Ký ức về một tình bạn - ĐHY Luis Antonio G. Tagle

Xuân Tân Phong
ky-uc-ve-mot-tinh-ban-dhy-luis-antonio-g-tagle NGUỒN:


KÝ ỨC VỀ MỘT TÌNH BẠN


Bài tham luận của ĐHY Luis Antonio G. Tagle tại hội nghị "Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận - chứng nhân của hy vọng" diễn ra vào ngày 25/3/2026 tại Rôma.

"Tôi rất vui mừng được tham dự sự kiện này nhằm tôn vinh Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Tôi xin cảm ơn gia đình ngài, đặc biệt là người em gái của ngài, chị Elisabeth, cùng các tổ chức đã quy tụ chúng ta hôm nay để tuyên bố với thế giới rằng: hy vọng là có thật, và chúng ta đã thấy điều đó nơi con người của Đức Hồng y Thuận. Vai trò của tôi không phải là trình bày một bài diễn thuyết mang tính học thuật, nhưng là kể một câu chuyện.

Chúng ta hãy quay trở lại Manila, Philippines, vào tháng 1 năm 1995, khi nơi đây trở thành tâm điểm chú ý của thế giới. Đó là Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 10, lần đầu tiên được tổ chức tại Á châu. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã gặp gỡ hàng triệu bạn trẻ tại Manila. Cũng trong những ngày đó, Đại hội toàn thể lần thứ 6 của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) được tổ chức tại Manila để kỷ niệm 25 năm thành lập, vốn cũng diễn ra tại đây vào năm 1970 trong chuyến viếng thăm của Đức Giáo hoàng Phaolô VI.

Năm 1995, dù khi ấy tôi vẫn còn là một linh mục trẻ, tôi được phân công tham dự không phải Ngày Giới Trẻ Thế Giới mà là các phiên họp của các Giám mục Á châu. Ủy ban Trung ương của FABC đã mời tôi trình bày một bài tham luận chính với chủ đề: "Đức Giêsu Kitô: Sứ vụ của Ngài đối với Sự Sống". Ngày 11 tháng 1 năm 1995, tôi đến với sự chuẩn bị sẵn sàng, nhưng khi đứng trước các Giám mục Á châu, tôi lại hối hận vì đã nhận lời mời. Run rẩy như một người mất bình tĩnh, tôi đọc bài thật nhanh, và ngay khi kết thúc, tôi vội vã rời khỏi hội trường, đi xuống phòng ăn, pha một ly cà phê thật lớn và chỉ mong không ai nhìn thấy mình.

Khi tôi đang nhấp cà phê, một vị Giám mục tiến lại gần. Lẽ ra tôi nên về phòng chứ không phải xuống phòng ăn, nhưng giờ thì đã muộn. Ngài nói: "Trong lúc thuyết trình, trông cha có vẻ rất hồi hộp, nhưng cha đã làm rất tốt. Cha thật xuất sắc." Tôi cảm ơn ngài, cơ thể đang run của tôi dần dịu lại. Bắt tay tôi, vị Giám mục nói: "Tôi là Tổng Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đến từ Việt Nam, hiện đang phục vụ tại Vatican." Tôi cảm thấy như có tia sét đánh ngang qua mình. Đây chính là Đức cha Văn Thuận mà tôi từng nghe nói đến! Giờ đây ngài đang đứng trước mặt tôi, an ủi, khích lệ và nâng đỡ tôi.

Sau khi cảm ơn ngài, tôi hỏi về cuộc đời ngài - vốn đã khá nổi tiếng. Chúng tôi ngồi xuống, và ngài bắt đầu kể lại câu chuyện của mình. Khi đó là buổi chiều. Điều khiến tôi xúc động là khi kể lại những kinh nghiệm đau đớn, thậm chí bị sỉ nhục, giọng nói của ngài vẫn bình thản, gương mặt vẫn an hòa. Không hề có một chút cay đắng hay oán hận nào nơi ngài. Tôi không thể rời mắt khỏi khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười của ngài. Rồi trời tối. Chúng tôi lỡ cả bữa tối. Nhưng trước khi chia tay, ngài nói: "Từ nay hãy gọi tôi là 'Chú'. Nếu có dịp sang Roma, cha nhớ ghé thăm tôi." Tôi hứa, nhưng trong lòng vẫn nghi ngờ không biết mình có đến Roma không. Điều tôi chắc chắn là Đức Tổng Giám mục Thuận rất nhớ gia đình mình. "Hãy gọi tôi là Chú." Có lẽ tôi trông giống một người cháu của ngài.

Hai năm sau, vào năm 1997, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm tôi làm thành viên của Ủy ban Thần học Quốc tế do Đức Hồng y Joseph Ratzinger làm chủ tịch. Từ năm 1998, tôi đến Roma ít nhất hai lần mỗi năm để tham dự các cuộc họp. Mỗi lần đến Roma, tôi đều gọi điện cho "Chú Thuận", lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình. Chú tôi giờ là Chủ tịch rồi! Khi lịch trình cho phép, ngài mời tôi đi ăn tối tại nhiều nhà hàng khác nhau. Ngài gọi món nhưng hầu như không ăn, chỉ ngồi nhìn tôi ăn và thích gắp thức ăn cho tôi. Nhưng đôi khi tôi tự hỏi tại sao ngài ăn rất ít.

Khoảng năm 1999 hoặc 2000, ngài đưa tiền cho tôi để mua cuốn sách "Năm chiếc bánh và hai con cá" cho các chủng sinh tại chủng viện nơi tôi làm giám đốc. Ngài nói nếu không tìm được sách ở Philippines thì hãy dùng số tiền đó để in sách.

Tháng 2 năm 2001, tôi vui mừng khi "Chú Thuận" được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Hồng y. Đến tháng 10 năm 2001, chính Đức Giáo hoàng bổ nhiệm tôi làm Giám mục giáo phận Imus. Tôi đã mời "Chú Thuận" tham dự lễ tấn phong giám mục của tôi vào tháng 12, nhưng ngài xin kiếu vì lý do sức khỏe, và hứa sẽ cầu nguyện cho tôi. Chúng tôi đùa rằng giờ đây vị Hồng y đã có một người cháu là Giám mục. Tôi hứa sẽ đến thăm ngài trong khóa huấn luyện dành cho các Giám mục mới vào năm 2002.

Tháng 9 năm 2002, tôi đến Roma để tham dự khóa huấn luyện thường niên dành cho các Giám mục được bổ nhiệm năm trước. Ngày 15 tháng 9 năm 2002, tôi gọi điện đến nơi ở của ngài và được biết "Chú Hồng y" đang bệnh nặng. Ngài bị ung thư dạ dày. Lúc đó tôi mới hiểu vì sao ngài ăn rất ít. Hẳn là ngài đã chịu đau đớn khi dẫn tôi đi ăn ở các nhà hàng. Nhưng nỗi đau không ngăn cản ngài làm cho người khác được vui.

Ngày hôm sau, 16 tháng 9, ngài đã về với Thiên Chúa vinh hiển, Đấng mà ngài luôn đặt trọn niềm hy vọng. Tôi tham dự Thánh lễ an táng ngày 20 tháng 9 năm 2002 tại Đền thờ Thánh Phêrô, với sự hiện diện của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Ca đoàn gồm các chủng sinh, linh mục và nữ tu Việt Nam đã làm vang lên trong Đền thờ những lời cầu nguyện du dương. Chúng tôi như được trở về quê hương Việt Nam thân yêu của ngài. Nỗi buồn hiện rõ, nhưng cũng chan chứa lòng biết ơn vì hồng ân về người tôi tớ của Thiên Chúa và của Giáo hội này.

Khi tiến ra cửa, tôi dừng lại, chạm vào quan tài của ngài và thì thầm: "Chú ơi, con đã đến. Chú đã làm rất tốt. Chú thật xuất sắc."


Cùng với tất cả quý vị, tôi vững tin rằng "Chú Thuận" giờ đây đang sống trong công lý và bình an vĩnh cửu của Thiên Chúa."

Trích từ: Memories of a friendship (His Eminence Cardinal Luis Antonio Tagle)
Chuyển ngữ: Thérèse Gabrielle - BTT Giáo xứ Giang Xá