I.


Yusif El Fakhri ba mươi tuổi khi rút lui khỏi xã hội, lên đường tới sống ẩn dật tại một nơi trong vùng tiếp giáp Thung lũng Kedeesha ở Bắc Li-băng. Dân chúng các thôn làng gần đó đồn thổi nhiều chuyện khác nhau về hắn. Một số chuyện kể rằng hắn thuộc gia đình quí tộc giàu có, từng yêu một phụ nữ rồi bị cô phản bội vì thế hắn theo đuổi cuộc sống cô đơn. Một số chuyện khác kể rằng hắn là một thi sĩ rời chốn thị thành huyên náo, tới nơi này sống ẩn dật để ghi lại những suy tưởng của mình và tìm cảm hứng sáng tác. Nhiều người lại đoan chắc rằng hắn là một nhà thần bí muốn sống như ý với cõi riêng của mình. Tuy những chuyện do dân chúng kể ấy có thế này thế nọ nhưng hầu hết đều quả quyết Yusif là một gã khật khùng.


Còn tôi, tôi không thể rút ra kết luận nào liên quan tới con người đó vì tôi biết nhất định trong tâm hồn hắn có một bí ẩn nào đó sâu xa tới độ tôi không tin mình có thể vén lộ nó chỉ bằng cách phỏng đoán. Từ lâu, tôi hi vọng sẽ có dịp gặp người đàn ông bí ẩn lạ thường ấy. Với nhiều mánh lới khác nhau, tôi đã cố hết sức sở đắc mối quan hệ bằng hữu với Yusif để thuận tiện tìm hiểu thực tại của hắn và để biết cho được câu chuyện đời hắn bằng cách dò hỏi cứu cánh của hắn trong cuộc sống. Thế nhưng mọi nỗ lực ấy đều không đạt kết quả.

Lần đầu tiên tôi gặp Yusif khi hắn đi dạo bên rừng cây Bách hương Thiêng liêng xứ Li-băng. Bằng lời nhã nhặn được chọn lựa kỷ lưỡng nhất, tôi chào hỏi Yusif nhưng hắn chỉ đáp lại bằng một cái lắc đầu rồi soãi bước đi thẳng.

Vào một dịp khác, tôi thấy Yusif đứng giữa khu vườn nhỏ, trồng nho, cạnh một tu viện. Thêm lần nữa tôi đến gần, chào hỏi hắn. Tôi nói:

"Dân làng bảo rằng tu viện này được một nhóm người Syria xây cất vào thế kỷ 14; ông có biết đôi chút về lịch sử của nó không?"

Yusif lạnh lùng trả lời:

"Tôi chẳng biết kẻ nào xây lên tu viện này, với lại tôi cũng chẳng thèm biết."

Đáp xong, hắn vừa sấp lưng quay đi vừa nói thêm:

"Tại sao ông không hỏi ông bà nội ngoại của ông. Họ lớn tuổi hơn tôi. Họ biết lịch sử vùng thung lũng này nhiều hơn tôi."

Lập tức nhận ra tình cảnh hoàn toàn thất bại của mình, tôi bỏ đi.

Và cứ thế hai năm trôi qua, cuộc đời kỳ dị của con người đó dằn vặt tâm trí tôi và làm xáo trộn các giấc mơ của tôi.

II.

Một ngày mùa thu, trong khi lang thang trong vùng đồi và gò đống kế bên nơi ẩn cư của Yusif El Fakhri, đột nhiên tôi bị mắc kẹt trong một trận giông gió và mưa lũ. Cơn bão ném tôi dạt qua bên này rồi giật về bên kia. Tôi như con thuyền bị gió mưa cuồng nộ đánh gãy bánh lái, đập tan nát cột buồm giữa biển cả hung dữ. Khó nhọc lê từng bước về hướng có chỗ ở của Yusif, tôi thầm nhủ:

"Đây cũng là một cơ hội mình tìm kiếm đã lâu. Cơn bão này sẽ biện hộ cho sự xâm nhập đường đột của mình. Hơn nữa, quần áo ướt đẫm thế này sẽ khiến mình cho có lý do chính đáng để nấn nán ở đó."

Tôi đang trong một tình cảnh khốn đốn lúc tới chỗ ẩn cư của Yusif. Khi tôi gõ cửa, con người tôi thèm được gặp đó ra mở. Hắn đang nâng niu trong lòng bàn tay một con chim hấp hối, đầu bị thương và cánh gãy. Tôi mở miệng chào hắn:

"Xin ông thứ lỗi cho sự quấy rầy đột ngột này. Cơn bão ghê gớm quá, nó làm tôi mắc kẹt ở một chỗ rất xa nhà mình."

Hắn nhăn nhó:

"Ở nơi hoang sơ này thiếu gì hang động sao ông không kiếm đại một chỗ núp!"

Tuy nói vậy nhưng hắn không đóng cửa. Tim tôi đập rộn ràng vì nhìn thấy trước và nhận ra rằng niềm mong ước to lớn của mình đang ở gần tầm với. Yusif bắt đầu dịu dàng chạm bàn tay lên chiếc đầu bé bỏng của con chim. Cách chăm sóc ân cần và quan tâm cực độ ấy vén lộ với tâm hồn tôi một phẩm tính quan trọng của Yusif. Tôi kinh ngạc trước hai tính cách trái ngược mình vừa tìm thấy nơi con người này: khoan nhân đồng thời cộc cằn. Và cũng trong cùng một lúc, chúng tôi nhận ra tình trạng im lặng căng thẳng giữa đôi bên. Hắn bực bội về sự có mặt của tôi, còn tôi, tôi khao khát được ở lại đây với hắn.

Dường như Yusif cảm thấy ý nghĩ của tôi vì hắn ngước mắt lên nhìn tôi và nói:

"Bão tố tinh sạch và không chịu ăn thịt ôi, thế tại sao ông tìm cách chạy trốn nó?"

Tôi trả lời với một chút hài hước:

"Có thể bão tố không thèm thịt ướp muối hay thịt ôi nhưng nó sẵn sàng vuốt ve mọi sự và làm cho chúng bị cảm lạnh. Và rõ ràng nó sẽ ăn tươi nuốt sống tôi nếu nó tìm thấy tôi lần nữa."

Hắn trả đũa với vẻ mặt trịnh trọng:

"Bão tố sẽ tuôn xuống ông một vinh dự cao cả. Còn nếu nó nuốt sống ông tức là ông không xứng lãnh vinh dự ấy."

Tôi đồng ý:

"Vâng thưa ông, tôi chạy trốn bão tố để khỏi hưởng cái vinh dự tôi bất xứng ấy."

Yusif quay mặt sang hướng khác để nén nụ cười. Rồi đi tới chiếc ghế gỗ dài kê sát lò sưỡi, hắn mời tôi ngồi xuống nghỉ, hong cho khô quần áo. Chắc chắn lúc đó tôi không kiểm soát nổi cơn khoái chí của mình.

Cám ơn Yusif, tôi ngồi xuống trong khi hắn cũng tự động ngồi xuống phía đối diện, trên băng ghế tạc từ một tảng đá. Hắn bắt đầu nhúng ngón tay vào chiếc bình đất đựng một loại dầu nào đó rồi nhẹ nhàng thoa lên đầu và hai cánh chim. Hắn nói, không ngước mặt nhìn tôi:

"Gió mạnh làm con chim này bị thương, rơi xuống nền đá và đang ở giữa Sự sống và Sự chết."

Tôi nói bằng cách đưa ra một so sánh:

"Và gió mạnh cũng gởi tôi đến với ông. Tôi trôi dạt tới cửa nhà ông kịp thời để ngăn không cho cái đầu của tôi bị thương và chiếc cánh của tôi bị gãy."

Nghiêm nghị nhìn tôi, Yusif nói:

"Về phần tôi, ước gì con người biểu lộ bản năng của loài chim và ước gì bão tố làm con người gãy cánh. Vì con người có khuynh hướng sợ hãi và hèn nhát; khi cảm thấy bịï cơn bão đánh thức, nó bò vào kẽ nứt và hang hốc của quả đất để núp mình thật kỹ."

Mục đích của tôi là moi cho ra câu chuyện khiến hắn tự đưa mình vào cuộc sống lưu đày, nên tôi gợi ý:

"Vâng, lũ chim sở hữu niềm vinh dự và lòng can đảm mà loài người không có. Con người sống trong bóng của luật lệ và phong tục do nó lập ra và điều chỉnh sao cho phù hợp với bản thân nó, còn lũ chim sống theo Luật lệ vĩnh cửu và tự do trước sau như một, cái khiến cho quả đất xoay chung quanh mặt trời theo lối đi vững mạnh của nó."

Hai mắt và vẻ mặt Yusif sáng lên như thể vừa tìm thấy trong tôi một đệ tử có đôi chút hiểu biết.

Hắn tuyên bố:

"Khá đấy! Nếu quả thật có niềm tin vào những lời nói ấy của mình, anh nên rời bỏ nền văn minh này với luật lệ, những truyền thống băng hoại của nó, và sống như lũ chim ở một nơi trống rỗng mọi sự, chỉ còn lại luật lệ tuyệt diệu của trời đất."

Tôi đáp:

"Tin là một vấn đề tế nhị, còn việc đưa niềm tin vào thực hành lại là một thử nghiệm về nghị lực. Nhiều kẻ phát ngôn nghe như tiếng gào thét của biển cả nhưng đời sống họ hời hợt và tù đọng như đầm lầy mục nát nhão nhoẹt. Nhiều người ngước cao đầu ngó lên đỉnh núi nhưng tinh thần họ vẫn ngủ trong bóng tối âm u của hang động."

Rúng động, Yusif đứng dậy, đặt con chim bị thương lên miếng vải xếp sẵn trên gờ cửa sổ. Cho một bó củi vào lò sưỡi, hắn nói:

"Anh cỡi xăng-đan ra hơ cho khô chân vì ẩm ướt làm hại sức khỏe con người. Anh cứ tự nhiên hong cho khô quần áo."

Lòng hiếu khách của Yusif kéo dài làm hi vọng của tôi dâng cao. Tôi tới sát lò sưỡi; chiếc áo ướt sủng của tôi toát ra từng luồng hơi nước. Trong khi Yusif đứng nơi cửa lớn nhìn bầu trời xám xịt, tâm trí tôi lùng kiếm cách nào đó để lẹ làng thâm nhập bối cảnh của hắn. Tôi hỏi, làm như bất chợt:

"Hẳn ông tới ở chỗ này đã lâu lắm?"

Hắn trả lời với giọng đều đều, mắt chẳng nhìn tôi:

"Tôi tới chỗ này khi quả đất chưa định hình, bóng tối còn phủ đầy khuôn mặt các vực thẳm trống rỗng và Thần khí của Thượng đế đang chuyển động trên mặt nước các đại dương."

Những lời ấy làm tôi kinh hãi! Cố hết sức tập trung trí óc đang choáng váng và tan tác, tôi nói thầm với lòng mình:

"Con người này kỳ dị biết mấy! Và khó khăn biết mấy con đường dẫn vào thực tại của hắn! Nhưng mình sẽ tiến công thận trọng, chậm rãi và nhẫn nại, cho tới khi hắn không còn dè dặt lời ăn tiếng nói nữa, trở nên cởi mở hơn, và thái độ quái đản của hắn trở nên hiểu biết hơn."


III.


Đêm đang trải y trang đen tối lên khắp thung lũng, cơn bão gầm rú tới chóng mặt và mưa càng lúc càng thêm ào ạt. Tôi bắt đầu ngẫm nghĩ tới sự tái diễn trận lụt Đại hồng thủy trong Kinh thánh để tiêu hủy sự sống và rửa sạch rác rưởi của con người khỏi trần thế của Thượng đế.

Dường như sự lặp lại chu kỳ ấy của vạn vật tạo nên trong tâm hồn Yusif một tĩnh lặng, vốn hay xuất hiện khi có sự cố đột biến bất thường, chuyển đổi tình cảnh quạnh hiu thành trạng thái vui vẻ. Hắn châm hai ngọn nến rồi đặt xuống trước mặt tôi một bình rượu vang và một khay đựng bánh mì, phó mát, quả ô-liu cùng một ít trái cây khô. Kế đó, Yusif ngồi xuống bên tôi. Sau khi xin lỗi về số thực phẩm ít ỏi - nhưng không về sự đạm bạc của chúng - hắn mời tôi dùng chung bữa.

Cùng ăn tối với nhau trong trạng thái thinh lặng đồng cảm, chúng tôi lắng nghe tiếng gió rền rĩ và mưa kêu gào. Cùng lúc đó, tôi kín đáo ngắm khuôn mặt Yusif, cố đào cho ra các bí mật của hắn và ngẫm nghĩ tới động cơ có thể có, nằm bên dưới cuộc hiện sinh khác thường của hắn. Ăn xong, Yusif nhấc ấm đồng trên bếp lửa, rót một loại cà phê nguyên chất, thơm lừng, vào hai tách. Kế đó, hắn mở một hộp nhỏ, đưa cho tôi điếu thuốc và gọi tôi là "Người anh em".

Tôi cầm điếu thuốc. Trong khi nhâm nhi tách cà phê của mình, tôi không tin vào những gì mình đang trông thấy. Yusif nhìn tôi với vẻ mặt như thể đang cười. Sau khi rít thật sâu một hơi thuốc và nhắp một ngụm cà phê, hắn nói:

"Rõ ràng anh đang băn khoăn tại sao ở đây lại có rượu, cà phê thuốc lá, và có thể anh cũng đang thắc mắc về thực phẩm và tiện nghi của tôi. Cơn hiếu kỳ của anh lộ rất rõ trong ánh mắt và vẻ mặt của anh. Vì cũng như nhiều người khác, anh tin rằng trong khi sống xa cách người đời thì kẻ tách biệt cuộc đời nên kiêng cử mọi lạc thú của nó."

Tôi đáp lẹ làng:

"Đúng vậy. Các hiền giả thường kể cho người đời nghe như thế. Rằng kẻ rời bỏ thế gian chỉ với mục đích thờ phụng Thượng đế phải để lại đằng sau mọi lạc thú cùng những phong phú của cuộc đời. Kẻ đó phải tự bằng lòng với các sản phẩm mộc mạc của Thượng đế và tiếp tục sống bằng rau cỏ và nước lã."

Sau một lúc ngập ngừng dường như nặng trĩu suy tưởng, Yusif trầm ngâm:

"Tôi có thể thờ phụng Thượng đế trong khi vẫn sống giữa các tạo vật của ngài vì việc thờ phụng không đòi hỏi phải sống cô độc. Tôi không rời bỏ người đời để đi gặp Thượng đế vì tôi vẫn luôn luôn gặp ngài ngay dưới mái nhà của cha mẹ tôi.

"Tôi rời bỏ người đời vì bản tính của họ xung khắc với bản tính của tôi, các giấc mộng của họ không hợp với các giấc mộng của tôi. Tôi rời bỏ loài người vì tôi nhận thấy rằng bánh xe linh hồn tôi chỉ quay theo một chiều độc nhất và cọ xát một cách khắc nghiệt với bánh xe của các linh hồn khác đang quay theo chiều ngược lại.

"Tôi rời bỏ văn minh vì tôi nhận thấy nó là một cây già cỗi và hư hoại, mạnh mẽ và đáng sợ, với rễ bị gài chặt trong tăm tối của trần thế và nhánh vươn cao lên quá bên kia mây trời nhưng chồi với lộc của nó là tham lam, độc dữ cùng tội ác, và hoa trái của nó là ưu phiền, khốn khổ cùng sợ hãi. Có những người chiến đấu cho lý tưởng, họ đảm đương sứ mệnh của mình bằng cách trộn cái thiện vào nền văn minh đó để thay đổi bản tính của nó nhưng họ không đạt kết quả. Họ chết trong thất vọng, bị áp bức và bị xé nát."

Yusif nghiêng mình tới phía lò sưỡi như thể đang đợi ấn tượng của những lời ấy gây ra trong tâm hồn tôi. Tôi nghĩ tốt nhất mình chỉ nên làm người lắng nghe. Và như thế, hắn nói tiếp:

"Không, tôi không tìm kiếm cô đơn để cầu nguyện và để theo đuổi cuộc sống của một ẩn sĩ. Vì lời cầu nguyện là khúc hát của trái tim nên nó sẽ tới tai Thượng đế cho dẫu có đang bị trộn lẫn với tiếng thét la và gào khóc của hàng ngàn giọng khác nhau. Sống cuộc đời xa lánh xã hội là hành hạ cả thể xác lẫn tâm hồn và giết chết các thiên hướng. Đó là một loại hiện hữu tôi ghê tởm vì Thượng đế dựng lên thể xác để làm đền thờ cho tinh thần, và chúng ta có nghĩa vụ bảo vệ, duy trì niềm tin tưởng được Thượng đế đặt vào bên trong con người của chúng ta.

"Không, người anh em của tôi ơi, tôi không tìm kiếm cô đơn vì cứu cánh tôn giáo, mà hoàn toàn chỉ là để xa lánh người đời và các luật lệ của họ, những giảng dạy và những truyền thống cùng những ý tưởng của họ, những rộn ràng huyên náo và những than van rên rĩ của họ.

"Tôi tìm kiếm cô đơn để giữ cho mình khỏi thấy bộ mặt của những kẻ lúc nào cũng chỉ mua bán bản thân với giá thấp hơn bản thân mình, cả về phương diện tinh thần lẫn phương diện vật chất.

"Tôi tìm kiếm cô đơn để cho mình khỏi gặp gỡ các phụ nữ bước đi kiêu hãnh với một ngàn nụ cười trên môi trong khi nơi sâu thẳm của một ngàn linh hồn ấy chỉ có một mục đích duy nhất và giống nhau.

"Tôi tìm kiếm cô đơn để giấu mình xa khuất những cá nhân tự mãn, những kẻ chỉ thấy bóng ma tri thức trong giấc mộng của họ và rồi tin rằng họ đang đạt được mục đích của họ.

"Tôi chạy trốn xã hội để tránh những kẻ chỉ thấy hình bóng chập chờn của chân lý trong sự tỉnh thức riêng tư của họ nhưng lại lớn tiếng nói với thế giới rằng họ đã hoàn toàn sở đắc cốt tủy của chân lý.

"Tôi từ bỏ thế giới và tìm kiếm sự cô đơn vì càng ngày tôi càng thấm mệt việc phải tỏ ra lịch sự với vô số kẻ tin rằng khiêm tốn là một loại yếu đuối, thương xót là một loại hèn nhát và a dua là một hình thức chứng tỏ sức mạnh.

"Tôi tìm kiếm cô đơn vì linh hồn tôi mệt mỏi việc kết đoàn với những kẻ tin tưởng thành thật rằng mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao chỉ mọc lên từ rương tiền két bạc của họ và không lặn xuống bên ngoài vườn nhà của họ.

"Tôi chạy khỏi những kẻ tìm cách tham gia chính quyền vì họ làm tan tác định mệnh trần thế của dân chúng bằng cách ném bụi vàng vào mặt người đời và làm đầy lỗ tai người đời bằng âm thanh của những diễn từ vô nghĩa.

"Tôi rời khỏi các sứ đồ, các tu sĩ, vì họ không sống theo lời giảng của họ và vì họ đang đòi hỏi người đời những điều chính bản thân họ không cố sức đạt tới.

"Tôi tìm kiếm cô đơn vì tôi chẳng bao giờ nhận được sự tử tế của người đời nếu tôi không chịu trả giá đầy đủ bằng tâm hồn mình.

"Tôi tìm kiếm cô đơn vì tôi kinh tởm cái định chế khổng lồ và đáng sợ mà người đời gọi là văn minh - nó là một quái vật được dựng lên theo tỉ lệ thuận và trên sự khốn khổ bất tận của loài người.

"Tôi tìm kiếm cô đơn vì trong đó có cuộc sống trọn vẹn cho tinh thần, cho tâm hồn và cho thể xác. Tôi tìm thấy những cánh đồng bất tận, nơi an nghỉ ánh sáng của mặt trời, nơi các đóa hoa tỏa hương vào không gian và là nơi các dòng suối hát ca trên đường ra biển cả. Tôi khám phá các ngọn núi, ở đó tôi tìm thấy cơn thức giấc tươi mát của mùa xuân, lòng khao khát đầy màu sắc của mùa hạ, các bài ca dư dật của mùa thu, và bí nhiệm đẹp tuyệt trần của mùa đông. Tôi tới góc xa khuất trong vùng đất này của Thượng đế vì tôi khao khát học biết những bí ẩn của Vũ trụ và tiến đến gần ngai của Thượng đế."

Yusif hít vào một hơi rất sâu như thể đã bớt được phần nào gánh nặng. Mắt hắn lấp lánh thứ ánh sáng lạ lùng, như có ma lực. Trên bộ mặt rạng rỡ của hắn xuất hiện dấu hiệu của kiêu hãnh, ý nguyện và mãn nguyện.

Vài phút trôi qua. Tôi nhìn hắn đăm đăm và điềm tĩnh, thăm dò sự bộc lộ những gì tôi chưa thể khám phá. Kế đó, tôi phát biểu với hắn rằng:

"Rõ ràng ông rất đúng trong hầu hết những gì ông vừa nói. Nhưng qua những chẩn đoán của ông về các bệnh tật xã hội, ông cũng đồng thời chứng minh mình là một lương y giỏi. Tôi tin rằng xã hội bệnh hoạn này đang cần ghê gớm lương y giỏi như thế, kẻ sẽ chữa lành nó hoặc giết chết nó. Thế giới khốn quẩn đang cầu khẩn sự chú ý của ông. Hành động lùi bước trước một người bệnh rất nặng và từ chối không chịu giúp đỡ nó có phải là một việc làm chính đáng hoặc đầy lòng từ bi?"

Yusif nhìn tôi chằm chặp, trầm ngâm, và rồi nói một cách bất lực:

"Từ lúc bắt đầu thế giới này, đã có đủ thứ lương y ra sức cứu chữa người đời khỏi những rối loạn tinh thần và thể xác của họ. Một số dùng dao giải phẫu trong khi một số chỉ dùng tới thuốc men, nhưng dịch bệnh vẫn lan tràn, vô vọng. Tôi ao ước rằng bệnh nhân nên tự bằng lòng ở yên trong chiếc giường bẫn thỉu của nó và suy ngẫm về vết thương kinh niên của nó. Nhưng thay vì làm như thế, từ trong chiếc áo choàng đang quấn quanh mình, bệnh nhân ấy thò tay ra túm cổ từng người tới chẩn bệnh cho nó, bóp cổ họ cho tới chết. Thật mỉa mai hết sức! Bệnh nhân độc dữ ấy giết chết thầy thuốc, rồi sau đó nó nhắm mắt lại, thầm nói trong lòng mình rằng "Ông ấy quả thật là một lương y vĩ đại". Không, người anh em ơi, không ai trên thế gian này có thể giúp ích cho loài người. Người gieo hạt, dù thông thái hay tài giỏi tới mấy đi nữa, cũng không thể làm cho cánh đồng đâm chồi nảy lộc trong mùa đông."

Tôi cãi lại:

"Mùa đông của loài người sẽ qua đi và rồi tới mùa xuân tươi thắm, chắc chắn các đóa hoa sẽ kết nụ trên cánh đồng và trong thung lũng, các con suối lại sẽ nhảy múa."

Hắn cau mày, nói chua chát:

"Hỡi ơi! Phải chăng Thượng đế phân chia cuộc sống của loài người - cái vốn là một sáng tạo tổng thể - thành những mùa giống như các mùa của một năm? Liệu có bộ tộc nào của loài người lúc này đã trở về sống trong chân lý và tình yêu của Thượng đế lại ao ước được quay trở lại sống chốn trần gian này? Bao giờ sẽ tới thời điểm con người cư ngụ trong cánh tay phải của Sự sống, hân hoan với ánh sáng chói lọi ban ngày và tĩnh mịch yên lành ban đêm? Liệu giấc mơ ấy có thành hiện thực? Sau khi trái đất này bị phủ đầy thịt của con người và ướt đẫm máu của con người, liệu nó có bị vật chất hóa không?"

Nói tới đây, Yusif đứng dậy. Hắn đưa cánh tay lên trời như thể chỉ tới một thế giới khác. Và hắn nói tiếp:

"Đây đơn thuần chỉ là một giấc mơ cho thế gian nhưng tôi đang tìm thấy sự hoàn thành nó cho riêng bản thân tôi. Và điều tôi khám phá ở đây chiếm lĩnh mọi không gian trong tâm hồn tôi, trong các thung lũng và trên các ngọn đồi."

Tới đây, giọng Yusif cất lên thật cao, rất mãnh liệt:

"Tôi chỉ thật sự biết một điều có thật, đó là sự gào khóc của cái tôi bên trong tôi, cái bản ngã của tôi. Tôi đang sống ở đây, và tận chốn thẳm sâu trong hiện hữu của tôi có cơn khát và cơn đói, và tôi tìm thấy niềm vui trong việc dự phần vào bánh mì và rượu của Sự sống từ những chiếc bình do chính bàn tay tôi làm ra và uốn nắn nên. Vì lý do đó, tôi rời xa các bữa ăn của người đời để đi tới chỗ này. Và tôi sẽ ở lại đây cho tới ngày Chung cuộc!"

Yusif tiếp tục đi tới đi lui quanh căn phòng trong trạng thái khích động. Và tôi tiếp tục cân nhắc các lời nói của hắn, suy ngẫm về vết thương hở miệng của xã hội, theo như mô tả của hắn. Thêm lần nữa, bằng giọng lịch sự, tôi mạo hiểm phê bình:

"Tôi cực kỳ tán thưởng các ý kiến và dự tính của ông. Tôi ganh tị và kính trong sự cô đơn tĩnh lặng của ông. Thế nhưng tôi biết rằng quốc gia khốn khổ này sẽ tiếp tục bị tổn thất khi ông tự lưu đày biệt xứ vì nó đang cần một kẻ cứu chữa đầy am hiểu để giúp nó vượt qua mọi khó khăn và đánh thức tinh thần của nó."

Yusif chầm chậm lắc đầu và nói:

"Quốc gia này cũng giống mọi quốc gia khác. Và dân tộc này cũng được làm nên từ các thành tố giống với dân tộc kia, chẳng khác gì nhau và không biến dị, ngoại trừ lớp vỏ bên ngoài, cái vốn chẳng chút nào quan trọng. Sự khốn khổ của các quốc gia phương Đông chúng ta là sự khốn khổ của thế giới, và cái được ông gọi là văn minh phương Tây chẳng là gì cả mà chỉ là bóng nhiều con ma của sự lừa dối bi thảm.

"Đạo đức giả sẽ luôn luôn tồn tại cho dẫu các đầu ngón tay của nó được tô màu và đánh bóng.

Lừa dối sẽ không bao giờ thay đổi cho dẫu cái chạm tới của nó càng ngày càng dịu dàng và tế nhị hơn. Lầm lạc sẽ không bao giờ chuyển hóa thành Chân lý cho dẫu anh khoác cho nó chiếc áo gấm vóc lụa là và an vị nó trong cung điện. Tham lam sẽ chẳng trở thành Toại nguyện. Tội ác cũng sẽ không biến thành Đức hạnh. Và Nô lệ Vĩnh viễn vào các lời giảng, các phong tục và vào lịch sử sẽ vẫn còn là Nô lệ cho dẫu nó sơn phết mặt mày và ngụy trang giọng nói. Nô lệ sẽ vẫn là Nô lệ trong mọi hình thức kinh hoàng của nó cho dẫu nó tự gọi nó là Tự do.

"Không, người anh em ơi, phương Tây chẳng cao hơn phương Đông, phương Tây cũng chẳng thấp hơn phương Đông. Sự khác biệt giữa cả hai phương ấy không lớn hơn sự khác biệt giữa con cọp và con sư tử. Tôi đã tìm thấy một qui luật chính đáng và toàn hảo đằng sau vẻ bên ngoài của xã hội, nó bình đẳng hóa khốn khổ, phồn vinh và vô minh; nó không thiên vị quốc gia này hơn quốc gia nọ; nó cũng không áp bức bộ tộc này để làm giàu cho bộ tộc kia."



Tôi kêu lên:

"Thế thì văn minh chỉ là hư ảo và mọi sự trong nó đều là hư ảo!"

Hắn trả lời lẹ làng:

"Đúng, văn minh là hư ảo và mọi sự trong nó đều là hư ảo. Các phát minh và khám phá chỉ là trò tiêu khiển và là tiện nghi cho thể xác khi nó thấm mệt hoặc kiệt sức. Chinh phục các khoảng cách, khuất phục các đại dương, chỉ là những thành quả giả tạo, không làm mãn nguyện linh hồn, không nuôi dưỡng tâm hồn cũng chẳng nâng cao tâm linh, vì chúng đều cách rất xa bản tính tự nhiên.

"Những cấu trúc và những lý thuyết được con người gọi là kiến thức và nghệ thuật, đều không là gì cả mà chỉ là gông cùm xiềng xích làm bằng vàng được con người kéo lê theo. Và con người vui sướng với những phản chiếu lóng lánh và những âm thanh leng keng của chúng. Chúng là những cái lồng kiên cố với chấn song được con người dựng lên từ bên trong mà sau đó chẳng bao lâu, con người trở thành tù nhân của chính nó cho tới muôn đời.

"Đúng, thật vô ích các hành động của con người và cũng thật vô ích các cứu cánh của con người; mọi sự đều là hư ảo."

Ngừng một chút rồi Yusif chậm rãi nói thêm:

"Và giữa mọi sự hư ảo của cuộc đời ấy chỉ duy nhất có một cái được tinh thần yêu mến và khao khát. Một cái làm lóa mắt và chỉ một mình cái đó thôi."

"Đó là cái gì vậy?"

Tôi hỏi với giọng run rẩy. Yusif nhìn tôi chằm chặp suốt một phút dài đăng đẳng, kế đó hắn nhắm mắt lại. Rồi hắn đặt bàn tay lên ngực trong khi vẻ mặt bừng sáng theo giọng nói chân thành và sâu lắng:

"Đó là sự thức tỉnh trong tinh thần, hay có gọi là tâm linh thức ngộ thì cũng thế. Đó là sự thức tỉnh ở những chốn sâu thẳm bên trong tâm hồn. Đó là sức mạnh tuyệt vời và chan chứa, giáng hạ đột ngột trên lương tâm của con người, mở đôi mắt nó, và ngay lúc đó nó thấy Sự sống giữa cơn mưa âm nhạc chói lọi làm hoa mắt, được bao bọc bởi vòng tròn ánh sáng cao cả, với con người đứng như một cột trụ đẹp đẽ giữa quả đất và bầu trời.

"Đó là ngọn lửa đột nhiên bùng cháy bên trong tâm linh, làm nổ tung và thanh tẩy tâm hồn, nâng con người lên quá mặt đất và lơ lửng giữa bầu trời bao la. Đó là lòng tử tế vây phủ trái tim của cá nhân nhờ đó con người biết hoang mang tra vấn, không tán thành những kẻ đối lập hay làm ngược lại, và khiến cho con người nổi loạn chống lại hết thảy những ai không chịu am hiểu ý nghĩa cao cả ấy. Đó là bàn tay bí mật tháo gỡ chiếc mạng che mắt tôi trong thời tôi còn là một phần tử của xã hội, ở giữa gia đình mình, bằng hữu mình và đồng bào mình.

"Nhiều lần tôi thắc mắc, tự nói với mình rằng: 'Vũ trụ này là gì và tại sao tôi khác với những người đang nhìn tôi, tôi quen biết họ như thế nào, tôi đã gặp họ ở đâu và tại sao tôi sống giữa họ? Có phải ở giữa họ tôi là người lạ hoặc có phải họ là người lạ đối với trần thế này, cái được Sự sống dựng lên và trao cho tôi các chìa khóa giải đáp'."

Đột nhiên Yusif ngưng bặt như thể đang nhớ lại điều gì đó hắn đã thấy rất lâu về trước và nay cố giữ cho mình đừng tiết lộ. Kế đó, hắn chìa tay ra phía trước và thầm thì:

"Đó là cái xảy ra cho tôi bốn năm trước đây khi tôi rời bỏ thế giới, tìm tới nơi vắng vẻ này để sống trong trạng thái tỉnh thức hầu nhận thức cuộc đời, vui vầy với các ý nghĩ thân ái và sự im lặng đẹp đẽ."

Bước tới cửa, hắn nhìn vào những chốn thẳm sâu của đêm đen như thể chuẩn bị phát biểu về cơn bão. Nhưng rồi hắn lại nói với giọng run rẩy, đầy âm ba rằng:

"Đó là sự thức tỉnh bên trong tâm linh, hay có gọi là tinh thần giác ngộ thì cũng thế. Kẻ nào biết nó thì có khả năng bộc lộ nó bằng ngôn từ; kẻ nào không biết nó, sẽ chẳng bao giờ nghĩ tới sự bí nhiệm tuyệt vời và hấp dẫn của cuộc hiện sinh."

IV.


Một giờ trôi qua. Yusif vẫn soãi bước quanh phòng, thỉnh thoảng dừng lại bất chợt và đăm đăm nhìn bầu trời xám xịt đáng sợ. Tôi vẫn giữ im lặng, suy ngẫm trạng thái hòa hợp lạ thường của hân hoan và phiền muộn trong cuộc sống cô đơn của hắn.

Sau đó trong đêm ấy, hắn tới gần bên tôi, nhìn thật lâu vào mặt tôi như thể muốn ghi thật sâu trong ký ức hình ảnh con người đã được hắn bộc lộ những bí mật dệt nên cuộc đời hắn. Tâm trí tôi nặng nề trong trạng thái rối loạn, mắt tôi mờ hơi sương. Yusif trầm lặng nói:

"Giờ đây tôi sắp băng qua đêm với cơn bão để cảm thấy gần gũi với vẻ mặt của mẹ Thiên nhiên. Đây là một thực hành tôi vô cùng thú vị trong mùa thu và mùa đông. Còn đây là rượu và thuốc lá. Xin anh vui lòng chấp nhận nhà của tôi như là nhà của anh suốt đêm nay."

Hắn khoác lên người chiếc áo chùng màu đen, và thêm lần nữa mặt ánh lên vẻ cười:

"Tôi xin anh đóng chặt cửa để sáng mai, sau khi anh đi khỏi đây, người ta không thể xâm nhập, vì tôi dự tính sẽ ở suốt ngày trong rừng Bách hương Thiêng liêng."

Nói xong, hắn đi ra cửa, mang theo mình cây gậy dài. Và hắn nói lời sau cùng:

"Nếu có lúc nào đang ở trong vùng lân cận đây mà bão tố lại làm anh cảm thấy kinh ngạc, xin chớ ngại tới trú tạm ở chỗ ẩn cư này. Tôi hi vọng anh sẽ tự dạy bảo mình yêu thương bão tố thay vì sợ hãi nó. Chúc ngủ ngon, người anh em."

Yusif mở cửa, bước ra ngoài, ngước mặt và ngẩng cao đầu đi vào đêm đen. Tôi đứng nơi cửa cố ý xem hắn đi về hướng nào nhưng hắn đã lẹ làng biến khỏi tầm mắt tôi. Trong vài phút, tôi nghe tiếng chân hắn rơi lạo xạo trên những vụn đá trong thung lũng.

V.


Buổi sáng đến. Sau một đêm trằn trọc và cơn bão lặng hẳn, bầu trời quang đãng, núi non và đồng cỏ cùng liên hoan trong ánh nắng mặt trời ấm áp. Trên con đường trở về thành phố, tôi cảm thấy có sự nhận biết tâm linh về những điều Yusif đã nói. Và cơn thức giấc ấy bùng nỗ khắp châu thân tôi, trong từng đường gân thớ thịt. Tôi cảm thấy rõ ràng người mình đang run lẩy bẩy. Sau khi lòng lắng xuống, mọi sự chung quanh tôi đẹp tuyệt trần và toàn hảo.

Cho tới khi tới gần các đám đông đầy hơi người khó chịu, nghe giọng nói của họ và nhìn cử chỉ của họ, tôi dừng chân và thầm nói với mình:

"Đúng, thức tỉnh tâm linh là điều cực kỳ cốt tủy trong cuộc sống con người, và nó là cứu cánh độc nhất. Phải chăng văn minh, trong mọi hình thức bi đát nhất của nó, không là động lực tối thượng cho sự thức tỉnh tâm linh ấy? Thế thì làm thế nào chúng ta có thể phủ định vật chất đang hiện hữu trong khi chính sự hiện hữu của nó là bằng chứng vững chắc cho việc nó thích ứng với một sự phù hợp có dự kiến? Văn minh hiện thời có thể sở hữu một cứu cánh đang biến mất nhưng qui luật vĩnh cữu đã hiến cho cứu cánh đó chiếc thang với những nấc thang có thể dẫn tới một bản thể tự do."

Tôi không bao giờ còn cơ hội gặp lại Yusif vì qua những nỗ lực của tôi khi đi theo những bệnh tật của nền văn minh, cuộc đời trục xuất tôi khỏi Bắc Li-băng vào cuối mùa thu năm đó. Tôi bị buộc phải sống lưu đày tại một xứ sở xa xăm nơi mỗi khi bão tố đến, người ta chỉ đi loanh quanh trong nhà. Ở xứ sở này, việc theo đuổi một cuộc sống ẩn dật là một loại điên rồ hết sức thú vị vì xã hội của nó cũng thế, đang đau ốm kinh niên./.

Kahlil Gibran 
Nguyễn Ước dịch

Được tạo bởi Blogger.