Cây hương bá buồn ủ ê từng phút
Là hồn tôi đầy bóng tối âm u
(Xin trời mưa xuống)

Xin mặt trời dừng lại bên sông
Hãy mở toang, ngôi đền cổ Pharaon
Một nửa cầu vồng vắt ngang Biển Đỏ
(Người hát rong trên đồng cỏ)

Hay tin Ngài ở Canaan
Ngựa tôi đi một ngày đàng, còn xa
(Bên kia Biển Hồ)

Từ vườn cây dầu lên đỉnh Căn –Vê
Babylon ơi, mưa đá dầm dề
Khổ ải, lạc loài, áo tơi, nón lá
(Khổ hạnh ca)

Jordan ơi, đã tới mùa bát ngát hương sen
Khi chim ngói từng bầy rủ nhau về làm tổ
(Trên sông Jordan)

Đêm vẫn ba mươi, đầy bóng tối
Rừng phong buồn trút lá xôn xao
Vườn Cây Dầu lặng câm như đá
Trăng hạ tuần rơi trên lũng sâu
(Vườn trong khuya)

Ngày mai, trâm gãy, bình rơi đó
Em cũng như tôi giây phút đầu
Tan tác buồn trông theo lớp lớp
Ai về sông Dịch, về Emmaus?
(Bên bờ giếng cũ)

Là khi ấy, lửa từ trời sa xuống
Xác hồn tôi cửa mở hết luân xa
Như nhập đồng, tôi nhảy múa reo ca
Đêm nhã nhạc, cây từ bi nảy lộc
(Xin trời mưa xuống)

(“Luân xa, từ bi” là ngôn từ nhà Phật)

Một thành công khác của thi pháp Lê Đình Bảng trong Hành Hương là cách dựng lại cuộc đời Đức Giêsu trong không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật với nhãn quan thẩm mỹ riêng của nhà thơ. Những gì tường thuật trong Kinh Thánh về những nơi Đức Giêsu đến, những người Đức Giêsu gặp gỡ, những sự kiện của hành trình Đức Giêsu cứu rỗi nhân loại, được Lê Đình Bảng tái tạo thành một “trần thuật mới” rất riêng, như đọan thơ miểu tả Đức Giêsu là chàng thanh niên tóc bay tiền sử, ba mươi tuổi, con người hiền lành của xóm chài mấp mé sườn non, Người ngồi trên mạn thuyền, giữa nơi nhà hội…(đã phân tích ở trên).

Đây là những khổ thơ rất đẹp hình ảnh và tư tưởng, phối hợp nhiều kiểu điển ngữ và chất liệu thơ của Thi pháp thơ Lê Đình Bảng:
Và khi ấy hỡi bồ câu thiên sứ
Gõ nhịp mà ca, trẩy hội cầu mưa
Hạt xuống đồng, xanh mướt búp măng tơ
Hạt lên dốc, đẫy đà cây muôn trượng
(Xin trời mưa sương xuống)

Cây Thánh giá nở hoa đào rực rỡ
Hãy thả bồ câu bay rợp đền vàng
Hương sáp, mật ong, quần điều áo lục
Bên đây bờ Tân ước…
(Người hát rong trên đồng cỏ)

HÀNH TRÌNH THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG

Tập thơ Quỳ trước đền vàng là hành trình khám phá về Đức Maria trong lịch sử giáo hội Việt Nam. Mẹ là núi đá chở che con dân, một người Mẹ vừa mang nét đẹp Thần học và vẻ đẹp dân dã Việt. Lời thơ đẹp như châu ngọc, và hồn thơ trong veo như suối nguồn tinh khiết của Mỹ học Thiên Chúa giáo kết hợp với Mỹ học trong thơ ca truyền thống.

Hành Hương là một bước phát triển mới của Thi pháp thơ Lê Đình Bảng. Nhà thơ tạo hẳn ra thế giới nghệ thuật trong việc phối hợp điển ngữ Công giáo với điển ngữ văn học trung đại Việt Nam. Hành Hương là đi tìm, gặp gỡ, khám phá Đức Giêsu, nguồn ơn bình an và Ơn Cứu Độ. Hành trình này khở đi từ nguyên thủy đến khi tìm thấy “Người ở âm thầm trong tôi”. Hình tượng Đức Giêsu là hình tượng thật mới mẻ trong thơ ca “nhà đạo” Việt Nam. Những đóng góp này của Thơ Lê Đình Bảng có khả năng mở đường cho nhiều nhà thơ Công giáo đi sau, nhưng cũng thật khó, nếu người làm thơ Công giáo thế hệ sau không có một hồn thơ tài hoa trong thi pháp và một tầng quặng vỉa rất dày về Kinh Thánh. Có lần tôi hỏi nhà thơ Lê Đình Bảng rằng ở đâu mà anh có vốn từ giàu có, sang trọng như vậy? Nhà thơ trả lời, anh đã đọc rất kỹ tất cả Kinh Thánh Cựu ước và Tân Ước. Tôi cũng hiểu thêm rằng, những gì anh có được còn là sự thâm nhập và sống rất sâu nặng với văn hóa Việt, và thơ ca truyền thống.

Lê Đình Bảng là một nhà thơ Công giáo đĩnh đạc, giàu có sức sáng tạo, và rất tài hoa. Ước mong các nhà thơ Công giáo, theo con đường của tiền nhân, cùng xây dựng một tòa lâu đài thi ca tráng lệ trong lòng thi ca dân tộc (điều này Thánh ca Việt Nam đã làm được). Và Lê Đình Bảng đã góp phần mở ra nhiều con đường thơ Công giáo thật đẹp.

Tháng 6/ 2020
__________________________________
[1] Thư trao đổi ngày 29/5/2020
[2] Hành hương với Hành Hương. Nxb Tôn Giáo. 2013

                                                                   (Ảnh: Sưu tầm)

Truyện số 10:
Tôi lớn lên ở giữa Xứ Đạo nên mỗi dịp Giáng Sinh về là “ngập chìm trong không khí lễ hội”. Có lẽ Tết cũng khó mà sánh bằng, bởi vì Tết dù được mừng tuổi nhưng mẹ đều thu hết, còn Giáng Sinh thì được dán đèn ông sao này, được xem diễn nguyện, múa hát này, và đặc biệt nhất là được tặng bao nhiêu quà mà không bị thu lại, hơn thế còn là những món quà mong muốn nhất mà tôi đã gởi trong thư tới Ông Già Noel. Lúc ấy, thực tình tôi không quan tâm đến Hang Đá lắm, vì thông thường khi lễ thì quá đông không vào xem được mà ngoài giờ lễ thì khuôn viên Nhà thờ đóng kín, trẻ con không được vào vì sợ đến phá. Rồi khi bắt đầu học giáo lý, tầm chín hay mười tuổi gì đó, tôi cũng tò mò đến xem nhưng cảm thấy không mấy thú vị vì cũng giống như Hang Đá bố mẹ tôi dựng ở nhà, chỉ khác là to hơn thôi.

Chừng mười năm sau, tôi ra Hà Nội trọ học Đại học. Lúc này tôi bắt đầu cảm thấy nhớ nhà và đến Giáng Sinh thì tôi không nhịn được, nhất định phải nhót về, dù sắp bắt đầu kỳ thi học kỳ một và bố tôi đã đe trước: “Đường xa, trời lạnh, tốn tiền tàu xe. Mày mà về bố sẽ…chặt chân”, nhưng đâu có sao vì mẹ đã “mật báo” cho tôi, rằng bố đi công tác một tuần vào dịp này. Tuy thế, tôi vẫn cảm thấy bất an, phần vì sợ về chơi, nhỡ như khi ra lại Hà Nội mà thi hỏng thì bố tôi “bẻ giò”, còn ông mà đi công tác về giữa chừng thì cũng bị “chặt chân”. Kỳ Giáng Sinh ấy tôi chẳng được bình an, cứ ra ra vào vào, đứng ngồi không yên, mẹ tôi phải trấn an: “Bố bảo cuối tuần bố mới về, mà có mẹ bảo kê cho rồi, bố mày đầu đội trời chân đạp đất, trên chỉ sợ Chúa, dưới chỉ sợ Mẹ mà thôi, khà khà, cứ thoải mái đi, về Lễ, Chúa Hài Đồng sẽ ban ơn cho, đừng lo gì cả”. Tôi vẫn run run: “Chúa ở khắp mọi nơi, Hà Nội cũng có lễ mà nghe nói lễ còn to hơn”. Mẹ tôi bông đùa: “Chúa Hà Nội sao bằng Chúa Hà Tĩnh được” khiến tôi đang lo lắng cũng phải bật cười.

Ừ nhỉ. “Chúa Hà Nội”“Chúa Hà Tĩnh”? Sao cứ phải so sánh thế nhỉ. Lại còn “Chúa Cứu Thế”, “Chúa Hài Đồng”, “Vua Giêsu”,… và bao danh xưng khác nữa, nhưng cũng chỉ một Chúa mà thôi, sao phải phân biệt chứ?

Nghĩ thế, tôi phải khám phá mới được. Tôi đến bên Hang Đá mà mọi năm đều “không cảm xúc” vì nghĩ “năm nào cũng thế”, vẫn là những bức tượng ấy, vẫn Chúa Hài Đồng nằm trên máng cỏ, Mẹ Người ngồi kế bên, Thánh Giuse đứng cạnh, xung quanh là chiên bò,… chẳng có gì khác biệt. Nhưng có lẽ vì tôi đã ở tuổi bắt đầu trưởng thành, những va vấp khi ra chốn thị thành, những nỗi khó nhọc khi phải gặm các môn khoai chuối của trường Bách Khoa và những đồng tiền nhỏ nhoi bố mẹ gởi ra phải tằn tiện chi tiêu cho đủ nhưng cuối tháng vẫn phải gặm mỳ tôm chỉ vì giữa tháng có mấy đứa bạn đến chơi phải thiết đãi nó và “sức ép” giành học bổng để phụ giúp chi tiêu hàng ngày đã làm tôi chẳng có chút bình an như lúc “còn trong cánh mẹ”, nay bất ngờ tìm thấy sự an yên trong bức tượng Hài Nhi nhỏ bé với đôi mắt dịu hiền và hai cánh tay giơ ra như ôm cả thiên hạ vào lòng.

Ồ, “Vua Giêsu”, “Đấng Cứu Thế” mà sinh ra trong Hang Đá lạnh lẽo quanh mấy con bò lừa vậy ư, sao Ngài vẫn tươi cười, giang đôi tay nhỏ xíu ra như sẵn sàng ôm ấp che chở cho chàng thanh niên đã mười tám tuổi này rồi? Trông Ngài quả là bình an, có lẽ vì tránh xa được cái Thủ đô Giê-ru-sa-lem ồn ào náo nhiệt ấy. Và quanh Ngài chẳng phải là bố mẹ Ngài đó sao? Thánh Gia! Đúng thế, Ngài bình an, hạnh phúc vì Ngài đang ở bên gia đình. Tôi cũng thế, về với gia đình không chỉ là về với ngày hội, những món quà hay vơi đi nỗi nhớ, mà đơn giản là tìm sự Bình An.

Và tôi đã có một hành động kỳ quặc, là sau Lễ Nửa Đêm về, tôi nhấc tượng Chúa Hài Đồng ra khỏi Hang Đá nhà mình, đặt Ngài lên đầu giường với hy vọng Ngài sẽ ban cho giấc ngủ ngon. Rồi chẳng biết có phải vì mấy hôm thao thức sợ bố về đột xuất hay sợ thi trượt mà đêm Giáng Sinh tôi ngủ rất ngon, còn mơ thấy Tiếng hát Thiên Thần: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người Thiện Tâm…” hòa cùng lời giảng của Cha Xứ trong thánh lễ vừa rồi: “Chúa Giê-su là Hoàng Tử Bình An, là món quà Chúa Cha tặng ban cho nhân loại.”

Sáng hôm sau, tôi thức giấc bởi tiếng hát véo von “Cao cung lên…” từ Nhà thờ, báo hiệu sắp tới Lễ Giáng Sinh rạng ngày 25-12, tôi vội vã bật dậy, tay quờ phải tượng Chúa Hài Đồng ở đầu giường làm rơi tượng xuống chiếu. May. Nếu rơi khỏi giường thì vỡ tan rồi. Tôi giật thót mình. Lại mất bình an rồi! Nhưng rồi tôi vỡ òa vui sướng vì bức tượng lăn trượt một chút rồi dừng lại ở một đôi tất mới. Là quà tặng của Ông Già Noel! Tôi bật cười bởi đã nhiều năm chẳng được tặng quà nữa vì tôi đã lớn, đã biết hiện thân của “Ông già Noel” chính là thánh Giám mục Nicolas, nhưng nay tuổi mười tám lại có quà mới “ghê” chứ. Tôi vội thò tay vào đôi tất, nhưng bên trong chỉ vọn vẹn một mảnh giấy nhỏ…

“Bố biết, với cái tính của mày thì kiểu gì cũng trốn về nhà dịp này, thay vì chặt chân mày, thì bố tặng đôi tất này và đôi giày thể thao để ở chân bàn làm việc của bố. Hà Nội lạnh lắm, hãy giữ ấm nhé, chúc con luôn bình an và vững bước mỗi ngày như Chúa Hài Đồng năm xưa”.


“QÙY TRƯỚC ĐỀN VÀNG”,
THƠ CỦA “NGƯỜI ĐI NHẶT CHỮ” TÀI HOA.
(Đọc tập thơ Quỳ trước đền vàng của Lê Đình Bảng. Nxb Tôn Giáo 2010)

(Nhà thơ Lê Đình Bảng)

Nhà thơ Lê Đình Bảng (*) tự nhận mình là “người đi nhặt chữ”:
Con chỉ là người đi nhặt chữ
Lang thang nơi phố chợ đông người
Để nghe mạch chảy, nghe trời đất
Ngàn vạn âm vang của cuộc đời…
(Kinh khuya)

    Những dòng thơ trên đủ giới thiệu cho bạn đọc một hồn thơ khoáng đạt, cao rộng. Hồn thơ ấy “nghe mạch chảy” của thời gian, “nghe trời đất” cất lời và, nghe ”ngàn vạn âm vang của cuộc đời”. Đó là một hồn thơ đã vượt ra khỏi giới hạn của không gian và thời gian để trái tim rung cảm dào dạt trước vẻ đẹp rất lạ lùng và kỳ diệu của cuộc đời này.

    Lê Đình Bảng đã in các tập thơ: Bước chân giao chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012). Ngoài ra Lê Đình Bảng còn là nhà nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Ông đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách gồm 6 cuốn “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) do ông sưu tầm, nghiên cứu…

    Quỳ trước đền vàng là tập thơ riêng về Đức Maria.
(Tập thơ: Quỳ trước đền vàng)

I. KHÁM PHÁ MỚI MẺ VỀ HÌNH TƯỢNG ĐỨC MARIA

    Ở Việt Nam, việc sùng kính Đức Maria đã trở thành lòng đạo nhiệt thành của giáo dân. Trong một năm có đến 2 tháng hoa, tháng Năm và tháng Mười, dành để giáo dân quây quần xung quanh Mẹ, đọc kinh Mân Côi, kiệu hoa, dâng hoa. Các tước hiệu dành cho Đức Maria cũng rất phong phú: Đức Mẹ Hằng cứu giúp, Đức Mẹ ban ơn lành, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Maria Nữ vương hòa bình… Linh địa Công giáo cũng là linh địa của Đức Mẹ: Đức Mẹ La vang, Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức Mẹ Măng Đen, Đức Mẹ Tàpao… Kinh nhạc để cầu nguyện cùng Đức Maria cũng rất phong phú và có nhiều bài tuyệt hay.

    Vì thế, thật không dễ để có thể khám phá ra những điều mới mẻ về hình tượng Đức Maria. Trước đây, Hàn Mặc Tử đã viết bài Ave Maria tuyệt hay, bài thơ lại được Nhạc sư Hải Linh phổ nhạc, tạo nên một lâu đài nghệ thuật tráng lệ:
…Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi
Thơm dường bao cho miệng lưỡi không khen
Hỡi Sứ Thần Thiên Chúa Ga-bri-en
Khi người xuống truyền tin cho Thánh Nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú
Người có nghe náo động cả muôn trời
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca tụng – bằng hương hoa sáng láng
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng
Một đêm xuân rất đỗi anh linh…”

    Những câu thơ dát bằng châu ngọc ngôn ngữ ấy sẽ là đỉnh thi sơn mà những nhà thơ Công giáo đi sau khi viết về Đức Maria không dễ vượt qua.

    Lê Đình Bảng đã khắc họa được một hình tượng Đức Mẹ rất đẹp nhưng hoàn toàn khác với hình tượng Đức Maria của Hàn Mặc Tử.
    
    Nhà thơ họ Hàn ca tụng Đức Mẹ “bằng hương hoa sáng láng/ Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng”, và đặt Đức Mẹ trên trời cao với chuyển động của vũ trụ: “xôn xao muôn tinh tú/ …náo động cả muôn trời”. Xung quanh Đức Mẹ “Sáng nhiều quᔓThơm dường bao”.

    Lê Đình Bảng đem Đức Mẹ về gần gũi với mình, gần gũi với đời sống khó nghèo gian nan. Đức Mẹ hòa trong khung cảnh thiên nhiên Việt Nam, cô đọng trong những tình tự dân tộc, và sâu lắng trong tâm thức Việt về người mẹ. Đặc biệt, Lê Đình Bảng dùng hình ảnh “Mẹ hóa đá” đã có trong văn hóa dân gian Việt để khẳng định lòng tin: Mẹ vững như núi đá chở che con Mẹ mấy trăm năm ở những linh địa. Nhờ thế, bạn đọc ngoài Công giáo có thể tiếp cận được thơ về Đức Mẹ một cách tự nhiên, như thơ về người mẹ trần gian của mình.

    Mẹ sống với đàn con những ngày nước trắng đồng không, những ngày mưa giông, bão lụt khắp cả Bắc, Trung, Nam:
Mẹ là giại nứa phên tre
Những khi nắng quái, bốn bề mưa giông
Lòng tin con, ngã ba sông
Trông ra nước trắng đồng không mấy bờ

                                            (Heo may lời con)

   Mẹ với đời nghèo khó âm thầm nhẫn nhục.

Mẹ tít tắp đầu non
Hai trăm năm nhẫn nhục

…Đất vẫn nghèo sỏi đá

Vẫn lá rau, con cá
Con bốn mùa nắng nôi
Đêm đêm thắp sao trời
Mẹ, mưa nguồn tắm gội
Cây đời con tốt tươi”
      (Mẹ vẫn ở đầu non)

Một hình tượng giàu phẩm tính dân tộc:
Mẹ vẫn đứng cùng phong rêu quá khứ
Hai trăm năm, phơi rát mặt gió Lào
Cháy lòng con bao nỗi nhớ xôn xao
Mỗi khi đếm từng mùa thu đi, thay lá
                 (Trường ca Mẹ La vang)

Một tứ thơ rất đẹp về cái nóng khắc nghiệt của gió Lào làm đá rịn mồ hôi.
Bỗng dưng con thấy bồi hồi
Sông khuya đá rịn mồ hôi gió Lào…

…Mẹ là bến lặng bờ trong
Để con nương náu mà giong thuyền về
  (Kinh nguyện La Vang)

 Mẹ là Mẹ cả núi sông.
Dừng đây, đôi ngả đi, về
Chênh vênh đá dựng, tư bề núi non
Tít mù làng bản, sơn thôn
Rưng rưng khói biếc hoàng hôn nhớ nhà…

…Mẹ sông, Mẹ núi, Mẹ ngàn
Mẹ ôm lấy cả vô vàn chúng sinh
(Mẹ. Suối an bình)

Lê Đình Bảng gặp gỡ hồn thơ Hàn Mạc Tử, nhưng vẫn rất khác:
Vì đêm ấy mới là đêm trừ tịch
Xác-hồn-thiêng-vô-nhiễm trổ thành hoa
Giữa ba tòa sen ngát ánh dương pha
Giữa băng tuyết rỡ ràng ơn phước lạ


Hai nghìn năm, Mẹ sầu bi hóa đá
Lạnh vô cùng, tím ngắt những hoàng hôn…
(Cửa đẹp)

Lê Đình Bảng khác Hàn Mặc Tử vì khắc tạc Đức Maria trên nền của hiện thực Việt Nam:
Sau cuộc chiến tưởng chừng không được gặp
Lúa ngô reo hay triệu triệu tấm lòng
Mấy đồng trong, nước trắng cũng về sông
Mẹ đứng đó, hai trăm năm, lệ đá”
(La Vang. Tháng Tám mùa thu)

Lê Đình Bảng tâm tình với Mẹ:
Con mải mê cuộc sống
Để bây giờ tay không
Vẫn lạc chợ, trôi sông
Vẫn cơm đường, cháo chợ

Mẹ thành non thành đá
Phong rêu với bụi bờ…
(Lên ngàn)

Và đây là lời nguyện cầu:
Lạy Mẹ Tà Pao giáng phúc, ban ơn
Xin mở rộng cửa thiêng đường, Mẹ nhé

Và thương lấy những đoạn trường, dâu bể
Để chúng con làm muối mặn cho đời
Thả lưới xa bờ, chỗ nước xa khơi
Bên phải mạn thuyền, cá tôm đầy chặt
(Trường ca Mẹ Tà Pao)

    Lê Đình Bảng ít nói đến Mẹ trên trời. Đức Maria trong thơ Lê Đình Bảng cũng không đậm chất thần học trong Kinh thánh như Mẹ đồng công Cứu chuộc, Mẹ Thiên Chúa. Người Mẹ ấy cũng không phải là Mẹ của những ơn phép lạ mà người bình dân thường cầu xin (lâu lâu lại có tin đồn Đức Mẹ hiện ra chỗ này, chỗ kia). Đức Maria của Lê Đình Bảng gần gũi thân thương lắm, và rất Việt Nam.

    Tôi rất thích tứ thơ này về Đức Mẹ, vì Mẹ cùng “nắng nôi dãi dầu”, cùng ”áo rách thương nhau” với con dân Việt.
Đội ơn Đức Mẹ Môi Khôi
Cho con yêu cả nắng nôi dãi dầu
Cũng đành áo rách thương nhau
Cái duyên cam quít vừa sâu vừa đằm…
                       (Con về thăm xứ bưởi)

    Và đây là hình ảnh người mẹ trần gian đã nuôi nấng nhà thơ niềm tin yêu cậy trông với Đức Mẹ trên trời. Hình ảnh người mẹ này thật mới lạ trong thi ca Việt đương đại.
Mẹ ngồi trước hiên, tay lần tràng hạt
Đếm cả đời người được mấy mùa vui…

Nhà ta đó, tiếng súng xa đồn bót
Đêm đêm về, nghe thầm thĩ cầu kinh…

Mẹ cong lưỡi chữ R phát Riệm
Mỗi lần dạy con dâng hạt, dâng hoa
Lần chuỗi Mân Côi kính nhớ Đức Bà
Mấy chục năm qua con vẫn nhớ lời mẹ…
             (Tháng Giêng, Về Phát Diệm)

Của cải mẹ cha cho có vậy
Để dành khi con lớn, con khôn
Những câu kinh sách, phiên chầu, lễ
Đã thấm vào da thịt, máu, xương
Đã nên nhân đức, nên lòng đạo
Nuôi sống cả đời con, xác, hồn…
          (Chuyện những mùa hoa)

II. NHỮNG BÀI THƠ TÌNH CÔNG GIÁO

    Hình như sau bài thơ tình Tha La xóm đạo của Vũ Anh Khanh (1950), tôi chưa được gặp bài thơ tình Công giáo nào (?). Vì thế khi được đọc Quỳ trước đền vàng, tôi thật ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thơ tình Công giáo của Lê Đình Bảng:
Quê nhà
Tháng Năm rồi tới tháng Mười
Làm sao quên được một thời ấu thơ
Cùng em đi lễ nhà thờ
Hoa bằng lăng nở tím bờ ao sen

Em quỳ, tôi cũng quỳ bên
Hương trầm lên, khói trầm lên trước tòa
Mẹ là vườn ngát hương hoa
Chúng con, giọt nước mưa sa ngoài đồng

    Bạn đọc ngoài Công giáo không hiểu tại sao nhà thơ lại nói đến tháng Năm và tháng Mười trong kỷ niệm tình yêu. Đó là hai tháng “nhà đạo” dành tôn kính Đức Mẹ. Trong hai tháng này, nhà thờ Công giáo có nghi thức dâng hoa, rước kiệu Đức Mẹ, không khí vui như ngày lễ hội.

    Tình yêu trong bài thơ chỉ là kỷ niệm đơn sơ nhưng thánh thiện, tinh khiết: kỷ niệm nhà thơ cùng em đi lễ nhà thờ, con đường có hoa bằng lăng tím và có cả ao sen. Em quỳ, tôi cũng quỳ bên/ Hương trầm lên, khói trầm lên trước tòa.

    Kỷ niệm chỉ có vậy nhưng bài thơ tình có sức ám ảnh về những điều mới lạ. Đó là tứ thơ “Cùng em đi lễ nhà thờ/ Hoa bằng lăng nở tím bờ ao sen”. Cái mới lạ của tứ thơ là sự kết hợp màu tím bằng lăng lãng mạn với hoa sen hồng thuần khiết. Nhưng mà, ao sen gần nhà chùa hơn “nhà đạo”, và hương trầm, khói trầm bay lên nghi ngút cũng là không gian Thiền. Cả hai chất liệu tưởng như xa lạ và trái ngược với cái đẹp Công giáo lại được miêu tả hết sức tự nhiên. Một điều lạ nữa là nhà thờ thường đông người nhất là trong tháng hoa. Ở thôn quê ngày xưa, trong nhà thờ, nam nữ không được ngồi bên nhau như Tây. Trong bài thơ này, nhà thơ và em lại rất riêng tư. Cùng quỳ bên nhau, cùng hướng lên Đức Mẹ, tâm hồn họ bay lên cùng với hương trầm và khói trầm ngào ngạt.

    Lê Đình Bảng đem vào thơ tình Công giáo chất liệu làng quê thấm đẫm tình tự dân tộc kết hợp với vẻ đẹp của cái riêng tư phương Tây tạo nên một bài thơ tình rất đẹp. Đó là cái đẹp của một tình yêu đơn sơ, thánh thiện, sự tinh khiết, gắn bó với làng quê, tình quê. Tình yêu này rất khác với tình yêu đậm chất nhục thể trong thơ tình Xuân Diệu.

Thơ tình Lê Đình Bảng neo được trong lòng người đọc nhiều cảm xúc là nhờ cái tình tự làng quê rất đậm ở những tứ thơ thật tài hoa:

MÙA TRĂNG VU LAN NHỚ MẸ

Năm ấy em lên mười mấy tuổi
Tôi từ phố huyện về thăm quê
Trời mưa, mưa mấy ngày không ngớt
Con nước lên sấp sấp bậc hè

Nghe thoáng, ở bên bờ giếng, đợi
Đầu vườn cây khế mới ra hoa
Hình như cơn gió nồm nam gọi
Đôi sáo nâu về đậu trước nhà

Chúng cũng như mình thôi, vất vả
Nhịn ăn, đâu nhịn được tình yêu
Trời ơi, cái tháng ba năm đói
Mong bếp nhà ai lên khói chiều

Có phải vì em mau nước mắt
Khi không, ra đứng ngóng đầu thôn
Em buồn, tôi cũng buồn lây, nhỉ
Nom cứ như hai đứa mất hồn

Em biết tôi mồ côi bố mẹ
Những thèm yêu, thèm nhớ người dưng
Giờ, em ở phía nơi chân sóng
Tôi, đóm sao khuya lạc cuối rừng
Chả biết đến khi nào gặp lại
Mà thời gian đằng đẵng vô chừng…

Cứ mỗi mùa Vu Lan cúng quả
Nghe chùa bên mở huệ, tuần chay
Dọc đường ra nghĩa trang em bảo
“Mẹ ngủ trong gò đất cỏ may
Thành bụi, thành tro than lãng đãng
Vầng trăng tơ mọc giữa ban ngày”

    Hiện thực sống đạo ở làng quê làm phong phú thêm không gian nghệ thuật của thơ ca Việt Nam.
Tôi từ phố Hiến xa xôi
Cây rau, ngọn cỏ, suốt đời long đong
Hôm vô tới xứ Đàng Trong
Chờ em ở mãi Ba Giồng mới lên

Đò theo sông Hậu, sông Tiền
Những mông mênh nước, những mênh mang trời
Nửa khuya, cập bến Chùa Dơi
Thoảng nghe kinh kệ, nhịp vơi, nhịp đầy

Hạt mừng em giấu trong tay
Hạt thương, tôi dỗ dành cây hoa hường
Đường nào xuôi ngả Thơm Rơm
Qua Hàm Luông, ghé Cái Mơn mấy hồi

Đền vàng, quỳ trước song đôi
Khấn dâng, một mảnh gương soi trước tòa
Đây là Phép Ngắm Rosa
Và đây tràng chuỗi Đức Bà Môi Khôi
Bao giờ cho đến tháng Mười
Chim quyên xuống đất thuyền tôi lên bờ
Nắng vàng ngoài dậu ô rô
Hôm nay lễ trọng, nhà thờ đông ken

Dập dìu trai gái đua chen
Cho tôi theo kiệu về bên xứ nhà
Lạy trời, đừng nổi phong ba
Để tôi neo một bến phà-quê em…

    Bài thơ hay ở chất giọng ca dao, ở sự tài hoa của nhà thơ trong nghệ thuật kể chuyện, ở cái tình tự quê hương rất sâu trong những tứ thơ đột ngột mới lạ và ở nét đẹp lễ hội Công giáo làm mới hẳn không gian thơ (so với không gian nhà chùa trong thi ca dân tộc).

    Tôi trích hơi dài và không bình gì thêm, vì cái hay của thơ Lê Đình Bảng như hương hoa thấm vào rất sâu ở mọi giác quan của người đọc, tạo nên cái âm vang nghệ thuật trong tâm hồn, đó là một thứ hạnh phúc rất lạ chỉ có nghệ thuật mới có thể đem đến.

III. NHÀ THƠ, NGƯỜI NHẶT CHỮ TÀI HOA

    Thơ Lê Đình Bảng hiện lên hình ảnh “người nhặt chữ” tài hoa. Đó là một thi nhân lãng tử, một gã thương hồ. Nhà thơ tự hỏi:
Hoa quỳ năm ngoái, năm xưa
Có còn yêu gã thương hồ hay không.
                       (Mẹ như trăng ở đầu nguồn)

Người thơ hòa trong dòng người hành hương đi mọi miền đất nước: Đỉnh Mẫu sơn (Lên đình Mẫu Sơn), đền thánh Đức Mẹ La Vang (Trường ca Mẹ La Vang), vào nam viếng Đức Mẹ Bãi Dâu (Nguyện cầu Mẹ Bãi Dâu), về thăm Đức Mẹ ở Xứ Bưởi Năm Roi (Con về thăm xứ Bưởi), Về thăm Mẹ Hòn Chông, Tháng 5 về quê Mẹ Trà Kiệu, Về thăm Mẹ Trà Kiệu-Bến Tre. Nhà thơ "lên núi chay tịnh bốn mươi ngày" (Lên ngàn), lên Tây Nguyên viếng Đức Mẹ Măng Đen (Kinh cầu Mẹ Măng Đen), về Phan Thiết viếng Mẹ Tà Pao (Trường ca Mẹ Tà Pao)…
Trăm năm trước những ai về Dinh Cát
Về Cổ Vưu, Cây Da, ghé Hội Yên
Những nhà thờ - họ đạo, xóm làng bên
Cờ xí rợp mấy vùng quê lương, giáo

Người ở Kinh ra, cân đai, áo mão
Kẻ Đàng Ngoài vô, thanh lịch, đài trang
Qua Truông nhà Hồ, vượt phá Tam Giang
Chốn heo hút bỗng dập dìu phường phố

Đợi con nước, tuần trăng, xem quỳnh nở
Tháng Tám mùa thu, đến hẹn lại lên
Trăm nẻo về, cùng một bến đông ken
Muôn ngã rẽ chảy đầy nguồn sông Mẹ
                               (Trường ca Mẹ La Vang)

Lòng thành chẳng dám đơn sai
Chúng con Kinh Bắc, dặm dài đường xa
Những là mớ bảy mớ ba
Chân son phách nhịp, miệng hoa hát tình…

…Đương mùa vải chín trên cây
Thảo thơm dâng Mẹ những ngày hành hương
                                          (Nỗi niềm Kinh Bắc)

    Trong dòng người đông ken ấy, “gã thương hồ” đầy ắp tâm sự. Đó là nỗi niềm của “kẻ đã treo gươm rửa kiếm”, đời ”Như một ngọn nhang tàn thắp khuya”, nhưng còn lắm gian nan.
“Xót kẻ đã treo gươm rửa kiếm
Thân ngựa già thoắt biến màu sương
Mơ phai tàn cuộc đoạn trường
Nước trôi sông vắng con đường tịch liêu”
(Khóc mẹ)

Như một ngọn nhang tàn thắp khuya
Heo may khẽ động đã tan lìa
Đời con những nắng trưa, mưa sớm
Đắm đắm trông lên một nẻo về
(Mẹ hằng xuân)

Đời con, thuyền ván ra khơi mãi
Giông gió tư bề, giông gió thôi…

Những lúc chênh chao mùa đổi gió
Mẹ ơi con mệt đứt hơi rồi
Chèo buông, không lái, trôi đầu sóng
Mẹ dẫn đưa con về đến nơi
(Đầu sóng xa khơi)

    Biết vậy nhưng không thể khác được, vì đã trót tài hoa. Nhà thơ tâm sự với Mẹ:
Mẹ biết, lòng con như chỉ rối.
Sợi thưa mau, ngang dọc bời bời
Chả là, con trót đa mang quá
Gieo gió, đành cam gặt bão thôi

Đã mấy lần ăn năn sám hối
Ngựa quen đường cũ đã lâu rồi
Làm sao rửa sạch bao lầm lỗi
Chẳng lẽ làm hư phí của giời
(Phù dung)

    Dù trăn trở cuộc sống “nắng mưa” nhưng người thơ gần gũi và tin yêu Mẹ, có khi đùa vui bên Mẹ.
Mẹ ơi khi Mẹ lên trời
(Cho con cưỡi ngựa đi mời quan viên)

Đêm nay chờ nụ trăng lên
Thuyền ơi, đừng dạt về bên kia bờ
(Mẹ như trăng ở đầu nguồn )

    Bạn đọc những câu thơ đầy ắp tâm sự của Lê Đỉnh Bảng, và nhiều khi kinh ngạc về sự tài hoa của thi nhân. Tài hoa ấy thể hiện ở sự phát hiện “Cái đẹp” của đời sống Công giáo, cái đẹp của tình yêu lứa đôi thánh thiện tinh khiết, cái đẹp của những tứ thơ bất ngờ, cái đẹp của thơ ca cổ điển, cái đẹp ở vốn từ giàu có trong sự giao thoa giữa ngôn ngữ bình dân với ngôn ngữ bác học. Còn có Cái đẹp của sự kết tinh thơ cổ điển, thơ lãng mạn với ca dao và cái đẹp của một “hồn thơ đạo” cao rộng phóng khoáng, sánh ngang với hồn thơ Đường và cốt cách thơ Thiền.

    Đây là những câu thơ thấp thoáng Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du:
Xót người vò võ trông mong
Chân mây, đầu núi, quãng đồng, dặm xa…
Xót người dầu dãi trên non
Hơi sương, khói núi, hoàng hôn, nguyệt tà
(Nguyện cầu Mẹ Bãi Dâu)

Âm hưởng những câu Kiều vừa sang trọng vừa day dứt:
Cũng đành gửi lại mai sau
Phất phơ ngoài nội bông lau cuối mùa
Lấy gì đền đáp thân thưa
Mẹ ơi, bong bóng chiều mưa tội tình?

Hạt buồn vào cõi ba sinh
Hạt hư vô của phận mình long đong
Kể từ con biết trông mong
Trái tim như cứ bồng bềnh, ủ ê.

Từ hôm nguồn bỏ sông về
Xa nhau, bỗng nhớ non khuya bóng chày
Bãi bờ nghìn dặm quanh đây
Bên kia lũy khuất, bên này rào ngăn
(Cho mai sau đời con )

Phảng phất khí vị Thiền, và âm vang thơ cổ điển:
Mai sớm đầu sương phơi sắc thắm
Đã chiều phai nhạt mấy tràng giang
Xin làm hạt bụi rơi vương vãi
Mỗi bước chân qua chẳng ngó ngàng
(Phù dung)

Hạt sương đầu ngọn cỏ sớm mai phơi sắc là hạt sương của Vạn Hạnh Thiền sư (“Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”- Thị đệ tử). Tứ thơ “Đã chiều phai nhạt mấy tràng giang” gợi ra hình ảnh nỗi buồn cổ điển của Huy Cận trong bài Tràng giang. Nhưng Lê Đình Bảng kết hợp hòa điệu tư tưởng Thiền, màu sắc cổ điển với tư tưởng con người chỉ là tro bụi của Thiên Chúa giáo tạo nên một tứ thơ mới lạ.
Cái tình tứ tài hoa này thật thú vị:
Nghĩ mình, một chút mưa sương
Giọt vui chưa cạn, giọt thương đã nhòa
Những ngày chơm chớm hương hoa
Thoáng qua, chỉ một thoáng qua, phai tàn

Chiều chiều mây trắng bay ngang
Ấy ai, đò dọc, đò ngang xa vời
Bây giờ sông rẽ ngăn đôi
Nhớ nhung là của hai người nhớ nhung
(Nhớ nhung)

Và sự tinh tế đến kinh ngạc:
Ở đây, cồn bãi lưa thưa
Thoảng nghe chuông lễ nhà thờ hôm mai
Ở đây, trứng cá, bông xoài
Một cơn gió thoảng rụng ngoài hiên mưa
(Về thăm Mẹ Hòn Chông)

IV. XIN ĐƯỢC CHIA SẺ VỚI NHÀ THƠ

63 bài thơ trong Quỳ trước đền vàng đều là những bài thơ hay, có nhiều bài cái hay níu lấy người đọc không dứt ra được (Trường ca Mẹ La Vang, Kinh nguyện La Vang, La Vang. Tháng Tám mùa thu, Về La Vang. Nhà Mẹ trăm gian, Bao giờ cho đến tháng Mười, Đồng dao, Quê nhà, Mùa trăng Vu lan nhớ mẹ, Tiệc cưới Cana, Về thăm Mẹ Hòn Chông, Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ…).

Rất vui và rất quý vì sau Hàn Mặc Tử, thơ ca Công giáo lại có được một ngòi bút tài hoa như nhà thơ Lê Đình Bảng. Quỳ trước đền vàng đặc sắc ở những hình ảnh rất đẹp của đời sống Công giáo. Tình yêu Công giáo rất tinh khôi. Tiếng thơ là tiếng tâm tình chân thực. Và hơn tất cả, Quỳ trước đền vàng khám phá, sáng tạo nhiều tứ thơ mới lạ so với thơ ca đương đại; khám phá hình tượng Đức Mẹ hòa trong thiên nhiên, cuộc sống và tâm thức Việt. Cái Tôi “nhà đạo” của thi nhân đã vượt qua Cái tôi cô đơn bế tắc của Thơ Mới. Lê Đình Bảng vẫn làm thơ truyền thống, nhưng đã nâng phẩm chất nghệ thuật của thơ truyền thống Việt lên một bước mới, đó là sự kết hợp mỹ học truyền thống với mỹ học Kitô giáo đậm chất Việt.
Nhà thơ vẫn chưa ngừng bay lên:
Xin mở rộng cửa thiên đường Mẹ nhé
Con bay lên theo cánh gió của trời
Mẹ là biển, là sao mai chiếu rạng
Thuyền con neo, chờ bến lặng, ra khơi
(Thuyền đời)


Tháng 6/ 2020
_________________________________
(*) Lê Đình Bảng sinh năm 1942, tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Việt Hán- Đại học Văn khoa Sài Gòn năm 1966, ĐH Sư Phạm Sài Gòn-Việt Hán năm 1971. Hiện định cư ở Gibbsboro, New Jersey, USA.
https://buicongthuan.wordpress.com/2020/06/24/tho-le-dinh-bang-quy-truoc-den-vang/


(Đọc tập thơ Kinh buồn của Lê Đình Bảng. Tác giả xuất bản 2012)



Nhà thơ Lê Đình Bảng đã in các tập thơ: Bước chân người Giao Chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012). Ngoài ra Lê Đình Bảng còn là nhà nghiên cứu có uy tín về lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Ông đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách gồm 6 cuốn “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) do ông sưu tầm, nghiên cứu…

Kinh buồn là tập thơ thể hiện nhiều nỗi trăn trở của Lê Đình Bảng về lẽ trầm luân, còn - mất, tử - sinh của kiếp người, về đời hư huyễn phù vân, về sự ra đi của những người thân yêu. Kinh buồn không phải thơ tư tưởng nhưng là hành trình tư tưởng của Lê Đình Bảng một hành trình vật vã nước mắt để đến được bến bình an.

NHỮNG TRẢI NGHIỆM BỂ DÂU

Đọc những tập thơ khác của Lê Đình Bảng, người đọc chỉ thấy một nhà thơ tài hoa, phóng khoáng và say mê; bay bổng với những bài ca tuyệt vời về Cái Đẹp, về cuộc sống; về tình yêu, trong khộng gian và thời gian bát ngát tươi xanh. Đọc Kinh buồn, người đọc sẽ rất ngạc nhiên khi thấy nhà thơ đầm đìa nước mắt.
Con đã khóc, từ khi tấm bé
Những mùa Đông, mất mẹ mất cha
Ì ầm tiếng súng quê xa
Bên kia phòng tuyến, nhạt nhòa mưa bay

Con đã khóc những ngày trai trẻ
Mơ kiếm cung, dọc bể, ngang trời
Thế rồi, bèo dạt hoa trôi
Thuyền ra sông lớn, bời bời lòng đau

Con những tưởng rày trông mai nhớ
Sẽ phôi pha duyên nợ trần ai
Nào ngờ, sét đánh bên tai
Người đi, đi mãi bên ngoài thời gian

Khóc là khóc, lòng chưa giải hết
Đời ai không tử biệt sinh ly
Trông ra gò đống xanh rì
Trăm năm còn thấy, thấy gì nữa đâu
(Như hoa thơm Chúa hái về )
Bài thơ gợi ra những nét rất đậm hành trình tư tưởng của nhà thơ Lê Đình Bảng trong đời dâu bể. Nhà thơ đã chứng kiến, đã sống tận đáy cái hiện thực cùng cực, nghiệt ngã của lịch sử xã hội Việt Nam. Lê Đình Bảng sinh năm 1942, nghĩa là ông đã chịu đói lả những năm Ất Dậu 1945. Năm ấy hơn hai triệu con dân Việt chết đói. May mà ông thoát chết. Sau đó, dân tộc phải này phải hứng chịu mưa bom bão đạn trong 30 năm chiến tranh vệ quốc. Đau khổ, tang thương, ly tán không lời nào nói hết:
“Đêm đêm mưa đạn tơi bời
Dưới hiên thềm đá mẹ ngồi cầu kinh”;
Rồi lửa ngút giặc tràn quê nội
Mẹ con mình khăn gói đi mô”
(Khóc mẹ).

Ì ầm tiếng súng quê xa
Bên kia phòng tuyến, nhạt nhòa mưa bay.
Mừng rằng đất nước đã hòa bình, thống nhất và phát triển, nhưng những vấn đề về Con người vẫn còn đó. Số phận mỗi con người trong vòng tử sinh vẫn là con thuyền trầm luân trong bể khổ: “Thế rồi, bèo dạt hoa trôi/ Thuyền ra sông lớn, bời bời lòng đau”. Nước mắt chảy mãi không nói hết lời: “Khóc là khóc, lòng chưa giãi hết/ Đời ai không tử biệt sinh ly/ Trông ra gò đống xanh rì/ Trăm năm còn thấy, thấy gì nữa đâu”.

Hiện thực trần gian vẫn còn đấy.
Chúa có thấy chuyện bây giờ thuở trước
Vẫn những thằng Bờm, vẫn những phú ông
Vẫn những chợ phiên đổi chác bán buôn…

…Hai nghìn năm vẫn dấm chua, mật đắng
Ôi, những vết thương chưa thể liền da.
(Lòng Chúa bao dung)

Trong thơ Lê Đình Bảng, có rất ít những câu thơ phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam. Điều này khiến ông khác hẳn những nhà thơ lấy việc “phản ánh hiện thực” làm mục đích sáng tác. Có lẽ, là một nhà thơ lãng mạn, ông chỉ quan tâm đến Cái Đẹp, tìm và thể hiện Cái đẹp (chức năng chính của người nghệ sĩ); hơn nữa, thơ không thể sánh với văn xuôi trong việc ghi lại những cảnh đời, những biến động lịch sử, những tang thương dâu bể. Ở Miền Nam trước 1975, Ca khúc Da Vàng (Trịnh Công Sơn), Mùa hè đỏ lửa (Phan Nhật Nam),… đã miêu tả cụ thể những bi kich nghiệt ngã khốc liệt của chiến tranh mà người dân miền Nam phải chịu. Lê Đình Bảng chọn lựa con đường sáng tạo của riêng mình.

Lê Đình Bảng giữ thái độ vô ngôn trước hiện thực. Tâm thức ông thăng hoa thành những bài thơ “bờ sôi ruộng mật”, những vườn ngát hương hoa trái, những đỉnh non ngàn mây trắng bay, những bờ bãi mênh mông sóng nước.

Tôi nghĩ đến Nguyễn Du (1765-1820). Nguyễn Du hoàn toàn im lặng trước hiện thực xã hội Việt Nam thời Quang Trung-Gia Long. Tác phẩm của ông hầu hết lấy đề tài lịch sử, con người Trung Quốc (Bắc hành tạp lục). Qua đó ẩn chứa tư tưởng của ông về hiện thực. Có lẽ Nguyễn Du hiểu được lẽ hưng phế, hiểu được bản chất tang thương của thế sự, hiểu được bản chất thế tục của những tranh giành quyền lực, và ông chọn thái độ im lặng. Và ông bị phê phán ở thái độ này. Điều này không quan trọng, bởi Nguyễn du để lại nghìn sau những bài thơ chứa đựng những tư tưởng lớn.
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
(Tạp thi kỳ 1-Nguyễn Du)

Dịch nghĩa
Tráng đầu bạc đầu buồn nhìn lên trời,
Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mịt.

Lạy Chúa nhiều đêm con thức trắng
Để xem ngày tháng có dài thêm
Một mình con hắt hiu chờ sáng
Tháng Bảy trời mưa ngâu suốt dêm
(Lời kinh khuya-Lê Đình Bảng)
Câu thơ “Tháng Bảy trời mưa ngâu suốt đêm” là ẩn dụ cho đêm đầy nước mắt. Đêm cũng là ẩn dụ cho cái nhìn về cuộc tang thương (thương hải tang điền). Nhà thơ chờ mãi, trong cô đôc, hiu hắt, nhưng đêm dường như dài thêm. Nhìn ra bên ngoài, vẫn là đêm chờ sáng. Soi vào hiện hữu, nhà thơ thấy gì?
Ta nhìn ta giữa chiêm bao
Thịt da, hoa lửa, má đào, tóc tơ
Ta nhìn ta hóa cây trơ
Hắt hiu trôi giữa đôi bờ tịch liêu

Một mình ta với mưa tuôn
Xem mây réo biếc, trận cồn kêu sương
Một mình ta giữa trăm muôn
Cái hương, cái tuyết, cái hồn phiêu linh
(Bên bờ tịch liêu)
Điệp khúc “Ta nhìn ta”, “một mình ta”, là thái độ tự soi vào hiện thể, soi vào tận đáy lòng mình, soi vào bản thể của Ta, vào ba ngàn thế giới chung quanh ta; là thái độ tự thức, tự giác, tự gạt bỏ tất cả những gì ngoài Ta, không thuộc về Ta, để hiểu cho thấu bản thể của Ta trong cõi nhân sinh này. Nhà thơ thấy mình chỉ là “cây trơ” “giữa đôi bờ tịch liêu”, chỉ thấy “một mình ta” (nỗi cô đơn hiện sinh) giữa những “kêu/ réo” của mưa tuôn, của mây biếc, của cồn đầy sương, của trăm muôn hình sắc phiêu linh. Những hình ảnh ẩn dụ này chính là cuộc đời “kêu/ réo” vây quanh. Cuộc đời xô bồ, ồn ào, đa mang, nhưng nhà thơ đã hóa “cây trơ” (không phải là cây khô, cây chết), một trạng thái “không tồn tại”. Hiện sinh mà không tồn tại, đó là trạng thái bi kịch.

Bi kịch là ở chỗ còn vướng cái duyên cái nghiệp.
Năm mươi mùa lũ trôi qua
Mẹ cha giờ đã đi xa cuối trời
Cái thân làm tội cái đời
Cái duyên, cái nghiệp của người, của ta
(Trầm tư)
Lê Đình Bảng dùng tư tưởng triết học Lão - Trang và tư tưởng Thiền để lý giải. Lão Tử nói “Hoạn hữu thân”["Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân; Cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn?"- Lão tử - Câu 13 - Đạo Đức kinh]. Vì có Thân, nên ta phải họan nạn. Và Phật nói thêm. Hiện hữu (Thân) vốn là “Khổ” (Khổ đế trong Tứ Diệu đế - Kinh Chuyển pháp luân). Cái khổ truyền từ kiếp này đến kiếp lai sinh, bởi vì Thân là do nghiệp (Đã mang lấy nghiệp vào thân-Nguyễn Du). Nghiệp ấy do ta gây ra, nhưng nghiệp ta mang lấy cũng do kiếp trước và do người khác, mà Nghiệp là sợi dây trói (dù là thiện nghiệp hay ác nghiệp) trong quan hệ “duyên “ với ta (Lý Duyên khởi). Nhà thơ đã đi qua 50 năm mùa lũ cuộc đời trong sự trói buộc của Thân-Nghiệp ấy.




Chúa biết con nghèo, con đói rách
Trôi sông lạc chợ, sống cầm hơi
Chạy ăn từng bữa, qua từng bữa
Dang nắng dang mưa với đất trởi

Chúa bảo con, đường lên núi thánh
Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh
Là băng qua núi cao rừng thẳm
Mỗi bước chân đi mỗi gập ghềnh…
…Chúa bảo con mỏng dòn dễ vỡ
Ơ hờ cơn gió thoảng chiêm bao
Làm sao con dối lòng con được
Chỉ một chênh chao giây phút đầu
Ở bến trần gian đầy cám dỗ
Ngàn vàng mua lấy thú thương đau…
(Suối nguồn yêu thương)

Dưới ánh sáng tư tưởng thần học Kitô giáo, Lê Đình Bảng nhìn vấn đề rõ hơn. Tất cả những “mưa lũ”, những hoạn nạn do “Thân/ Nghiệp” của kiếp người đều đã được an bài. Đó là con đường phải đi qua. Con đường Thánh giá. Thân phận con người là một thụ tạo, mỏng dòn, bị trần gian cám dỗ. Chính tội lỗi đã trói buộc con người (không phải Nghiệp). Nói theo ngôn ngữ nhà Phật, con người bị “dính mắc” cái Nghiệp do chính mình tạo ra.

Chúa biết lòng con như chỉ rối
Sợi thưa mau, ngang dọc bời rời
Làm sao con gỡ mình ra được
Thôi, ngược dòng trôi, đuối sức hơi

Chúa biết đời con luôn vướng vít
Những là rầy nhớ với mai mong
Còn chi sau mỗi mùa thu hái
Những rớt rơi, từng hạt đắng lòng

Chúa bảo con xa đàng tội lỗi
Mà sao con nhắm mắt làm ngơ
(Lời kinh khuya)

Đọc những dòng tâm sự của nhà thơ với Chúa, tôi nghĩ đến những thao thức của thánh Augustino (354-430) trong cuốn Tự thuật (Confessions). Augustino là thánh Tiến sĩ của Giáo hội. Ông từng là một thanh niên sống sôi nổi, mê đắm trong những tham vọng trần gian như mọi Con Người ở trần gian này. Bởi con người là xác thịt, là bùn đất, là bản năng (Freud). Trần gian vốn là vậy. Là dính mắc, là cay đắng, là oan khuất ngậm ngùi, là nước mắt phôi pha, là “Không”. Một mình ta phải mang lấy.

Trần gian chẳng uống giùm cay đắng
Lệ đá xanh và cây héo khô
Nỗi chết có san bằng tất cả
Ba nghìn thế giới vẫn là không
(Mộ khúc)

Rồi đây người chẳng bên người
Hắt hiu cồn vắng, duềnh khơi giang hà
Cầm bằng giọt lệ phôi pha
Nửa người oan khuất, nửa ta ngậm ngùi.
(Nghìn sau)


TRA HỎI KHÔN NGUÔI

Trải nghiệm một hiện sinh như vậy, nhà thơ đứng trước rất nhiều vấn đề tư tưởng.
Hỏi ngàn xanh lá đương xuân
Thoắt sinh sôi, đã lụi tàn, sầu đông

Hỏi đàn chim ngói qua sông
Trong hơi rét đậm, giữa đồng vàng khô
Cái gì như thể hư vô
Sao nghe rơi rớt những xô dạt buồn
(Lời thì thầm của bụi tro)
Đó là câu hỏi về hiện hữu, đương xuân đấy, thoắt cái đã lụi tàn, phải chăng hiện hữu là hư vô? Nỗi buồn xô dạt hết phận người. Nhà thơ ngắm nhìn thiên nhiên và tra vấn (tra vấn là thái độ triết học). Thiên nhiên đâu có Thân, có Nghiệp như người, sao vẫn chịu quy luật của tàn phai hư vô?

Thiên nhiên vốn vô ngôn, nhà thơ quay lại hỏi mình.

Ta về, gẫm lại thân ta
Thoắt trông tấc bóng ngày qua xuân thì
Ta về, hỏi gã Trương Chi
Tình muôn kiếp trước yêu vì những ai

Đêm đêm, ngọn lửa trăng chài
Đâu hồn phách ở cõi ngoài, hư vô
Ta về hỏi những xa xưa
Một vầng trăng lặn đáy hồ lặng thinh

Bụi tro là của riêng mình
Ừ, thôi tan tác giữa nghìn mênh mông
(Hư vô)

Vẫn là câu hỏi về “Hữu thể và thời gian” (Sein und Zeit - Martin Heidegger, 1889-1976): thoắt trong tấc bóng, thân ta đã qua tuổi xuân thì. Hỏi Trương Chi, đâu là duyên của muôn kiếp trước? (Truyện Trương Chi-Mị Nương). Hỏi, ánh trăng như ngọn lửa chài đêm đêm (một tứ thơ trong Phong kiểu dạ bạc của Trương Kế) đó là hồn của những ai? Nhà thơ đặt những câu hỏi về hiện thể, về “duyên-nghiệp”, hỏi về cõi âm; tức là từ thực tại đến siêu hình, từ hiện tượng đến tâm thức, tâm linh. Không có câu trả lời. Trăng dưới đáy hồ lặng thinh (Mỹ học Thiền). Đành vậy, rồi thân ta cũng là bụi tro tan tác vào nghìn mênh mông (hư vô).

Ngầm trong những câu hỏi về Hữu thể là những “xao xuyến” (anxiety) triết học về tính bất định, bất toàn, bất túc, hữu hạn của con người. Tồn tại là tồn tại quy tử (Being toward death – M. Heidegger).

Khi đã là tro bụi, nào ai còn nhận ra tro bụi của ai. Đó là nỗi bi đát hiện sinh (cay đắng). Thân đã là tro bụi, vậy mà con người vẫn mê lầm.
Tôi ru tôi, nỗi bọt bèo
Bởi hồn tơ tóc còn nhiều đắng cay
Bụi mình, bụi của ai đây
Sông Hằng xa tít chân mây, cuối trời
Bụi nào, bụi của thân tôi
Bụi ta huyễn hoặc, bụi đời lầm mê
(Trăm năm tro bụi)
Nhà thơ mượn cách lý giải của Phật. Đời là hư huyễn, là Không, vạn pháp là Không. Thân ta với ngũ uẩn cũng là Không. Nhưng con người cứ mê lầm là Có, để rồi quay quắt mãi trong giả niệm Có-Không, Còn-Mất, Sinh-Tử nhị nguyên không thoát ra được (Thiền thoại con chó có Phật tính không).

Nhưng dường như lý giải của Phật không đủ thuyết phục, nhà thơ quay sang hỏi Chúa.
Con thường hỏi rất vu vơ
Chúa ơi, biết đến bao giờ đời con
Lặng thầm như đá trên non
Trơ thân trầm tích, vô ngôn giữa đời

Con thường hỏi giữa mênh mông
Chúa ơi, ngàn biếc chen hồng mà chi?
Mai kia, cỏ lá xanh rì
Trông ra mấy vạt tà huy mịt mùng

Con thường hỏi những trăng sao
Chúa ơi, quanh quất bến nào, đường quê
Ngước nhìn lên đỉnh Canvê
Nửa khuya thao thức còn nghe tiếng gà

Ở đây nhìn thấu xương da
Trăm năm còn mất, đâu là hợp tan?
Con thường hỏi những tro than
Chúa ơi, cả những phai tàn, về đâu?
(Tĩnh tâm)

Vẫn là những câu hỏi về hiện thể (“đời con”), về “còn-mất” sinh tử, về sự tàn phai của “vạn pháp”, và tiến xa hơn, nhà thơ hỏi Chúa con đường nào về bến quê (Quo vadis?).

Tất nhiên là Chúa không trả lời. Câu trả lời ở trên đỉnh Canvê. Với người Công giáo, con đường Cứu Rỗi là con đường Thánh giá. Mỗi người tự vác thập giá mình theo Chúa, như Chúa đã vác thập giá và bị đóng đinh trên đồi Can vê để Cứu rỗi nhân loại.

Con đường Canvê là con đường Đức tin. Mà đức tin lại là điều mong manh nhất. Kinh Thánh đã chỉ ra điều này từ hai ngàn năm trước. Môn đệ Phêrô được Đức Giêsu trực tiếp dạy bảo. Nhiều lần ông khẳng định lòng tin của mình với Chúa. Vậy mà, ngay đêm Đức Giêsu bị người Do Thái bắt, Phêrô đã chối Chúa ba lần trước lúc gà gáy, mặc dù Chúa đã cảnh báo ông ngay trong bữa tiệc ly trước đó.

Nha thơ tra hỏi về đức tin của chính mình.
Vâng, lạy Chúa, thiên đường chỉ có một
Mà nẻo về thì xa lắc xa lơ…

Con lạc giữa ngã ba đường thế kỷ
Lô xô quán không, hương khói nhạt nhòa
Đã mấy dặm dài lau lách, phù hoa
Đã mấy canh khuya lạc lầm, chia cách

Chúa ở xa con xa quá đỗi
Âm dương còn cách trở đôi bờ
Chiều nay ra ngóng con thuyền bé
Bằn bặt về đâu, sóng nhấp nhô…
(Con biết tìm Chúa nơi đâu)

Giông bão ấy làm sao con đến được
Chỉ thấy hoa rơi và lá rụng đầy
Ôi đức tin con, ngọn cỏ lắt lây
Vâng, lạy Chúa, thiên đường chỉ có một
(Ngước trông lên Thánh giá)


Thiên đường xa xôi quá. Chúa cũng ở xa quá. Nhà thơ lại sống giữa đời lầm lạc, như con thuyền bé trước biển đầy giông bão, làm sao đến đuộc đất hứa. Như âm dương cách trở, làm sao nhà thơ có thể đến với Chúa được, làm sao đến được Nước Thiên Đàng là nơi Chúa hứa thưởng ban.

Tra hỏi như thế là tra hỏi về căn cốt của Đức tin, là lộ ra một sự hoài nghi về chính hiện thể của mình, về chính “tồn tại”. Vực thẳm ngay dưới chân, nếu không có Ơn Cứu Rỗi, Con người không thể vượt qua vực thẳm. “Ôi đức tin con, ngọn cỏ lắt lây”.

Những khủng hoảng đức tin như thế bất cứ người theo Chúa nào cũng trải qua. Bởi ơn Đức tin là ơn Chúa. Không phải do nỗ lực ý chí của con người. Ánh sáng mạc khải ấy chỉ mở lối cho những tâm hồn bé mọn. Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.”(Lc 10, 21) [Jesus said, “I praise You, Father, Lord of heaven and earth, that You have hidden these things from the wise and prudent and revealed them to babes. Even so, Father, for so it seemed good in Your sight].

May mà nhà thơ còn chút lòng tin của hạt cải li ti (Đức Giêsu nói với môn đệ: "Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: "rời khỏi đây, qua bên kia!" nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được" (Mt 17, 20)

Chúa ở nơi đâu, gần xa cùng khắp
Đừng bỏ rơi con lạc lõng, mồ côi
Và ước chi trong thương tích của Người
Con tìm được một bến bờ nương náu
(Lòng Chúa bao dung)

Con biết mình khô khan yếu đuối
Nhưng hằng tin được rỗi linh hồn
Từ trong giọt máu sau cùng ấy
Đã nhú chồi xanh mưng búp non

Lạy Chúa, chiều nay chân gối mỏi
Nhọc nhằn lên dốc núi chon von
Bài ca ai hát Exsultet
Có phải là lời Chúa gọi con
(Hát từ ngôi mộ trống)

Trên Thập giá, Đức Giêsu đã đổ hết máu mình để Cứu Rỗi nhân lọai. Nhà thơ tin rằng, trong giọt máu cuối cùng (một tứ thơ rất hay) chảy ra từ cạnh sườn của Chúa (do lưỡi đòng của nhân loại đâm thâu qua), mình cũng sẽ được cứu rỗi. Trong niềm tin ấy, khi nghe hát bài Exsultet (Bài công bố Tin Mừng Phục sinh), nhà thơ nghe tiếng Chúa gọi mình.

TRỞ VỀ

Thực ra hiện hữu, hiện sinh vốn vô nghĩa (không có nghĩa). Người ta gán nghĩa cho nó để bám víu vào đó mà sống, mà hành động. Sự gán nghĩa này tùy theo nhận thức (Hiện tượng luận - E. Husserl-1859-1938) về cuộc đời và mục đích mà con người muốn đạt đến.

Ý nghĩa đích thực của hiện sinh phải trong hai chiều kích. Chiều cao, chiều hướng lên, hướng về Thiên Chúa và chiều rộng, chiều ngang, chiều hướng về tha nhân. Ý nghĩa của hiện sinh không chỉ là chiều soi vào hiện thể của cá nhân để chỉ thấy buồn nôn, phi lý, xao xuyến, hư vô, chỉ thấy sống là đi về cái chết (Being toward death). Chết không phải là hư vô mà là sự sinh sôi. Lê Đình Bảng ý thức về bản thể trong mối tương qua đa chiều như vậy thật cụ thể.

Ta còn ở với dương gian
Để yêu, yêu lấy đời dan díu này
Để gieo hết hạt trong tay
Phơi phong hết nắng của ngày đương xuân
(Ta còn để lại gì không)

Ơn đời nặng nghĩa bao dung
Gió ơi xin cứ nuôi rừng đầy hương
Trở về, làm hạt mưa sương
Thác sinh hẹn với vô thường, nghìn sau
(Mượn lời thác sinh)

Ta đứng co ro, mình một bóng
Dưới hiên mưa ướt lối đi này

Mà xem đá rịn mồ hôi lạnh
Để nghiệm ra khoảnh khắc một đời
Vào cõi mênh mông thiên cổ lụy
Hạt mầm hư nát mới sinh sôi
(Nhớ)

Hóa ra, khi mở lòng ra với đời, khi nhận ra “ơn đời nặng nghĩa bao dung”, nhận thức được tương quan với người mới là bản chất của hiện sinh, và chỉ khi nhận ra “Hạt mầm hư nát mới sinh sôi” ["Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt." (Ga 12,24)] thì những câu hỏi siêu hình mới được hóa giải.

Nhà thơ thấy nhẹ nhàng, thảnh thơi.

Trở về thăm cội tùng xưa

Cùng rong rêu uống sương mưa đầm đỉa

Gối đầu bên rặng lau, nghe

Trong hơi gió thở, đêm khuya thì thầm…


Trở về ăn bát cơm chay

Quán thưa, rượu cạn, bàn đầy ly không

Trở về giục giã bên sông

Nước lên, thuyền cũng lên, trông gió mùa

(Một cõi đi về)

Đó là tư tưởng “Vô vi” của Lão tử. Nói theo nhà Phật, khi đã an trụ Tâm, khi đã thoát khỏi cái Tâm sai biệt [“Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”-kinh Kim Cang], đạt đến Cái Tâm Bát Nhã (Bát nhã tâm kinh) thì con người mới thoát mê lộ. Bài thơ Tĩnh tâm là một bài tuyệt hay.

Con nhủ thầm mình vừa tỉnh cơn mê

Có lưu luyến, có bồi hổi, giục giã



Nên đâu dám ngửa tay xin phép lạ

Nhưng hằng tin có Chúa ở trong mình

Dặn lòng mình, khấn nguyện một lời kinh

Hãy cố nâng niu từng ngày sống một


Hoa có rụng, hãy rụng vào đất sạch

Trái còn xanh xin ở mãi trên nhành

Bên kia Biển Hồ, nước biếc non xanh

Cứ thả lưới ở mạn thuyền bên phải

Một lòng tin nhỏ li ti hạt cải

Để thuyền neo, tôm cá chở đầy khoang…

(Bên kia hồ yên ả)

Một ngày được ở trong nhà Chúa

Con sẽ đàn ca lên, hát vang

(Suối nguồn yêu thương)



Khi đã tỉnh cơn mê, nhà thơ khẳng định một lòng tin. “Một lòng tin nhỏ li ti hạt cải/

Để thuyền neo, tôm cá chở đầy khoang” như các tông đồ của Đức Giêsu xưa. Họ thả lưới suốt đêm nhưng không được con cá nào. Nghe lời Chúa, Simon thả lưới bên phải thuyền thì lưới đầy cá. (Lc 5, 5-7). Tin vào Chúa, nhà thơ hồi sinh tâm hồn, biết “nâng niu từng ngày sống”. Không bận tâm vấn đề Tử sinh. “Một ngày được ở trong nhà Chúa/ Con sẽ đàn ca lên, hát vang”.

Nhà thơ cám ơn đời

Cảm ơn trời đất trăm năm

Bao nhiêu ơn xuống, mưa dầm thấm lâu

Kể từ con cá, lá rau

Cây kim, sợi chỉ thưa mau, cũng là…

(Lênh đênh phận người)



THAY LỜI KẾT

Trong tập Kinh buồn có một mảng thơ rất hay khác là những bài thơ viết về cha, mẹ, vợ, con, về những người thân yêu đã qua đời (đặc biệt hay là những bài viết về các Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, GS Nguyễn Đăng Thục, Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình, họa sĩ Giuse Bùi Liêm, Lm Nguyễn Phúc Dân…) . Những bài thơ này vừa kế thừa được dòng thơ về tình gia đình, tình bạn trong thơ truyền thống của dân tộc, vừa góp thêm một cách viết rất mới, rất tài hoa. Nhà thơ yêu thương, tiếc xót người thân yêu nhưng không bi lụy, không sa đà vào những tư tưởng siêu hình. Riêng tôi nghĩ, chính cái chết của những người thân yêu này gợi nhiều ý nghĩa về hiện sinh cho nhà thơ, và hơn thế, giúp nhà thơ ngộ ra nhiều chân lý của Kinh Thánh trong hành trình tư tưởng của mình.

Là người tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Việt Hán Đại học Văn khoa Sàigòn trước 1975, Lê đình Bảng am tường văn chương, tư tưởng phương Đông, nên nhận thức và kiến giải những vấn đề tư tưởng của ông thấm rất sâu triết học phương Đông (Phật-Nho-Lão). Và điều mới mẻ là trong thơ của ông, những tư tưởng Phật- Nho- Lão ấy, và cả triết học phương Tây, lại được ánh sáng Kinh thánh soi chiếu, nhờ thế con đường tư tưởng của Lê Đình Bảng khác hẳn nhà thơ xưa cũng như các nhà thơ đương đại (Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Tô Thùy Yên…).

Con đường tư tưởng ấy phù hợp với những lời chỉ dạy của Giáo hội trong Tông huấn Giáo hội tại Châu Á: “Á Châu cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới -Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo và Ấn Giáo. Đó là nơi phát sinh nhiều truyền thống thiêng liêng khác như Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo…Giáo Hội giữ một niềm kính phục sâu xa nhất đối với các truyền thống này và tìm cách chân thành đối thoại với các môn sinh của truyền thống đó. Những giá trị tôn giáo họ truyền dạy, chờ được hoàn thành viên mãn trong Đức Giêsu Kitô”. (Tông huấn Ecclesia in Asia của Đức Giáo hoàng Gioan Phao lô II. Chương I, đoạn 6)

Tôi hình dung thế này. Các tập thơ khác của Lê Đình Bảng (Qùy trước đền vàng, Hành hương, Lời tự tình của bến trần gian…) là những bè phối khác nhau của một đại giao hưởng, và Kinh buồn là bè trầm (Bass), rất sâu, rất dày, đầy uy lực, có sức nâng đỡ để tất cả các bè phối ở trên cùng cất cánh. Thiếu bè trầm, giao hưởng sẽ rất mong manh và chênh vênh. Nhờ thế người đọc có thể nghe được tiềng gió thoảng đầy ắp không gian của violin, tiếng ngọt ngào lãng mạn của Guitar, tiếng trầm hùng như sóng ngầm đại dương của Cello, tiếng thánh thót như giọt sương rơi trên lá cỏ của Piano và tiếng hùng tráng, ào ạt, thúc giục của dàn kèn đồng, dàn trống trong buổi xuất hành. Nói như thế để thấy màu sắc thẩm mỹ và tư tưởng của thơ Lê Đình Bảng rất phong phú. Thơ Lê Đình Bảng hay, dễ đọc nhưng cũng có những đòi hỏi khắt khe.

Đọc Kinh buồn, bạn đọc sẽ không thấy buồn, bởi nhà thơ đã dẫn chúng ta thoát khỏi những hư huyễn của bến trần gian mà bước vào cõi hoan ca an nhiên trong ánh sáng Exsultet của Tin Mừng.

Cảm ơn trời đất trăm năm

Bao nhiêu ơn xuống, mưa dầm thấm lâu

Kể từ con cá, lá rau

Cây kim, sợi chỉ thưa mau, cũng là…

(Lênh đênh phận người)



***

Tháng 6/2021
Được tạo bởi Blogger.