NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 1


“Evangelizo vobis gaudium magnum... ” ( Lc 2, 10 )

HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC

Kính gửi cha mẹ, các bề trên, giáo sư, ân nhân và bạn hữu

để tỏ lòng biết ơn vì bao khích lệ, giúp đỡ, hợp tác và bao dung

trong suốt cuộc đời Linh Mục của tôi.

Lm. Roco Nguyễn Tự Do, DCCT, 8.9.1956 – 2006

NHỮNG CỘT MỐC



1. VIẾT HỒI KÝ

Hôm nay, 6.9.2005, tôi kỷ niệm lần thứ 77 ngày lãnh nhận Thánh Tẩy tại Nhà Thờ nhỏ của Giáo Xứ Nhân Lộ, Giáo Phận Thanh Hóa, bởi tay vị Linh Mục khả kính: cha già Phong. Tôi không quên khung cảnh của ngôi Nhà Thờ đó, với hai cái ao, với tháp chuông, với đường kiệu quanh Nhà Thờ được lát gạch nung, đây đó có cây hoa đại, và cảnh Nhà Xứ thầm lặng mà mỗi lần bước vào, tôi cũng như mọi Giáo Dân khác, luôn luôn khép nép kính cẩn. Ở ngoài cổng vào Nhà Xứ là phòng khách, nơi Cha Xứ tiếp khách. Không mấy ai được ngài tiếp trong Nhà Xứ. Tôi vẫn nhớ là chả mấy khi được ngồi lúc gặp Cha Xứ, nhất là bọn nhi đồng chúng tôi.

Lm Roco Nguyễn Tự Do (1928-2011)

Ngôi Nhà Thờ không lấy gì to tát vĩ đại, nhưng đối với tôi lúc ấy nó thật mênh mông. Đi từ cuối Nhà Thờ đến nơi dành cho thiếu nhi gần Cung Thánh là một hành trình dài dẵng, qua bao cặp mắt của người lớn, của các ông bà Quản. Nhưng người theo dõi tôi kỹ càng nhất chính là mẹ tôi. Bà cần biết tôi đã về nơi để dự lễ, và từ chỗ của bà, bà theo dõi từng động tác của tôi. Có gì đáng trách, bà sẽ hỏi ngay khi xong lễ. Bà đứng chờ tôi tại cửa Nhà Thờ. Bà rót nhẹ vào tai: “Con đã làm gì lúc nẫy... ?”

Đã từ lâu tôi thường mừng kỷ niệm ngày Rửa Tội của tôi, coi ngày đó đáng nhớ hơn cả sinh nhật ( 28.8.1928 ) Tôi muốn nhớ mãi ngày được làm con Chúa, sau khi đã được làm con của cha mẹ tôi, của người trần.

Trong vài ngày nữa, tôi cũng sẽ mừng kỷ niệm đời Linh Mục của tôi bước vào năm thứ 50, và tôi muốn đánh dấu ngày này, suốt cả năm này bằng những trang hồi ký này.

Hồi Ký tức là viết về mình. Người ta thường nói: “Cái tôi khả ố”, dễ ghét, đáng ghét. Viết về mình không phải để “mèo khen mèo dài đuôi”, nhưng tôi ước mong đời mình gióng lên một lời tạ tội và biết ơn. Cuộc đời của con người càng kém cỏi bao nhiêu thì càng chúng tỏ lòng nhân hậu của Chúa bấy nhiêu. Tôi thầm nghĩ có lẽ Thiên Chúa cũng muốn mỗi người chúng ta ca tụng Chúa bằng cả cuộc đời của mình, bằng chính những yếu đuối tội lổi của mình. Chính những tội lỗi ấy là dịp thuận tiện làm chứng cho lòng yêu thương lân tuất của Chúa hơn là những việc tốt ta làm được, vì bản chất của Thiên Chúa là chính lòng thương nhưng-không: “Ngài đã đoái đến phận hèn tôi tớ...”

Tôi không viết hồi ký để làm bảng kê khai những tội lỗi của tôi. Chả thấy Chúa Giê-su kê khai tội lỗi của ai hay bắt người ta phải rành rọt kể lại những tội lỗi của mình, Ngài chỉ đòi một thái độ sám hối, lòng Tin và nhất là Mến. Tôi chỉ muốn được nghe Chúa nói như Ngài đã nói về Mai-đệ-liên: “Được tha nhiều vì đã mến nhiều”.

Tê-rê-sa Hài Đồng có nói rằng: “Nếu tôi phạm hết mọi tội lỗi có thể trên trần gian này, thì tôi vẫn tin ở tình yêu thương nhân hậu của Thiên Chúa”. Tê-rê-sa chỉ nói thế thôi chứ chị đã sống một cuộc đời tươi sáng tinh anh trong chốn Tu Viện. Đời của tôi đã dài gần gấp 3 đời của Tê-rê-sa và tôi đã có đủ thời giờ để phạm tất cả mọi tội lỗi trên trần gian này, và tôi muốn thực hành điều Tê-rê-sa đã nói trong phần 2 của tư tưởng của chị: Tin vào Tình Thương của Chúa.

Kể lại đời mình là để chứng tỏ niềm tin ở Tình Thương của Chúa đối với mình, đồng thời làm chứng cho Tình Thương bao la ấy đối với một con người cụ thể. Chúa yêu thương một người cũng trọn vẹn như đối với tất cả nhân loại. Mỗi người cảm nhận tình thương của Chúa trọn vẹn như chính Chúa là Tình Thương duy nhất. Hạnh phúc của một con người là điều Chúa muốn, như hạnh phúc của tất cả mọi người trong nhân loại là điều Thiên Chúa thiết tha.

Tôi đã nhận lãnh Tình Thương của Chúa cách trọn vẹn đồng thời với tất cả mọi hồng ân, sự cứu giúp, đùm bọc che chở, như Chúa chỉ có một mình tôi để thi thố tình thương của Người. Chỉ có một điều quan trọng là tôi đã có lúc từ chối Tình Thương ấy, đồng thời từ chối những phương thế mà Chúa ban để được hưởng trọïn vẹn đến mức tối đa những hiệu quả của Tình Thương ấy: Tình Thương không biên giới !

Một lỗ còng trên bờ biển hút nước no say, nhưng đại dương vẫn không hề suy giảm, và từng triệu triệu, từng tỉ tỉ lỗ còng trên khắp mọi bờ biển vẫn không ảnh hưởng gì đến mực nước biển mát xanh dưới mọi bầu trời.

Tôi đã từng tham dự các buổi lễ tạ ơn Tân Linh Mục, Ngân Khánh, Kim Khánh và cả Ngọc Khánh Linh Mục. Anh hùng của buổi lễ luôn nhắc nhở đến Tình Thương của Thiên Chúa đối vối các ngài, mặc dầu các ngài xưng mình chỉ “là đầy tớ vô duyên, vô duyên bất tài”, là “đầy tớ vô dụng”... Tôi nghe như thế mãi, và khi tuổi đời Linh Mục của tôi càng lớn, đạt Ngân Khánh và bất ngờ thay, sắp đạt Kim Khánh, tôi thử nghĩ xem mình sẽ mừng kỷ niệm ấy ra sao. Mừng mà không nói lại những gì mình đã nghe quá nhiều, mừng với những tư tưởng “khác đời, khác người”. Ấy thế mà càng nghĩ, tôi càng thấy không có gì hơn là nói lại chính lời tạ ơn đó, nói lại sự bất xứng bất tài của mình là một sự thật hiển nhiên và chân thành nhất, đúng nhất. Thế nhưng.....

2. TRAO SỨ VỤ VÀ PHONG CHỨC


Tôi nghĩ vẩn vơ: cá nhân tôi chưa bao giờ có dịp chứng kiến một nghi lễ tấn phong gì bên tôn giáo bạn Phật Giáo. Tôi chưa nghe nói đến lễ Kim Khánh, Ngân Khánh mừng quy y, lãnh chức Tăng Ni, Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng của một vị lãnh đạo Phật Giáo. Có thể có nhưng tôi không được biết.

Tôi có quen thân với Hòa thượng Thích Trí Dũng, trước ở Phổ Quang Tự và sau về Thủ Đức với cơ sở riêng nơi có chùa Một Cột. Vì không có biểu tượng hay dấu chỉ bên ngoài mà chỉ với chiếc áo nâu tầm thường, tôi cứ xưng ngài là Thượng Tọa, đang khi ngài đã là Hòa Thượng từ thuở nào rồi. Tôi đã phải xin lỗi ngài và ngài vẫn tỏ ra không mấy khó chịu về cách xưng hô sai lầm của tôi. ( Ảnh: Thượng Tọa, sau là Hòa Thượng Thích Trí Dũng cùng hợp tác trong chương trình Phát Thanh Tôn Giáo và Đời sống. )

Báo chí cũng không đem lại cho tôi tin tức về những lễ mừng các Mục Sư hay Giám Mục bên Tin Lành... Tôi nghĩ có lẽ tại mình không biết thôi. Chấp nhận như thế. Nhưng thành thật mà nói: Công Giáo ta thì đầy dẫy !

Trên bình diện một Giáo Xứ, một Địa Phận và đến cả Giáo Hội toàn cầu, Lễ Kim Khánh Linh Mục của Đức Gio-an Phao-lô 2 mang tính cách toàn cầu khi ngài mời đến Rô-ma mấy ngàn Linh Mục đã thụ phong một năm với ngài và cũng mừng Kim Khánh Linh Mục trong năm.

Trở lui lại ngày “thụ phong”. Đó là ngày lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, 8.9.1956. Anh em cùng lớp Linh Mục năm đó có 8 người: Đinh Khắc Tiệu, Đinh Ngọc Quế, Trần Đình Phúc, Nguyễn Tự Do, Nguyễn Hữu Phú, hai cha Vũ Văn Phát và Nguyễn Thiết Đỉnh đã chịu chức trước đó mấy ngày. Cùng ngày có cha Thống từ Đại Chủng Viện Quy Nhơn vào Dòng khi đã có chức bốn. Ba trong số các anh em đó đã qua đời: Cha Đỉnh ngày 6.10.1966: Cha Phát ngày 26.8.1995 và cha Thống ngày 26.9.2005.

Cha Bề Trên Phụ Tỉnh lúc đó là cha Alphonse Tremblay. Trước đó ngài cũng là vị Giám Học của chúng tôi sau nhiệm kỳ của cha Thomas Côté. Hai vị Giám Học tuyệt vời này đã để lại dấu ấn sâu đậm nơi chúng tôi. Cha Giám Học lúc chúng tôi nhận tác vụ Linh Mục là cha Tê-pha-nô Chân Tín, người Việt Nam đầu tiên mang trọng trách này sau khi đã du học Rô-ma. Ngài cũng là giáo sư Thần Học Tín Lý và đã đưa chúng tôi vào một nền thần học “Quy Ki-tô” và “Quy Giáo Hội”. Tôi luôn quí mến biết ơn ngài. Hiện nay, mặc dầu đã 86 tuổi, ngài vẫn nhiệt tình dạy Giáo Lý cho các Dự Tòng và hăng say việc truyền giáo tại Giáo Điểm Cần Giờ, nơi ngài đã phải “lưu trú” trong 3 năm. Đó là những người thầy mà Chúa Quan Phòng đã ban cho chúng tôi, cùng với những giáo sư không quên được như cha Charles Eugène Raymond, giáo sư Thần Học Luân Lý, cha Giu-se Nguyễn Thế Thuấn, giáo sư Kinh Thánh rất lỗi lạc và đạo đức.

Hiện diện trong Thánh Lễ phong chức, còn có cha Antonio Boucher, cha Giám Tập của tôi, các cha các thầy trong Dòng. Người thân của tôi có chị tôi, Nữ Tu Marie Louise Minh Sâm, em tôi, Giu-se Nguyễn Tiến Hanh và anh Phan-xi-cô Khổng Minh Thư, người đã đem tôi vào DCCT. Vị Giám Mục phong chức cho chúng tôi lại là Đức Cha Louis De Cooman Hành, Giám Mục Thanh Hóa, người đã ban phép Thêm Sức cho tôi hơn 20 năm trước vào ngày 25.3.1935. ( Ảnh: Bức ảnh Kỷ niệm ngày lãnh tác vụ Linh Mục do cha Bề Trên Phụ Tỉnh Alphonse Tremblay tặng với lời chính tay ngài ghi ).

Tôi sẽ nói thêm về ngày tôi lãnh tác vụ Linh Mục trong mấy đoạn sau. Đây là cảm nghĩ của tôi về “Lễ Phong Chức”. Trong quá khứ, các lễ “Phong chức” Linh Mục được cử hành đơn giản hơn ngày nay. Là một biến cố lớn trong Dòng cũng như trong các Giáo Phận, nhưng khía cạnh thiêng liêng nổi bật. Trước ngày trọng đại ấy là những ngày “cấm phòng” nhặt. Các “tiến chức” không quan tâm đến khách mời, đến phẩm phục, tiệc tùng, đưa rước... Các vị chỉ có một việc là cầu nguyện, là suy niệm trong thinh lặng và xa vời với mọi thứ lễ lạt hào nhoáng bên ngoài.

Tôi nhớ lúc chịu chức, năm 1956, chúng tôi không biết trước ai sẽ có mặt dự lễ, kể cả người trong gia đình. Ngay sau khi chịu chức mới là những gặp gỡ người thân thuộc, gia đình, với những phép lành đầu tiên, với tất cả “tấm lòng và hai bàn tay còn thơm dầu Thánh”. Thế rồi các Tân Linh Mục được mừng trong bữa cơm trưa hôm ấy. Ngày hôm sau, thời ấy chưa có lễ đồng tế, một anh em dâng lễ cho cộng đoàn, các người khác dâng lễ nơi bàn thờ nhỏ, sau đó cuộc sống mới tiếp tục như “cũ”.

Ngày nay, tôi có cảm tưởng như “được Phong chức Linh Mục” là một ân huệ “giữa đời”. “Thành đạt”, “khai mạc một nếp sống mới”, “Thăng quan tiến chức” với nhiều điều sáng sủa vinh quang hơn. Do đó, đời Linh Mục khai mạc trong tiệc tùng, đón rước, quà cáp, vinh dự và... tiền bạc của cải! Tôi không thích lắm các cuộc “Lễ tạ ơn” kéo dài cả tháng và có khi cả mấy tháng trời. Tôi có cảm tình với Đức Cha Phao-lô Ma-ri-a Nguyễn Minh Nhật khi ngài quy định việc hạn chế các cuộc yến tiệc mừng các tân Linh Mục trong Giáo Phận của ngài.

Nghe nói có một vài Giám Mục khác cũng theo đường hướng đó. Dĩ nhiên không phải ai cũng hưởng ứng. Ở đâu đó người ta vẫn mừng “trọng thể”, để “tạ ơn”. Và để không trái với lệnh phải hạn chế số người dự tiệc, người ta đã làm nhiều nữa tiệc mà số khách vẫn “đúng tiêu chuẩn”. Cũng có những bữa tiệc được tổ chức ngoài vùng đất trách nhiệm của vị Giám Mục. Tôi không hứng thú mấy với những sự ấy. Không hiểu mình có “cổ lỗ xĩ” không, hay là tôi đã “ghen” với các thế hệ ngày nay “may mắn” hơn mình ngày xưa chăng !

3. CON BÁC THỢ MỘC...

Do bởi quan niệm Linh Mục là một chức “cao quyền trọng”, được “thăng chức Linh Mục”, và sau đó là “vinh quy” đã làm cho nhiều người hiểu và hành động sai lệch, đồng thời đưa đến những tiếng đồn hư hư thực thực là có những người đã đóng “cây” để được phong chức hay cũng đã “buộc lòng” chấp nhận một số “dạy dỗ”, “điều kiện” làm mất sự thư thái độc lập trong việc thi hành nhiệm vụ. Lắm tiếng đồn !

Nghiễm nhiên một người trẻ tuổi chưa quá 30 mà được chính thức gọi là “cha”, và cha mẹ của vị tân Linh Mục nghiễm nhiên được thăng chức “ông cố, bà cố”. Rõ ràng là một biến cố, một cuộc “đổi đời”. Những gì “của cha”, hay liên hệ đến cha như cũng đuợc thăng chức.

Cha Bernard Haring, trong cuốn: “Giáo Hội cần loại Linh Mục nào ?“ tập hợp những kinh nghiệm góp nhặt trên đường đời, đã kể lại câu chuyện về con chó của cha sở như sau: “Lúc đi một mình, tôi tự võ trang bằng vài cục đá để tự vệ, phòng chống khả năng con chó có thể tấn công bất cứ lúc nào. Vào một ngày như thế, con chó của cha sở chứng tỏ thế “thượng phong” của nó và tấn công tôi. Nó cắn đúng vào chỗ kín của tôi. Hoảng sợ, tôi chạy về nhà với mẹ, khóc bù lu bù loa suốt con đường. Sau khi chăm sóc vết thương cho tôi, mẹ tôi dẫn tôi đến Nhà Xứ và xin gặp cha sở để ngài tận mắt chứng kiến những gì con chó hung dữ của ngài đã gây cho tôi. Người giúp việc của ngài lạnh lùng trả lời: “Con Ki không vô cớ tấn công ai bao giờ”.

Chưa hết. Nhiều năm sau, ngài đã là Linh Mục và được mời về giảng tại xứ nhà. Tối kia, sau khi xong nhiệm vụ, ngài trở về Nhà Xứ. Con chó lại sủa inh ỏi. Cha kể: “Vì chẳng ai chú ý, tôi đánh liều mở cửa và lập tức bị con chó độp một phát vào cổ. Hoảng hồn, tôi kêu thét lên. Nhưng một lần nữa, tôi hết sức ngạc nhiên và không thể tin vào tai mình khi nghe có tiếng nói vọng ra: “Con Ki không bao giờ vô cớ bắt nạt ai”. Thế đấy, đến con chó của cha sở cũng “vô ngộ” như cha sở!

Rồi từ ngày làm “cha”, cuộc sống “lột xác”, đổi thay, lên cấp. Chắc chắn là thêm việc, và do đó thì không còn thời giờ cho nhiều việc khác. Có nhiều Giáo Dân đã phát biểu về những Tân Linh Mục sau vài tháng nhận tác vụ: “Lúc làm thầy thì dễ thương, nhã nhặn, khiêm tốn mà làm “cha” rồi thì kênh kiệu, cao vời và không coi ai ra gì nữa. ”Tôi biết có một Tân Linh Mục được bổ về làm phó một Giáo Xứ hơi xa thành phố. Trước khi về nhận nhiệm sở, vị Linh Mục đó làm một cuộc thăm dò về xứ mới. Nơi đây không có nước máy. Nhà Xứ, như mọi nhà Giáo Dân, dùng nước ở một cái mương suối chảy qua, có hơi nhuốm mặn. Linh Mục phó xứ đưa ra mấy điều kiện với Cha Xứ già: phải có nước mưa cho ngài tắm mỗi ngày vì... , phải sắm cho ngài một chiếc xe gắn máy đề ngài còn lui tới thành phố học hành thêm...

Xem lý lịch của nhiều Linh Mục, dễ dàng nhận thấy rất nhiều người xuất thân từ những gia đình nghèo, nơi vùng quê, nơi mà cái nhà tắm và toilette là vườn ngô. Có những người đã từng làm ruộng, chăn bò, bắt ốc nơi ao đìa, thế mà khi làm Linh Mục rồi thì đã vội quên nguồn gốc của mình để có những đòi hỏi yêu sách của nhà giàu và bậc quý phái. Quên đi “Con bác thợ mộc... ”

Đức Cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi là một vị Giám Mục mà tôi từng tiếp xúc và biết những công việc ngài làm trong phạm vi xây cất, xã hội và bác ái. Trong nhiều năm, ngài vẫn dùng một chiếc xe hơi cũ. Trong các cuộc thăm viếng mục vụ, không ít lần chúng tôi đã chứng kiến cảnh vị Giám Mục xắn tay áo sửa xe khi có sự cố. Vị Giám Mục đã từng cho xe dừng lại để phủi bụi bám vào áo Dòng trước khi đến địa điểm hành lễ. Chúng tôi đã gặp các em của ngài. Họ vẫn tiếp tục sống đơn giản trong những căn nhà tầm thường, bán nước giải khát bên vệ đường vùng Hàng Sanh.

Đức Giám Mục Phao-lô Tịnh Nguyễn Bình Tĩnh để chúng tôi ngồi lại phòng khách để đi vào bên trong đem ra mấy chai nước tiếp khách bởi ngài có thói quen “tự lo như thế” từ trước. Đức Cha Giu-se Nguyễn Quang Tuyến, Giám Mục Bắc Ninh thương đi thăm mục vụ những Giáo Họ xa xôi hẻo lánh, tìm bụi bờ để giải quyết các đòi hỏi tự nhiên. Chấp nhận những điều kiện sinh sống và hoạt động, thi hành nhiệm vụ trong những điều kiện bình dân nhất. Đức cha Bartholomeo Nguyễn Sơn Lâm bao giờ cũng có mặt đón khách và đưa khách rất thân tình. Đức cha G. Nguyễn Chí Linh cùng dọn bàn sau khi ăn và đưa chén bát vào nhà bếp. Đức cha Gia-cô-bê Nguyễn Văn Mầu chỉ hút thuốc Bastos rẻ tiền, dành loại ba số cho khách...

Tôi nhớ vào đầu thời gian hoạt động Linh Mục, tôi được Bề Trên sai đi vùng Hoài Nhơn, thuộc Giáo Phận Qui Nhơn để giúp Tân Tòng. Cha Xứ, cũng tên Nhơn, gây cho tôi ấn tượng đầu đời Linh Mục. Đó là một Linh Mục bình dân, khắc khổ nhưng tràn ngập nhiệt thành tông đồ. Ngài xin tôi mở các cuộc nói chuyện với đồng bào bên lương. Với vốn liếng hiểu biết vế các tôn giáo mà tôi có được qua các bài thuyết dạy của cha Gérard Gagnon Nhân, nhờ những kinh nghiệm sống tôi đã có được qua những cuộc học hỏi ở các Chùa tại Đà Lạt, nhất là Chùa Linh Sơn, tôi thấy vững tâm khi đương đầu với từng mấy ngàn người kéo về nghe và không ngại chất vấn tới nơi tới chốn.

Các buổi thuyết giảng kéo dài từ 7 giờ tối đến khoảng 10 giờ và có khi 11 giờ đêm. Dân chúng ngồi dưới đất, giữa ruộng, giữa sân, nơi bờ biển. Chúa cho tôi có giọng nói mạnh, rõ ràng và chinh phục được người nghe. Tìm đâu ra những hệ thống âm thanh nơi đô thị ở chốn nhà quê này. Mấy năm sau, trở lại thăm Cha Xứ, được ngài cho biết: “Cha phải đi thăm lại tất cả các nơi cha đã giảng ngày trườc. Nay ở đâu cũng có Nhà Thờ Nhà Nguyện và cả trăm người Tân Tòng”. Tôi không nghĩ rằng đó là kết quả của các bài diễn giảng của tôi mà là do lòng nhiệt thành, chí tông đồ của ngài và sự hợp tác của các Giáo Lý Viên, những Tông Đồ Giáo Dân được Cha Xứ hướng dẫn và sự thúc đẩy của vị Giám Mục tôi rất quý mến, Đức Cha Phê-rô Ma-ri-a Phạm Ngọc Chi.

Nhưng điều tôi muốn nêu lên ở đây là cuộc sống của Thừa Sai. Nhiều nơi ngưới ta “quên” cho tôi ăn. Đạp xe 10 cây số để cấp tốc phải lên diễn đài, vì “người ta chờ đợi lâu lắm rồi”. Một ly nước chè nóng giải quyết mọi mệt nhọc trên những con đường làng, ven bờ ruộng hay những đường lối quanh co của núi đồi. Xong việc, người ta chỉ cho tôi một căn nhà hay một cái phản ở cổng đình hay nhà nào đó, rồi ai nấy rút lui. Nằm lại một mình, không có gì ăn, không nơi vệ sinh. Mệt quá, cứ lăn ra ngủ. Về sau, rút kinh nghiệm, chúng tôi đem theo vài hộp sữa, và khi không còn ai thì nút sữa cho đỡ đói. Cứ đi mấy ngày như thế xong, Cha Xứ lại cho chúng tôi về lại Nhà Xứ để lo tắm rửa, vệ sinh, nghỉ ngơi một hai ngày rồi lại lên đường đến địa điểm mới. Cha Xứ cũng không làm gì khác, và luôn nụ cười trên khuôn mặt phúc hậu...

Có điều chúng tôi không làm được tức là ban ngày giảng dạy và tối đến thì cầu nguyện một mình trên núi, như Chúa Giê-su đã từng làm. Nhưng rõ ràng người Thừa Sai cũng không hơn gì nhưng còn có một nơi gối đầu. Thỉnh thoảng Chúa ghé mấy nhà quen và ân cần như gia đình của mấy chị em La-da-rô. Ngài cũng có một thân xác yếu hèn, lắm nhu cầu như ta. Điều muốn nói ở đây là đã phục vụ người nghèo thì đừng đòi hỏi những gì người nghèo không thể đòi hỏi được, có sao thì chấp nhận như vậy, chấp nhận kham khổ, thiếu thốn và cố gắng “trở nên một người giữa mọi người”, như cách nói của cha B. Haring. Người Linh Mục không quên nguồn gốc của mình, nguồn gốc nghèo, bình dân, như các Tông Đồ là những người lao động, đánh cá tầm thường.

Chúa Giê-su có khả năng để chọn những kẻ khôn ngoan, những người giàu sang và quyền thế để làm Tông Đồ. Nhưng Ngài lại chỉ chọn những kẻ bình dân, những ngư phủ, người lao động và hèn kém trong xã hội, để thế giới không thể gán cho sự tinh khôn, tiền bạc và thế lực là sức đẩy để “Tin Mừng lan tràn khắp thế”, một giấc mơ bá chủ vĩ đại của con người lầm than suốt đời được biết đến như là “Con bác thợ mộc Giu-se”.

Tôi đã từng được nghe giảng dạy và tuyên bố Giáo Hội cho người nghèo, noi gương Chúa Ki-tô được sai đến để “loan Tin Mừng cho người nghèo khó”. Phục vụ người nghèo như một đối tượng ưu tiên, thế nhưng cuộc sống của nhiều vị lãnh đạo vẫn có mùi giàu sang và tỏ ra thích hào nhoáng. Có một số tác giả – thần học gia, sử gia – đã thích trở về nguồn và “moi ra” những dấu vết của sự rềnh ràng sa hoa hào nhoáng trong Giáo Hội, kể từ thời mà có các “Linh Mục của triều đình”, “Giám Mục của hoàng đế” với những đặc ân, đặc quyền, đặc lợi. Những cách kêu gọi, xưng hô trước nay không lâu: Son Eminence, Son Excellence Monseigneur, Révérendissime, Révérend... đều mang mùi mẫm triều đình...

Và Giáo Hội, qua các vị Giáo Hoàng Gio-an 23, Phao-lô 6, Gio-an Phao-lô 2 đã dần dần có những đổi thay. Người ta còn nhớ khi Đức Phao-lô 6 cắt bớt cái “đuôi” dài đến 3 thước trong phẩm phục của các Hồng Y, thì đã có những sự phản đối khá kịch liệt tại Giáo Triều Rô-ma. Đời tôi đã chứng kiến những sự đổi thay: đôi giầy của vị Giám Mục được bưng trang trọng trong các lễ nghi đại trào, triều thiên ba tầng, chiếc kiệu tám người khiêng đã được thay thế bởi một chiếc xe đơn giản. Tuy vậy, tôi không bao giờ muốn làm cách mạng, nên trong những trường hợp công khai, tôi vẫn dùng cách xưng hô “cao cả” nêu trên.

Trong cuốn phim về DCCT Việt Nam, tôi vẫn trịnh trọng dùng “Révérendissime Père Général, Très Révérend père... để chỉ về các Bề Trên cao cấp trong Dòng. Cuốn phim đã được chiếu tại Rô-ma, và có người hiện diện đã cho tôi biết là các vị tại trung ương đã có những nụ cười hóm hỉnh khi nghe đến những cách xưng hô đầy kính cẩn đó. Biết như thế, trong dịp được gặp cha Bề Trên Cả và các cố vấn trung ương tại Rô-ma hồi đầu năm 2002, tôi đã đề phòng, và như mọi người, chỉ gọi cha Bề Trên Cả là “Père Général”. Đang khi đó thì tại Việt Nam, do lòng kính trọng truyền thống sẵn có, những kiểu xưng hô trang trọng vẫn được đòi hỏi và được sử dụng cặn kẽ.

Người đời nay đã đơn giản hơn nếu không muốn nói là đã dân chủ hơn, hay như dưới khía cạnh đạo đức: đã mất Lòng Tin và chẳng còn nhìn nơi các đấng các bậc như là những đại diện của Chúa Ki-tô. Người ta không còn dùng “Vous”, mà là “Tu” khi nói với Thiên Chúa, với Chúa Giê-su, như muốn trở nên thật gần gũi với Đấng Tối Cao nhưng đã trở nên “một người giữa chúng ta”. Sau 30.4.1975, đi trên đường, tôi được người ta vui vẻ chào: “Chào đồng chí cha !” Từ đó, người ta gọi tôi bằng nhiều danh xưng khác, nhưng điều đó chẳng có gì là quan trọng khi nhớ đến Thầy Chí Thánh đã bị gọi là “tên phản động”, “kẻ làm loạn”, thằng khùng, bị quỉ ám, tên phạm luật”.

Khó mà tưởng tượng ra hết mọi sự chửi bới mạt sát đay nghiến mà các người lính Đức Quốc Xã đã dùng đối với các Linh Mục, Tu Sĩ trong thời bị tập trung. Tôi được biết có lần cán bộ gọi Đức Cha Nguyễn Văn Bình là “thằng“. Như thế thì ta cũng chẳng quan tâm lắm nếu có những người gọi chúng ta bằng những danh từ không mấy lịch sự; và đối xử với ta như là những tên gian ác, những “công dân ghẻ lở”, những phần tử cần phải đề phòng và loại trừ...

Lm. NGUYỄN TỰ DO, DCCT ( còn tiếp nhiều kỳ )


NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 2
HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC
NHỮNG CỘT MỐC ( tiếp theo )


4. NGHỀ LINH MỤC


Trong một buổi “làm việc” với Công An, tôi được hỏi: “Nghề gì ?” – “Tôi là Linh Mục”. Người Công An im lặng một hồi khá lâu, xong anh nói: “Linh Mục là phản động”.

Đối với anh Công An, đó là chân lý. Anh đã được dạy như thế từ lâu rồi, anh đã thuộc các bài học ấy. Tôi nhớ lại thời gian đi tù, một trung úy Công An, sau thời gian tiếp xúc với tôi, đã thành thật nói với tôi: “Linh Mục không phải như người ta đã nói với chúng tôi”. Nhưng anh Công An của sở Công An TPHCM vẫn rất “chính thống” khi phán: “Linh Mục là phản động”.

Không im lặng trước lời vu khống đó, tôi trả lới anh: “Anh nói sai chính sách của nhà nước về sự tự do tôn giáo”. Anh Công An liếc tôi một cái, rồi cúi xuống xem xét hồ sơ của tôi. Sau một hồi, anh nhìn lên và lại phán: “Các ông chỉ lợi dụng tôn giáo để làm chính trị”.

Đó cũng là một “chân lý” anh đã được học. Người ta dạy cho anh mấy điều sai lạc đó. Tôi thưa lại: “Thưa cán bộ, cán bộ nói sai chính sách. Chúng tôi có nhiều việc phải làm, không có thời giờ để làm chính trị”.

Đối với họ “nghề Linh Mục” là “nghề chính trị”. Con người không phải chỉ có việc sống, làm ăn, được cai trị theo một thể chế nào đó. Họ quên hẳn rằng con người còn có tâm linh, còn có lương tâm, còn có linh hồn và còn có sự sống sau cái chết.

Linh Mục không làm chính trị và cũng không lợi dụng chính trị, quyền lực và cả tiền bạc để phục vụ Tin Mừng và làm tròn nhiệm vụ của mình. Tin vào các giá trị tự nhiên đó một cách quá đáng là đi ngược lại với “Hiến chương Nước Trời”. Thế thì nhiệm vụ, vai trò, chỗ đứng của Linh Mục trong xã hội là gì ? Chúa Giê-su đã không dùng người giàu có và của cải trần gian để chinh phục con người.

Giáo Hội thời bị bách hại tại Giê-ru-sa-lem rồi tại Rô-ma và ngay cả tại Việt Nam vẫn chinh phục tâm hồn con người. Tài sản của Tòa Thánh bị tước đoạt hết đưa đến quyềt định vị Giáo Hoàng tự giam mình tại Vatican để phản đối. Phải chờ cho đến Gio-an 23 mới có cuộc “Phi hành ra khỏi Vatican”, mở đường cho các cuộc công du vũ bão của Phao-lô 6 và nhất là của Gio-an Phao-lô 2.

Cách Mạng Pháp đã tàn phá của cải, cơ sở của Giáo Hội, đặt các Giáo Sĩ, Tu Sĩ ra ngoài vòng pháp luật. Chỉ trong 10 tháng, 546 Linh Mục trong số 828 người bị chất lên tàu đầy sang đảo Madame năm 1794 đã chết vì đói, vì bị bạc đãi, vì bệnh. Cách Mạng Pháp mãi là vết nhơ của một dân tộc văn minh đã có thành tích văn hóa và truyền giáo đáng nể trọng.

Thế nhưng Giáo Hội Pháp vẫn tồn tại và cả thời bụổi này vẫn liên tục gửi các Thừa Sai đi khắp vùng truyền giáo xa xôi. Trước 75 tại Miền Bắc và sau biến cố 30.4.1975 tại Miền Nam Việt Nam Giáo Hội đã bị tước đoạt nhiều cơ sở, ruộng đất và phương tiện kinh doanh để tự túc và phát triển. Các Giáo Phận và các Hội Dòng chịu nhiều mất mát nhưng Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam vẫn đứng vững, kiên cường, các ơn gọi Linh Mục Tu Sĩ nam nữ đông chưa từng có. Mọi sự đều có mặt trái, nhưng Thiên Chúa như có lúc để xẩy đến những sự “bất công đó” để chúng ta không quên bài học của việc Chúa đã làm là chọn 12 cột trụ của Hội Thánh giữa những thành phần gọi được là tầm thường, là “thấp hèn” trong xã hội.

Nếu các Giám Mục, Linh Mục và Tu Sĩ không quên cội gốc của Giáo Hội Chúa Giê-su đã lập và cội nguồn của chính mình thì họ sẽ luôn luôn khiêm tốn, hiền hòa nhân hậu và thật sự là như Đấng Messiah, “người tôi tớ đau khổ”, “phi bạo lực” không hề có khí giới nào khác là Tình Yêu, một Tình Yêu đi đến cùng. Một cách nào đó, họ sẽ thi hành điều tác giả thư Do Thái đã viết: “Họ sẽ có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những người lầm lạc, bởi vì chính họ cũng yếu đuối mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào thì cũng phải dâng lễ cho chính mình như vậy” ( Rm 5, 2 – 3 ).

Không ai chối từ văn minh, tiến triển. Mọi sáng chế của con người phải được sử dụng cho vinh quang của Thiên Chúa và lợi ích của con người, nhưng những xa xỉ rõ ràng là không phù hợp với nếp sống của người tu hành, của Linh Mục.

Đừng quăng đá cho ai, đừng tận lực lấy cái rác trong con mắt kẻ khác đang khi tải cả một súc gỗ trong mắt mình. Nhưng thật tình, tôi không thích mấy Nữ Tu phát biểu rằng phải mặc đồ ngoại, vải ngoại, vì... lâu rách hơn hàng nội. Tôi quý trọng những Linh Mục không ngại tốn kém để có những chén thánh, những đồ lễ sang và đẹp xứng đáng với Thiên Chúa toàn năng. Có những cái không được tiếc, nhưng những gì liên hệ đến cá nhân của mình thì có lẽ không bao giờ bỏ qua nếp sống đơn sơ, bình thường, nhỏ bé, nghèo mọn.

Một tờ giấy thật nhỏ mọn, nhưng tôi không bao giờ quên những Thừa Sai Canada từng làm giám đốc Đệ Tử Huế. Tôi nhớ đậm nét các ngài cắt từng lề trang báo còn trắng để dùng lại. Một mảnh giấy cỡ bàn tay được người tù trân trọng cất giữ cẩn thận để vấn thuốc, gói cái gì đó, làm đóm hút thuốc... Có lẽ vì đã nằm lòng mà tôi không bỏ xọt rác những mẩu giấy, những chiếc phong bì... Tất cả đã là giấy thảo cho tôi viết bài, viết sách. Tôi chỉ cố gắng tận dụng của Chúa ban trong tinh thần “người nghèo của Gia-vê”.

Công An nói với tôi: chúng tôi biết rõ ở thành phố này có một Linh Mục có một bộ âm thanh nhất Sài-gòn. Cách nay cả chục năm, khi có ý định làm những cuốn phim về Nhà Dòng và Giáo Hội, nghĩ đến những cuộc hành trình qua những con đường vô cùng gian nan bùn lầy, lắm khi phải leo non lội suối, tôi đã mua lại một chiếc xe jeep cũ với giá 15 triệu. Công An biết ngay và hỏi tôi: “Ông mua xe làm gì ?“ Chắc hẳn không phài vì lý do hào nhoáng hay thoải mái, nhưng đối với họ thì chính là mục đích: để làm gì ? Đã có thay đổi. Bây giờ ai để ý đến Linh Mục mua xe ! Điều hệ trọng là đối với vị Linh Mục ấy. Mua xe để làm gì ?

Cuộc sống của một Linh Mục không phải để hào nhoáng, để đua đòi với đời, nhưng luôn nhắm đến việc sử dụng của cải trần gian để làm được công việc mình phải làm. Nhớ lại năm trước 75, tôi đã trang bị phòng thâu thanh tại Trung Tâm ATAS. Nhờ ơn Chúa và sự giúp đỡ của nhiều người, tôi đã sắm được, trang bị được phòng thâu với máy móc đắt tiền vào thời đó: máy thu Sony tốc độ 15 với băng lớn. Giá mỗi chiếc tương đương với một chiếc xe Wolswagen 12 chỗ.

Sau 75, các máy móc để thu, để sang, để quay phim 16 ly, máy chụp, máy chiếu và rất nhiều thứ khác một phần do Nhà Nước lấy, một phần để tại phòng tôi tại Kỳ Đồng... ( Xin lược bớt một đoạn ngắn )

Có một vật dụng tôi rất quý mến vì nó đã giúp tôi trong rất nhiều việc: cái bút máy Parker rất hợp tay. Tôi đã từng với nó viết nhiều bài báo, nhiều cuốn sách, ký hằng vạn bức thư trong và ngoài nước. Vừa về lại nhà sau gần 6 năm tù, tôi hỏi người nhà câu đầu tiên và mong muốn được nắm lại trong tay “người bạn đường” quý báu đó. Người nhà cho biết: một anh Công An xét nhà cầm cây bút ấy, lắc lắc mấy lần rồi phán: “Ăng-ten”, rồi dắt vào túi áo. Chiếc đồng hồ của tôi được nghe phán: “Điện đài!” cũng sẽ đi theo con đường ấy nếu không có sự can thiệp của một người lính: “Đồng hồ của người ta chứ đài gì mà đài”. Anh lính dằng lấy và trao lại cho người nhà tôi: “Chị giữ lại cho ông ấy”.

Trong tù, người ta gọi tôi ra chụp ảnh. Họ chụp tôi với chính máy của tôi: “Máy của ông đó. Đồ của ông thiếu gì ở trong này”. Tôi không biết tôi đã bị mất những gì. Tiếc nhất vẫn là những bản thảo sách của tôi đã viết xong, đánh máy: gần 400 trang đánh máy cuốn sách tôi đã viết trong cả chục năm: “Giáo Hội trong thế giới ngày nay” trong đường hướng Công Đồng Vatican 2, cuốn “Thư gửi con trước cuộc đời hôn nhân” cũng cỡ đó...

Nghĩ cho cùng thì tôi mất hết mọi sự qua cuộc biến cố xẩy đến năm 75, chung số phận với nhiều Giáo Phận, Dòng Tu, và một số lớn dân miền Nam. Giáo Hội vẫn sống, vẫn hoạt động và tôi cũng thế, tôi không tiếc xót, bởi vì đó là những phương thế Chúa ban một thời gian hoạt động.

Tôi chỉ tiếc là vì đã không còn cơ hội để đeo đuổi chí hướng. Tôi cứ tự an ủi mình rằng: ý Chúa chưa muốn. Chúa dẫn dắt lịch sử và đúng thời đúng lúc Chúa sẽ cho dấy lên “nhửng con cháu Áp-ra-ham từ những sỏi đá”. Có tiếc xót cũng chẳng đem lại lợi ích gì. Thôi thì ta cứ chấp nhận thời gian mới và làm những gì mới, khác với những gì ta từng quen làm với một hy vọng là “mọi sự sẽ tốt hơn” và ta lại có thể đóng góp sức lực và khả năng của mình cho cái gì khác, trong hoàn cảnh khác và với phương tiện mới khác, như câu chuyện xẩy đến cho tôi vào những ngày đầu của cuộc “đổi đời”.

Vào tháng 6 năm 75, vì không nhận được lệnh phải đi trình diện, tôi đến Tòa Tổng Giám Mục. Đức Tổng Bình có vẻ ngạc nhiên vì tôi không đi trình diện. Ngài lạc quan nói với tôi: “Cha đi trình diện đi, học tập 10 ngày rồi sau đó sẽ có thể lo việc phát thanh khi được phép”. Có lẽ ngài quá “ngây thơ” vì quên đi rằng: người ta sẽ không bao giờ chia sẻ quyền truyền thông với ai khác ngoài các cơ quan của chính quyền, hay thân với chính quyền.

Đến đây, tôi liên tưởng đến cái lý tưởng truyền Tin Mừng qua làn sóng điện, một lý tưởng tôi đã từng ôm ấp trong suốt cuộc đời Linh Mục...

5. GIẤC MƠ TRUYỀN THÔNG

Tôi không biết cái lý tưởng và quyết tâm phục vụ Tin Mừng qua các phương tiện truyền thông đã đến với tôi từ lúc nào. Tôi chỉ nhớ lúc ở đệ tử, tôi đã tham gia vào những sinh hoạt “nội san”, và thời gian ở Học Viện tôi đã cùng anh Nguyễn Ngọc Lan hỳ hục với nhau dùng thời gian giải trí để thực hiện nội san của Học Viện với những tờ pelure tẩm dầu, đánh máy với cả sức lực để chọc thủng giấy và dán đủ cách để những tờ ấy có thể nhân bản Ronéo. Lúc viết bằng tiếng Việt, khi bằng tiếng Pháp và phát hành trong các tu viện của Dòng tại Việt Nam, có lúc còn vượt biển sang Canada, Pháp...

Làm Linh Mục, tôi được chỉ định về Sài-gòn và tức khắc được mời thuyết giảng trong các chương trình “Tiếng Vọng Tình Thương” do cha Phan Văn Thăm lúc ấy là phó xứ Nhà Thờ Chánh Tòa thành lập trên Đài Phát Thanh Quốc Gia. Các bài của tôi lại được in rộng rãi trên tờ tuần báo Thẳng Tiến cũng do cha Thăm phụ trách.

Trong một bữa ăn tại Nhà Dòng, tôi được nghe cha Phan Phát Huồn, tuyên úy quân đội cho biết là đã được mời thực hiện chương trình Truyền Hình nhân dịp lễ Noel năm đó, năm đầu tiên có truyền hình tại Sài-gòn. Ngài cho biết là đã phải từ chối vì “không có người làm được”. Tôi xung phong nhận làm chương trình. Đó là chương trình truyền hình Công Giáo đầu tiên trên đất nước Việt Nam.

Kinh nghiệm chưa có bao nhiêu, nhưng đó là bước đầu. Chương trình được thu trong một stuđio nhỏ bé, và ca đoàn tôi đưa lên đã bắt buộc camera phải dời khỏi phòng ra tận hành lang, để có thể thu hình được đầy đủ. Máy lạnh lúc ấy chưa đạt và sức nóng đem thêm máu nóng cho buổi thu hình. Trong thời gian vừa qua, tôi đã gặp lại được cô bé tên Nguyệt lúc ấy mới 5,6 tuổi với bó hoa tươi để chúc Lễ Giáng Sinh cho các vị khán giả. Ánh đèn đã làm cho cô bé rơm rớm nước mắt, và chúng tôi đã phải cố gắng dỗ dành để cô bé nói được mấy lời vắn tắt. Thời xa xưa ấy vẫn không làm cho tôi quên được, nhất là khi thấy các “bé” thật dạn dĩ nói, hát trên đài truyền hình mầu ngày nay. Tôi cứ mơ đến những chương trình Truyền Hình Công Giáo trong hệ thống truyền hình nay phủ sóng trên toàn cõi Việt Nam. Tiếc xót ! Và vẫn chờ đợi !

Từ ngày đó, nha Tuyên Úy Công Giáo yêu cầu tôi nhập vào, đề chỉ... lo các chương trình Phát Thanh, phát hình của Nha Tuyên Úy Công Giáo. Cơn cám dỗ không thắng nổi, và tôi vào quân đội. Người ta giữ lời hứa và trao cho tôi công việc ấy bằng một cú điện thoại, không có một giấy tờ tài liệu gì.

Trong gần 7 năm, tôi đã thực hiện các chương trình phát thanh và chiến dịch: “Đức tin trong quân ngũ”, “Sách Kinh cho quân nhân” và lớn nhất là “Mỗi quân nhân một Tân Ước”. Có một thính giả, một thiếu nữ viết thư cho tôi, trong đó có lời đề nghị “tặng Tân Ước cho quân nhân Công Giáo Việt Nam”. Và đó là khởi điểm của chiến dịch: “mỗi quân nhân một Tân Ước”. Tôi hăng say hoạt động, phát huy nhiều sáng kiến. Tôi sung sướng thấy “giấc mơ Truyền thông” đang trên đà thành sự thật.

Đúng ra là tôi vào ngành Tuyên Úy Công Giáo không phải vì để được “làm quan” mà chỉ để làm Truyền Thông. Anh em quân nhân biết đến tôi chỉ vì nhờ báo chí, phát thanh. Tôi thương mến anh em và tận lực làm những gì đem lại niềm Tin Yêu cho những con người ngày đêm phải đối diện với gian nan và cái chết. Tôi đi thăm các đơn vị. Với chiếc áo Dòng, tôi đi khắp nơi: An Lộc, Chương Thiện, Bến Hải... Ở đâu chiếc áo Dòng vẫn được tiếp đón trân trọng. Có lần vừa xuống khỏi trực thăng, các sĩ quan mời tôi theo họ. Sau một hồi, một vị hỏi tôi: Thưa cha ông Đại tá theo cha là ai vậy. “Tôi nhìn lại thì thấy Đại tá đó là “cha Giám đốc nha Tuyên Úy Công Giáo”.

Tại một nơi khác, đang buổi tiếp đón trọng thể, tôi len lỏi vào giữa anh em để lấy hình, lấy tin chứ không ngồi trên khán đài. Một đại diện nói vài lời chào đón phái đoàn và kết luận: “Anh em chúng con chỉ xin cha Giám đốc và phái đoàn cho chúng con được một ơn huệ là được cha Tự Do đến thăm đơn vị chúng con”. Mọi người ngạc nhiên khi biết tôi đang ở đây. Sau buổi nghi thức, anh em quây quần tôi với những cử chỉ và lời nói thân thương. Tôi vẫn thích như thế và các cuộc cung nghinh trọng thể không làm cho tôi “dễ chịu” mấy. Tôi làm lớn không được !

Người Tông Đồ Truyền Thông hoạt động trong một lãnh vực “hư hư thực thực”, đối tượng ở đâu đâu, không có những tiếp xúc nóng ấm trực tiếp với những con người bằng xương bằng thịt, thiếu hẳn những ánh mắt, những nụ cười sống động cùng với những buổi tâm sự thân mật và kết quả trông thấy... Người Tông đồ Truyền Thông lúc nào cũng đối mặt với những máy móc: thu âm, thu hình, nói với ai đó “không chân dung” chẳng biết được họ vui thích thông cảm hay bỉu môi ngoảnh mặt và có lúc còn bực bội vặn nút tắt máy. Ngành Truyền Thông được chê nhiều, khen ít. Khán thính giả luôn là những người xa lạ, mặc dầu trong thời gian phụ trách phát thanh, ngày nào tôi cũng nhận được vài chục bức thư.

Được coi như là phương tiện giải trí, các phương tiện truyên thông Công Giáo thường không được quan tâm lắm và việc đầu tư vào ngành này lại rơi vào hạng thứ yếu. Tôi được nghe nói rằng: các phương tiện máy móc của các Đài Công Giáo được quan tâm nhất như Vatican, Veritas... hầu hết là “đồ cũ”, đã sử dụng từ mấy mươi năm rồi. Tôi có nghe được cảm nghĩ của một vị lãnh đạo tinh thần cao cấp nói: “Tôi không bao giờ nghe Phát thanh Công Giáo vì... không có thì giờ”.

Một kinh nghiệm: thời gian thực hiện chương trình trên Truyền hình, tôi hát bài “Vào Đời” của Thành Tâm. Sau buổi phát hình, chị tôi, Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt đến gặp tôi. Bà nghiêm nghị nói với tôi: có mấy cha xem truyền hình thấy em hát có đến nói với chị: “Ông cha Do làm Linh Mục chưa đủ sao mà còn muốn làm ca sĩ ”. Sau ít phút trao đổi, tôi chỉ nói với chị: “Xin chị cám ơn các cha đã cho lời khuyên dạy, và xin chị thưa với các ngài rằng: “xin mời cha xem cha Do hát trên truyền hình lần sau”.

Những kinh nghiệm “không vui” trong nghành Tông Đồ Truyền Thông không thiếu, và người Tông Đồ Truyền Thông gặp nhiều khó khăn về mọi mặt, nhất là vào thời mà các phương tiện máy móc còn chưa tân tiến và tiện lợi như ngày nay.

Giáo Hội chưa tận dụng phương tiện truyền thông đại chúng để phục vụ Tin Mừng. Chắc phải đợi hoàn cảnh bị cấm đoán mới hiểu được lý do và sức mạnh của các phương tiện truyền thông đại chúng để truyền bá Chân Lý và Tình Thương Cứu Độ.

6. MỖI QUÂN NHÂN MỘT TÂN ƯỚC


Đây có thể là dịp để tôi nhận thấy sức mạnh của các phương tiện Truyền Thông đại chúng, chương trình được phổ biến trên đài phát thanh, với tiêu chuẩn là 300.000 cuốn Tân Ước, phỏng theo số người Công Giáo trong quân lực VNCH và mỗi cuốn là 100 đồng Việt Nam. Từng vạn người nhiệt tình hưởng ứng. Có những người góp 300 cuốn và nhiều em bé nhịn quà góp nửa cuốn. Chỉ không đầy 2 năm, số tiền in Tân Ước đã lên gần 8 triệu bạc. Công việc chuẩn bị bản văn được tiến hành.

Thời đó, cuốn Tân Ước của cha Giu-se Nguyễn Thế Thuấn, DCCT, là bản dịch được phổ biến và được yêu thích. Chúng tôi đã xin ngài cho được sửa chữa một số câu văn có vẻ khó hiểu để bản dịch mang tính cách “bình dân” hơn. Ngài đã đồng ý và cùng với cha Giu-se Trần Hữu Thanh, chúng tôi đã có một bản văn mới hy vọng dễ đọc và được sự đồng ý của dịch giả. Công việc sắp chữ được tiến hành tại nhà in Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, 38 Kỳ Đồng. Hằng ngày, tôi phải đọc mấy chục trang bản thảo. Tôi phải thường xuyên thức đêm để sửa bản in sao cho kịp sáng hôm sau trao cho nhà in.

Tôi đã đọc cuốn Tân Ước khoảng 7 lần. Cám ơn Chúa, vì nếu không bị thúc bách bởi công việc đó thì có lẽ cả đời tôi mới chỉ đọc trọn bộ Tân Ước đều đặn chỉ có một lần từ đầu đến cuối lúc ở Nhà Tập. Đồng thời tôi và một số các Linh Mục như cha Phan Phát Huồn, Trần Hữu Thanh, G.B. Nguyễn Văn Vàng..., chúng tôi đã hằng tuần sọan và đọc trên Đài Phát Thanh những bài học hỏi về Kinh Thánh.

Hằng tuần, phòng thu thanh của Nha Tuyên Úy Công Giáo đón tiếp các quân nhân thuộc các đơn vị đến trao đổi về Kinh Thánh, thu thanh buổi gặp gỡ, lựa chọn các đoạn súc tích để làm thành một chương trình sẽ được phát trên Đài. Tại Đài truyền hình quốc gia, Đức Cha Giuse Lê Văn Ấn, Giám Mục đặc trách Tuyên Úy Công Giáo ngỏ lời với quân nhân và những cuộc “đấu tử chiến” về Tân Ước được tổ chúc, trong đó các sĩ quan cấp tá sát kề với các anh em hạ sĩ quan, binh sĩ, trong cuộc so tài “tìm hiểu Tân Ước”.

Không phải hết mọi người đều hưởng ứng và hợp tác. Chiến dịch phải đương đầu với bao khó khăn, nhiều “cám dỗ”. Nhiều lời nói xuyên tạc, nhiều lập trường khác luôn tạo nhũng khó khăn lắm khi khó vượt khỏi: “Người Công Giáo Việt Nam không thể đọc Kinh Thánh được, họ chưa đủ trình độ...; mấy ông DCCT chỉ bày trò” “làm tiền”, ”Họ sẽ in sách nhưng vài ngàn cuốn thôi còn tiền thì...”

Tôi không hiểu được tại sao người ta lại có thể “sáng chế” ra những điều kỳ lạ như thế đến mức mà chỉ nghĩ tới cũng đã phải xấu hổ. Có một số các vị muốn lấy hết số tiền chiến dịch để “mua lại” một số sách Kinh Thánh bằng hình vẽ của một tác giả nào đó. Có những vị không hề phát động chiến dịch trong đơn vị mình. Có mấy Nhà Thờ không cho chúng tôi đến giảng, nói rằng họ tự làm lấy, nhưng không bao giờ chúng tôi nhận được món tiền nào từ đó cả.

Trong những lời phê phán, suy đoán có tính cách “bất đồng nhuốm mầu phá hoại đó”, có những điều xúc phạm đến cá nhân tôi, đến các cha hợp tác và đến cả DCCT, cả tập thể Linh Mục. Đáng lẽ mọi sự đã “xuôi chèo” khi nhiều lần Nha Tuyên Úy Công Giáo “đòi” bộ Tổng Tham Mưu giải ngũ tôi hay ít là đưa tôi đi một đơn vị tác chiến xa Sài-gòn. Đức Cha Giu-se Lê Văn Ấn đã tự tay viết thư cho trung tướng tổng cục trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Trần Văn Trung với chỉ thị: “Không được giải ngũ Linh Mục Nguyễn Tụ Do nếu không có sự đồng ý của Giám Mục đặc trách”.

Dò hỏi tại Việt Nam về việc ấn hành, đóng bìa cứng, tôi được một nơi nhận đóng bìa với giá khoảng 100 đồng một cuốn. Tiền in chưa kể, thế thì làm sao hạn chế một cuốn trong 100 đồng. Chúa lại đến trong cha Mario Del Acquista Pace, Dòng Don Bosco. Trong nhiều năm, ngài thường mời tôi giảng cấm phòng cho các học sinh, và tôi đã có liên hệ thường xuyên mật thiết với các Tu Sĩ Salésien, cách riêng với cha Mario. Ngài cũng được biết chiến dịch qua phát thanh và đã sẵn sàng giúp đỡ, không phải bằng tiền bạc, nhưng: “Tại sao cha không in tại Hong Kong, vừa đẹp vừa rẻ. Tôi sắp đi Hong Kong, nếu cha cùng đi, chúng tôi sẽ giúp cha nơi ăn chốn ở và sẽ giới thiệu với cha mấy nhà in”.

Chỉ trong nửa giờ, passeport, visa đuợc hoàn thành, nhờ hộ chiếu ngoại giao do ngoại trưởng Trần Văn Lắm cho làm trong thời gian uống một ly nước cam. Vé máy bay đã được mua trước khi có passeport, và tôi đã lên đường sang Hong Kong với cha Mario. Ngài đưa tôi về trường “Tăng king Po school” tại Kowloon, phòng có máy lạnh, tìm cho tôi một thầy Việt Nam, thầy Hùng, để suốt thời gian hướng dẫn tôi trong thành phố lớn và sinh động này, lúc đó còn thuộc nước Anh. Ngài đưa tôi đến gặp Giám Mục, gặp cha Gabriel de Allegra Linh Mục Dòng Phan Sinh, người đã dịch bộ Kinh Thánh ra tiếng Hoa, tiếp xúc với mấy chủ nhà in, và cuối cùng thì chọn nhà in của ông Fu Yam. Ông này không nói tiếng Anh.

Thầy Hùng vừa phiên dịch vừa cố vấn. Ông đối xử rất thân tình, tạo cho tôi mọi sự dễ dàng trong công viêc, và cuốn Tân Ước được nhận in với giá khoảng 50 đồng một cuốn, bìa PVC có bao bên ngoài sách. Hợp đồng được ký cho đợt đầu 100.000 cuốn. Thật là tốt đẹp. Đây là lần đầu tiên Tân Ước được in đến con số lớn như thế cho Giáo Dân Việt Nam. ( Ảnh chụp: Tại Hong Kong In Tân Ước. Từ trái sang: Thầy Hùng, Lm. Nguyễn Tự Do, áo trắng bỏ ra ngoài là ông YAM, chủ nhà in Manhing Offset Printing Press ).

Cha Phe-ârô Phan Phát Huồn lúc ấy làm phó Giám đốc nha Tuyên Úy Công Giáo đã tổ chức lễ Xuất Phát với phòng triển lãm Thánh Kinh, với bức tượng “Quân nhân và Tân Ước”, và với cuộc lễ trọng thể Xuất Phát. Khoảng 3.000 quân nhân Công Giáo thuộc các đơn vị Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động, Không Quân, Hải Quân... đã đến chật trong ngoài Nhà Thờ Đồng Tiến.

Chiến dịch đã thành công lớn, nhưng không trọn vẹn, do một số người có những tư tưởng và suy luận thiếu trung thực và tình thương, đã không biết gạt đi những ác cảm do phân biệt Triều-Dòng, hay chỉ trong phạm vi cá nhân. Tôi nghĩ rằng có lẽ con người của tôi không “ngoại giao đủ”, nguyên tắc quá và không chinh phục được cảm tình và sự hợp tác của người khác. Tôi không thi hành được chính sách: Nhu nhược thắng cang cường, lui một bước để tiến hai bước. Khi cả trăm thùng hàng được xe “lowboy” kéo về trụ sở Dồng Tiến chiếm hẳn cả một căn phòng lớn thì người ta không còn rỉ tai được là “chỉ làm bộ” in vài ngàn cuốn như họ đã từng nói trước đó.

Một thời gian sau, ban Giám đốc lại “tự nhiên” ra chỉ thị phát động lại chiến dịch. Tôi vẫn hợp tác, nhưng công việc đã mất trớn rồi và phát động lại đã chẳng đi đến kết quả cho đến khi tàn lụi. Tôi đã không còn phục vụ tại Nha Tuyên Úy Công Giáo nữa và nhận trách nhiệm Nhà Dòng trao thực hiện việc Tông Đồ Truyền Thông dưới quyền lãnh đạo của Đức Tổng Giám Mục Sài-gòn, Phao-lô Nguyễn Văn Bình.

Trước đó, tôi đã nhận phân phối Tân Ước cho các cha tuyên úy, theo tỷ lệ số quân nhân mà các ngài đã báo cáo. Những người không báo cáo được lãnh 100 cuốn. Tôi đã hành động như thế dựa trên tài liệu báo cáo. Không ai trách móc được.

Nhưng ở đây một lần nữa, tôi lại chạm trán với một số khó khăn do những suy nghĩ hay cách làm của những người phải “phát tặng Tân Ước cho quân nhân”, khi tổ chức các cuộc xuất phát tại địa phương. Một số phiếu “Nhận Tân Ước” được gửi về văn phòng, nói lên niềm vui hiên ngang của họ được có cuốn Tân Ước “của quân nhân”. Tiếc thay, cũng có một số phiếu ghi rõ: đã mua với giá 500 đồng.

Tài liệu triển lãm, trong đó có một bức họa dài khoảng 50m ghi lại lịch trình cứu độ qua Kinh Thánh từ Cựu Ước đến Tân Ước được các cha tuyên úy “mượn” về tổ chức tại địa phương. Thế rồi một ngày kia, nó biến mất.

Bức tượng Quân Nhân Tân Ước, sau 30.4.1975 được sửa lại là Giáo Dân Tân Ước, để cuối cùng khoảng sân trước Nhà Thờ Đồng Tiến bị “xung công” làm nhà máy sấy chuối và bức tượng cũng không còn. Thế nhưng, về sau này, tôi cũng được niềm vui nhận được chứng tá của những người lính đã “dấu” cuốn Tân Ước gọn gàng ấy trong thời gian ở tù tại các trại cải tạo và Lời Chúa đã đem lại niềm vui, tin tưởng cho những anh em trong thử thách. Ý định của Thiên Chúa đã biết từ lâu rằng: Lời Chúa sẽ là sức mạnh cho con cái khi mọi nguồn hy vọng tự nhiên trên cõi đời này đã không có lối thoát qua những năm dài tù đầy chỉ vì hoàn cảnh và không hề có tội, có nợ gì khi đã làm tròn bổn phận của mình.

Sau thời gian tôi bị tai nạn lật xe và bị thương, tôi đã giải ngũ và trao lại phòng thu thanh với máy thu, nhạc cụ và hồ sơ sách hát cho người khác. Chỉ một tuần sau, đến thăm lại phòng thâu thanh, tôi đã chứng kiến nó trở thành phòng của... giám đốc. Thắc mắc của tôi nhận được câu trả lời: “Cha X đã đem hết về nhà ngài”.

Kinh nghiệm này đã cho tôi một nỗi buồn vì không thấy tinh thần nối tiếp trong các công trình xây dựng và tôi đã cố gắng nghĩ phải làm một cái gì bền vững hơn để ngành Truyền Thông Công Giáo có sức mạnh trong việc tiếp tục loan báo Tin Mừng cho đại chúng.

Lm. NGUYỄN TỰ DO, DCCT ( còn tiếp nhiều kỳ )



TIỂU SỬ CHA RÔCÔ NGUYỄN VĂN TỰ TỰ DO


CHA RÔCÔ NGUYỄN VĂN TỰ TỰ DO,

Sinh ngày 28/08/1928 tại Nhân Lộ – Vĩnh Lộc – Thanh Hoá.

Thuở nhỏ học tại trường Giáo xứ Nhân Lộ

Năm 1939: gia nhập Đệ Tử viện DCCT Huế

Ngày 15/08/1950: vào Tập viện DCCT tại Hà Nội

Ngày 15/08/1951: Khấn Dòng tại Tu viện DCCT Đà Lạt

Từ 1951-1957 Học tại Học Viện DCCT Đà Lạt

Ngày 08/09/1956: Lãnh sứ vụ linh mục

Từ 1958-1962: Làm việc tông đồ tại Sài Gòn

Từ 1962-1963: Dạy học tại Đệ tử DCCT Vũng Tàu

Từ 1964-1967: Trở về làm việc tại Sài Gòn

Từ 1967-1970: Làm Tuyên Uý Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, phụ tá Trưởng khối Giáo vụ, lo phát thanh, báo chí, truyền hình… Trong thời gian này, công trình đáng kể nhất ngài thực hiện được, đó là “Mỗi quân nhân một Tân Ước”. Hơn 300.000 cuốn Tân Ước được trang bị đầy đủ cho các quân nhân Công giáo thuộc quân đội Việt Nam Cộng Hoà.

Từ 1970-1975: Sáng lập và làm Giám đốc Trung tâm Âm Thanh Ánh Sáng (ATAS), phát hành được 9 băng Audio Thánh nhạc và giáo dục; phụ trách chương trình phát thanh thiếu nhi Hồn Việt, phát thanh Giáo dục y tế, viết báo “Nguyệt San Đức Mẹ HCG”, tuần báo “Thặng tiến”, “báo “Tinh Thần”, báo “Thánh Tâm”, sáng lập báo “Tu Sĩ Việt Nam” (sau đổi thành báo “Nhà Chúa”).

Từ 1976-1982: Đi tù tại Chí Hoà, Sài Gòn

1982-2011: được tự do, ngài dồn sức lo mục vụ cho bệnh nhân phong cùi, truyền thông, đảm nhận việc giảng tĩnh tâm, tham gia các cuộc Đại Phúc, chuyên tâm viết các tác phẩm “Hành hương Công giáo Việt Nam” (Lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, hơn 700 trang), “Lịch sử Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam” (300 trang), “Cha Eugène Larouche – vị sáng lập DCCT VN” (200 trang), và nhiều tài liệu lịch sử khác của Giáo Hội cũng như của Nhà Dòng…

Cha Rôcô Nguyễn Văn Tự Tự Do được gọi về nhà Cha lúc 17g00 ngày 05 tháng 03 năm 2011, hoàn tất hành trình 83 năm ở trần gian, 60 năm tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, 55 năm thi hành sứ vụ Linh mục.

Trong 60 năm làm tu sĩ DCCT, điểm nổi bật ta có thể thấy nơi con người cha Rôcô Tự Do là: ngài tha thiết với cuộc sống của Nhà Dòng, cách riêng Tỉnh Dòng Việt Nam. Bằng những ơn riêng Chúa ban cho ngài, ngài đã không ngừng thu thập một cách chi tiết các biến cố trong Tỉnh Dòng, nhất là thời các cha thừa sai Canada cống hiến cho sự nghiệp thiết lập Dòng tại Việt Nam. Các công trình biên soạn của ngài có một giá trị bảo tồn rất quan trọng cho các thế hệ mai sau của Tỉnh Dòng. Ngài cũng biết sử dụng những ơn riêng Chúa ban để phục vụ Tin Mừng một cách hết sức hiệu quả trong lãnh vực truyền thông, cụ thể là chương trình “Mỗi quân nhân một Tân Ước” và Trung Tâm ATAS.

Tha thiết với sự nghiệp của Tỉnh Dòng và trăn trở với truyền thông, đó là những nét gương mẫu trong cuộc sống của ngài. Ngài đã tâm sự: “Mãi mãi đến trọn đời không bao giờ quên được hình ảnh, tình thương săn sóc của các cha thừa sai, đặc biệt là cha Eugène Larouche và cha Camille Dubé, những tấm gương hướng dẫn tôi biết hết lòng với Chúa, với Nhà Dòng, với sự nghiệp cứu rỗi các linh hồn. Tôi cố gắng thực hiện những công trình về Nhà Dòng phần lớn là được thúc đẩy bởi bổn phận, tôi cảm thấy phải khơi lại sâu xa những khuôn mặt thánh thiện và tốt lành đó của anh em tôi.”

- Văn Phòng Tỉnh DCCT Việt Nam


Được tạo bởi Blogger.