- Tên thật: Phêrô Nguyễn Hoàng Diệp
- Sinh ngày 30-11-1924 tại làng Vinh Hoà, xã Vinh Hiền, Thừa Thiên.
- Từ năm 1949 đến năm 1955: học tại Học Viện DCCT Hà Nội và DCCT Đà Lạt. Cũng từ đây ngài bắt đầu sáng tác những bài thánh ca đầu tiên, như bài “Kìa Bà Nào” mà mọi người tín hữu ai cũng biết.
- Thụ phong linh mục ngày 19-09-1954.
- Qua đời ngày 23 tháng 12 năm 2008, thọ 84 tuổi.


SỐNG HẠNH PHÚC

 Suốt 59 năm sống trong DCCT, Cha luôn cố gắng sống đời tu sĩ theo chí hướng thánh Anphong, nỗ lực thi hành sứ vụ linh mục trong lòng yêu mến và phục vụ Hội Thánh. Cha đã có rất nhiều đóng góp vào trong công việc tông đồ của Tỉnh Dòng, đặc biệt bằng con đường sáng tác nghệ thuật phục vụ cho mọi lớp người mà DCCT đang và sẽ phục vụ. Cha đã chia sẻ những cảm nghĩ của mình như sau: “Đời tu sĩ của tôi không có gì đặc sắc, song tôi rất hạnh phúc trong Dòng: hạnh phúc nhất là được dâng cuộc đời để giảng rao và làm vinh danh Chúa Cứu Thế và Mẹ Lành, theo gương Thánh Anphong”. Cha đã sống những ngày hạnh phúc trong tình yêu của Chúa.

TUYỂN THƠ

MẸ TRÔNG CHỜ

Biết bao giờ thuyền tôi cập bến!
Biết bao giờ mới đến Thiên Cung!
Cùng con luôn mãi ở cùng,
Cùng con Mẹ hết nhớ nhung thế này.
Giêsu hỡi! Có hay đường vắng?
Bởi trông chờ mà nặng cánh bay.
Phần Con muôn thuở một ngày,
Nhưng riêng phần Mẹ, một ngày thiên thu.
Cõi trần lụy sương mù còn đó,
Với đoàn con dạy dỗ, ủi an.
Chu toàn nhiệm vụ phú ban,
Mẹ chờ giây phút hỷ hoan về Trời.
Các thuyền đã ra khơi đánh cá,
Báo tin về phép lạ nơi nơi.
Mẹ trông phép lạ cuối đời:
Thình lình được thấy cửa Trời mở toang.
Càng cầu nguyện hồn càng nóng nảy,
Càng rước Con càng thấy khát khao.
Càng xem trời rộng núi cao,
Càng như lửa cháy nôn nao bồi hồi.
Nhà Thiên Quốc xa xôi vời vợi,
Con không về Mẹ tới làm sao?
Nhớ con, nhớ quá hồi nào,
Ba ngày tìm kiếm như dao cắt lòng.
Con sống lại lưỡi đòng tuy gãy,
Nhưng tình yêu lại xóay tâm hồn.
Kho tàng của Mẹ là con,
Nên xa mẹ quá bồn chồn nhớ nhung.
Mong giây phút hiệp cùng Con mãi.
Tiếng Thiên đàng êm ái làm sao!
Chúa ôi! Trời bể ngọt ngào,
Giêsu mau kéo Mẹ vào với Con!

CHÚA HIỂN DUNG

         (Trường ca)
Từ nơi thung lũng âm u,
Ba người đi lên theo Chúa,
Bước chân còn bỡ ngỡ
Trong đêm tối mịt mù.
Càng theo Chúa lên cao,
Tâm lý nhẹ dường bao.
Trăng vàng lên cung kính,
Hơi gió thổi xôn xao.
Kìa chóp núi cao, đoàn người đã tới.
Anh trăng hiền hòa giọi đá nhấp nhô,
Từ Thiên cung, ánh sáng mơ hồ,
Như cánh Thần Linh bay phấp phới.
Chúa Giêsu nhìn quanh thế giới,
Toàn đêm đen bóng tối lạnh lùng.
Một mình, một khối lửa nung,
Người mong lửa ấy cháy cùng nơi nơi,
Dang tay quỳ xuống dâng lời
Nguyện cầu thắm thiết, nhìn trời cao xa.
Một mình dâng hiến Chúa Cha,
Tình yêu cứu thế chan hòa núi non.
Lòng Cha hiểu thấu lòng Con,
Ôi tình Con đó sắt son ngát ngào.
Ôi kìa, từ cõi trăng sao,
Một luồng ánh sáng chiếu vào Chúa tôi.
Tỏa lan chiếm trọn núi đồi.
Môn đồ tỉnh giấc, bồi hồi sửng ngây.
Làm sao Chúa đẹp thế này?
Ao Người như tuyết, mặt đầy Thần uy.
Môsê cùng với Êli,
Hiện ra bên Chúa tiên tri ngỏ lời.
Đẹp thay là Con Chúa Trời,
Hào quang từ nguồn Anh Sáng.
Nay trên trần gian tỏ rạng,
Ô, trong duyên Thánh tuyệt vời.
Kìa xem, có sáng mây ngời,
Dần dần đến phủ chóp đồi nguy nga,
Và nghe có tiếng truyền ra:
“Đây là chính thật con Ta yêu vì.
Miệng Người có phán điều chi,
Phô người hãy nhớ khắc ghi cõi lòng”.
Nghe lời như sấm oai phong,
Môn đồ rạp xuống, hãi hùng lặng thinh.
Hồi lâu nghe tiếng thân tình,
Ba người ngồi dậy, thấy mình Chúa thôi.
Và khi im lặng xống đồi.
Ba người diễm phúc, bồi hồi như mơ.
Mùa xuân lạ chứa đầy thơ.
Ngập tràn sông núi như chưa bao giờ…

TIẾN LÊN TRONG NƯỚC TRỜI

                 (Ba nét chính)
Chúa đến trần gian tặng Nước Trời,
Trong Ngài nước ấy thuộc về tôi.
Nhờ bởi Tin yêu mà đón nhận,
Tình cha lớn mãi giữa lòng người.
Nước Trời dành cho những trẻ thơ,
Lòng càng khiêm tốn, dạ đơn sơ
Càng đáng Cha thương cùng mạc khải
Về Con yêu dấu, đáng tôn thờ.
Người ta hạnh phúc bởi tình yêu.
Mến Chúa yêu nhau: hạnh phúc nhiều.
Càng mến bao nhiêu càng nên thánh,
Bởi càng nên giống Chúa Tình Yêu.

(Trích trong tuyển tập Có Một Vườn Thơ Đạo, lm Trăng Thập Tự chủ biên, tập II trang 156-160)
Được tạo bởi Blogger.