https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg



Bạn đi về miền Tây, bạn bắt gặp những điều hơi là lạ nếu bạn chưa từng đặt chưn tới vùng đất nầy. Xin kể bốn câu chuyện:
1. Một người có con gái đặt tên là Loan, nhưng bà luôn luôn kêu tên con gái là con lon khiến nó mất vui.
2. Tôi đi xe buýt Sàigòn qua Tân Thuận để tới Miễu Bà Chúa Xứ 2, xuống bến xe anh bán vé nói tôi còn phải đi một tiếng nữa, thiệt ra là đi một tuyến nữa.
3. Người miền Trung, hay cả dân Sàigòn xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu được mời "ăn cơm gan" tưởng là ăn cơm với gan heo, gan bò gì đó, té ra không phải; họ cho ăn cơm chẳng có gì hết, vì là cơm rang.
4. Một cô nữ sinh Trung Học hồn nhiên "xin thầy Giám Học cho em nghỉ ngày mai vì em đau", thiệt ra em không đau gì hết mà là mẹ em đau.

Ba chuyện đầu thuộc nhóm ngôn ngữ, chuyện sau là chuyện liên quan đến danh từ gọi người thân trong gia đình. Vú do biến thái từ chữ nhũ mà ra… cũng vậy những tiếng gọi người thân trong gia đình thường là những tiếng hơi lạ lạ: A chệt, hia, tỷ, chế, xím, má, cửu, nứng… Đó là ảnh hưởng của người Triều Châu ở nhiều vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu…

Nếu đi xuống miền Tây ta sẽ thấy những chuyện là lạ:
- Ta thấy người lớn ăn cơm xong xá xá đặt đôi đũa ngang chén cơm, hai tay cầm chén lên xá xá vài ba cái rồi mới để xuống. Sự kiện nầy do ảnh hưởng của Phật Giáo Tứ Ân. Nói về Tứ Ân thì có thể 6, 7 chục năm trước chúng ta gặp những người đàn ông lớn tuổi để râu, tóc, bận áo đà, nói chuyện có khi dùng tiếng lạ như: Ngọt thay vì đường, xá thay vì đường đi. Họ hiền lành và ở trong nhà có thờ tấm trần điều… họ thích đọc sấm giảng và thơ Sư Vãi Bán Khoai, họ đọc cuốn Kim Cổ Kỳ Quan (Không phải Kim Cổ Kỳ Quan của Tàu mà là một tác phẩm dầy nguyên viết bằng chữ Nôm nói về tu hành, và tứ ân trọng kính… ).
- Ta thấy bàn thông thiên ( hay bàn ông thiên ), những cái trang thờ ông bà tổ tiên bên cạnh trang thờ Quan Vân Trường. Cũng là ảnh hưởng của người Minh Hương từ nhóm Thiên Địa Hội trốn tránh nhà Thanh mà đến xứ nầy…
- Về thức ăn thức uống có những thứ bánh cống, bánh xèo, bánh tôm chiên, và nhiều thứ bánh khác ở Sóc Trăng, hủ tíu Nam Vang, hủ tíu Mỹ Tho…
- Về quần áo mặc có áo bà ba, có quần lá nem, có xà rông, có khăn rằn đội đầu… , mặc quần lảnh Mỹ A... là ảnh hưởng của dân bản địa và những gì từ dân đa đảo phía Nam đi tới đã lâu.
- Tiếng nói có sự nói không chịu sự cố gắng để phát âm: tiến ( Tuyến ), lon ( loan ) tiền ( tuyền ) hay âm /r/ bị biến thành âm /g/… hay tiếng mình ên ( một mình ), tiếng huốt ( qua rồi ), tiếng nhóc (nhiều quá ) vú (mẹ)… Đó là sự khác nhau của văn hóa Đồng Bằng Cửu Long và văn hóa của người Sàigòn.

Còn nhiều lắm, những yếu tố đặc biệt mà riêng vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long mới có:
Những thứ đó tôi gọi là những yếu tố văn hóa của Đồng Bằng Sông Cửu Long hay của vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh. Sống trong vùng gọi là Đồng Bằng Sông Cửu Long thì không lạ với những thứ đó vì đã quen với những chuyện nầy, nhưng nếu sống ở Sàigòn, hay sanh trưởng ở Miền Đông chắc chắn sẽ lạ khi gặp lần đầu tiên.


Và ông Trần Văn Chi đã có công ghi lại những điều tôi gọi là yếu tố văn hóa của Đồng Bằng Sông Cửu Long trong hai tác phẩm của ông. Cách viết của Trần Văn Chi không phải là cách viết theo khảo hướng nghiên cứu của quí ông Đào Duy Anh, Toan Ánh, Cửu Long Giang hay của những học giả Tây phương. Đặc biệt, Trần Văn Chi viết mỗi yếu tố thành một bài ngăn ngắn. Người đọc thấm hết những bài ngăn ngắn đó thì ngộ ra rằng: Ờ, thời văn hóa miệt Đồng Bằng Sông Cửu Long khác với văn hóa của vùng khác. Ông không giải thích yếu tố nào chịu ảnh hưởng từ đâu như tôi nói ở trên, đối với Trần Văn Chi chuyện đó không cần thiết.

Ta có thể kể sơ lược tính chất tinh thần trong văn hóa Đồng Bằng Sông Cửu Long theo Trần Văn Chi, mặc dầu ông nói phớt qua:

a. Dễ có tình thân hữu, Trần Văn Chi gọi là ôn hòa, thực tế:
Ta tới nhà ai thì thường được mời cơm nước: Có gì ăn nấy. Nếu trong nhà có người đàn ông sồn sồn thì thế nào cũng được mời rượu đế. Nhà hơi khá thì thế nào cũng bắt gà, và dĩa lòng đưa lên đám đàn ông nhậu lai rai trước. Tình thân đó đưọc biểu lộ trong câu ca dao: Tới đây mượn chén ăn cơm, mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi…

b. Lòng nhân nghĩa sắt son:
Chuyện tiền tài như phấn thổ, chuyện Vân Tiên đánh Phong Lai rồi không nhận tiền bạc biểu lộ cho nguyên lý tình nghĩa mới quan trọng, ngoài ra thì chẳng có gì đáng nói:
"Lòng qua ( tôi ) như sắt, nói chắt một lời. Bạc tiền chẳng trọng, trọng người tình chung."
hay:
"Ngọc lành ai lại bán rao, chờ người quân tử em giao nghĩa tình."
"Bạn bè mỗi lúc mỗi đông, Thạch Sanh thì ít, Lý Thông thì nhiều" không phải là chuyện thường thấy ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.

c. Lòng người đơn giản, thành thực, Trần Văn Chi gọi là tính hiếu khách
Sự làm màu mè, muốn lắm mà "em hổng chịu đâu", đói bụng muốn rã rời đến nhà ai được mời ăn cơm thì luôn miệng nói "dạ con ăn cơm rồi, con tới chơi thôi không ăn cơm đâu" là câu nói mời không phải của dân Đồng Bằng Sông Cửu Long. Người ở đây chỉ cần nói "Dạ, xin phép bác" là xà vô, dầu nhà đó mình đương ngấm nghé con gái người ta.
Chỉ cần thêm đũa thêm chén là đủ.


d. Lòng trung hiếu:
Ở vùng nào của nước Việt, người ta cũng lấy trung hiếu làm đầu, nhưng ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh, lòng trung hiếu được nhắc nhở nhiều trong ca dao và sách vở:
‘Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá, ngó dưới biển thấy cặp cá đương đua
Anh về lập miễu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.’

Những đặc tánh tinh thần nầy nếu phân tích chi li hơn ta còn có thể kể thêm nhiều nữa, nhưng tựu trung ta thấy vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh là nơi sanh sống của những người thuần hậu hiền lương của những thế kỷ trước mà hiện nay đã mờ nhạt đi nhiều do hoàn cảnh xã hội đổi thay, do luồng gió độc hại từ nơi nầy nơi kia thổi vô.

Đó là yếu tố văn hóa của tinh thần. Yếu tố vật chất, Trần Văn Chi nhắc tới những cảnh địa đặc biệt của
1. kinh Vĩnh Tế,
2. chùa Tây An,
3. đồng Tháp Mười với đặc sản chim cò, với mắm kho bông súng,
4. ngã bảy Phụng Hiệp nổi tiếng nhờ ghe thuyền tấp nập tạo thành chợ nổi do là điểm hội tụ của bảy con kinh song song mà soạn giả Viễn Châu đã cảm hứng sáng tác nên bài ca bất hủ "Tình anh bán chiếu"… ,
5. những bến bắc như bắc Chợ Gạo… , bắc Cần thơ, bắc Rạch Miễu, và 6, 7 bến bắc khác mà người địa phương chưa chắc ai đã từng đi qua hết những bến bắc nầy để hưởng được những sinh hoạt như bán trái cây chục 14, 16… Như thịt chim se sẻ quay, thịt chuột đồng quay, thịt cu quay…
6. Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm, có chợ Mới đẹp đẽ hiền hòa, có chùa Tây An hơn 100 năm danh tiếng…

Tôi không thể kể hết những điều tôi gọi là yếu tố văn hóa của Đồng Bằng Sông Cửu Long mà ông Trần Văn Chi nêu ra trong quyển sách vào khuôn khổ một buổi nói chuyện mà thì giờ của quý vị là quý báo ( báu ). Những điều đó ta đọc tới đọc lui sẽ thấm thía rằng có một nơi tình người sâu đậm mà chơn chất, dân chúng ở đây có cuộc sống không giàu tiền giàu bạc nhưng giàu lòng hào sảng. Nơi đã hun đúc nên những nhân vật lịch sử như Phan Thanh Giản, Phan Văn Trị, Võ Trường Toản, Trương Vĩnh Ký… ngày xưa. Và gần đây đã tạo nên mấy vị tướng tài ba biết sống biết chết đúng lúc, để lại sự tiếc thương cho bao thế hệ đi sau.

Quyển “Bảo Đại, Vị Hoàng Đế Cuối Cùng của Triều Nguyễn” của Trần Văn Chi cho ta những giây phút thú vị về một phần văn hóa Việt ăn sâu vào tâm não. Nó nhắc đến công lao xây dựng vùng đất mới miền Nam với các chúa Nguyễn, bảo tồn một đất nước thống nhất với các vua nhà Nguyễn, giành lại một cơ ngơi đã mất từ tay thực dân bằng phương pháp hòa bình của quốc trưởng Bảo Đại… Nó giới thiệu những vùng đất thân thương ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đến người xa xứ chúng ta như Châu Đốc, Hậu Giang, Đồng Tháp Mười, Ngã Bảy Phụng Hiệp, Tha La Xóm Đạo, Cù lao Ông Chưởng… Nhưng đặc biệt nhứt nó gợi ra cách sống và tâm hồn thuần hậu của người dân ở đây mà đời sống cập rập xa xứ như chúng ta tưởng chừng đã quên: điệu nghệ, hào sảng, mời mọc thiệt tình, không tính toán, chẳng để tâm thù vơ oán chạ, bạn bè chí thiết, tình vợ chồng chung thủy…

Tóm lại, Trần Văn Chi lượm lặt những điều tưởng tượng như là nhỏ mọn và tầm thường – như cục đất – của dân tộc, nhưng khi ông đưa đến ta chúng đã trở thành những hòn ngọc văn hóa đáng bảo tồn.

Phải chăng nhờ cách viết lang mang, nhẹ nhàng, có một chút gì đó phóng túng, không chủ yếu đi vào mặt nghiên cứu mà chủ yếu đi vào mặt tâm tình khiến cho chúng ta đang và sẽ yêu thích những quyển sách nhẹ nhàng của Trần Văn Chi.
NGUYỄN VĂN SÂM, 13.8.2017


Nhận xét thêm:
Thống kê cho thấy ở Nam Kỳ Lục Tỉnh tỉ lệ Kitô Nhân so với dân số thấp hơn mức trung bình toàn quốc rất nhiều. Một số lớn Kitô Nhân ở Nam Kỳ Lục Tỉnh là người có gốc từ Miền Bắc di cư đến như ở miền Rạch Giá thuộc Giáo Phận Cần Thơ. Ngoài ra trong hàng giáo phẩm còn có rất đông không phải là người địa phương như Giám Mục Nguyễn Văn Khảm, Giáo Phận Mỹ Tho, có sinh quán tại tỉnh Hà Đông. Như thế sứ mạng Báo Hỉ về Thầy Hai Thế Độ ( Loan Báo Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô ) tại Nam Kỳ Lục Tỉnh có hiệu quả chưa cao.

Giáo Phận
Số Linh Mục
Số Giáo Dân
147
187.846
157
240.000
110
126.560
209
199.404

Ta hàng liên lỉ cầu xin điều rất đẹp lòng Chúa, lẽ nào Chúa chẳng nhận lời ta: Lạy Chúa xưa Chúa đã phán: Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt Chúa hãy ban nhiều thợ biết nhiệt thành. Để nước Chúa rộng lan khắp nơi. Xin Chúa ban cho đoàn chúng con nên Tông Đồ thiện toàn mở Nước Chúa Trời.
Nếu Chúa chỉ muốn có các Tông Đồ thiện toàn thì Người đâu có chọn đám đánh cá nhà quê thất học nông nổi trong đó nổi bật nhất là Phêrô mà Người biết trước là sẽ chối bỏ Người đến 3 lần, hay thu thuế tội lỗi như Mạnh Ân ( Mátthêu ), như vậy hình như chưa đủ cho bộ sưu tập các Tông Đồ, Người còn bổ túc thêm Phao-lô, kẻ bách hại các Kitô Nhân tiên khởi.
Ta quan niệm thiện toàn là phải theo Tây học, biết các ngoại ngữ xa lắc xa lơ, am hiểu triết học, thần học, văn chương, nghệ thuật, linh đạo, tu đức, hạnh các thánh Âu Châu. Vẫn chưa đủ, dù nhìn thì giống như mọi người khác, mũi tẹt da vàng, như ta lại là các Đức Cha, các Cha Phanxicô Xaviê, Gioan Baotixita, Stêphanô… Mới hôm qua còn là anh Năm, chị Sáu, bà Mười, “rửa tội” xong bỗng thành anh Đôminicô, chị Cêcilia, bà Têrêsa… Bắt buộc phải nhận một vị Thánh có những cái tên kỳ lạ, sống cách đây cả ngàn năm, sống cách nửa vòng trái đất làm gương mẫu mà ít am tường “linh đạo” của vị quan thầy.
Điều 855 trong bộ Giáo Luật ban hành 1983 chỉ nhắc cha mẹ, người đỡ đầu, người chăn không được chọn tên trái nghịch với tinh thần Kitô như Satan, Lucifer… không hề đòi hỏi mỗi người phải có một tên thánh – Can. 855: Parents, sponsors, and the pastor are to take care that a name foreign to Christian sensibility is not given.
Trong khi đó Phật Tử lại có thể tự chọn những pháp danh thâm thúy phản ánh tâm nguyện của họ như Diệu Tâm, Phước Minh, Thiện Thành…
Quan trọng hơn cả là ngôn ngữ trong Đạo phải là của đời thường. Thầy Tư ( Giám Mục ) Nguyễn Khảm trong một bài chia sẻ về Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được đưa lên YouTube có nói về một số phản hồi của Hiền Nhân ( Lương Dân ) về Ngắm thứ 3 trong 5 Sự Vui của Kinh Mai Khôi: “Cuộc đời đã có đầy rẫy khó khăn, còn xin thêm khó khăn làm gì nữa.”

Mình nói gì người ta không hiểu, hoặc hiểu khác ta, thì ta phải có bổn phận thay đổi đi từ ngữ của ta, không thể bắt người ta hiểu theo ý của ta được.
Đối chiếu với lời nguyện trong tiếng Anh: 3rd joyful mystery – The nativity of Jesus in Bethlehem – Let us ask Mary to make us love Jesus more, and also the gift of poverty of spirit. Có thể tạm đề nghị thay đổi như sau: Ta hãy xin Mẹ Maria giúp ta yêu mến Chúa Giêsu nhiều hơn và có được tinh thần khó nghèo.

Bản thân người viết chỉ là một Kitô Nhân bình thường, nhưng trong cương vị một Giám Mục, khi nhìn ra 1 điều cần sửa đổi thì có bổn phận bắt buộc trước mặt Chúa và Đàn Chiên Của Chúa, trong năng quyền của mình, phải thi hành điều đó.

Đây là sự nhậy bén của người Tông Đồ, đặt mình vào vị trí của người bình thường để tự vấn xem họ có thể hiểu được ta hay không. Nếu họ không hiểu thì phải thay đổi cách nói của ta đi. Phải nói bằng ngôn ngữ, văn phong, tâm tình, nhất là sự khiêm tốn và bình dị của đời thường. Có lẽ đó mới là sự thiện toàn duy nhất mà Chúa mong mỏi nơi ta.

NGUYỄN THẾ TRUNG (Ephata 759)
Được tạo bởi Blogger.