GIỚI THIỆU THI TẬP “KHÚC THẦN NHẠC”



Xưa nay, các tác giả thường nhờ những vị có thế giá, trong chuyên môn cũng như ngoài đời, làm nhịp cầu dẫn đứa con tinh thần của mình ra mắt công chúng cho thêm phần long trọng. Vì thế, người viết không khỏi băn khoăn khi trót nhận lời làm một nhịp cầu tre dẫn vào thi tập mang tên rất mỹ miều Khúc Thần Nhạc. Bên bờ kia có cái gì thực sự hay như cái tên xem ra ‘hơi bị kêu’ ấy không?!

Cổ nhân có câu: “Thi trung hữu họa”“thi trung hữu nhạc”. Nôm na nghĩa là trong thơ có cả hội họa và âm nhạc. Nhạchọa trong mỗi thi phẩm hay đến mức nào còn tùy vào gu thưởng thức và khả năng cảm nhận của mỗi người, có khi hay với người này lại là dở với người kia. Khúc Thần Nhạc có lẽ cũng thuộc loại kén độc giả. Tuy nhiên, kẻ bắc nhịp cầu này tin rằng, với mắt thơ và đôi tai ưa thích nhạc thầm, thi khách sẽ được thưởng thức giai điệu Khúc Thần Nhạc trên một khu vườn thượng uyển qua một số biểu tượng rất thi vị, được bài trí đơn sơ mà độc đáo. Nói như giới trẻ là ‘chuẩn không cần chỉnh’! Rồi từng bước, với khả năng thi lực và ‘khứu’ nhạc của mình, thi khách sẽ khám phá 21 cảnh thi đàn đầy hương nhạc của thi sĩ Song Lam mà đỉnh cao là Hiến Lễ Đầu Mùa theo lời bình giải hết sức công phu của “nhà thi cảm” Bình Nhật Nguyên.

Vâng, chỉ riêng một Hiến Lễ Đầu Mùa đã làm cho nhà thi cảm say sưa nhả ngọc phun châu bình giải tới gần 100 trang A4 với hơn 30 ngàn từ (tương đương một luận văn thạc sĩ). Ấy vậy mà dường như ông ‘bác sĩ chuyên gia bắt mạch’, kiêm nhà thi cảm ấy vẫn còn nhiều điều để nói. Với ông, nàng thơ như một con người sống động mà với khả năng chuyên môn, ông có thể chẩn đoán, thăm dò tới mọi ngõ ngách tâm hồn. Nếu khu vườn thượng uyển kia không có gì để nói, thì có lẽ nhà thi cảm chẳng dại gì tốn thời gian công sức như vậy!

Nhìn bề ngoài, xem ra các thi đàn nơi đây đều có nét kiến trúc y hệt nhau: độ cao 6 ‘trượng’- (6 khổ thơ), mỗi trượng như một tầng (4 câu thơ) với chiều dài 8 chữ, tổng cộng = 912 từ. Có lẽ những con số cố định ấy cũng giống như 5 dòng kẻ cố định trên khuông nhạc, chạy song song nhau mà không làm mất đi sự phong phú của muôn giai điệu. Cũng vậy, bước vào nội thất từng thi đàn, độc giả sẽ khám phá ra không gian mở với các chiều kích cao sâu thiên hình vạn trạng, nhất là mỗi nơi đều phác họa một nhân vật điển hình với một giai điệu cuộc đời rất riêng. 

Họ là ai vậy? 

Thưa, hầu hết cũng là con Lạc cháu Hồng, quen gọi là 117 vị thánh tử đạo Việt Nam và một vị Á thánh – chân phước Anrê Phú Yên. Họ nằm trong số những người mà sách Khải Huyền đã tiên báo từ 2000 năm trước: “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (x. Kh 7, 9-14).

Vì tác giả sử dụng ngôn ngữ biểu tượng, không nêu một tên gọi hay địa danh cụ thể cho nên không dễ dàng cho người thường nhận ra nhân vật hay nơi nào rõ ràng. Đơn cử một ví dụ đầu tiên, ta đến với thi đàn Thơ nương Bóng Cả (1) là bóng hình Đức Mẹ La Vang, nhắc lại biến cố lịch sử Đức Mẹ hiện ra tại đây năm 1798. Toàn bài thơ không nói cụ thể ai hay nơi nào. Tuy nhiên, trong mỗi thi đàn luôn có đôi dòng chú thích ở đầu và cuối như những căn cứ để độc giả định vị mình đang ở đâu. Mặt khác, ngôn ngữ biểu tượng cũng gợi liên tưởng ra vô biên.

Ơn Bóng Cả ban cho niềm hy vọng
           Cành vươn lên che khô khốc gió lào
           Ôm cánh mềm khỏi ngã quỵ nghiêng chao
           Và nâng dậy niềm tin vào Thánh Đạo.

Ngay sau đó, chúng ta được hòa mình vào đêm nhạc hợp xướng Khải hoàn ca (2) tôn vinh 117 vị thánh tử Đạo Việt Nam: Lớp lớp, trùng trùng, ngời ngợp tiếng tung hô”. Rồi cùng nhà thi cảm, ta ngước nhìn lên thi đàn Hiến lễ đầu mùa (3) để chiêm ngưỡng chân dung chân phước Anrê Phú Yên (1625–1644), người con Mằng Lăng Quy Nhơn, học trò xuất sắc của cha Alexandre De Rhodes. Chung nhịp tình (4) với hiến lễ đầu mùa ấy là gương mặt Thánh Phaolô Tống Viết Bường (17731833) ở xứ Huế mộng mơ. Chiêm ngắm những bước chân vượt trùng dương đi loan báo Tin Mừng, thi sĩ đã viết lên Khúc du ca (5) dâng thánh Joseph Marchand Du, linh mục (1803–1835), thừa sai người Pháp. Trong những đêm tối đức tin suốt ba thế kỷ đầu ấy, cũng không thiếu những Ngọn đuốc thiêng (6) như thánh Phêrô Đinh Văn Dũng, ngư phủ (1800–1862), người con mảnh đất Thái Bình.

Dù cảnh phong ba bão táp hay xiềng xích cũng không gông cùm được Hương an lạc (7) trong tâm hồn của những người như thánh linh mục Anrê Dũng Lạc (1795–1839). Vào thi đàn ta thấy như còn phảng phất hương đồng gió nội đất Kinh Bắc hay nét thanh lịch của người Tràng An.

Tim thơ rực sáng (8) “Tình gọt giũa đời thơ – hình thánh giá” của thánh Phêrô Phan Hữu Đa (1802–1862) mọc lên từ giáo phận Bùi Chu, mảnh đất được đón nhận hạt giống Tin Mừng ngay từ năm 1533. Rồi người thợ may Toma Nguyễn Văn Đệ (1811–1839) tưởng ngày ngày quen đường kim mũi chỉ có ai ngờ một ngày kia cũng Kết tinh hoa (9) quê hương Thái Bình-Bắc Ninh với quê hương Thiên Quốc.

Chúng ta đã lướt qua bản đồ hành trình khám phá, từ miền trung – lòng Mẹ La Vang, Quy Nhơn, Huế, rồi ra bắc rồi ta lại vào nam.

Giờ chẳng thiết của trần gian danh lợi
Thuyền đêm đêm rẽ sóng rước ân thiêng
Đem niềm vui đến an ủi truân chuyên
Cho Phước Cả rợp tràn trên đất mẹ.

Đó là tâm thế Vượt trùng dương (10) cao cả của một vị thương gia có tên Matthêu Lê Văn Gẫm (1813–1847), xử trảm tại pháp trường Chợ Đũi - Sài Gòn thời Thiệu Trị.

Đi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, ta dường như bắt gặp lại Chí hùng thiêng (11) của non sông oanh liệt bao ngàn đời nay rực sáng trên pháp trường Gia Định thời Tự Đức:

Đã một thuở ta vẫy vùng bốn bể
Nghe tiếng gầm cả muôn thú lặng yên
Ta giương oai không phải lấy uy quyền
Nhưng chính trực công minh theo Sự Thật.

Đó là chí khí của thánh Phaolô Trần Văn Hạnh (1827–1859), một giáo dân kiêu hùng “Tiếng khẳng khái vững tin vào Tuyệt Đối”. Bước lên thi đàn Hương thơ hiến tế (12) lại càng thêm phần tinh tế. Nếu nước hoa của Pháp vốn nổi tiếng khắp thế giới thì cũng có thể nói thánh Jean Louis Bonnard, linh mục (1824–1852) thừa sai Paris, có tên rất Việt Nam là Cố Hương cũng lừng hương không kém trên vườn thượng uyển này.

Thơm thơm quá! Hương anh hoa phát tiết
           Không ngạt ngào mà thoảng nhẹ như sương
Từ hồn thơ và trái tim thanh khiết
Luyến dặt dìu tựa như áng mây vương.

Ánh tình lấp lánh (13) là thi đàn dâng lên thánh Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh, (1768–1840), một ông trùm họ với gia đình nhỏ bé trong xã tắc nhưng tâm hồn rộng mở tới muôn người :

Tổ tuy bé nhưng lòng Câu quảng đại
           Luôn bao dung che chở bước lỡ đường
Bẫy giăng mắc tình xót thương chẳng ngại
Dù biết rằng có lúc cánh sẽ vương.

Trên vườn thượng uyển có muôn hương hoa đặc sắc nhưng Đóa hồng ngát hương (14) là một giai điệu hết sức đặc biệt. Quả vậy, không phải hương nào cũng giống hương nào. Đây là hương hoa hồng – thánh nữ Anê Lê Thị Thành (1781–1841), vị thánh nữ duy nhất trong số 117 vị thánh Tử đạo Việt Nam, một người mẹ hiền của sáu người con quê ở giáo xứ Phúc Nhạc, giáo phận Phát Diệm. 

Trong bóng tối, nghe Nguồn Thơm rất khiết
Rợp lên hoa giữa đêm buốt mịt mù
Ơi Hương Thánh nung tình hoa cương quyết
Giữa bão bùng vây bủa chốn thâm u.

Nếu như trong số 117 vị thánh tử đạo Việt Nam chỉ có một vị thánh nữ duy nhất thì trong số hàng trăm thi sĩ Công giáo Việt Nam hình như cũng mới chỉ có một nữ thi sĩ Song Lam đã dày công viết lên Khúc Thần Nhạc diễm lệ để tôn vinh các Ngài như thế. Giữa một thế giới ồn ào bởi đủ thứ tạp âm, cám ơn thi sĩ đã dâng hiến cho đời Khúc Thần Nhạc trong trẻo với 21 thi phẩm giàu hình ảnh và nhạc điệu, sâu lắng mà thanh khiết như mở ra trước mắt chúng ta chân dung vừa sống động vừa huyền bí của các bậc vĩ nhân, những người đã làm chứng cho Tin Mừng bằng chính mạng sống mình.

Nhịp cầu tre mong manh đến đây xin được dừng lại để bạn đọc tự do bước lên vườn thượng uyển và khám phá tiếp những giai điệu còn lại: Tình lão bộc (15); Lúa non đơm hạt (16); Thần khúc Ave (17); Khúc thần nhạc (18); Ánh cầu vồng (19); Phúc điền viên (20) và Phượng hoàng tung cánh (21).

Giờ vinh hiển – Tình trời cao vẫy gọi
           Dâng hiến mình mặc giông tố bủa vây
Cửa công chính vui hân hoan mở lối
Phượng thỏa lòng vươn cánh vút trời mây.

Phát Diệm, ngày 15/10/2019
Đình Chẩn


Được tạo bởi Blogger.